
Tuệ Sỹ
--- o0o ---
III. TRỜI ÓNG Ả BẠC TƯỜNG
RÊU LỮ THỨ
(1080-1085)
LỜI DẪN
Trên đoạn đường Lữ
Thứ, lịch sử bỗng đổ dồn lên Đất Trích. Đó là vùng đất hoành hành của mưa
rừng gió núi, của Thiên Nhiên tàn bạo. Tạo hóa thì hung hăng, mà tạo vật
thì bé bỏng. Giữa những đêm giông bão dị thường, giữa lúc đèn mờ khuya
khoắt, con chuột đói mò ra đi kiếm ăn. Hoặc trong đám hoa rừng cỏ dại,
chướng khí sơn lam, nhánh hải đường với nụ son bé bỏng cũng mang cốt cách
thanh cao ra mà chen chúc.
Cuộc lịch nghiệm nơi
vùng đất Trích tàn bạo với nỗ lực phấn đấu kỳ cùng, trước thảm họa của Tử
sinh trường mộng, ở đây cũng đã sẵn sàng vạch sẵn lối gai rừng để nghe
đồng vọng của Lô sơn chân diện mục. Trong khi đó, thảm họa lịch sử theo
nước lũ Trường Giang đổ vào Xích Bích. Thế thì, tại chỗ này, Lịch sử đã
mang tài hoa của nó tụ về trong tinh thể Đông Pha. Và từ đó, Đông Pha cư
sĩ bước ngay vào dòng Lịch sử Chung của một dân tộc, làm cha già tóc trắng
cho Một dân tộc.
Những bàithơ sau
đây, không có những bài về Lô sơn hay đồng Lô sơn, hay mang âm hưởng ẩn
hiện nào đó của Lô sơn chân diện mục, cũng không có những bài xuôi giòng
Đại giang Đông khứ, trên mặt sông Xích bích. Hai chỗ đó là tinh thể và
cách điệu tài hoa của ông. Một đằng là Lô sơn ẩn hiện giữa mây trắng sương
mù ôm ấp những khát vọng sâu thẳm nhất của con người. Một đằng là nước lũ
của một giang sơn như họa cuộn anh hùng hào kiệt một thời theo thảm hoạc
lịch sử đổ dồn vào biển rộng mù khơi. Nhưng đấy là những tinh thể kết tụ
trong phương trời viễn mộng. Nếu nơi đây chúng ta nghe được tận cùng những
phấn đấu gian khổ của tồn sinh, những phẫn nộ và những ngậm ngùi cay đắng
của tồn sinh, thì phương trời viễn mộng kia tức khắc sẽ mở ra.
I
Năm 1078, tháng 7,
đổi sang Hồ châu, ông dâng biểu tạ về triều. Bị sàm tấu, phải ngồi tù. Án
từ không nhất quyết. Thần tông mến tài, miễn tội tử. Lại nhờ em ông, Tử Do
xin đổi chức quan chuộc tội cho ông. Tháng 12 năm đó ông ra khỏi ngục.
Khi ở trong ngục,
ông làm 2 bài thơ, nhờ cai ngục gởi cho Tử Do. Thơ tự trách và có vẻ tuyệt
vọng, vì ông tưởng là không thoát khỏi án tử hình.
Đại khái:
Thị xứ thanh sơn khả
mai cốt
Tha niên dạ vũ độc
thương thần
Dữ quan thế thế vi
huynh đệ
Hựu kết lai sinh vị
liễu nhân
Nơi này non xanh có
thể chôn xương được. Sang năm mưa đêm chỉ riêng hồn mình lạnh lẽo. Ước
nguyện cùng nhau (ông và Tử Do) đời đời làm anh em; lại kết duyên nợ đời
vĩnh viễn của văn chương.
Ông được tha, giáng
chức làm đoàn luyện phó sứ, bị đày đi quản thúc ở Hoàng châu.
Tháng giêng năm canh
thân 1079, ông lên đường. Tử Do từ Nam đô đến gặp ông tại Trần, ở lại cùng
ông ba ngày, rồi chia tau. Ông làm bài thơ chia tay. Đại khái:
Biệt lai vị nhất
niên
Lạc tận kiêu khí phù
Mới cách nhau chưa
đầy một năm, cái kiêu khí đã tan hết. và ông tự trách;
Chí ngôn tuy cửu
phục
Phóng tâm bất tự
thâu
Đã học lời của Thánh
Hiền từ bao lâu nằm lòng rồi, nhưng vẫn phóng tâm bừa bãi, gây tai vạ.
Ngày 18 tháng giêng
năm đó, trên đường đi ngang Thai châu gặp tuyết, ông làm 2 bài thơ cho Tử
Do, lại nói:
Vãn tuế ích khả tu
Phạm tuyết phương
nam bôn
Càng già lại càng
thêm thẹn; đội tuyết mà phải chạy sang nam!
Ngang Tân tức, gặp
người đồng hương lập nghiệp ở đó, ông tặng bài thơ thất ngôn cổ thi:
Trần ai ngã diệc
thất thâu thân
Thử hành tắng đắng
vưu khả bỉ
Ông nói, mình cũng
sa chân vào chốn trần ai, lưu lạc tha phương; nhưng cái đi đó gian nan quá
tệ.
Các nơi đi ngang
qua, ông vẫn làm thơ, vẫn ngoạn cảnh; nhưng lời thơ đượm nỗi buồn phiền u
ẩn. Khi chơi chùa Tịnh cư, nơi này trước kia Trí Khải gặp Huệ Tư đại sư mà
đắc đạo, rồi về núi Thiên Thai trụ trì, lập ra Phật giáo Thiên Thai tông;
ông làm thơ có những câu:
Bất ngộ tục duyên
tại
Thất thân đạp nguy
cơ
Chưa tỏ ngộ đạo lý,
tục duyên còn nặng; để cho sa chân vào bước nguy cơ.
Và những câu khác:
Khể thủ lưỡng túc
tôn
Cử đầu song thế huy
Linh sơn hội vị tán
Bát bộ do quang huy
Cúi đầu lạy đức Như
Lai; cất đầu dậy lau đôi hàng lệ. Tưởng như trên hội Linh Sơn ngày nào như
lai giảng kinh Pháp hoa nói đạo lý thượng thừa, bây giờ vẫn còn đó, tám bộ
chúng vẫn rực rỡ
Lời thơ tuy không
cao ngạo mà đảm lược hùng tâm vẫn còn. Cõi thơ của ông vì vậy mà mênh mông
heo hút; lời thơ của ông là cả giọng chí thành. Sầu khổ thì có, mà sầu hận
thô lỗ thì không. Đó là một điểm nhỏ trong cái phong vận tao nhã và cao kỳ
và bao la của ông.
Rồi đến Hoàng Châu,
ngủ đêm tại chùa Thiền trí. Cảnh chùa hoang lương. Hình ảnh trong thơ hiện
ra một màu hiu hắt. Một ngọn đèn tàn leo lét trên bàn Phật; một con chuột
đói bò ra kiếm ăn,; mưa đêm đổ xuống hàng tre; và một bài thơ cổ sót lại
trong trí nhớ. Khách phong trần lưu lạc gặp cảnh thơ đó có thể rũ sạch
được những oan tình u ẩn nghìn đời.
Phật đăng tiệm ám cơ
thử xuất
Sơn vũ hốt lai tu
trúc minh
Tri thị hà nhân cựu
thi cú
Dĩ ưng tri ngã thử
thời tình.
Ông tự viết lời dẫn
: “: Lúc thiếu niên, có lần tôi đi ngang qua một thôn viện, thấy trên
vách có thơ:
Dạ lương nghi hữu vũ
Viện tĩnh tợ vô tăng
Đêm lạnh chừng mưa
gió
Chùa vắng như không
sư.
“Không biết thơ của
ai. Ban đêm, ngủ lại chùa Thiền Trí, Hoàng Châu. Sư trong chùa đều vắng
hết. Nửa đêm trời mưa. Ngẫu nhiên nhớ bài thơ đó, nên làm một bài tuyệt
cú.”
Bấy giờ ông vừa ở tù
ra, bị đày tới Hoàng Châu. Lời thơ có vẻ mông lung, cay đắng.
Ngày 1, tháng 2, tới
Hoàng Châu. Gia đình Ông ở cả tại Nam Đô, chỉ một mình Tử Mại, con trai
lớn của Ông, đến với Ông. Khi mới đến Hoàng Châu, ông làm bài thơ dưới
đây:
Tự tiếu bình sinh vị
khẩu mang
Lão lai sự nghiệp
chuyển hoang đường
Trường giang nhiễu
quách tri ngư mĩ
Hảo trúc liên sơn
giác duẫn hương
Trục khách bất
phương viên ngoạI trí
Thi nhân lệ tác thủy
tào lang
Chỉ tâm vô bổ ti hào
sự
Thượng phi quan gia
áp tửu nang
Cười ta bình sinh
miệng nói nhăng
Già rồi sự nghiệp
càng hoang đường
Trường giang vỗ bến
cho cá béo
Tre rậm đầy non thơm
mùi măng
Khách lang bạt khỏi
phiền viên ngoại
Lệ nhà thơ ghi sổ
tang bồng
Chỉ thẹn không nên
chuyện gì hết
Uổng thay dốc túi
rượu nhà quan
(Ông tự chú cho câu
chót: Quan kiểm hiệu có lệ nếu ai làm được nhiều việc thì thưởng một bình
rượu khi về. Ở đây, ý muốn nói, Ông tới là bận rộn người ta phải tốn công
ghi danh vào sổ bạ)
2.
|
HẢI ĐƯỜNG
Giang thành địa
chướng phồn thảo mộc
Chỉ hữu danh hoa khổ
ưu độc
yển nhiên nhất tiếu
trúc ly gian
Đào lý mạn sơn tổng
thô tục
Dã tri tạo vật hữu
thâm ý
Cố khiển giai nhân
tại không cốc
Tự nhiên phú quí
xuất thiên tư
Bất đãi kim bàn tiến
hoa ốc
Chu thần đắc tửu
vựng sinh kiểm
Thúy tụ quyển sa
hồng ánh nhục
Lâm thâm vụ án hiểu
quang trì
Nhật noãn phong
khinh xuân thụy túc
Vũ trung hữu lệ diệc
thê thương
Nguyệt hạ vô nhân
cánh thanh thục
Tiên sinh bão thực
vô nhất sự
Tán bộ tiêu dao tự
môn phúc
Bất vấn nhân gia dữ
tăng xá
Trụ trượng xao môn
khán tu trúc
Hốt phùng tuyệt diễm
chiếu suy hủ
Thán tức vô tín khải
bịnh mục
lậu bang hà xứ đắc
thử hoa
Vô nãi hiếu sự đi
Tây Thục
Thốn căn thiến lý
bất dị đáo
Hàm tử phi lai định
hồng hộc
Thiên nha lưu lạc cu
khả niệm
Vị ẩm nhất tôn ca
thử khúc
Minh triêu tửu tĩnh
quá độc lai
Tuyết lạc phân phân
na nhẫn xúc
|
海棠
江城地瘴蕃草木
只有名花苦幽独
嫣然一笑竹篱间
桃李满山总粗俗
也知造物有深意
故遣佳人在空谷
自然富贵出天姿
不待金盘荐华屋
朱唇得酒晕生脸
翠袖卷纱红映肉
林深雾暗晓光迟
日暖风轻春睡足
雨中有泪亦凄怆
月下无人更清淑
先生食饱无一事
散步逍遥自扪腹
不问人家与僧舍
拄杖敲门看修竹
忽逢绝艳照衰朽
叹息无言揩病目
陋邦何处得此花
无乃好事移西蜀
寸根千里不易到
衔子飞来定鸿鹄
天涯流落俱可念
为饮一樽歌此曲
明朝酒醒还独来
雪落纷纷哪忍触
|
Ông cư ngụ tại chùa
Định Huệ. Phía đông chùa, hoa tạp đầy núi, giữa đó chen một cây hải đường.
Thổ nhân không biết là quí. Nhân đó, làm bài thơ vịnh hải đường.
Thơ ngụ ẩn tình. Cốt
cách trang nhã của hải đường gây nên nơi ông một cảm hứng tuyệt diệu. Lối
thơ này, thường dễ trở thành một đề tài sáo, giả tạo và khoa trương. Kiểu
cách của nó là sao cho đạt đến mức nói riêng vật mà tình ẩn, nói tiêng
tình mà vật hiện. Nhưng còn phải đợi bàn tay tài hoa phổ vào mới thành
tuyệt diệu. Vật trở thành cao quí trong tình ẩn, và người cũng trở thành
tao nhã nơi vật hiện.. Cái đó là do phong tư tú lệ của tao nhân; tay phàm
tùc khó mà vươn tới mức. Nó hệ ở chỗ tương ứng của thanh khí lẽ hằng. Cho
nên, tiết nhịp của bài thơ không cần sôi nổi lãng mạn mà nguồn cảm hứng
rung động sâu xa như là bất tận. Chỗ đó, Kỷ Hiểu Lam phê rằng: “Hoàn toàn
nói về hải đường, nhưng tự ngụ ý phong tư tú lệ của mình. Bắt đầu hứng
khởi thì thâm trầm vi nhiệm. Nửa chừng thì nở rộ tươi sáng. Lối thơ đó nếu
không thực sự là Đông Pha thì không ai làm nổi. Đông Pha nếu không hứng
khởi trong một lúc, vị tất đã làm nổi”
Đất giang thành
nhiều chướng khí nên nhiều cây cỏ hoang dại.
Chỉ có một loại danh
hoa, cây hải đường, mọc chen lấn giữa đó, nằm lẻ loi buồn tẻ.
Một khi nó nhởn nhơ
hé nụ nơi hàng dậu,
Thì tất cả đào, lý
khắp một vùng núi này thảy là thô tục
Thế nên mới biết tạo
vật có thâm ý,
Nên khiến cho loài
hoa quý đó lánh mình nơi hang hốc vắng vẻ.
Cái cốt cách cao
sang của nó vốn là trời cho tự nhiên vậy,
Không phải đợi có
mâm vàng dâng vào cửa nhà sang cả mới thành quí.
Nụ hồng tươi như say
men rượu ửng lên đôi má,
Tàn lá như cánh tay
áo màu xanh thẳm vén lên giải lụa để lộ thịt da ánh hồng.
Sa mù phủ mờ cả khu
rừng dày chằng chịt nên nắng mai lên trễ,
Mặt trời ấm, gió
nhẹ, giấc ngủ mùa xuân rất thoải mái.
Lúc mưa, trong cơn
mưa những giọt nước đọng long lanh trông cũng khá sầu muộn;
Lúc có trăng, dưới
trăng vắng bóng người, trông lại càng yểu điệu cao sang.
Tiên sinh ăn một bữa
no, không một việc làm,
Ông thả bước tiêu
dao, tự sờ tay vào bụng của mình.
Không cần hỏi đó là
nhà của người tục hay của sư tăng.
Chống gậy đến gõ cửa
xem hàng tre đứng thẳng
Bỗng gặp một vẻ
tuyệt diễm bừng lên giữa hàng giậu đổ nát.
Ông than thở không
nói một lời, nhướng con mắt mờ kém lên:
Đất quê này sao lại
có thứ hoa này?
Há không phải do
người hiếu sự mang nó từ đất Tây thục đến?
Nhưng tấc rễ ngắn
của nó không dễ gì mang đi xa xôi như vậy nổi.
Có lẽ chim hồng hay
chim hộc ngậm hạt của nó mang đến đây.
Cũng đáng ngậm ngùi
cho nó lưu lạc tận ven trời xa xôi này;
Nên vì thay nó mà
uống một chén và ca một khúc ca đó.
Sáng hôm sau, tỉnh
rượu lại, đến đây một mình,
Thấy tuyết bay phơi
phới, tưởng chừng như không nỡ đụng đến nó.
3.
Bấy giờ khoảng cuối
tháng 2 hay đầu tháng 3 gì đó. Ông đến Hoàng châu trên dưới đã một tháng.
Sau cơn mưa tạnh, ông thả bộ đến dưới đình Tứ vọng, bên trên hồ cá, rồi từ
gò đông phía trước chùa càn Minh trở về, làm hai bài thơ luật năm chữ. Mùa
hải đường đã qua, đang đợi mùa mai năm tới. Cảnh chiều, tiếng ếch nhái sau
cơn mưa, tiếng chim trong nắng ngả về chiều, bóng người vắng vẻ. Cũng là
một nỗi niềm tâm sự nào đó của tuổi ông.
|
(I)
Vũ quá phù bình hợp
Oa thanh mãn tứ lân
Hải đường chân nhất
mộng
Mai tử dục thường
tân
Trụ tượng nhân khiêu
thái
Thu thiên bất kiến
nhân
Ân cần mộc thược
dược
Độc tự điện dư xuân
(II)
Cao đình cửu dĩ phế
Hạ hữu chủng ngư
đường.
Mộ sắc thiên sơn
nhập
Xuân phong bách thảo
hương
Thị kiều nhân tịch
tịch
Cổ tự trúc thương
thương
Quán hạc hà lai xứ
Hào minh mãn tịch
dương
|
雨 過 浮 萍 合
蛙 聲 滿 四 鄰
海 棠 真 一 夢
梅 子 欲 嘗 新
拄 杖 閑 挑 菜
鞦 韆 不 見 人
殷 勤 木 芍 藥
獨 自 殿 餘 春
高亭久已廢
下有種魚塘
暮色千山入
春風百草香
市橋人寂寂
古寺竹蒼蒼
鸛鶴來何處
號鳴滿夕陽 |
Mưa qua bèo kết tụ
Ếch kêu dậy xóm làng
Hải đườngqua cơn
mộng
Còn đợi mùa mai sang
gậy thọc chơi rau cỏ
Người không, vắng
bóng tường
Chăm chỉ cây thược
dược
Một mình riêmg một
xuân
Đình cao phế mấy độ
Phía dưới có ngư
đường
Bóng chiều chen bóng
núi
Gió thoảng bay ngàn
hương
Cầu chợ người thưa
thớt
Chùa xưa tre xanh
xanh
Cò vạc từ đâu đến
Kêu réo dậy tà dương
4.
Ngụ tại chùa Định
Huệ được 3 tháng; tháng 5, ông dời sang Lâm cao đình (phía nam huyện Hoàng
cương tỉnh Hồ bắc, bắc ngạn sông trường giang. Cũng gọi là lâm cao quán)
Tử Do lược ký: Từ
đình nhìn ra, nam bắc chừng trăm dặm, ban ngày ghe thuyền lui tới phía
trước, ban đêm nghe tiếng như ngư long kêu gào ở phía dưới; phía tây trông
thấy các ngọn núi huyện Vũ dương; gò đống nhấp nhô, cây cối hàng hàng,
khói bốc cuồn cuộn, rải rác nhà ngư phủ, tiều phu, đếm được đầu ngón tay.
Ông đến Lâm cao
đình, dựng nhà ở, đặt tên là nhà Tuyết, vì làm trong mùa đại tuyết; đọc
Chiến quốc sách, và làm bài thơ dưới đây:
|
Ngã sinh thiên địa
gian
Nhất nghị ký đại má
Khu khu dục hữu hành
Bất cứu phong luân
tả.
Tuy vận tẩu nhân
nghĩa
Vị miễn vi hàng ngạ
Kiếm mễ hữu nguy xuy
Châm chiên vô ổn tọa
Khởi vô giai sơn
thủy
Tá nhãn phong vũ quá
Qui điền bất đãi lão
Dũng quyết phàm kỷ
cá
Hạnh tư phế khí dư
Bì mã giải yên đà
Toàn gia cổ giang
dịch
Tuyệt cảnh thiên vi
phá
Cơ bần tương thừa
trừ
Vị kiến khả điếu hạ
Đạm nhiên vô ưu lạc
Khổ ngữ bất thành ta
|
我生天地間,
一蟻寄大磨。
區區欲右行,
不救風輪左。
雖云走仁義,
未免違寒餓。
劍米有危炊,
針氈無穩坐。
豈無佳山水,
借眼風雨過。
歸田不待老,
永訣凡幾個。
幸玆廢棄餘,
疲馬解鞍馱。
全家占江驛,
絕境天為破。
飢貧相乘除,
未見可弔賀。
澹然無憂樂,
苦語不成些 |
Ta sinh trong trời
đất
Như kiến bò cối đá
Nhắm hữu khu khu đi
Không kể gió xoay tả
Nói chạy theo nhân
nghĩa
Chưa khỏi chuyện cơm
áo.
Gạo như gươm, thổi
rát mặt
Áo như kim chích
ngồi không yên
Há không non nước
đẹp
Ghé mắt mưa gió qua
Về ruộng nõ đợi già
Sức lực còn đôi chút
May nhờ đất phế thải
Ngựa cùng thảo yên
cương
Lấy bến sông làm nhà
Trời dọn cho tuyệt
cảnh
Đói rách thừa trừ
nhau
Khỏi chia buồn chia
vui
Vừa vừa không cực
sướng
Nói chi đến chuyện
khổ
5.
Buổi sáng, đến Ba hà
khẩu đón Tử Do:
|
Khứ niên ngự sử phủ
Cử động xúc tứ bích
U u bách xích tỉnh
Ngưỡng thiên vô nhất
tịch
Cách tường văn ca hô
Tự hận kế chi thất
Lưu thi bất nhẫn tả
Khổ lệ tí chỉ bút
Dư sinh phục hà hạnh
Vinh sự hữu kim nhật
Giang lưu kính diện
tĩnh
Yên vũ khinh mạc mạc
Cô chu như phù ế
Điểm phá thiên
khoảnh bích
Văn quân tại Từ hồ
Dục kiến cách chỉ
xích
Triêu lai hảo phong
sắc
Kỳ vĩ tây bắc trịch
Hành đương trung lưu
kiến
Tiếu nhãn thanh
quang dật
Thử bang nghi khả
lão
Tu trúc đái tuyền
thạch
Dục mãi Kha thị lâm
Tư mưu đãi quân tất
|
去年御史府
举动触四壁。
幽幽百尺井,
仰天無一席。
隔墙聞歌呼,
自恨計之失。
留詩不忍寫,
苦淚渍紙筆。
餘生復何幸,
榮事有今日
江流鏡面淨,
煙雨輕冪冪。
孤舟如鳧黳,
點破千頃碧。
聞君在磁湖,
欲見隔咫尺。
朝來好風色,
旗腳西北擲。
行當中流見,
笑眼清光溢。
此邦疑可老,
修竹帶泉石。
欲買柯氏林,
玆謀待君必 |
Mấy câu đầu, ông tả
lại cảnh ngồi tù tại phủ ngự sử năm ngoái. Phần giữa nói tâm trạng của ông
khi đi đón Tử Do, vào buổi sáng, tại Ba hà khẩu. Cuối cùng, ông nói với Tử
Do về tình trạng sinh sống thường nhật, và cùng những dụ tính ngày sau.
Ông có cảm giác như vĩnh viễn lưu đày tại đất Hoàng Châu đó.
Năm ngoái phủ ngự sử
Tay chân chạm vách
tường
Hun hút trăm thước
giếng
Trông trời không
chiếu manh
Nghe ca hô cách vách
Hận mình tính hỏng
trơn
Thư lưu không nỡ
viết
Lệ khổ đẫm giấy bút
Còn sống thế là may
Mới có niềm vui này
Sông trôi mặt nước
phẳng
Mưa nhẹ khói mù bay
Thuyền lẻ như cò vạc
Chấm phá biếc trời
mây
Nghe chú tại Từ hồ
Muốn gặp trong gang
tấc
Buổi sáng phong cảnh
tốt
nhắm Tây bắc phất cờ
Rồi gặp ở trung lưu
cười hai mắt sáng
chói
Đất này thôi dưỡng
già
Hàng tre ôm đá suối
Muốn mua rừng họ Kha
Đợi chú lo mới nổi
6.
ĐÔNG PHA BẤT THỦ
東坡八首
|
I
Phế lỗi vô nhân cố
Đồi viên mãn bồng
cao
Thùy năng quyên trợ
lực
Tuế vãn bất thường
lao
độc hữu cô lữ nhân
thiên cùng vô sở đào
đoan lai thập ngõa
lịch
tuế hạn thổ bất cao
kỳ khu thảo cức
trung
Dục quát nhất thốn
mao
Vị nhiên thích lỗi
thán
Ngã lẫm hà thời cao
II
Hoang điền tuy lãng
mãng
Cao tì các hữu thích
Hạ thấp chủng canh
thuật
Đông nguyên thì táo
lật
Giang nam hữu Thục
sĩ
Tang quả dĩ hứa khất
Hảo trúc bất nam tài
Đản khủng tiên hoành
dật
Nhưng tu bốc giai xứ
Qui dĩ an ngã thất
Gia đồng thiêu khô
thảo
Tẩu báo ám tỉnh xuất
Nhất bão vị cảm kỳ
Biều ẩm dĩ khả tất
III
Tự tích hữu vi tuyền
Lai tùng viễn lĩnh
bối
Xuyên thành quá tụ
lạc
Lưu ác tráng bồng
ngải
Khứ vi Kha thị pha
Thập mẫu ngư hà hội
Tuế hạn tuyền dĩ
kiệt
Khô bình niêm phá
khối
Tạc dạ nam sơn vân
Vũ đáo nhất lê ngoại
Huyễn nhiên tầm cố
độc
Tri ngã lý hoang hội
Nê cần hữu túc căn
Nhất thốn ta độc tại
Tuyết nha hà thời
động
Xuân cưu hành khả
quái
IV
Chủng đạo thanh minh
tiền
Lạc sự ngã năng sổ
Mao khong ám xuân
trạch
Châm thủy văn hảo
ngữ
Phân ương cập sơ hạ
Tiệm hỉ phong diệp
cử
Nguyệt minh khán lộ
thượng
Nhất nhất châu thùy
lũ
Thu lai sương huệ
trọng
Điên đảo tương xanh
trụ
Đản văn huề lũng
gian
Trách mãnh như phong
vũ
Tân xuân tiện nhập
tắng
Ngọc diệp chiếu
không lữ
Ngã cửu thực quan
thương
Hồng hủ đẳng nê thổ
Hành đương tri thử
vị
Khẩu phúc ngữ dĩ hứa
V
Lương nông tích địa
lực
Hạnh thử thập niên
hoang
Tang giá vị cập
thành
Nhất mạch thứ khả
vọng
Đầu chủng vị dũ
nguyệt
Phúc khối dĩ thương
thương
Nông phu cáo ngã
ngôn
Vật sử miêu diệp
xương
Quân dục phú binh
nhĩ
Yếu tu túng ngưu
dương
Tái bái tạ khổ ngôn
Đắc bảo bất cảm vong
VI
Chủng tảo kỳ khả bác
Chủng tùng kỳ khả
đoạn
Sự tại thập niên
ngoại
Ngô kế diệc dĩ khác
Thập niên hà thúc
đạo
Thiên tải như phong
bạc
Cựu văn Lý Hành nô
Thử sách nghi khả
học
Ngã hữu đồng xá lang
Quan cư tại Tiềm
nhạc
Di ngã tam thốn cam
Chiếu tòa quang trác
lạc
Bách tài thảng khả
trí
Đương xuân cập băng
ác
Tưởng kiến trúc ly
gian
Thanh hoàng chiếu ốc
giác
VIII
Phan tử cựu bất điệu
Cô tửu Giang Nam
thôn
Quách sinh bản tương
chủng
Mại dược Tây thị
viên
Cổ sinh diệc hiếu sự
Khủng thị áp nha tôn
Gia hữu thập mẫu
trúc
Vô thời dung khấu
môn
Ngã cùng giao cựu
tuyệt
Tam tử độc kiến tồn
Tùng ngã ư Đông Pha
Lao hưởng đồng nhất
xan
Khả liên Đỗ Thập di
Sự dữ Chu Nguyễn
luân
Ngô Sư Bốc Tử Hạ
Tứ hải giai đệ côn.
VIII
Mã sinh bản cùng sĩ
Tùng ngã nhị thập
niên
Nhật dạ vọng ngã quí
Cậu phận mãi sơn
tiền
Ngã kim phản lụy
quân
Tá canh chuyết tư
điền
Quát mao qui bối
thượng
Hà thời đắc thành
chiên
Khả liên Mã sinh si
Chỉ kim khoa ngã
hiền
Chúng tiếu chung bất
hối
Thí nhất đương hoạch
thiên
|
廢壘無人顧,
頹垣滿篷篙。
誰能捐筋力,
歲晚不償勞。
獨有孤旅人
天窮無所逃
端來拾瓦礫
歲旱土不膏
崎嶇草棘中
欲刮一寸毛
喟焉釋耒嘆
我廩何時高
荒田雖浪莽
高庳各有適
下隰種秔稌
東原蒔棗栗
江南有蜀士
桑果已許乞
好竹不難栽
但恐鞭橫逸
仍須卜佳處
規以安我室
家僮燒枯草
走報暗井出
一飽未敢期
瓢飲已可必
自昔有微泉
來從遠嶺背
穿城過聚落
流惡壯蓬艾
去為柯氏陂
十畝魚蝦會
歲旱泉已竭
枯萍粘破塊
昨夜南山雲
雨到一犁外
泫然尋故瀆
知我理荒薈
泥芹有宿根
一寸嗟獨在
雪芽何時動
春鳩行可膾
種稻清明前
樂事我能數
毛空暗春澤
針水間好語
分秧及夏初
漸喜風葉舉
月明看露上
一一珠垂縷
秋來霜穗重
顛倒相撐拄
但聞畦隴間
蚱蜢如風雨
新春便入甑
玉粒照筐筥
我久食官仓
红腐等泥土
行當知此味
口腹語已許
良農惜地力
幸此十年荒
桑柘未及成
一麦庶可望
投种未逾月
覆塊已苍苍
農父告我言
勿使苗葉昌
君欲富饼饵
要须纵牛羊
再拜谢苦言
得饱不敢忘
种枣期可剥
种松期可斫
事在十年外
吾計亦已悫
十年何足道
千载如風雹
舊聞李衡奴
此策疑可學
我有同舍郎
官居在灊岳
遗我三寸甘
照座光卓荦
百栽倘可致
當及春冰渥
想見竹篱間
青黄照屋角
潘子久不調
沽酒江南村
郭生本将種
賣葯西市垣
古生亦好事
恐是押牙孫
家有十畝竹
無時客叩門
我穷交舊絕
三子獨見存
従我菸東坡
劳饷同一餐
可憐杜拾遗
事與朱阮掄
吾師卜子夏
四海皆弟昆
馬生本窮士
|