Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


......... .

 
 

Trên Nửa Đời Đi

Tuyển tập thơ của
Như Tạng

---o0o---

 

   

 

Những  Giọt  Ðời

 

Tôi từ vùng gốc rạ

Nắng bỏng da giọt đời trên kẻ lá

Sao mai lên thức giấc giữa canh gà

Bên nây bờ, đôi tay

Bên kia bờ,  nước chảy

Khóm mạ non cánh đồng quê đời trẻ

Trĩu bông dài như đời tôi có mẹ

Hàng cau xưa, lũy tre dài, lối rẽ...

Tôi đi...

 

Mơn man đường cỏ dại

Gai góc bàn chân, cay xé giọt đời

Sàigòn, nắng chảy dài thành chuổi hạt

Giọt sương khuya,  có tuổi xuân canh gác

Em gái hát thâu đêm

Tiếng chổi tre xào xạc

Xóm nhà ai mẹ già rơi tóc bạc

Mong con

Giữa tiếng gầm đại bác thâu đêm

Hàng me xanh 

Anh xích lô ngủ gật bên thềm

Bão lại đến, giông qua rồi, đạn lạc

Tiếng xích xe tăng giọt đời rên lưu lạc

Rừng sâu,  canh thiếu tương bỗng nhạt

Nhớ muối đồng quê da vàng gầy rạt

Trên vỉa hè manh chiếu con rách nát

Tay bồng con chồng dắt vợ ra đi...

 

Giọt đời trôi trên biển mặn xanh rì

Dạt về phương đông... phương tây...

Lát bánh mì dính bơ cháy sém

Mắt cú vọ, mỉa mai, lõm bõm:

“ Mũi tẹt da vàng tóc đen từng nhóm...’’

Miếng ăn giờ thành lửa cháy tim gan

Giọt đời  ôi!  Tiếng nói phũ phàng...

 

  

Sydney

Năm 1997

 

Những dãy đồi xanh 

 

Ấn (chùa Thiên Ấn),

Bút (chùa Thiên Bút)

Cùng nhau chắn gió sang

Gác cho sông lặng giấc mơ màn

Bay về dĩ vãng bao giòng sử

Muôn thuở vang danh với đá vàng

 

Anh nhắn em về thăm với anh

Quê hương toàn những dãy đồi xanh

Mình đi qua đó bao cay đắng

Ðã lớn lên thêm… thế cũng đành

 

Anh muốn quên đi những máu xương

Quên làng xóm cháy, xác người thương

Quên bao đau khổ, quên thù hận

Cho lúa lên đòng dưới nắng hương

 

Bên sông cát đã chuyễn mình sang

Sắn đã lên bông, bắp trổ vàng

Em hong tóc đợi anh về nhỉ

Có xóm làng vui khúc khải hoàng

 

Quảng Ngãi

1-1-1993

Hương Thủy

 

Người ta thường nói

Ðịa linh ắt sinh nhân kiệt

Thuở chưa hiểu

Tôi miệt mài mãi miết

Lật sách tìm xem ý nghĩa là gì

 

Và hôm nay đã biết

Một vùng đất sinh người anh kiệt:

Nhà Phật học uyên thâm

Môt thiền sư vĩ đại,

Ðại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu

 

Tỉnh Thừa Thiên, huyện Hương Thủy

Có sông Hương nước bốn mùa trong chảy

Qua núi rừng đồng nội đến thôn làng

Vào Kinh Ðô thành khúc quanh lịch sử

Ngàn vạn năm rạng rỡ ánh đạo vàng

 

Làng Thần Phù có âm thanh siêu thoát

Như cõi siêu linh hiện rõ giữa mây ngàn

Vùng đất ấy có con người họ Võ

Tên Trọng Tường, hiệu Trí Ðức

Lúc quy y, Tâm Phật pháp danh ngài

 

Tâm giác ngộ, ánh hào quang ngũ sắc

Dắt chúng sinh vượt thế giới ba ngàn

Trí tỏa sáng với vô vàn công đức:

Khảo luận, dịch kinh

Dạy đồ chúng, hoằng truyền chánh pháp

 

Cánh không mõi dù mưa sa bảo táp

Như đại bàng kia đâu ngại núi mây ngàn

Ngài vẫn đi từ đầu xanh sức trẻ

Ðến xế chiều qua...

Tóc bạc vẫn hiên ngang

Từ hóc núi độ người gìa quá tuổi

Ðến cuối thôn dìu lũ trẻ băng ngàn…

 

Ôi! Những khoảng thời gian...

Những bước thời gian...

Ôi! Chủ nghĩa... Ôi! Bao nhiêu chế độ

Ôi! Chông gai, sóng dồi, giông bão tố...

Nhưng, tâm người bình yên

Vẫn nở đóa sen vàng.

 

Sydney

Tháng 10 năm 2001

 

 

Cành Lưu ly

 

Xa xa trời biển mênh mông

 Nước non Non Nước dường trông ngóng mình

Xuân qua đâu giống vô tình

Sương mai còn đọng trên cành lưu ly… 

 

Non Nước, Quảng Nam

15-2-2002    

Không  ai  thóat  khỏi  luật  vô  thường 

 

Bảy giờ mười lăm tối

Ngày hai mươi tám  tháng hai

Năm hai ngàn lẽ một

Trong căn nhà gần bãi biển Maroubra

Ðiện thoại reo vang từng hồi không dứt

Như Uyên vội vã đến nghe, rồi réo gọi:

Thưa Ba, Má có điện thoại từ Việt Nam

Tôi vội đến nghe …

Có tiếng ôn tồn của cô gái

Từ tổng đài truyền lại:

“Lâm Xuân Bảy muốn nói chuyện

Anh có đồng ý nghe không? ’’

Tôi vội nói  “nghe! ” biết rồi…  đồng ý

 

Bảy gọi anh Tạng…

Rồi nghẹn ngào dừng lại giây lâu và

Thưa.. Thầy.. Thầy.. đã…

Tôi hỏi: Thầy đã.. sao?…

Bảy thưa: Thầy đã viên tịch!

Lúc hai giờ chiều nay

Tối nay tẩn liệm

Ngày ba tháng ba

Ðưa kim quan nhập tháp

Bảy nghẹn ngào không còn nói tiếp

Tôi vẫn nghe hơi thở mạnh rì rào…

Tôi tự nhủ:

Ðời vô thường như giấc chiêm bao

Ðừng buồn vì không ai tránh khỏi

Sanh, già, bịnh, chết

Tôi không buồn và không bi lụy

Tuổi Thầy cao 

Ðã tám mươi hai

Sức yếu dần

Như ngọn đèn cạn dầu

Dần dần lịm tắt

Nên tôi biết Thầy sẽ ra đi…

Và hôm nay đã đến…

Vô thường là thế!

Có buồn chi!

 

Bảy lại thưa:

Anh, Chị và Cháu yên tâm đi …

Việc của Thầy có chúng em lo liệu

Tôi chưa biết nói điều gì!

Lặng người đi giây lát…

Anh sẽ về nhưng không thể kịp

Ðể nhìn mặt Thầy lần cuối

Và để tiễn đưa Thầy đến nơi an lạc

Chuyễn kiếp phàm phu, sanh về Cực Lạc

Nam Mô A Di Ðà Phật

Vô Lượng hào quang

Vô Lượng Thọ

Với hàng hàng Thánh Chúng

Từ Bi vô lượng tiếp dẫn Giác Linh

Bốn mươi tám đại nguyện

Thệ hoằng thâm

Quốc độ vô vàn châu báu

Chín phẩm sen vàng là cha mẹ

Chim ca lời pháp

Hoa lá rung thành điệu nhạc Pháp Âm

Từng niệm, từng thời

Tùy duyên giải nghiệp

Hoa nỡ giữa hào quang

Giác Linh giờ diện kiến Phật Thân

Ngộ vô sinh

Ðắc Pháp Lực vô ngần…

 

Tôi mãi mê suy nghĩ…

Quay lại nhìn

Thấy Ngọc Bích rưng rưng

Tôi trao điện thoại

Bích không biết nói gì hơn

Gọi tên chú Bảy

Trăm sự nhờ các chú các em…

Anh chị phương xa

Không biết làm gì hơn

Chỉ cầu nguyện, chưa biết làm sao cả!

Bên phòng trong Như Uyên đang rỉ rả

Sụt sùi lau mắt lệ nhiều phen

Tôi vội khuyên

Con thương Nội chi bằng: chăm học…

Con thành tài, Nội ắt vui hơn …

 

Ta sẽ về, thăm lại làng xưa

Thăm tháp Sư Ông

Năm hai ngàn lẽ một

Thăm ngôi chùa Trung Hòa

Do Sư Ông sáng lập

Có cỏ, cây, hoa, lá …

Hương thơm ngát tỏa bốn mùa

Có chim muôn đùa hót líu lo

Có bóng mát và mây bay ngủ sắc

Vách gạch hiền hòa, che nắng, che mưa

Mái ngói đỏ đã ngã màu nâu sậm…

Ôi mến cảnh già lam nắng ấm

Có lũy tre xanh

Ngăn gió chướng, đông vào

Khói lam chiều  trong hoàng hôn quyến luyến

Bóng ngôi chùa.. Ôi thương nhớ làm sao! …

Ta sẽ lạy dâng hương..sớm, tối…

Cảm niệm công đức Sư Ông

Tu trì, khoan dung, độ lượng…

 

Ðiện thoại  xong rồi

Thắp nến, dâng hương

Ðặt ảnh Thầy lên bàn thờ

Chúng tôi bắt đầu

Thời cầu siêu Tịnh độ

Kinh dạy:

Nếu người thành tâm

Niệm Phật A Di Ðà

Ðến nhất tâm bất loạn

Thì sẽ được vãng sanh…

Huống hồ Thầy đã lập chùa

Tạo tượng, đúc chuông…

Giáo Thọ A Xà Lê,

Bậc Tam Sư

Ðược tôn xưng lên hàng

Thượng Tọa

Thích An Thống

Ðộ đồ chúng qui y Tam Bảo

Bố thí, phóng sanh…

Khuyên Phật Tử:

Làm lành, lánh dữ…

Nói pháp Nghiệp Duyên

Và thuyết giảng Luân Hồi…

 

Thầy của tôi không có gì vĩ đại

Ai nói phải thì cười

Ai nói trái vẫn nhẫn thôi…

Lượng bao dung và Tâm đức bao la

Khổ của người xem như khổ của ta

Trong cuộc sống…

Không có chi là của cải

Áo bạc màu sương, quần ống vãi

Chân không giày

Thường bón rau tưới cải

Nắng không thua

Mưa vẫn đổ mồ hôi

Vườn chùa xanh cây trái đủ bốn mùa

Vừa đủ sống, không phiền lây bá tánh…

Hiền như đếm…

Khi tiếng gà gáy sáng

Tụng niệm Chân Kinh

đến khi hừng sáng

Mặt trời lên xua đuổi bóng vô minh

“Cần tảo địa,  già lam’’ 

Như quét sạch tâm mình

Sạch phiền não

Ðạt Chân Như rốt ráo

 

Thầy của tôi không có gì vĩ đại

Với phương thuốc gia truyền

Cứu người không mệt mõi

Dép nhựa mòn

Ðó đây không ngăn ngại

Sớm hôm dù cuối bãi, ven đồi

Thầy vẫn đi vì  nỗi khổ của người…

 

Thầy của tôi không có gì vĩ đại

Vóc dáng trung bình

Không dõng dạt cao sang

Bốn mùa qua vẫn  áo vãi nâu sòng

Tóc bạc như sương sa buổi sớm

Mắt kiến già nhiều năm

Gọng đen sờn trơn láng

ít khi đeo, mắt vẫn sáng tinh anh

Nơi Thầy nằm

Chiếc giường tre cũ kỹ

Mùng giăng cao

Ðể phòng chống mũi mòng

Mền không lớn độ dày vừa đủ ấm

Chỉ thế thôi

Thanh đạm mấy chục năm…

Người hiến cúng

Vật cao sang không nhận

Hiếu đồ lo…

Thầy bình thản trấn an:

Thầy đủ cả có chi  mà lo liệu

Tứ Sự như Thầy

Lắm người còn chưa đủ

Lắm kẻ lang thang rách rưới không nhà

Ðêm đông đến lạnh co ro

Nơi đầu đường xó chợ

Quần áo rách tả tơi

Không nơi nương tựa

Bới rác tìm chút đồ ăn thừa thãi…

Nói sao cùng cảnh khổ thế nhân!

Ta tạm yên

Nên thương kẻ cơ hàn

Cùng đồng loại, cùng quốc gia, xứ sở…

 

Ðó là hạnh Thầy hành Bồ Tát Ðạo

Cao quí thay lòng Từ Ái của Thầy

Chúng con xin đãnh lễ nguyện noi theo...

 

 

Ðọc trong buổi lễ tưỡng niệm

Thượng Tọa Thích An Thống

(Thế danh Lâm Thông,

Viên tịch ngày 28-2-2001

Tại Mộ Ðức Quảng Ngãi, )

Ðược tổ chức tại chùa Pháp Bảo,

Sydney, lúc 10:30 sáng ngày

18 tháng ba năm 2001.

Phật Tánh

 

Có một con voi

Ðến từ xứ lạ

Khi tuổi vừa tròn bảy tháng

Nhưng nó buồn vô hạn

Vì lạ cảnh, lạ người

Xa khu rừng

Xa những lá non tươi

Voi hay buồn

Sau những chiều nắng tắt

 

Trăng ngậm na cành cây

Chim vừa cuối mặt

Mặt trời đi

Voi gióng tiếng kêu than

Nhưng với bàn tay

Người chăm sóc thú rừng

Voi đã quen dần

Và trở thành thành viên

Trong gia đình nhà động vật học

 

Voi lớn dần

Với tính nết hiền lương

Nó nô đùa

Thân thiết với trẻ thơ

Voi hút nước trong ao

Tưới cây buổi sáng

Ðuổi  thú rừng

Bảo vệ mãnh vườn rau

 

Người vợ yếu gầy

Thân dần tàn tạ

Vì bệnh tim

Và thiếu máu trường kỳ

Rồi một ngày

Người chồng quằn quại  

Ôm vợ hiền

Nức nở giữa mùa đông

Tiếng bi ai

Dường đất l trời long

Bé nức nở

Trong tay mẹ hiền bất động

Con voi buồn vô hạn

Mắt lệ hoen nhòa

Vì người vợ đã mất đi

Sau những cơn bệnh trường kỳ

 

Ðất ngã màu tang

Mây che ánh nắng

Hoa rượi buồn

Lá héo úa, đồi khô

Cnh gia đình

Hiu quạnh thế cô

Ðứa con dại vừa tròn chín tháng

Cha đẩy xe con

Ðong đưa nhịp võng

Trong khu rừng

Văng vng tiếng chim muông

Và một hôm

Làm việc  giữa vườn

Cậu bé ngủ yên

Voi che ánh nắng

Suốt nhiều tiếng đồng hồ

Nhưng người cha nào có hay đâu!

Vì Người mi mê làm việc

Ở vườn sau

Quên bẵng đứa con

Ðang phơi dưới nắng

 

Và từ đó

Voi giữ vai trò chăm sóc trẻ

Nhặc cỏ hoa rừng

Hái chùm chày, dũ dẽ

Cho bé ăn

Bằng trái ngọt trên cành

Những chiều vàng

Cỏ úa, nắng vay quanh

Voi kéo xe

Ðưa bé dạo chơi

Qua những khu lan rừng

Vui đùa cùng lũ trẻ

 

Mỗi cuối tuần

Voi theo người cha và đứa bé

Thăm mộ, tưới cây…

Voi qùi lặng lẽ

Mắt đượm buồn

Vì nuối tiếc người thân

Voi dùng vòi

Trẫy sạch cỏ bên đường

Mở lối đi

Cho thêm phần sáng sủa

Và những chiều

Mưa bay buồn tẻ

Gom lá rừng

Tri kín lối đi quanh 

Chim reo vang

Từng điệu nhạc trên cành

Voi cũng hòa theo

Giục đứa bé đứng lên ca hát

Voi lượn vòng quanh đồi cát

 Ðể làm trò

Cho đứa bé giải khuây

 

Có những ngày giông bão

Cây gãy, cát bay

Ðường lên mộ

Phủ đầy chông gai sỏi đá

Con voi buồn khôn tả

Nó mở đường, dọn sạch lối đi

Hái những bông hoa cúc, hoa qùi

Ðặt lên mộ

Cùng cha con qùi lạy

 

Có những ngày

Trước sau vắng v

Chủ nó đi xa chưa về

Voi vẫn ngày ngày chăm sóc vườn rau

Ðuổi bầy thỏ dại

Gôm những nhánh hoa

Ðặt bên khung cửa

Khi chủ về

Nỗi vui mừng khôn tả

Nó nhặc cành hoa

Tặng cho cả cha con…

Những đêm về

Nghe thú rống trên non

Voi vùng dậy đứng ra nghinh chiến…

 

Thời gian thấm thoát qua mau

Ðứa bé đã lên năm

Có một chiều bãng lãng bước xa xăm

Bé rong chơi trên đồi thông cỏ úa

Voi tìm kiếm giây lâu

Rồi ghé lại

Nó đứng canh cho bé ngủ trên đồi

Người cha tìm và đi đến tận nơi

Voi có v e dè

Gật gù xin lỗi

 

Năm năm qua rồi

Thời gian ngắn ngủi

Ni đau chưa dứt của gia đình

Có một chiều

Nắng đẹp tỏa hương thơm

Bé rủ voi

Qua bên kia đồi bắt bướm

Ðến giữa đường

Bé vô tình dừng lại

Nhặt cành hoa

Lan trắng nở còn tươi

Xe qua đường vun vút đến nơi

Voi đứng canh liền xã thân bảo vệ

Nó húc vào xe đẩy lệch qua bìa núi

Voi ngã, xe lăn, hất tung cát bụi

Bé hoãng hồn

Chạy trở lại gọi cha

Người đến nơi hốt hong kêu la

Máu từ đầu voi

Tuôn tràn lai láng

 

Mọi người tán loạn

Chạy chữa cứu thương

Cậu bé khóc than

Vuốt ve voi

An ủi tiếc thương

Nhưng voi chỉ nằm

Bất động giữa đường

Mắt nhòa lệ nhìn người cha

Và nhìn thật lâu vào đôi mắt bé

Như để nói

Những gì trong lặng lẽ

Cuối cuộc đời

Ôi giây phút chia ly

Ôi vĩnh viễn

Vì tử biệt sinh ly

 

Voi nhắm mắt

Lúc trời vừa xuống núi

Cậu bé kêu thương

Ôm chầm con voi

Không rời cho đến tối

Xe qua đường

Dừng lại không đi

Cảnh đau thương

Không nói được điều chi

Người người buồn đau, ngặn ngào ứa lệ

Bé xin cha:

“Chôn cất voi trong vườn

Ðể ngày ngày dưới bóng hàng dương

Con có thể nhìn rõ mộ voi

Từ phòng con ngủ ”

 

Ôi thương tiếc

Con voi hiền mến chủ

Biết x thân

Cứu sống một mạng người

Thú trên rừng

Vẫn trung nghĩa với đời…

 

Sydney

22-8-1993

(Viết theo một chuyện thật

đã đăng trên các báo tại Sydney)

Duyên đã mãn

  

Tôi biết thầy

Khi mái đầu chưa xuống tóc

Tuổi học trò

Chưa  chớm mộng trên vai

Núi cao:  Thiên Ấn

Sông dài...

Trà giang sóng nước

Anh tài khí thiêng

 

Chí  thoát tục

Về miền nam bộ

Chùa Thiền Lâm, thế độ, qui y

Giác Sanh Phật Viện còn ghi

Ðạo, đời kiến thức

Song chi vẹn toàn

Năm bảy bốn

Băng ngàn chí cả

Ðông Kinh kia

Tôi đón thầy qua

Bao năm đèn sách dùi mài

Ðỉnh cao khoa bảng

Hoa tài trổ bông

 

Chí tỏa sáng

Mây hồng dệt mộng

Ngủ sắc trông

Rợp bóng cờ bay

Năm chín mốt

Ơn thầy Pháp Bảo

Ðến Sydney nắng ráo trời nam

Tha hương, đất hứa, cây lành

Sở duyên tròn nụ

Kết danh Bồ Ðề

Năm chín sáu

Tên đề  bảng vẽ

MINH GIÁC đây hậu thế thuận dòng

Công thầy phá thạch khai sơn

 

Những tưỡng Ta Bà còn cửu trụ

Thế gian còn pháp nhũ mưa tuôn

Nào ngờ

Chiều hôm ấy mây vần năm sắc

Mười sáu giờ ba mươi

Hai mươi bốn tháng năm

Năm hai nghìn lẽ hai

Lữa tự thiêu cất lên cao ngất

Sau chùa Minh Giác

Thuộc vùng Smithfield

Duyên đã mãn

Hoa khai kiến Phật

 

Nơi thầy về là đất Lạc Bang

Phật A Di Ðà

Và Thánh Chúng hàng hàng

Ðều hoan hỹ

Ðón đóa sen vừa nở

 

Ngày hỏa thiêu Hòa Thượng

Thích An Thiên

1-6-2002 tại Sydney

Từ những địa danh

 

Ðến mỗi nơi anh được thêm một ít

Hạt tình thương vào mãnh đất tâm hồn

Sydney chiều nọ mưa nguồn

Mây bay lạnh giá bồn chồn ra đi

 

Qua vùng nắng ấm còn nghe

Chim bên nầy nhớ tiếng ve bên mình

Sông đào dòng đục Bá Linh

Qua bao dặm sắt tường thành còn ghi

Ðông Tây thuở ấy còn chi

Dòng đen sử cũ qua đi một thời

Nhớ về em mấy dặm trời

Mùa Ðông còn đó từ nơi Hạ nầy

Mây hồng muôn dặm trời Tây

Nóng rang như nhịp tim nầy có em

Hòa Lan nước ngọt cao hơn

Ruộng nương, vườn cãi…

Hoa đơm nụ hồng

 

Chim hè lượn khắp Tây, Ðông

Phố xưa nhòa vẫn lòng không sắc vàng

Paris cổ kính huy hoàng

Công phu mấy độ thênh thang lối vào

Tháp Effel kia, sông  Seine nọ

Vãy chào

Khải Hoàn Môn đứng

Gió vào lòng không

Cây cao mây cũng lạc lòng

Ôm chân trời mộng, một vòng hào quang

London nhịp thở rộn ràng

Hai màu Ðen, Ðỏ tô hồng ngày qua

 

Nẽo cao, cao vút sơn hà

Nẽo gần cát bụi vào ra mịt mù

Mây bay vần vũ thẫn thờ

Vì ai trời thấp như chờ đợi ai

Sydney, trở lại hôm nay

Nắng lên ta lại bên nhau trời hồng.

 

Sydney

ngày 24-8-1997

Trở về  thăm mẹ

 

Năm lên mười mấy tuổi

Tôi đã vội xa nhà

Bên hàng cau nhớ mẹ

Chiều chiều bỗng xót xa

 

Mái chùa sau lũy tre

Trên triền đồi vắng lặng

Lá khô buồn rơi rụng

Nhóm lửa giữa đêm hè

 

Cây khô buồn nhớ nước

Từng gánh trĩu oằn vai

Sương rơi vào hạt nắng

Hoa mới đã thêm đài

 

Tôi trở về thăm mẹ

Ðường thôn giấy đỏ hường

Mùi hương thơm cỏ dại

Áo vải sờn bên nương

 

Từng buổi sáng mờ sương

Ðôi tay hai gàu nước

Tưới từng hàng cây thuốc

Vóc mẹ gầy thêm thương

 

Ngoài đồng gieo luống mạ

Mẹ tát nước gàu sòng

Nước xanh bên cỏ biếc

Nắng chảy dài quanh năm

 

Dưới trăng đi hái mè

Gió hiu hiu đêm hè

Trên nữa đời tóc bạc

Mẹ vẫn cười hiền lương

 

Ðêm đêm mẹ vẫn thức

Canh giấc ngủ đàn con

Từng tấm chăn mẹ đắp

Cho con an giấc nồng

 

Ðèn mù u lụn dần

Sương khuya rơi thấm lạnh

Theo đường kim mối chỉ

Mẹ vẫn ngồi bên song

Hoa mai vàng trước ngỏ

Giàn trầu không lộng gió

Từ biệt mẹ tôi đi

Lệ tràn đôi mắt đỏ

 

Saigon những mười năm

Mấy lần về thăm mẹ

Mái tranh nghèo vắng vẻ

Khoai sắn vẫn xanh chồi

 

Ðông Kinh mười bảy năm

Cũng mấy lần thăm mẹ

Nương rẫy khô cằn cỗi

Mẹ vẫn ở mái tranh

 

Sydney tròn sáu năm

(tháng 12-1992)

Tôi lại về thăm mẹ

Buổi tiễn đưa lặng lẽ

Mẹ nắm chặt tay con

 

Ðưa đến cuối đường thôn

Mẹ tôi oà lên khóc

Dõi theo con, ánh mắt

Màn lệ mờ như sương

 

Nào ngờ lần đưa tiễn

Ðó là lần sau cùng

Giờ mẹ nằm yên giấc

Trong nấm mồ cuối thôn.

 

Sydney 1996

Mẹ Nguyễn Thị Tía

Mất ngày 1-3-1996

Tại Quảng Ngãi

 

Từ Ðông Sang Hạ

 

Kính tặng Thượng Tọa Thích Như Ðiển

 

Bên nầy (Sydney, Australia)

Trời giữa mùa đông

Nam bán cầu lắm mây bềnh bồng trôi

Sydney gặp lại thầy rồi

Từ mùa thu trước nhớ lời mời nhau

Hoa lan hương vẫn còn đây

Thoảng đưa theo gió Ðông,Tây nối liền

Nhớ ngày Pháp Bảo đêm trăng

Trung Thu năm trước trời giăng mây hồng

 

Hát lên để đón đưa người

Bắc, Nam hai nữa bán cầu kề nhau

Tôi đi để gặp thầy đây

Mùa Ðông, nam bán cầu nầy đang mưa

Con tàu lướt khỏi rừng mây

Qua bao dặm Bắc chưa khuây bóng chiều

Trên không tiếng núi dường nghe

Tầng mây cao thấp chở che lòng người

Ðồng hương, đồng bạn, đồng thời

Cùng bao chí hướng vì đời có ta

Con tàu tây bắc dặm xa

Bay qua xứ Phật, nhìn hoa nhớ Ngài

 

Ðời ta, con suối muộn màn

Sao không khởi tự mấy ngàn năm xưa!

Thấm nhuần Pháp Bảo ơn mưa

Cho hoa nhụy thắm kiếp đưa khỏi bờ

Mumbai (Ấn-Ðộ) trời đã vào đêm

Sương khuya chắn lối đèn thêm lu mờ

Chánh (Pháp) qua,

Tượng (Pháp) cũng qua mau

Ðời ta Mạc Pháp, chân sau bước chùng!

Càng khuya gió cũng lạnh lùng

Lối riêng, riêng giữa cõi lòng quạnh hiu

Ngày qua tàu đuổi bóng chiều

Vẫn không theo kịp tiêu điều vào đêm

Sáng nay đi trước bóng đêm

Vầng dương ló dạng lòng thêm nhiệt tình

Cất lên cao để thấy mình

Qua truông, qua suối, qua gềnh, qua khe

Vượt qua Ðông để đến Hè

Tạm xa giá buốt

Tiếng ve đón chào

Bắc đây giữa Hạ trời cao

Mây bay …

Cánh trắng, chim vào rừng thưa

Paris trời đã vào trưa

Văn minh mấy độ xuân xưa nối dài

Công chưa bù lại tội đồ

Chủ, nô thuở ấy thành “mồ văn minh”

 

Hannover  đến rồi đây

Bắt tay chia nỗi vui nầy với hoa

Chim trời trỗi nhạc hòa ca

Tương lai ló dạng thấy tòa mây trôi

Ðồng hương, đồng đạo, đồng thời

Lướt xa triền phượt

Tâm rời Có, Không

Ðến nơi Viên Giác, tột cùng. 

 

Trên những chuyến bay Quantas  và Air-France từ Sydney đến Hannover, Ðức quốc. Từ 13 đến 14 tháng 7 năm 1997

Cha sống mãi giữa đời con 

Lũy tre xanh

Ngăn mấy mùa gió chướng

Đất khô cằn sao mai mọc lên đồng

Nước gàu sòng cho lúa mạ thêm xanh

Từng hàng thuốc có cha gầy vun tưới

 

Nhớ từ thuở lên năm

Cha liệt giường ngã bệnh

Mẹ âu sầu quấn quít con nhóc nheo

Khói đồng quê ám ảnh nỗi nghèo

Trời u ám mấy màn đêm buông xuống

 

Ác khí trời đông bếp lửa không đủ củi

Lạnh co ro cha nhường chiếu cho con

Thảm cảnh miền quê đeo đẳng vẫn còn

Một nắng hai sương đôi tay chai cứng

 

Vừa mới lớn  con xa nhà ra tỉnh

Đường chông gai là đường hướng tương lai

Tóc đã hoa râm, cha mấy lần đưa tiễn

Nắng táp sương sa da nhăn bóng xế

Cha gượng cười sau màn lệ tiển con

 

Nơi xứ người nỗi khổ áo cơm

Làm sao sống!

Sách vỡ đâu mà học!

Cha mẹ cho con hình hài khối óc

Chí kiên cường tất cả sẽ vượt qua

 

Và hôm nay

Mẹ mất!

Cha đã già!

Con xa xứ xin hướng về từ phụ

Một niềm tin không gì lay chuyển nỗi

Cha không già sống mãi giữa đời con

  

Sydney

Rằm tháng 8 năm 2000

Nhớ về tiền kiếp

 

Có một đêm mơ

Nhớ về tiền kiếp

Thuở ấy tôi là con chim

Bay qua vùng núi tuyết

Tìm cỏ hoa dưới chân núi sườn đồi

Bay đi hoài và bay mãi không thôi

Tôi kiệt sức té lăn vào khe núi

Sức tôi nặng vẫy tan vùng cát bụi

Khi tĩnh ra vừa thấy cỏ hoa cười

 

Có một kiếp tôi là con ngựa khỏe

Ghét tiếng reo lục lạc trên cổ mình

Phi nước đại tránh tiếng ồn réo rắt

Nhưng càng phi tiếng réo lại càng tăng