Loài
hoa
bình
dị
Thích
nữ
Diệu
Nhẫn
Đỉnh
cao
của
nghệ
thuật
chính
là
tắm
mình
trên
dòng
sông
thực
tại
?
Không
!
Khơi
ngọn
suối
Từ
về
tưới
mát
thiên
đàng
xanh
tuổi
thơ,
một
cánh
hoa
bình
dị
cũng
ẩn
chứa
cả
một
khung
trời
nghệ
thuật
mà
người
lớn
không
thể
nào
viết
nổi,
tả
hết.
Saint
Éxupery
đã
có
lần
thốt
lên
như
thế.
SUỐI
NGUỔN
xin
giới
thiệu
một
cánh
hoa
bình
dị,
thơ
dại,
hồn
nhiên,
chân
thật
nhưng
bát
ngát
nghĩa
tình.
Hãy
lắng
nghe
gió
nội
hương
đồng
đang
bàng
bạc...
Nắng
hồng
bắt
đầu
tươi
thắm
trên
muôn
ngàn
cây
cỏ.
Các
chú
chim
non
trên
những
cành
Thủy
Liễu
ríu
rít
hòa
lên
những
điệu
thanh
thót.
Thủy
Liễu
là
một
cây
dễ
sanh
sôi
ven
bờ
sông
rạch
miền
Nam,
người
dân
Bến
Tre
gọi
Thủy
Liễu
là
cây
Bần,
cái
tên
mộc
mạc
nghèo
nàn,
lam
lũ
như
cuộc
đời
của
họ.
Cái
tên
xinh
xắn
ba
đặt
cho
em
cũng
là
Thủy
Liễu.
Chiến
tranh
đã
qua,
nó
đã
cuốn
trôi
tất
cả
tuổi
thanh
xuân
của
ba,
mái
ấm
gia
đình
mà
ba
đã
tạo.
Ba
không
giữ
được
gì,
kể
cả
trái
tim
người
phụ
nữ
mà
ba
yêu
quí
nhất.
Nghĩ
đến
những
lúc
đương
thời,
ba
cũng
là
một
người
thanh
niên
thanh
lịch,
nhưng
bây
giờ,
ba
an
phận
với
kiếp
sống
lam
lũ
của
mình.
Ba
chỉ
còn
sót
lại
một
niềm
an
ủi
duy
nhất
là
hạt
giống
của
ba,
trồng
trên
đất
mẹ
trổ
hoa
kết
trái,
chính
là
bé
Thủy
Liễu.
Gia
sản
của
ba
và
Thủy
Liễu
là
căn
nhà
lá
nhỏ
thô
sơ,
nằm
sát
bờ
sông,
chỉ
vừa
đủ
để
một
chiếc
giường
tre,
cạnh
bàn
ăn
cơm
nhỏ.
Một
chiếc
xuồng
con,
là
phương
tiện
hằng
ngày
ba
đưa
khách
sang
sông
kiếm
tiền
nuôi
Thủy
Liễu.
Liễu
thương
lắm
ngôi
nhà
tranh
nhỏ
bé,
tổ
ấm
chứa
chan
bao
tình
thương
mà
ba
dành
cho
em.
Em
cũng
cưng
lắm
chiếc
xuồng
con
xinh
xắn,
nó
thường
chở
Liễu
băng
mình
trên
những
con
sóng
nhỏ
đến
chợ,
mua
bánh,
mua
quà.
Nhưng
người
mà
em
thương
quý
nhất
là
ba,
làm
lụng
suốt
ngày
tay
ba
chai
cứng.
Bóng
ba
đổ
xuống
bờ
sông
trong
những
buổi
trưa
hè
nắng
gắt.
Ba
đã
đội
những
cơn
mưa
tầm
tã
giống
như
bao
khổ
đau
của
đời
trút
hết
lên
vai
để
đưa
khách
sang
sông.
Mỗi
ngày
đưa
khách
sang
sông,
tiền
chỉ
đủ
trang
trải
trong
ngày,
tiền
còn
thừa
lại
ba
cho
Liễu
chạy
ù
ra
tiệm,
mua
bánh
tai
heo,
"bắng
bu"
là
bánh
bò
đấy.
Ăn
liền
!
Ba
vừa
là
cha
cũng
vừa
là
mẹ,
ba
nấu
cơm,
ru
Liễu
ngủ,
tất
cả
đều
do
ba
làm
tất.
Ban
ngày
Thủy
Liễu
thường
chơi
một
mình,
chỉ
có
buổi
tối
nhõng
nhẽo
với
ba
chút
xíu.
Liễu
vẫn
thường
chui
rúc
vào
lòng
ba,
đòi
ba
kể
chuyện
hay
hát
ru
cho
ngủ.
Ba
kể
chuyện
thì
hay
lắm,
chớ
còn
hát
thì
giọng
ồ
ề,
chẳng
hay
tí
nào.
Sáng
nào
thức
dậy
cũng
có
sẵn
ly
sữa
và
cái
"bắng
bu"
trên
bàn
mỉm
cười
chờ
Liễu.
Hôm
nào
Liễu
bệnh
thì
phải
biết.
Liễu
đợi
ba
dỗ
dành
rồi
mới
chịu
uống
thuốc.
Nhà
nghèo,
Liễu
không
có
đồ
chơi
gì
cả,
chỉ
có
những
con
trâu,
cái
nồi,
cái
chén
do
ba
nắn
bằng
đất
khi
vắng
khách.
Ba
còn
lấy
thân
ba
làm
xe
cho
Liễu
chạy.
Ba
đặt
Liễu
trên
vai,
hai
bàn
tay
nhỏ
xíu
của
Liễu
nắm
lấy
hai
tai
ba
làm
tay
lái,
thế
là
Liễu
tha
hồ
phùng
má
"ụn
ụn"
chạy.
Còn
những
buổi
trưa
hè
nóng
bức,
ba
lấy
xuồng
chở
Liễu
đi
cặp
theo
hàng
Thủy
Liễu
hái
những
quả
chín
vàng
cho
em
ăn.
Liễu
tinh
nghịch
đập
nước
văng
tung
tóe,
ướt
cả
mình
Liễu
và
ba.
Nhưng
ba
không
rầy
mà
còn
cười
vui,
trước
nụ
cười
thơ
dại
của
Liễu.
Liễu
biết
nhõng
nhẽo
cũng
hư
chút
chút,
nhưng
nhõng
nhẽo
thì
thích
lắm,
làm
sao
bỏ
được
!
Những
buổi
cơm
thịnh
soạn
của
cha
con
Liễu
chỉ
có
vài
chú
cá
bống
con
kho
mỡ
hành,
Liễu
ăn
toàn
phần
thịt,
còn
ba
chỉ
ăn
xương
mà
thôi.
Nhiều
lúc
ba
đang
ăn
cơm,
có
khách
kêu
đò
ba
vội
đứng
lên
đi
đưa
khách
ngay,
ít
có
bữa
nào
Liễu
được
ăn
cơm
với
ba
trọn
buổi.
Cạnh
nhà
Thủy
Liễu
có
ngôi
cổ
tự
Quan
Âm,
sáng
nào
cũng
vậy,
khi
nghe
tiếng
chuông
chùa
ngân
vang
là
Thủy
Liễu
giật
mình
thức
giấc.
Ba
cũng
dậy
để
đưa
những
cô
bán
hàng
sang
sông
cho
kịp
buổi
chợ.
Ba
thường
nói
mình
là
người
Phật
tử
lâu
năm.
Những
buổi
chiều
mưa
khách
vắng,
ba
thường
dẫn
Liễu
sang
chùa.
Ba
sắm
cho
Liễu
một
bộ
quần
áo
mới,
để
ăn
mặc
lành
lặn
khi
đi
lễ
Phật.
Phần
ba
chỉ
có
chiếc
áo
sơ
mi
cũ
và
một
chiếc
quần
ka
ki
rách
cả
hai
đầu
gối.
Khi
Liễu
hỏi
:
-
Sao
ba
không
sắm
cho
ba
một
bộ
đồ
mới
để
đi
lễ
Phật
?
-
Ba
không
cần
đồ
mới,
khi
vào
chùa
ba
đi
bằng
cửa
sau
làm
công
quả,
khi
về
trời
tối
cần
gì
đồ
mới
?
Còn
đưa
đò
mà
mặc
đồ
mới
thì
mau
cũ
lắm
con
à
!
Lễ
quy
y
ảnh
hưởng
rất
nhiều
đến
nếp
sống
sinh
hoạt
của
ba.
Ba
thường
nhắc
Liễu
về
giới
cấm
sát
sanh
và
cấm
uống
rượu
vì
rượu
làm
ba
say.
Thầy
dạy
thì
giờ
uống
rượu
hút
thuốc
là
lãng
quên
thực
tại,
mà
ba
đâu
có
muốn
lãng
quên
con
gái
cưng
của
ba
!
Những
ngày
lễ
hội,
khách
sang
sông
khá
đông.
Dư
được
ít
tiền,
ba
"cắc
ca
cắc
củm"
mấy
tháng,
đưa
cho
Liễu
rồi
bảo
:
"Con
đem
cúng
dường
cho
có
phước".
Liễu
bỏ
tiền
vào
thùng
phước
điền
và
thầm
khấn
:
"Tiền
này
là
của
ba
con,
xin
Phật
ban
phước
cho
ba,
để
ba
được
bình
an
mà
nuôi
con
hoài…"
Bao
nhiêu
tình
thương
ba
dành
hết
cho
Liễu,
đáp
lại
Liễu
cũng
rất
ngoan,
lúc
nào
cũng
quấn
quít
bên
ba.
Đi
học
Liễu
rất
chăm.
Vì
thương
ba
cực
khổ
nên
niên
học
nào
Liễu
cũng
đạt
học
sinh
giỏi.
Thời
gian
thấm
thoát
đã
gần
cuối
năm
học
lớp
chín.
Kỳ
thi
văn
năm
ấy
nhà
trường
cho
đề
thi
về
mẹ.
Liễu
cảm
thấy
bối
rối
vô
cùng,
vì
mặt
mẹ
Liễu
còn
không
biết,
làm
sao
kể
về
mẹ
được.
Bài
thi
thật
kém
điểm.
Liễu
về
nhà
hỏi
ba
:
-
Ba
ơi
!
Má
con
đẹp
không
ba
?
Sao
má
không
ở
chung
với
ba
con
mình
hả
ba
?
Ba
trầm
lặng,
đăm
đăm
nhìn
ra
bờ
sông
rồi
nói
với
Liễu,
giọng
như
lạc
hẳn
đi
:
-
Má
con
đẹp
lắm,
bởi
ba
nghèo
nên
ba
và
má
đã
xa
nhau
khi
con
mới
lên
hai
tuổi.
Nghe
ba
nói
vậy,
Liễu
lao
vào
lòng
ba
khóc
nức
nở,
ngước
mắt
lên
Liễu
thấy
ba
cũng
khóc.
Nhưng
một
lúc
rồi
thôi,
vì
ba
thương
Liễu
lắm
!
Mà
Liễu
cũng
thương
ba
nữa
nên
không
dám
khóc
nhiều
vì
sợ
ba
buồn.
Năm
nay
là
năm
đầu
tiên
Liễu
được
dự
lễ
Vu-lan
tại
chùa
Quan
Âm.
Chùa
năm
nào
cũng
tổ
chức,
nhưng
lúc
còn
bé
Liễu
chỉ
thích
ăn
chè
thôi
chứ
có
hiểu
gì
đâu.
Với
chủ
đề
"Một
bông
hồng
cho
mẹ",
thầy
thuyết
pháp
thật
hay,
làm
cho
mọi
người
đều
rơi
nước
mắt.
Liễu
cũng
đón
nhận
một
bông
hồng,
nhưng
nước
mắt
em
không
rơi,
cũng
không
cảm
nhận
được
hương
vị
của
cánh
hồng.
Em
chợt
nhớ
đến
ba
và
chạy
một
mạch
về
nhà.
Ba
đang
ngồi
vá
chiếc
áo
cũ
cho
em.
-
Ba
ơi
!
Bông
hồng
tượng
trưng
cho
má
dù
con
không
biết
má,
con
muốn
có
bông
gì
đó
tượng
trưng
cho
ba.
-
Bông
tượng
trưng
cho
ba…,
bông
gì
chẳng
được.
Để
ba
tìm
cho
con.
Ba
đi
nhanh
ra
trước
sân
nhà,
nhưng
không
tìm
được
cành
hoa
nào
cả.
Nhìn
thấy
đám
bông
lục
bình
màu
tím
đang
trôi
bềnh
bồng
giữa
dòng
sông.
Ba
bơi
chiếc
xuồng
ra
giữa
dòng
hái
một
cành
hoa
lục
bình
nhỏ
nhất.
Cánh
hoa
màu
tím
u
buồn
như
cuộc
đời
ba.
Liễu
sung
sướng
đón
cành
hoa
lục
bình
từ
tay
ba.
Em
cảm
thấy
thương
ba
vô
hạn.
-
Ba
ơi
!
Con
muốn
nói
với
ba
điều
này.
-
Gì
vậy
con
?
-
Ba
có
biết
rằng
con
rất
hãnh
diện
là
con
của
ba
và
con
rất
thương
ba
không
?
Rồi
Liễu
ôm
chầm
lấy
ba
khóc
như
mưa.
Ba
cũng
khóc,
những
giọt
nước
mắt
yêu
thương
của
ba
rơi
ấm
bờ
vai
gầy
của
Liễu.
Dù
buổi
Vu-lan
ban
tổ
chức
có
lãng
quên
hay
lu
mờ
hình
ảnh
của
người
cha,
nhưng
đối
với
Liễu,
ba
là
người
mà
Liễu
thương
yêu
nhất.
Cũng
từ
đó
Liễu
thương
lắm
những
cành
hoa
lục
bình
màu
tím.
Tháng
chín
năm
ấy
nước
lũ
đổ
về,
nhà
Liễu
bị
ngập
tất
cả,
chỉ
còn
có
chiếc
giường
tre
là
khô
ráo.
Lúc
này
ba
hối
hả
chở
giúp
đồ
của
cô
bác
hàng
xóm
di
cư
lên
miền
cao.
Liễu
thì
co
ro
trên
chiếc
giường
học
bài.
Đến
chiều
tối
không
thấy
ba
về.
Liễu
đứng
ngồi
không
yên,
vô
cùng
lo
lắng
cho
ba.
Đợi
mãi
đến
nửa
đêm,
chú
Ba
hàng
xóm
chạy
sang
gọi
Liễu
:
-
Liễu
à
!
-
Dạ,
chú
Ba
gọi
con
Vừa
nói
Liễu
vừa
vặn
to
ngọn
đèn
dầu
lên.
-
Ba
mày
nhắn
tao
biểu
mày
ở
nhà
cứ
yên
tâm
ngủ
đi,
đừng
chờ
ba
về.
-
Ba
con
sao
hả
chú
?
Chú
Ba
ấp
a
ấp
úng
rồi
ngập
ngừng
trả
lời
:
-
Ờ…
ờ..
ba
mày
nhậu
xỉn
ngủ
ở
nhà
thằng
Hai
rồi.
Nói
xong
chú
đi
một
nước.
Đêm
đó
Liễu
không
tài
nào
ngủ
được,
vừa
nhớ
ba,
vừa
lo
sợ
:
"Có
khi
nào
ba
uống
rượu
đâu
mà
xỉn
?
Chắc
ba
có
chuyện
gì
rồi…"
Nghĩ
vậy
Liễu
úp
mặt
vào
gối
khóc
nức
nở,
rồi
ngủ
thiếp
đi
lúc
nào
không
hay.
Đến
sáng
thức
dậy
thì
Liễu
thấy
chú
Ba
kè
ba
về.
Chân
ba
sưng
to.
Mới
vừa
nhìn
thấy
Liễu
đã
òa
khóc,
chạy
nhanh
đến
bên
ba,
dìu
ba
vào
nhà.
Ba
ngồi
xuống
giường,
tay
vuốt
tóc
Liễu,
ba
nói
:
-
Ba
có
sao
đâu
mà
con
khóc
?
Hồi
tối
ở
nhà
con
có
trông
ba
không
?
Liễu
không
nói
gì,
chỉ
ấm
ức
khóc.
Thấy
vậy
chú
Ba
bảo
:
-
Nín
đi
con,
ba
mày
không
sao
rồi.
Chiều
qua
khi
đưa
cô
Năm
sang
vườn
trở
về,
ba
mày
thấy
bông
lục
bình
đẹp
quá
nên
lội
vào
bờ
đìa
hái
cho
mày,
không
may
bị
rắn
cắn.
Nhưng
bây
giờ
đỡ
lo
rồi.
Liễu
ngước
lên
nước
mắt
lưng
tròng
hỏi
chú
Ba
:
-
Sao
hồi
tối
chú
Ba
nói
dối
con
?
Ba
cười
hiền
lành
rồi
thay
lời
chú
Ba
:
-
Ba
không
cho
nói
vì
sợ
con
lo.
Nghe
vậy
Liễu
thấy
thương
ba
vô
hạn,
nước
mắt
em
lại
ràn
rụa.
Những
ngày
ba
bệnh,
lần
đầu
tiên
Liễu
thay
ba
đưa
khách
sang
sông.
Bởi
ba
hiền
lành
nên
bà
con
thương
lắm,
vắng
ba
đưa
đò
ai
cũng
hỏi.
Khi
nghe
ba
bệnh
cô
bác
đều
ghé
thăm
làm
cho
Liễu
cũng
bớt
lo
!
Chứ
tiền
đưa
đò
hàng
ngày
không
đủ
mua
thuốc
cho
ba.
Càng
lớn
Liễu
càng
trở
nên
xinh
đẹp
thì
ba
càng
gầy
ốm,
già
thêm.
Tóc
ba
đã
điểm
những
hạt
trắng
đục.
Học
lớp
càng
cao
tiền
càng
nhiều,
mỗi
lần
xin
tiền
ba,
Liễu
cảm
thấy
đau
buốt
tim
mình
nhưng
biết
làm
sao
hơn.
Những
buổi
nghỉ
học
Liễu
muốn
thay
ba
đưa
khách
sang
sông,
nhưng
ba
không
cho,
ba
sợ
nắng
mưa
sẽ
làm
Liễu
bệnh.
Một
hôm
trời
mưa
tầm
tã,
Liễu
đi
học
về
ướt
hết
cả
người.
Đêm
đó
Liễu
bị
sốt
cao.
Ba
vội
vã
bế
Liễu
trên
tay
chạy
sang
hàng
xóm
mượn
xuồng
máy
đưa
Liễu
xuống
bệnh
viện.
Liễu.
Xuống
đến
bệnh
viện,
Liễu
được
đưa
vào
phòng
cấp
cứu.
Ba
ở
ngoài
đứng
ngồi
không
yên.
Một
giờ
sau
Liễu
được
chuyển
xuống
trại.
Bác
sĩ
nói
Liễu
không
sao,
ngày
mai
có
thể
xuất
viện
rồi.
Nghe
bác
sĩ
nói
vậy
ba
như
trút
bỏ
được
gánh
nặng
ngàn
cân.
Khi
tỉnh
lại,
Liễu
thấy
ba
ngồi
bên
cạnh
mình.
Thấy
Liễu
tỉnh,
ba
mừng
lắm,
có
cả
những
giọt
nước
mắt
long
lanh
trong
mắt
ba
mừng
theo.
Chợt
Liễu
thấy
một
cô
y
tá
nhìn
ba,
mỉm
cười
rồi
hỏi
:
-
Đây
là
con
gái
anh
à
!
Nó
bệnh
gì
vậy
?
-
Dạ
con
tôi
bị
cảm
sốt.
Nói
xong
ba
quay
sang
hỏi
Liễu
:
-
Con
có
muốn
ăn
gì
không
-
Dạ
con
muốn
ăn
cháo
ba
ơi
!
Ba
vội
vã
đi
ra
ngoài
mua
cháo
cho
Liễu.
Liễu
liền
hỏi
cô
y
tá
:
-
Cô
quen
ba
cháu
à
!
Cô
y
tá
cười
thật
tươi
rồi
đáp
:
-
Ba
cháu
thường
đến
đây
để
bán
máu,
nên
cô
nhớ
khuôn
mặt
ba
cháu.
Liễu
nghe
như
trước
mắt
mình
tối
sầm
lại,
mạch
máu
ngừng
không
chảy
về
tim.
Em
nghẹn
ngào
không
thốt
nên
lời
:
"Ba
ơi
!
Ba
đã
bán
máu
mình,
mua
sách
vở
cho
con
đi
học,
mà
bấy
lâu
nay
con
đâu
có
biết".
Thấy
Liễu
nghẹn
ngào
cô
y
tá
hỏi
:
-
Cháu
có
sao
không
?
-
Dạ
không.
Thấy
ba
từ
xa
đi
vào
Liễu
vội
lau
khô
hai
hàng
nước
mắt,
gượng
nở
nụ
cười
để
cho
ba
đừng
biết
rằng
mình
vừa
mới
khóc.
Khi
xuất
viện
về,
Liễu
quyết
định
không
đi
học
nữa
vì
thấy
ba
quá
cực
khổ
để
lo
cho
việc
học
của
Liễu.
Xa
rời
sách
vở,
bạn
bè,
xa
cả
chiếc
áo
dài
thân
thương,
Liễu
cũng
buồn
lắm.
Liễu
nhìn
thấy
trong
tập
vở,
bút
mực,
quần
áo
thấm
từng
giọt
máu,
mồ
hôi
của
ba.
Khi
nghe
Liễu
nói
mình
nghỉ
học,
ba
rầy
suốt
cả
mấy
ngày.
Ba
buồn
lắm
và
khuyên
Liễu
nên
đi
học
lại.
Ở
nhà
buồn
vô
hạn,
chợt
nghe
tiếng
chuông
chùa
ngân
vang
trầm
bổng,
Liễu
cảm
thấy
nhẹ
nhàng
thanh
thản.
Liễu
vội
sang
chùa
lễ
Phật
để
cầu
nguyện
cho
ba
được
bình
an,
còn
Liễu
thì
có
việc
làm
để
phụ
giúp
ba,
cho
ba
bớt
đi
phần
cực
khổ.
Khi
nghe
Thầy
thuyết
bài
pháp
:
"Đứa
con
hiếu
thảo
yêu
thương
cha
mẹ
thì
phải
nuôi
chí
nguyện
xuất
gia
mới
mong
đền
đáp
được
công
ơn
cha
mẹ".
Liễu
như
bừng
tỉnh,
đến
thưa
với
Thầy
và
nói
ý
định
mình
muốn
xuất
gia.
Thầy
trầm
ngâm
suy
nghĩ
một
hồi
lâu
rồi
hỏi
Liễu
:
-
Con
có
xin
ý
kiến
ba
chưa
?
Liễu
nói
dối
rằng
đã
xin
rồi.
Thầy
nói
:
-
Chùa
Thầy
ở
thôn
quê
là
chùa
Tăng,
nếu
con
muốn
đi
tu
thì
Thầy
sẽ
dắt
con
lên
thành
phố,
gởi
con
ở
một
chùa
Ni,
ở
đó
cũng
thuận
tiện
cho
việc
tu
học
của
con.
Liễu
gật
đầu
đồng
ý
và
thưa
Thầy
ra
về.
Đến
nhà
thấy
ba
vẫn
chưa
ăn
cơm,
ba
còn
chờ
Liễu.
Ba
cười
vui
vẻ
không
còn
giận
Liễu
nữa,
ba
gọi
:
-
Đi
đâu
về
trễ
vậy
?
Ăn
cơm
đi
con.
Mâm
cơm
chỉ
có
"cơm
hẩm
cá
hiu"
mà
Liễu
ăn
ngon
vô
cùng.
Vừa
ăn
Liễu
vừa
nhìn
ba.
Ba
đã
già
quá
rồi,
mặt
ba
đen
nám
bởi
nắng
buổi
trưa
hè,
đôi
mắt
ba
quầng
thâm,
những
vết
chân
chim
hằn
sâu
ở
khóe
mắt
ba,
hai
má
ba
hóp
lại,
tóc
ba
gần
như
bạc
trắng,
hai
tay
ba
đen
và
chai
cứng.
"Ôi
ba
ơi
!
Biết
bao
giọt
mồ
hôi
và
nước
mắt
của
ba
đã
đổ
xuống
những
hạt
cơm
này
để
nuôi
con
khôn
lớn".
-
Liễu
ăn
cơm
đi
con.
Ba
gắp
miếng
xương
bỏ
vào
chén
mình
còn
thịt
thì
bỏ
sang
cho
Liễu.
Liễu
nghe
mắt
mình
cay
cay
và
môi
mình
mặn
đắng.
Cơm
xong
Liễu
dọn
dẹp.
Ba
nói
:
-
Liễu
à
!
Ngủ
đi
con,
khuya
lắm
rồi.
Từ
khi
Liễu
lớn,
ba
để
Liễu
ngủ
trên
chiếc
giường
tre
một
mình.
Ba
nằm
ngủ
trên
chiếc
võng
đã
cũ
rách.
Có
chiếc
mền
duy
nhất
ba
cũng
dành
cho
Liễu.
Nghe
tiếng
thở
dài
của
ba
biết
ba
chưa
ngủ,
Liễu
bước
xuống
giường
vặn
ngọn
đèn
dầu
lên.
Ba
hỏi
:
-
Sao
không
ngủ
đi
con
?
Liễu
ấp
úng
không
biết
nói
sao,
em
cố
gắng
hết
sức
mới
nói
thành
lời
:
-
Ba
ơi
!
Con
có
việc
muốn
thưa
với
ba.
Thấy
sự
bối
rối
của
con,
chắc
có
chuyện
gì
đây.
Ba
ngồi
dậy
:
-
Con
nói
đi.
-
Ba
ơi
!
Con
muốn
xin
ba
cho
con
xuất
gia.
Ba
không
nói
một
lời
nào
cả.
Ba
lắp
bắp
tìm
lấy
điếu
thuốc
hút.
Liễu
và
ba
cùng
im
lặng.
Nhưng
rồi
không
còn
chờ
được
nữa,
Liễu
xà
vào
lòng
ba
khóc
nghẹn
ngào.
Ba
vuốt
tóc
Liễu
nói
trong
xúc
động
:
-
Nếu
con
muốn
xuất
gia
thì
ba
cũng
đồng
ý.
Đừng
khóc
nữa
con,
đừng
khóc
nữa.
Liễu
muốn
nói
thật
nhiều
với
ba
nhưng
không
sao
nói
được,
nước
mắt
cứ
ràn
rụa.
Ba
cũng
khóc.
Như
xúc
động
với
tình
cảm
của
cha
con
Liễu,
bên
hiên
nhà
cũng
nhỏ
từng
giọt
mưa
tí
tách.
Ba
đã
đồng
ý,
và
ngày
Thầy
dắt
Liễu
đi
lên
thành
phố
tu
học
cũng
đến.
Ba
lục
hết
những
đồng
tiền
còn
sót
lại
dúi
vào
tay
Liễu,
rồi
lấy
xuồng
đưa
Thầy
và
Liễu
sang
sông.
Bước
lên
bờ
Liễu
nhìn
lại
mái
nhà
lá
cũ
nát
của
mình,
bờ
sông
thân
thương,
con
xuồng
bé
nhỏ
đã
sống
với
Liễu
từ
bé.
Dòng
sông
như
ngừng
chảy,
hàng
Thủy
Liễu
cũng
nghẹn
ngào
trong
buỗi
tiễn
đưa.
Còn
ba,
ba
già
nua
cằn
cỗi
đứng
trên
chiếc
xuồng
con
đang
rưng
rưng
nhìn
Liễu.
Từ
đây
Liễu
sẽ
xa
nơi
này.
Liễu
quay
mặt
đi
để
giấu
hai
hàng
nước
mắt.
-
Thưa
ba
con
đi.
Nói
xong
Liễu
đi
thật
nhanh,
không
dám
quay
lại
nhìn
ba,
vì
sợ
quay
lại
chắc
em
không
đi
được
nữa.
Nhưng
Liễu
vẫn
cảm
nhận
được
sau
lưng,
dáng
cha
gầy
đổ
xuống
bờ
sông,
ven
hàng
Thủy
Liễu,
chạy
dài
hun
hút
đến
cuối
rặng
dừa
xanh,
thẫn
thờ
như
vừa
mất
đi
một
bảo
vật
vô
giá.
Thầy
gởi
Liễu
tu
ở
chùa
Thuận
Bài.
Cuộc
sống
nơi
đây
thật
êm
đềm.
Từ
ngày
Liễu
đi
đến
nay
đã
hơn
5
tháng.
Liễu
đã
được
xuất
gia
và
được
Thầy
đặt
tên
mới
là
Diệu
Nhẫn.
Diệu
Nhẫn
cũng
đã
phần
nào
nguôi
ngoai
nhớ
ba.
Chiều
hôm
ấy
Diệu
Nhẫn
nhận
được
lá
thơ
ba
từ
tay
Thầy.
Em
mừng
đến
rơi
nước
mắt.
Mở
thơ
ba
ra,
Nhẫn
nhìn
thấy
nét
chữ
ngoằn
ngoèo
của
chú
Ba.
Khi
còn
bé,
ba
sống
trong
thời
loạn
ly,
mà
nhà
nội
lại
nghèo
nên
ba
không
có
đi
học.
Lá
thơ
tuy
chú
Ba
viết,
nhưng
Nhẫn
vẫn
thấy
gương
mặt
hiền
lành
của
ba
trong
thơ.
Thơ
viết
:
"Liễu
con,
hôm
con
xuất
gia
Thầy
có
báo
cho
ba
biết.
Ba
rất
mừng,
nhưng
đường
quá
xa
ba
không
đi
dự
lễ
xuất
gia
của
con
được,
ba
buồn
lắm.
Từ
ngày
con
đi
ngôi
nhà
trở
nên
trống
vắng
quá,
chiếc
xuồng
nhỏ
của
con
cũng
buồn
thiu,
khách
sang
sông
cũng
vắng
hơn
lúc
con
còn
ở
nhà.
Ba
biết
con
thương
lắm
chiếc
xuồng
con
và
mái
nhà
lá.
Nhưng
đành
vậy
con
à,
ba
đã
sang
chiếc
xuồng
và
mái
nhà
lại
cho
một
đôi
vợ
chồng
khác
rồi.
Ba
về
quê
sống
với
ông
bà
nội.
Con
hãy
yên
lòng
mà
lo
tu
học,
đừng
lo
gì
cho
ba
nghe
con.
Ba
gởi
cho
con
gái
ba
ít
tiền
để
mua
sách
vở,
ba
chỉ
có
bấy
nhiêu
thôi,
ở
với
Thầy
ráng
hiền
lành
ngoan
ngoãn
nghe
con.