Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

No.20

 ---o0o--- 

THẤT GIÁC CHI

(Saptabodhyaṅgāni) 

TT. THÍCH ĐỨC THẮNG

 

Thất giác chi là hành pháp thứ sáu thuộc bảy hành pháp trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Thất giác chi còn gọi là Thất Bồ-đề phần, Thất đẳng giác chi, Thất biến giác chi, Thất giác phần, Thất giác ý, Thất giác chí, Thất giác chi pháp... Thất giác chi (Saptabodhyaṅgāni): Sapta ở đây là chỉ cho số bảy thuộc về số đếm; Bodhy có nghĩa là giác ngộ, tỏ rõ, hiểu rõ; aṅgāni là chỉ cho chi phần. Vậy theo nguyên ngữ của Saptabodhyaṅgāni thì được định nghĩa như là bảy pháp có khả năng làm trợ duyên trong việc triển khai trí tuệ giác ngộ cho hành giả để đạt đến Niết-bàn an vui giải thoát.

Thất giác chi cũng là một hành pháp rất quan trọng đối với việc trợ duyên cho việc đưa hành giả từ chỗ khổ đau đến chỗ an vui giải thoát, sự quan trọng của nó không kém gì các hành pháp trên. Ở đây qua bảy pháp giác chi này. chúng ta thấy có những pháp trùng hợp với những chi tiết của các hành pháp trên như: Niệm, tinh tấn, định giác chi chúng đã từng hiện diện trong những hành pháp trên... Nhưng vì chúng mang tính phổ quát, nên sự cần thiết của chúng trong mỗi hành pháp không thể không có được, nên sự hiện diện của chúng trở thành cần thiết cho mỗi hành pháp nói riêng và cho tính phổ quát của chúng nói chung. Vì vậy, nên để tùy theo từng loại căn cơ của các hữu tình chúng sanh mà đức Đạo sư chế ra nhiều hành pháp để làm trợ pháp trong phương pháp tu tập cho hành giả; vì nếu trong mỗi hành pháp mà thiếu chúng thì sẽ không hiện khởi để đưa đến việc thành tựu trong tu tập của hành giả và sẽ không đưa đến kết quả như chúng ta mong đợi được; nên để tùy căn cơ từng người, hành giả hợp với pháp môn nào theo tên gọi của các hành pháp thì có thể theo đó mà tu tập; tuy đứng về chi tiết có khác nhau, nhưng trên đại thể, về nội dung thì có nhiều chỗ giống nhau. Vì vậy, nên chúng ta sẽ thấy trong pháp môn “Thất giác chi” có nhiều chi tiết giống như các chi tiết trong các hành pháp khác; không những các chi tiết riêng trong hành pháp Thất giác chi tự chúng đã có sự sắp xếp vị trí khác nhau như trong Kinh-luận Đại tạng. Theo kinh Tạp A-hàm 26, Kinh Phật thuyết Đại thừa tùy chuyển tuyên thuyết chư pháp quyển 2 (T. 15, p. 0777b) và luận A-tỳ-đạt-ma Uẩn túc quyển 9 (T.26, p. 494c) thì sự sắp xếp các chi trong hành pháp giống nhau, nhưng trong một số Kinh-Luận khác lại có sự sắp xếp khác nhau về vị trí. Có lẽ đây cũng là do sự sắp xếp tùy theo căn cơ đối tượng người nghe, hay đó là sự sắp xếp theo các quan điểm phát triển sau này của Phật giáo qua các bộ phái. Ở đây người viết theo sự sắp xếp của một số đông Kinh-Luận và theo tiến trình hợp logic của tư tưởng mà giải thích chúng. Theo kinh Tạp A-hàm 26, kinh 707, trang 189c, đức Đạo sư đã tóm tắt chức năng công hiệu của hành pháp Thất giác chi trong việc đối trị những thối thất, chướng ngại che phủ tâm hành giả trong lúc thực hành tu tập, đức Phật dạy:

“Có năm chướng, năm cái, phiền não nơi tâm, có thể làm sút giảm trí tuệ và làm phần chướng ngại, chẳng phải minh, chẳng phải chánh giác, chẳng chuyển hướng Niết-bàn. Những gì là năm? Đó là tham dục cái, sân cái, thùy miên cái, trạo hối cái, nghi cái. Năm cái này là che kín, là bao phủ, phiền não ở tâm, khiến cho trí tuệ bị suy giảm, là phần chướng ngại, chẳng phải minh, chẳng phải đẳng giác, chẳng chuyển hướng Niết-bàn.

“Nếu là bảy Giác chi, thì chẳng che kín, chẳng bao phủ, chẳng phiền não nơi tâm, tăng trưởng trí tuệ, là minh, là chánh giác, chuyển hướng Niết-bàn.

Những gì là bảy? Đó là Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi, Xả giác chi. Như bảy Giác chi này chẳng che kín, chẳng bao phủ, chẳng phiền não nơi tâm, tăng trưởng trí tuệ, là minh, là chánh giác, chuyển hướng Niết-bàn.”

Qua những lời dạy trên thì hành pháp Thất giác chi trên tính phổ quát của giá trị có những khả năng không những chỉ đối trị các bệnh như che kín, bao phủ, tạo phiền não nơi tâm mà còn làm tăng trưởng trí tuệ, chuyển hướng hành giả đến Niết-bàn nữa. Và tiếp theo đức Đạo sư đưa ra những kết quả của giá trị thực tiễn khi hành giả thực hành Thất giác chi này, theo thứ tự trước sau để loại bỏ từ từ tất cả những pháp vô minh cấu uế làm mê mờ chướng ngại hành giả trong bước đường tiến đến thanh tịnh giải thoát như Kinh 711, trong Tạp A-hàm 26, đức Đạo sư đã dạy Vương tử Vô Úy:

“Nếu Bà-la-môn nào có một niệm thù thắng, quyết định thành tựu; những việc đã làm từ lâu, những lời nói từ lâu, có thể tùy theo nhớ nghĩ, ngay lúc ấy tu tập Niệm giác chi. Khi Niệm giác chi đã tu tập rồi, thì niệm giác đầy đủ. Khi niệm giác đã đầy đủ rồi, thì có sự lựa chọn, phân biệt, tư duy, lúc bấy giờ tu tập Trạch pháp giác chi. Khi đã tu tập Trạch pháp giác chi rồi, thì trạch pháp giác đầy đủ. Khi đã lựa chọn, phân biệt, suy lường pháp rồi, thì sẽ nỗ lực tinh tấn; ở đây, tu tập Tinh tấn giác chi. Khi đã tu tập Tinh tấn giác chi rồi, thì tinh tấn giác đầy đủ. Khi đã nỗ lực tinh tấn rồi, thì hoan hỷ sẽ sanh, xa lìa các tưởng về thức ăn, tu hỷ giác chi. Khi đã tu Hỷ giác chi rồi, thì hỷ giác đầy đủ. Khi Hỷ giác chi đã đầy đủ rồi, thì thân và tâm khinh an; lúc ấy tu Khinh an giác chi. Khi đã tu Khinh an giác chi rồi, thì khinh an giác sẽ đầy đủ. Khi thân đã khinh an rồi, thì sẽ được an lạc và khi đã an lạc rồi thì tâm sẽ định; khi ấy tu Định giác chi. Khi đã tu Định giác chi rồi, thì định giác sẽ đầy đủ. Khi định giác chi đã đầy đủ rồi, thì tham ái sẽ bị diệt và tâm xả sanh ra; khi ấy tu Xả giác chi. Khi đã tu Xả giác chi rồi, thì xả giác chi sẽ đầy đủ. Như vậy, này Vô Úy, vì nhân này, duyên này mà chúng sanh thanh tịnh.”

Ở trên, theo đức Đạo sư thì khi hành giả tu tập Thất giác chi theo thứ tự thì những kết quả chúng sẽ theo sau những thực hành đó. Nếu hành giả tu tập thực hành một cách liên tục, miên mật không gián đoạn đầy đủ rồi thì theo đó chúng ta sẽ đạt được những kết quả như mong muốn ngay trong hiện tại. Nhưng cũng có một số Kinh-Luận, mỗi giác chi trong Thất giác chi có giá trị của riêng chính nó trong việc thực hành, chứ không cần phải thực hành hết bảy giác chi theo thứ tự mới đưa đến kết quả như trong kinh Tạp A-hàm ở trên. Theo kinh Phật thuyết pháp thừa nghĩa quyết định 2, T. 17, p. 0657b đức Đạo sư dạy:

Thế nào là Thất giác chi? Phật dạy: Đó là Trạch pháp giác chi, Niệm giác chi, Tinh tấn giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi, Xả giác chi, Hỷ giác chi.

Thế nào là Trạch giác chi? Là đối với các pháp, mà có thể lựa chọn, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thế nào là Niệm giác chi? Đối các pháp, chánh niệm tu tập, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thề nào là Đnh giác chi? Là thường phát khởi diệu huệ thanh tịnh, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Sao gọi là Tinh tấn giác chi? Đối với việc hành thiện, siêng năng không giải đãi, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thế nào là Khinh an giác chi? Đối với các pháp xa lìa thô trọng, điều phục thân tâm, y chỉ ly dục, y chỉ tư duy, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thế nào là Xả giác chi? Đối với các pháp xa lìa phóng dật, khiến tâm tịch tịnh; y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thế nào là Hỷ giác chi? Đối với các pháp mà sinh hỷ thọ, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch tịnh, nhiếp phục tranh cãi.

Qua kinh này, chúng ta thấy sự sắp xếp các chi của chúng không giống như thứ tự của một số kinh luận khác. Mặc khác chúng cũng tự hoàn thành kết quả cho chính cách tu tập của tự chúng. Còn theo A-tỳ-đạt-ma Uẩn túc luận 9, thì sự liên hệ chi tiết giữa các hành pháp trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là cần thiết vì tính phổ quát của chúng, nên ở đây, trong hành pháp Thất giác chi vẫn sử dụng các pháp niệm, tinh tấn, định như những pháp đã được trình bày trong các hành pháp trước, để nhờ đó làm pháp đối trị tùy theo những chi tiết cần thiết của chúng mà ứng dụng. Theo những lời dạy của đức Đạo sư:

1/ Niệm giác chi: Theo A-tỳ-đạt-ma Uẩn túc luận 9 thì Niệm giác chi trong Thất giác chi, khi hành giả muốn tu tập thì phải dùng đến pháp quán Tứ niệm trụ (Tứ niệm xứ). Theo đức Đạo sư thì đệ tử của bậc Thánh đối trong thân, ngoài thân, trong ngoài thân phải trụ vào thân mà quán. Nếu ở đây chánh cần, chánh tri, chánh niệm đầy đủ thì sẽ trừ được tham ưu thế gian, cùng nội ngoại của thọ, tâm, pháp cũng đầy đủ như thân thì sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý. Các niệm theo niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên không mất, không trái, không lọt, không mất pháp tánh, tâm sáng tánh ghi nhớ, tất cả nói chung đều là niệm, cũng gọi là niệm căn, cũng gọi là niệm lực, cũng gọi là giác chi, cũng gọi là chánh niệm, chúng có khả năng chấm dứt khổ. Các bậc hữu học đối với các hành như sở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh, đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thoát, tư duy quán sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý; các niệm tùy niệm, cho đến tâm minh, tánh nhớ đó gọi là Niệm giác chi. Khi hành giả đã nhờ Tứ niệm trụ quán sát thân, thọ, tâm và pháp trong ngoài bằng vào chánh cần, chánh tri, chánh niệm biết rõ được bộ mặt thật của các pháp, nên vấn đề tu tập phải có sự lựa chọn tiếp theo đó trong pháp tu của hành giả.

2/ Trạch pháp giác chi: Tiếp theo là đệ tử của bậc Thánh, phải thường biết như thật pháp nào thiện, pháp nào bất thiện; pháp nào có tội, pháp nào không tội; pháp nào đáng tu, pháp nào không đáng tu; pháp nào hạ liệt, pháp nào thắng diệu; pháp nào đen, pháp nào trắng; pháp đối địch, pháp duyên sinh. Nếu ở đây hành giả biết tất cả pháp là như thật, pháp nào thiện, pháp nào bất thiện cho đến pháp duyên sinh thì sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý; đối với sự lựa chọn đến chỗ kỳ cùng, không còn lựa chọn được nữa; hiểu rõ, tỏ gần tỏ xa, thông đạt tất cả, quán sát thông tuệ, tuệ hạnh sáng tỏ; đó gọi chung là tuệ, cũng gọi là tuệ căn, cũng gọi là tuệ lực, cũng gọi là trạch pháp giác chi, cũng gọi là chánh kiến. Đối với Thánh đệ tử, chúng có khả năng diệt hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thoát, tư duy quán sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, đối các pháp lựa chọn, cho đến Tỳ-bát-xa-na (vipaśyanā: quán pháp) là dùng trí tuệ nhất tâm quán pháp, đó gọi là Trạch pháp giác chi. Sau khi hành giả đã lựa chọn pháp tu cho mỗi người rồi thì cần phải có sự siêng năng nổ lực trong pháp tu của mình.

3/ Tinh tấn giác chi: Tiếp đến đệ tử bậc Thánh, sau khi đã biết lựa chọn, biết pháp nào thiện pháp nào ác rồi, trong thực hành chỉ ác hành thiện thì phải tinh tấn dùng phương pháp Tứ chánh cần để tu tập. Vì muốn đoạn trừ các pháp ác, bất thiện đã sinh ra, nên siêng năng tinh tấn kiểm soát tâm, giữ gìn tâm.  Vì muốn cho các pháp ác bất thiện chưa sinh sẽ không sinh, nên phải khởi lòng siêng năng tinh tấn kiểm soát tâm, giữ gìn tâm. Vì muốn pháp lành chưa sinh khiến sinh, nên phải khởi lòng siêng năng tinh tấn trong việc khởi lên ý nghĩ nên hay không nên và đem áp dụng vào trong việc làm, nên hay không nên trong việc kiểm soát tâm và giữ gìn tâm. Vì muốn những việc thiện đã phát sinh trong việc nuôi lớn vững bền thêm, không khiến tâm quên, và muốn làm tăng trưởng rộng lớn trí tuệ tác chứng nên hành giả phát khởi lòng mong muốn siêng năng nỗ lực tinh tấn kiểm soát tâm mình, giữ gìn tâm mình lúc nào cũng thanh tịnh. Khi hành giả theo pháp tu Tứ chánh cần thì sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý; những nỗ lực tinh tấn, mạnh mẽ, kiên cường, hừng hực khó kiềm, gắng ý không dừng; tất cả đều gọi là tinh tất cả, cũng gọi là tinh tấn căn, cũng gọi là tinh tấn lực, cũng gọi là tinh tấn giác chi, cũng gọi là chánh cần. Đối với Thánh đệ tử, chúng có khả năng diệt hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thoát, tư duy quán sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, mọi nỗ lực tinh tấn, cho đến gắng ý không dừng nghỉ, đó gọi là Tinh tấn giác chi.

(còn tiếp)

 


 

Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG CỦA LỄ BÁI 

THÍCH THÁNH MINH

 

Thành ngữ Việt Nam có câu: “Thờ thì dễ, giữ lễ thì khó”, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu đề tài ý nghĩa và tác dụng của lễ bái.

Trước hết, chúng ta phải hiểu thế nào là lễ? Thế nào là lễ bái?

Lễ, theo Tự điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học Việt Nam, là phép tắc phải tuân theo khi thờ cúng tổ tiên, quỷ thần, hoặc giao tế trong xã hội. Nói một cách rộng rãi dễ hiểu hơn, đây là những quy tắc nhất định của cung cách, đi đứng, nói năng trong Quan, Hôn, Tang, Tế, nhằm thể hiện sự cung kính và bao gồm cả những phép lịch sự chào hỏi nhau để biểu lộ sự thân thiện quen biết. Nó còn là một phương tiện đặc biệt để gây tình cảm. Người dưới gặp người trên mà không biết chào hỏi là thiếu lễ độ. Người trên không biết đáp lại lời chào của người dưới, thường bị mang tiếng là hách dịch, khinh người.

Bái là sự cung kính biểu hiện ở thân tướng, nghĩa là quỳ lạy, bằng cách hạ mình xuống trước những bậc Hiền đức mà mình tôn kính. Lễ bái tiếng Phạn là Vandana, Tàu dịch âm là Ban-đàm, còn gọi là Hòa nam, hoặc gọi là Na-mô Tất-yết-la. Có nghĩa là ý tôn kính biểu hiện ra ở thân tướng, là lễ nghi cung cách với hình thức cúi đầu quỳ lạy trước những bậc tiền nhân, Thánh đức mà mình đã đặt trọn niềm tin quy ngưỡng hướng về, như lạy chư Phật, chư Hiền Thánh, như lạy tổ tiên, cha mẹ, thầy tổ v.v...

Lễ bái là một đạo nghĩa nhằm tiêu biểu cho ý chí tôn kính, để tỏ lòng tri ân và báo ân ngõ hầu trở thành những con người hữu ích trong xã hội, để làm tròn bổn phận của con cháu tông môn và để xứng đáng là đệ tử các bậc Thánh đức. Lễ bái còn là một phương pháp tu để diệt trừ lòng ngã mạn cống cao, diệt trừ những phiền não, nghiệp chướng.

Lễ bái là một nghi thức tín ngưỡng thường thấy ở một số tín ngưỡng tôn giáo phương Đông. Khởi nguyên, lễ bái biểu thị sự phục tùng, tôn kính tuyệt đối với các uy lực siêu nhiên, đấng thần linh mà con người tôn thờ. Dần dần, tùy theo sự phát triển của mỗi tôn giáo mà có những ý nghĩa khác nhau trong cách thức lễ bái. Ở đây, chúng tôi không thể so sánh hết tất cả các hình thái nghi lễ mà chỉ giới hạn tìm hiểu cách thức lễ bái của Khổng giáo và Phật giáo mà thôi.

Theo truyền thống Việt Nam, dân tộc ta phần đông chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Khổng giáo và Phật giáo. Do đó, mỗi người dân đều chịu ảnh hưởng không ít cách lễ bái của hai tôn giáo này. Thời xưa vua chúa đã quy định rõ ràng, mỗi người dân khi lễ bái vua, quan, hiền thần, đình miếu thì phải áp dụng theo cung cách của Khổng giáo và khi lễ bái Phật trời, Hiền thánh, Tổ tiên, ông bà v.v… thì phải áp dụng theo cung cách của Phật giáo.

Cách lạy của Khổng giáo, trước hết con người phải đứng thẳng là tiêu biểu cho cái uy của kẻ sĩ. Hai tay cung thủ là tiêu biểu cho cái dũng của Thánh nhân. Trước khi lạy, hai tay cung thủ đưa lên trán, kế đưa sang phải, rồi đưa phía trái là tiêu biểu cho Tam tài (Trời, Đất và Người). Khi lạy, hai tay cung thủ chống lên đầu gối chân mặt và quỳ chân trái xuống trước là tiêu biểu cho sự tôn kính mà không mất tư thế cái uy dũng của kẻ sĩ. Cúi đầu xuống đất là tiêu biểu cho sự cung kính những bậc mà mình đảnh lễ. Đó là cung cách và ý nghĩa tổng quát lễ bái theo quan niệm của Khổng giáo.

Lễ bái theo quan niệm của Phật giáo có phần khác biệt về cung cách cũng như về ý nghĩa so với Khổng giáo. Riêng về ý nghĩa và giá trị lễ bái được rất nhiều kinh luận đề cập đến. Phật giáo quan niệm, vì sự sùng kính ân đức vô lượng, trí tuệ vô biên của chư Phật mà hàng Phật tử đã biểu lộ sự thành kính ấy qua hình thức lễ bái và noi theo gương sáng của chư Phật, chư Hiền thánh để phát triển hạnh lành, tiến tu đạo nghiệp đạt được trí tuệ giải thoát như các Ngài. Trong nhân quả của sự tôn kính thì “kính thầy sẽ được làm thầy”.

Sự lễ bái cũng là phương pháp tu để diệt trừ sự cống cao, ngã mạn – bản chất con người chúng ta lúc nào cũng luôn tự cao tự đắc, vênh váo nghênh ngang, xem “cái tôi” của mình là trung tâm vũ trụ. Đó là tánh xấu khiến mọi người chán, xa lánh làm tiêu mòn công đức. Chúng ta ý thức được điều này, vì tự mình thấy mình không sánh kịp các Ngài, biết mình thấp kém tài đức nên phải kính lạy Phật, Bồ-tát và các bậc tôn túc để diệt trừ tâm ngã mạn thì tự nhiên tánh ngạo mạn từ từ biến mất. Ngoài ra, lễ bái còn là pháp hành căn bản mà người con Phật phải hành trì tinh tấn để giải thoát các nghiệp chướng mà chúng ta đã gây tạo từ nhiều đời nhiều kiếp. Trong Phật giáo, có nhiều cách lễ bái.

Theo sách Đại Đường Tây Vực Ký, quyển 2, ghi rằng: Ấn Độ có chín cách lễ bái được gọi là “Tây Trúc cửu nghi”. Chín cách lễ bái đó như sau:

1. Phát ngôn úy vấn lễ: Mở lời thưa hỏi.

2. Phủ thủ thi kính lễ: Cúi đầu biểu thị sự cung kính.

3. Cử thủ cao ấp lễ: Đưa tay cao vái chào.

4. Hiệp chưởng bình cung lễ: Chắp tay ngang vái chào.

5. Khuất tất lễ: cúi gập đầu gối.

6. Trường quy lễ: Quỳ nằm dài ra.

7. Thủ tất cứ địa lễ: Tay và gối quỳ sát.

8. Ngũ luân câu khuất lễ: Năm vóc co lại.

9. Ngũ thể đầu địa lễ: Năm vóc gieo xuống đất.

Trong kinh Pháp Hoa, chúng ta thấy có một đoạn miêu tả về những cách lễ trên:

“Hoặc có người lễ bái

Có người chỉ chấp tay

Cho đến giơ một tay

Có người lại cúi đầu

Để cúng dường tượng Phật

Sẽ thấy Phật vô lượng

Tự thành đạo Vô thượng”.

Ngoài chín cách lạy trên đây, người Ấn Độ còn có nhiều cách lễ bái khác nhau, tùy theo phong tục của mỗi nơi mà có sự khác biệt với nhau về cung cách như: Lễ bái đứng một chân quỳ lạy (Tồn cử lễ); bước một bước lễ một lạy (Khởi cư lễ); lễ một lạy rồi đi nhiễu ba vòng về phía bên hữu của Phật hoặc bảo tháp (Hữu nhiễu tam thất lễ); lễ bằng cách ngồi cúi đầu lạy (Tạ lễ). Riêng về Phật giáo Việt Nam, phần đông Phật tử đều áp dụng theo phương pháp Ngũ thể đầu địa (năm vóc sát đất) trong khi lễ bái. Đây là một phương pháp tiêu biểu cho tâm ý tôn kính cao đẹp nhất trong các cung cách lễ bái. Khi lễ bái, đầu tiên Phật tử phải đứng ngay thẳng trước tượng Phật cho trang nghiêm và khép hai chân vào nhau để lấy lại sự an tâm thanh tịnh, đồng thời kiểm thúc tâm ý không để chao động vọng tưởng. Ngay lúc đó, đôi mắt nhìn lên tượng Phật, quán tưởng các tướng tốt và quán niệm những đức hạnh cao quý của đức Phật, bày tỏ nguyện vọng chân chính của mình hầu mong Phật chứng minh. Hai tay chắp lại là biểu thị thân tâm hiệp nhất để nói lên sự nhất tâm cung kính của mình và để hai tay trước ngực là tiêu biểu ý nghĩa Ấn tâm. Chắp tay đưa lên giữa chặng mày (cử án tề mi) thể hiện sự cung kính và tiêu biểu cho ý nghĩa tâm nguyện của mình được dung thông đến chư Phật, rồi xướng câu: “Năng lễ sở lễ tánh không tịch, cảm ứng đạo giao nan từ nghì, ngã thử đạo tràng như đế châu, thập phương chư Phật ảnh hiện trung...” và lạy theo nguyên tắc Ngũ thể đầu địa - “Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ”. Ngửa lòng bàn tay ra giống như đóa hoa sen nở, ta tưởng tượng như đức Phật đang đứng trên đóa sen kết thành bởi hai bàn tay và ta đặt trán mình lên lòng bàn chân của đức Phật, đồng thời nằm mọp xuống để biểu thị sự cung kính tâm thành quy ngưỡng, nương tựa.

Phật giáo cho rằng, người Phật tử ngoài sự lễ bái chư Phật, chư Bồ-tát, chư Hiền Thánh Tăng ra còn phải tưởng niệm ân đức cao dày của các Ngài và phát nguyện suốt đời hướng về các Ngài để tiến tu đạo nghiệp, nên được gọi là quy mạng lễ.

Trong kinh Tăng Nhất A Hàm, đức Phật dạy:

“Thiện Nghiệp đã lễ trước

Đầu tiên không lỗi lầm

Cửa giải thoát trống không

Đây là nghĩa lễ Phật

Nếu người muốn lễ Phật

Vị lai và quá khứ

Nên quán pháp trống không

Đây là nghĩa lễ Phật.”

Nhân thừa Phật giáo chia lễ bái ra làm 7 cách lạy. Bảy cách lạy này do ngài Tam tạng Pháp sư Lặc Na phân chia ra, trong sách Pháp Uyển Châu Lâm có nói rõ về nguyên nhân và hoàn cảnh vì sao phải chia ra 7 cách lạy này:

1. Ngã mạn lễ: Nghĩa là lạy với tâm ngã mạn, tâm kiêu căng. Người lạy Phật hoặc lạy ông bà, tổ tiên vì hoàn cảnh bắt buộc phải hành lễ, nhưng thâm tâm của họ không muốn lạy, do đó họ lạy với cử chỉ ngạo nghễ, thái độ kiêu căng, không chút nào lễ độ cung kính cả. Hoặc có người cậy thế ỷ quyền cao chức trọng, thẹn khi chào hỏi người kém hơn mình, tâm không dựa vào phép tắc lễ nghi. Tuy có lễ bái nhưng tâm chạy theo ngoại cảnh. Đầu họ lạy không sát đất và họ đứng lên cẩu thả cho qua chuyện. Họ sợ mất thể diện với bạn bè và sợ dơ bẩn quần, nên buộc lòng phải lễ bái theo kiểu Ngã mạn để bạn bè khỏi chê trách mình là kẻ bất hiếu, bất nghĩa, bất trung, bất tín. Cách lạy đó gọi là Ngã mạn lễ.

2. Cầu danh lễ: Nghĩa là lạy xướng họa cầu danh. Những người lạy vì mong cầu danh vọng, quyền tước qua sự chú ý và ngợi khen của cấp trên, cũng như lấy lòng quần chúng để được ủng hộ; khi có cấp trên cũng như có đông người thì họ siêng năng lễ lạy để cho mọi người khen mình là người siêng năng có đạo đức. Thật ra thâm tâm của họ không có chút gì tín thành cả; oai nghi thô vụn, thân tâm cung kính dối trá. Thấy người thì thân nhẹ lạy mau, người đi thì thân tâm mệt mỏi, biếng nhác giải đãi trong việc lễ lạy. Cách lạy này gọi là Cầu danh lễ.

(Hai cách lạy vừa trình bày trên là hành động dối trá, không thể có nơi người đạo đức chân chánh. Sở dĩ Pháp sư Lặc Na nêu ra là nhằm mục đích ngăn ngừa chúng ta).

3. Thân tâm cung kính lễ: Nghĩa là người lễ lạy phải thể hiện thân và tâm đều cung kính. Do thân tâm cung kính không nghĩ đến việc khác, kính cẩn cúng dường tình không chán đủ. Lễ lạy bằng sự tha thiết chí thành cả thân và tâm vì họ có đức tin trong sự lễ lạy nên sự cảm ứng của họ rất dễ dàng giao cảm với chư Phật, với Thánh hiền, với ông bà Tổ tiên. Thân tâm cung kính là cách lạy cơ bản trong Phật giáo về mặt sự tướng, hay nói cách khác về mặt hình thức mà người xuất gia và tại gia phải hành trì nghiêm túc.

Thân tâm cung kính lễ, công đức tuy lớn nhưng thật sự chưa phải là mục đích cứu cánh trong lễ bái. Thân tâm cung kính lễ chỉ là phương tiện nhờ đó mà hành giả tiếp tục tiến đến lãnh vực Thánh giáo lễ của các bậc Thánh chúng về mặt lý tánh không cảm thấy trở ngại.

4. Phát trí thanh tịnh lễ: Lạy phát trí thanh tịnh, nghĩa là hành giả tu tập thiền quán cho đến khi trí tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi chơn tâm là Thánh trí, chứ không phải trí tuệ phát sanh từ thức tâm. Trí tuệ phát sanh từ thức tâm thuộc về nơi mà phàm trí còn bị giới hạn bởi căn và trần. Trái lại, Thánh trí đã thoát ra vòng cương tỏa của cả hai. Trong phép lạy này, hành giả phải thấu suốt rằng: cảnh giới của chư Phật đều hiện bày từ nơi chân tâm và trí tuệ thanh tịnh của mình cũng phát sanh từ bản tâm thanh tịnh. Cho nên người lễ bái một đức Phật tức là lạy tất cả chư Phật trong mười phương không ngăn ngại. Lạy một lạy tức là lạy tất cả pháp giới, vì Pháp thân của Phật dung thông.

5. Biến nhập pháp giới lễ: Lạy khắp vào pháp giới. Nghĩa là trong phép lạy này, hành giả phải tận dụng trí tuệ tự quán thân, tâm cùng tất cả pháp giới, từ hồi nào đến giờ không rời pháp giới. Pháp giới tánh tức là thể tánh của vạn pháp biến mãn khắp thế giới và thường trụ bất diệt. Pháp giới tánh là nơi chư Phật thường an trụ để hiện thân hóa độ chúng sanh. Hành giả thực hiện phép lạy này là quán chiếu thân và tâm nơi chính mình biến nhập vào pháp giới tánh của vạn pháp một cách dung thông, giống như bác sĩ sử dụng quang tuyến X (X-ray) rất lớn chiếu vào thân thể con người và năng lượng quang tuyến X thấu suốt xuyên qua thân thể người không chút ngăn ngại. Đó mới là lạy theo phương pháp Biến nhập pháp giới lễ.

6. Chánh quán lễ: Lạy chánh quán nghĩa là quán chiếu Phật tự tâm của chính mình không duyên cảnh khác. Trong phép quán này, hành giả lễ lạy đức Phật ngay nơi tự tâm của mình, chứ không duyên đức Phật nào khác, vì tất cả chúng sanh từ xưa đến nay, đều sẵn có Phật tánh viên mãn, bình đẳng, chân giác.

7. Thật tướng bình đẳng lễ: Lạy thật tướng bình đẳng nghĩa là trong phép lễ này, hành giả dùng trí tuệ quán chiếu thật tướng của vạn pháp đều thể hiện một cách bình đẳng, không sai biệt. Không có nhân ngã bỉ thử, tức là người lễ bái không thấy mình lạy và người để cho mình lạy. Nói một cách khác, người thực hành phép lễ này là dùng trí tuệ quán chiếu thật tướng vạn pháp để nhận thấy rằng: mình và người, thể và dụng, phàm và thánh thảy đều vắng lặng không hai (đều nhất như). Bồ-tát Văn Thù dạy rằng: “Năng lễ sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là thể tánh của mình đang lạy và thể tánh của người để mình lạy thảy đều vắng lặng và bình đẳng.

(Bốn cách lạy: Phát trí thanh tịnh, Biến nhập pháp giới, Chánh quán và Thật tướng bình đẳng là những pháp môn thuộc về lý lễ bái của các bậc Đại thừa Bồ-tát thường tu tập để thể nhập vào pháp giới tánh của chư Phật).

Qua những phương cách lễ bái trên đây, chúng ta thấy Thân tâm cung kính lễ chính là pháp môn quan trọng, là điều kiện tất yếu của người hiếu nghĩa, tín tâm để tỏ bày lòng tri ân và báo ân. Thân tâm cung kính lễ là phương tiện cần thiết để làm gạch nối giữa chư Phật và tâm linh con người qua sự nguyện cầu gia hộ. Phương pháp lễ lạy này lại còn là nền tảng căn bản của chúng ta trên con đường tiến tu đạo nghiệp để được chứng ngộ qua bốn cách lễ của Thánh giáo. Vậy chúng ta nên cố gắng thực hành cho đúng pháp.

Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo pháp thực tập ba cách lạy trong sách Thiền Môn Nhật Tụng năm 2000, do Đạo Tràng Mai Thôn biên tập. Chúng tôi xin phép lược trích về ba cách lạy trong sách ấy.

Lạy thứ nhất: Năm vóc sát đất, con tiếp xúc với Tổ tiên và con cháu của con trong hai dòng tâm linh và huyết thống. (chuông, lạy xuống) Con có Tổ tiên tâm linh của con là Bụt, các vị Bồ-tát và các vị Tổ sư qua các thời đại, trong đó có các bậc sư trưởng của con đã qua đời hay còn tại thế. Các vị đang có mặt trong con, các vị đã truyền trao cho con những hạt giống bình an, trí tuệ, tình thương và hạnh phúc nhờ liệt vị mà con có được một ít vốn liếng của an lạc, tuệ giác và từ bi... Tổ tiên tâm linh và Tổ tiên huyết thống của con cũng như con cháu tâm linh và huyết thống của con, đều đang có mặt trong con. Con là họ, họ là con, con không có một cái ta riêng biệt; tất cả đều có mặt trong một dòng sinh mệnh đang diễn biến mầu nhiệm.

Lạy thứ hai: Năm vóc sát đất, con tiếp xúc với mọi người và mọi người đang có mặt với con giờ này trong sự sống. (chuông, lạy xuống) Con thấy con là sự sống mầu nhiệm đang dàn trải trong không gian. Con thấy con liên hệ mật thiết tới mọi người và mọi loài; tất cả những hạnh phúc và khổ đau của mọi người và mọi loài là những hạnh phúc và khổ đau của chính con... Con thấy con trong tất cả các vị và tất cả các vị trong con.

Lạy thứ ba: Con buông bỏ hình hài và thọ mạng. (chuông, lạy xuống) Con thấy được thân tứ đại này không đích thực là con, con không bị giới hạn trong hình hài này. Con là tất cả dòng sinh mạng tâm linh và huyết thống từ ngàn xưa liên tục diễn biến tới ngàn sau...

Ở trên, chúng ta đã tìm hiểu sơ qua ý nghĩa của sự lễ bái, còn tác dụng và lợi ích của lễ lạy thì thế nào?

Tác dụng và lợi ích của sự lễ lạy xét về phương diện y học: Khi khấu đầu làm lễ, toàn bộ các chi trong cơ thể đều vận động, lại thêm vào sự chuyên chú về tinh thần tình cảm, động tác khoan thai, không những có thể giải tỏa sự căng thẳng tinh thần mà còn có thể làm cho gân cốt thả lỏng, máu huyết lưu thông. Trong khi làm lễ, tâm ý chân thành, ý thức và động tác đều theo chỉ dẫn của tâm linh, tất cả những cái đó đều có lợi cho sức khỏe và có tác dụng phòng trừ tật bệnh.

Tác dụng và lợi ích của sự lễ bái trong kinh điển: đức Phật đã chỉ giáo rất rõ ràng. Kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển 24 có ghi: Cung kính lễ Phật sẽ được 5 phần công đức:

1. Đoan chánh: Nghĩa là người lễ bái, thường chiêm ngưỡng dung nhan và tướng hảo của đức Phật liền khởi niệm hoan hỉ và phát tâm mơ ước mong cầu. Nhờ nhân duyên đó, họ qua kiếp sau có thể hưởng được tướng mạo đoan trang tốt đẹp (Ngũ trược chúng sanh linh ly cấu, đồng chứng Như Lai tịnh Pháp thân).

2. Hảo thinh: Nghĩa là người lễ bái xưng tụng hồng danh của chư Phật. Nhờ nhân duyên đó đời sau họ sẽ được tiếng nói lảnh lót trong trẻo tốt đẹp (Niệm Phật nhứt thanh, phước tăng vô lượng. Lễ Phật nhứt bái tội diệt hà sa).

3. Đa tài bảo: Nghĩa là người lễ bái thường dâng hoa, đốt đèn v.v... để cúng dường các đức Như Lai. Nhờ nhân duyên đó đời sau hưởng nhiều tiền của vật báu.

4. Sanh Trưởng giả gia: Người lễ bái đem tâm không chấp trước, chắp tay, quỳ gối, chí thành lễ Phật. Nhờ nhân duyên đó, đời sau họ được sanh vào nhà giàu sang, quý tộc.

5. Sanh Thiện xứ thiên thượng: Nghĩa là nhờ công đức lễ bái các đức Như Lai, người lễ bái sẽ được sanh vào các cõi lành, hoặc các cõi Trời.

Tóm lại, lễ bái không phải là hành động thấp hèn làm mất phẩm cách con người, gợi lên dấu ấn phong kiến. Trái lại, lễ bái chính là một đạo nghĩa, một nghĩa cử rất cao đẹp của những người sống có văn hóa. Đối với tổ tiên, người hiếu hạnh cần phải lễ bái để tỏ lòng cung kính. Đối với Thánh hiền, tín đồ chân chánh cần phải lễ bái để thể hiện đức tính khiêm cung trong tu tập đạo lý Giác ngộ. Lễ bái nhằm giao cảm với bề trên và tạo nên chất liệu để xóa bỏ mọi dị biệt ngăn cách chia rẽ trong đoàn thể. Lễ bái tạo ra sự lễ phép và thân thiện không chia rẽ nhằm thêm bạn bớt thù tạo ra một xã hội thanh bình an lạc.

Trong xu thế hướng về cội nguồn văn hóa dân tộc, chúng ta nên phát huy truyền thống lễ bái vì đây là những thuần phong mỹ tục. Lễ bái là tinh hoa, là nét đẹp trong đời sống sinh hoạt văn hóa tâm linh. Khi xa quê, khi tuổi cao tác lớn, khi có người thân qua đời chừng ấy chúng ta sẽ thấy việc lễ bái với những động tác quỳ xuống, đứng thẳng lưng, rồi quỳ xuống là cần thiết biết dường nào! Nó thay cho những lời nói, những lời phát biểu, những cảm tưởng dông dài, đây gọi là tấm lòng thành của mình.

Lễ bái có ý nghĩa là báo ơn, tạ ơn với cung cách quy ngưỡng hướng về, cũng như noi gương đức hạnh cao quý và ý chí siêu thoát của các bậc tôn kính để tu tập. Người lễ bái mong cầu sau này kế thừa xứng đáng sự nghiệp của tiền nhân trên con đường giác ngộ khổ đau sanh tử. Lễ bái là một nét đẹp văn hóa có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, cho nên trong mỗi người Phật tử không thể thiếu nghĩa vụ với nghi cách lễ bái cao đẹp này.

 


 

 

BÁT CHÁNH ĐẠO VỚI TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

TT. THÍCH THÁI HÒA

 

Tứ vô lượng tâm tức là Bốn tâm vô lượng, bốn tâm vượt ra khỏi giới hạn của ý thức hữu ngã. Tâm đó là Tâm Từ, Tâm Bi, Tâm Hỷ và Tâm Xả.

Tâm Từ vô lượng:

Tâm Từ vô lượng là tình thương không liên hệ đến xác thịt, không liên hệ đến dục nhiễm, không phải là tình thương đồng chí, hay tình quê hương xứ sở. Và nó cũng vượt hẳn ra khỏi tình thương nhân loại. Vì tình thương bị lệ thuộc vào xác thịt hay dục nhiễm, đó là tình thương thấp kém, ích kỷ; tình thương ấy sẽ dẫn đến lo âu, sầu muộn, thất vọng và khổ đau.

Tâm Từ lại không phải là tình thương của đồng chí. Vì tình thương của đồng chí là tình thương giới hạn giữa những người đồng quan điểm, đồng lập trường và chí hướng với nhau. Và tình thương ấy sẽ không thương bất cứ ai không đồng quan điểm, không cùng lập trường, không cùng chí hướng và không nằm trong hệ thống tổ chức của mình. Tình thương như vậy sẽ dẫn đến chia rẽ, bè phái, đấu tranh và chết chóc. Như vậy, tình thương ấy cũng dẫn đến khổ đau, sầu muộn cho chính mình và kẻ khác.

Lại nữa, Tâm Từ không phải là tình thương quê hương xứ sở. Vì tình thương ấy bị buộc vào một quốc gia hay một dân tộc nhất định nào đó. Và tình thương ấy sẽ không thương bất cứ một quốc gia hay một dân tộc nào không phải là quê hương dân tộc của mình. Vì vậy mà trên thế giới đã có nhiều quốc gia, vì quá thương quốc gia của mình đến nỗi phải đi xâm lăng những quốc gia khác làm thuộc địa. Và kết quả đã tạo nên khổ đau cho nhiều dân tộc. Và trên thế giới đã có nhiều dân tộc khổ đau vì những tình thương quê hương ấy.

Lại nữa, Tâm Từ là tình thương vượt hẳn ra khỏi tình thương nhân loại. Nếu tình thương chỉ được giới hạn trong nhân loại, thì con người có thể tàn sát loài vật mà không có một chút lương tâm. Nhưng trên thực tế, sự hiện hữu của một số loài vật đã giúp ích cho sự sống loài người không ít.

Như vậy, chỉ thương nhân loại mà không thương loài vật thì quả thực tình thương ấy còn giới hạn và hẹp hòi. Và đương nhiên tình thương yêu nhân loại mà không thương yêu chúng sanh, không thương yêu loài vật thì vẫn gây khổ đau cho chúng, và nuôi lớn ác tâm nơi chính mình. Bởi vậy, Tâm Từ vô lượng là tâm thương yêu vượt hẳn mọi thứ tình thương ở trên, nó không còn bị giới hạn trong một quốc gia hay một xứ sở nào, hay một loài nào; dù đó là chư Thiên, loài người hay những loài thấp kém hơn.

Tâm Từ là tâm thương yêu hết thảy chúng sanh, đem lại niềm vui và an lạc lâu dài cho họ.

Tâm Từ tiếng Pàli gọi là Mettà Citta và tiếng Phạn gọi là Maitri Citta. Và tạm thời hiểu những chữ ấy như là sự từ ái đối với tất cả mọi loài, đem lại niềm vui cho tất cả mọi loài một cách bình đẳng.

Nói gọn, Tâm Từ vô lượng chính là tình thương vô ngã, và chỉ có tình thương này mới bao trùm hết thảy mọi thứ tình thương và chính tình thương đó mới là tình thương chân thật. Tâm Từ vô lượng hay tình thương chân thật, không thể phát sinh từ một sự hiểu biết tà vạy, mà nó chỉ phát sinh từ chánh kiến, tức là nó phải phát sinh từ sự hiểu biết chân chánh đích thực. Nó phải được phát sinh từ một cách nhìn hợp lý, đó là nhìn thấy thực tại duyên sinh, vô ngã.

Tình thương ấy phải được phát sinh từ những lời nói đúng đắn, chân thật, đó là chánh ngữ, chứ không thể phát sinh từ những lời nói hư vọng, luống dối, lừa phỉnh. Tình thương ấy phải được phát sinh từ một hành vi đạo đức, tôn trọng sự sống của mọi loài, tôn trọng tài sản của tất cả và tôn trọng hạnh phúc riêng tư của tất cả. Nó phải được phát sinh từ một tâm hồn vô tham, vô sân và vô si. Tất cả tình thương phát sinh từ những hành vi ấy gọi là tình thương phát sinh từ chánh nghiệp, và chỉ có tình thương phát sinh từ chánh nghiệp mới gọi là tình thương vô ngã, chân thật.

Tình thương chân thật không thể phát sinh từ những đời sống tà vạy, lừa đảo, bịp bợm, đầu cơ tích trữ, lường gạt, buôn thánh bán thần, mà nó phải được phát sinh từ một đời sống chánh mạng và nó phải được nuôi dưỡng từ đời sống chánh mạng ấy.

Tình thương chân thật hay Tâm Từ vô lượng không thể phát sinh từ một tâm niệm điên đảo, tạp loạn, xằng bậy, mà nó phải được phát sinh từ một tâm niệm chân chánh, từ một sự nhớ nghĩ hợp lý và nó phải được nuôi dưỡng từ sự nhớ nghĩ hợp lý ấy.

Tình thương chân thật hay Tâm Từ vô lượng không thể phát sinh từ một tâm hồn biếng nhác, giải đãi mà nó phải được phát sinh từ một đời sống siêng năng tinh cần trong chánh đạo.

Tình thương chân thật hay Tâm Từ vô lượng không thể phát sinh từ một tâm thần bất định, tán loạn, vọng tưởng; mà nó phải được phát sinh từ một tâm hồn yên tĩnh, trong sáng và thầm lặng, đó là chánh định, và nó được nuôi dưỡng bằng tâm hồn chánh định ấy.

Nói tóm lại, Tâm Từ vô lượng hay tình thương chân thật chỉ được phát sinh từ sự thực hành Bát chánh đạo, và nếu không thực hành Bát chánh đạo thì không thể nào có được Tâm Từ vô lượng hay tình thương chân thật vô hạn.

Tâm Bi vô lượng:

Tâm Bi vô lượng là tâm nguyện rộng lớn cứu độ tất cả chúng sanh, không phân biệt kẻ oán người thân. Hễ bất cứ ai, bất cứ chúng sanh nào bị khổ đau thì Tâm Bi có bổn phận cứu độ. Bởi vậy, Tâm Bi không phải chỉ cứu độ những người có quan hệ, mà còn cứu độ những kẻ không có quan hệ; không phải chỉ cứu độ những kẻ đức hạnh, mà những kẻ tệ ác cũng cần được cứu độ; không phải chỉ cứu độ chư Thiên và loài người, mà còn phải cứu độ những kẻ đọa đày ở địa ngục giới, ngạ quỷ giới, súc sanh giới.

Nói tóm lại, Tâm Bi là tâm cứu độ tất cả chúng sanh, vì tâm ấy là tâm thương yêu năng động.

Tâm Bi, tiếng Phạn là Karunà Citta nghĩa là tâm hồn hoạt động để cứu giúp kẻ khác thoát khỏi khổ đau. Bất cứ ai có tâm hồn như vậy thì người ấy gọi là có Tâm Bi.

Đối tượng của Tâm Bi cứu độ chính là những chúng sanh khổ đau hoặc vì nghèo thiếu, đói khát, hoặc vì ngu si vô trí, và chính những chúng sanh ngu si vô trí cần phải được cứu độ trước hết. Vì do ngu si vô trí nên không biết điều xấu để tránh xa, không biết điều thiện cần phải gần gũi để làm, không biết tránh xa những người cần phải tránh, không biết gần gũi những bậc đáng gần. Do đó, họ đã tạo nhiều tội lỗi không những thiệt hại cho họ mà còn gây thiệt hại cho những người chung quanh nữa.

Bởi vậy, Tâm Bi cần phải thể hiện để cứu giúp những chúng sanh ngu si vô trí trước hết. Tâm Bi vô lượng, hay tâm cứu độ hết thảy chúng sanh, không thể phát sinh từ một sự hiểu biết sai lầm, không thể phát sinh từ một sự suy tư sai lầm, không thể phát sinh từ những lời nói dối trá sai lầm, không thể phát sinh từ những hành động tà vạy, không thể phát sinh từ sự siêng năng không chính đáng, không thể phát sinh từ sự nhớ nghĩ điên đảo và không thể phát sinh từ tâm tư tán loạn.

Trái lại, chúng phải được phát sinh từ một sự hiểu biết đúng đắn, từ một sự nhận thức hợp lý. Đó là chánh kiến. Vì có chánh kiến mới thấy rõ đâu là hạnh phúc, an lạc lâu dài, đâu chỉ là niềm vui trong thoáng chốc rồi tan biến như ánh chớp trời chiều. Và đâu là con đường dẫn đến hạnh phúc. Nhờ thấy rõ và biết rõ như vậy mà phát khởi Tâm Bi rộng lớn, cứu độ tất cả chúng sanh. Bởi vậy, nếu không có chánh kiến thì không thể có Tâm Bi. Hay nói cách khác, không có trí tuệ thì không thể có tình thương chân thật và không có sự cứu độ hợp lý theo tình thương ấy.

Lại nữa, nếu không có chánh kiến và chánh tư duy thì không thể nhìn thấy được thực tại vô ngã; do không nhìn thấy được thực tại vô ngã nên vọng tưởng hữu ngã phát sinh, mỗi khi vọng tưởng hữu ngã đã phát sinh thì nó lại làm tác nhân, tác duyên cho những tâm lý ích kỷ, tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn v.v... phát sinh. Một khi những tâm lý này phát sinh, thì không thể có tình thương chân thật; lúc đó chỉ có hận thù, ganh tỵ mà thôi.

Trái lại, một tình thương vô hạn và một sự cứu độ vô hạn phải được phát sinh từ một cách nhìn vô hạn. Một tình thương hợp lý và một sự cứu độ hợp lý; một tình thương chân thật và một sự cứu độ chân thật phải được phát sinh từ một sự hiểu biết chân thật, từ một sự suy tư hợp lý, đó là chánh kiến và chánh tư duy vậy.

Tình thương và sự cứu độ vô hạn phải được phát sinh từ những lời nói chân thật, đó là chánh ngữ. Nó phải được phát sinh từ những hành vi tôn trọng sự sống, tôn trọng tài sản của tất cả mọi người, tôn trọng mọi nhân cách, phẩm giá và hạnh phúc riêng tư của tất cả mọi người, tôn trọng mọi lời nói đã được quy ước với nhau v.v... Tất cả sự tôn trọng như vậy là chánh nghiệp. Và chỉ có sự thực hành chánh nghiệp mới có được tất cả những sự tôn trọng ấy.

Như vậy, không có chánh nghiệp thì không có hành vi tôn trọng sự sống, không có hành vi tôn trọng tài sản của tất cả mọi người, không có hành vi tôn trọng nhân cách, phẩm giá và hạnh phúc riêng tư của kẻ khác v.v... và hẳn nhiên là không có tình thương và không có tâm nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh. Do đó, tình thương và sự cứu độ chúng sanh phải được bắt đầu bằng chánh nghiệp. Hay nói theo thuật ngữ Phật giáo, Tâm Từ và Tâm Bi phải được thực hiện cụ thể bằng chánh nghiệp. Không những Tâm Bi được thực hiện cụ thể từ chánh nghiệp, mà nó còn phải được nuôi dưỡng từ chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định nữa.

Nói tóm lại, Tâm Bi phát khởi rộng lớn và thực hiện Tâm Từ có hiệu quả là nhờ sự thành tựu Bát chánh đạo. Nếu không có Bát chánh đạo thì Tâm Bi vô lượng không biết dựa vào đâu để sinh khởi. Bởi vậy, Bát chánh đạo là tác nhân, là tác duyên cho Tâm Bi vô lượng sinh khởi.

Tâm Hỷ vô lượng:

Tâm Hỷ vô lượng là tâm vui thích, hoan hỷ tùy thuận trước tất cả những hạnh phúc an lạc của mọi người, của chúng sanh mà không phân biệt của kẻ oán người thân.

Như vậy, Tâm Hỷ là tâm không ganh tỵ trước mọi thành công của kẻ khác, trước mọi tài năng của kẻ khác. Trái lại, Tâm Hỷ là tâm rất vui vẻ, hoan hỷ, tùy thuận trước mọi sự thành công và tài năng của kẻ khác. Lòng ganh tỵ đem lại cho con người và chúng sanh khổ đau và thấp kém bao nhiêu thì Tâm Hỷ đem đến cho con người và chúng sanh sự an lạc, hạnh phúc và đời sống cao thượng bấy nhiêu.

Tâm Hỷ, tiếng Phạn là Mudità Citta, nghĩa là tâm hoan hỷ, vui sướng tùy thuận với tất cả mọi người, với tất cả mọi chúng sanh trong tất cả mọi thời gian và mọi không gian mà không có bất cứ một điều kiện nào.

Như vậy, Tâm Hỷ không bị giới hạn trong những thứ tình cảm bé nhỏ như gia đình, tổ quốc, con người mà nó phải vượt ra khỏi tất cả mọi thứ tình cảm bé nhỏ ấy.

Hẳn nhiên, người có Tâm Hỷ vô lượng, không những chỉ vui sướng, hoan hỷ và tùy thuận khi gia đình mình có hạnh phúc mà cũng phải hoan hỷ, vui sướng và tùy thuận khi thấy gia đình của kẻ khác có hạnh phúc, ngay cả gia đình ấy ngày trước có nhiều sự oán đối với gia đình mình. Không những chỉ vui sướng, hoan hỷ và tùy thuận khi quốc gia của mình giàu có, hòa bình mà cũng phải vui sướng, hoan hỷ và tùy thuận khi thấy những quốc gia khác có hòa bình và giàu có, ngay cả những quốc gia ấy trước đã gây chiến làm thiệt hại cho quốc gia mình. Và không những chỉ vui sướng, khi thấy loài người có hạnh phúc, có tiến bộ mà cũng rất vui sướng, khi nhìn thấy tất cả những chúng sanh từ nơi trái đất hoặc từ những tinh cầu khác có hạnh phúc an lạc và tiến bộ.

Bởi vậy, Tâm Hỷ vô lượng đã vượt hẳn mọi tình cảm giới hạn để hòa nhập vào tình thương vô hạn, đem lại sự an lạc và tươi mát cho tất cả chúng sanh trong mọi không gian và trong mọi thời gian.

Tâm Hỷ vô lượng như vậy, không thể phát sinh từ một kẻ hiểu biết tà vạy, hẹp hòi, ích kỷ, mà nó phải phát sinh từ một con người có chánh kiến. Vì do có chánh kiến, con người mới thấy được rằng, sự an lạc không thể phát sinh từ đời sống, ích kỷ, hẹp hòi; không thể phát sinh từ những hành động ích kỷ, lừa đảo, hơn thua mà nó phải phát sinh từ tình thương vô hạn, từ sự cứu độ vô hạn, từ sự tùy hỷ vô hạn; đó là Tâm Từ vô lượng, Tâm Bi vô lượng, Tâm Hỷ vô lượng.

Lại nữa, Tâm Hỷ vô lượng không thể phát sinh từ một sự suy tư tà vạy mà nó phải phát sinh từ một sự suy tư đúng đắn, đó là chánh tư duy. Vì có chánh tư duy mới thấy rõ thực tại duyên sinh vô ngã. Và vì thấy được thực tại duyên sinh vô ngã mới phát sinh sự tùy hỷ vô lượng.

Nếu không có sự suy tư chân chánh để nhìn thấy thực tại duyên sinh vô ngã thì không thể nào có Tâm Hỷ vô lượng.

Vậy, có Tâm Hỷ vô lượng là nhờ có sự suy tư chân chánh. Tâm Hỷ vô lượng phát sinh không những do có chánh kiến, chánh tư duy mà còn phải có tất cả những yếu tố khác của Bát chánh đạo nữa. Nếu không thực hành Bát chánh đạo, thì Tâm Hỷ vô lượng không biết dựa vào đâu để phát sinh.

Do đó, Tâm Hỷ vô lượng phát sinh là do thực hành Bát chánh đạo vậy.

Tâm Xả vô lượng:

Tâm Xả vô lượng không phải là tâm tư lạnh lùng, thờ ơ lãnh đạm mà là một tâm tư bình thản trước mọi suy thịnh, hơn thua, được mất, khen chê của cuộc đời.

Khi làm một công việc có lợi ích, được mọi người ngưỡng mộ tán dương, thì cũng không lấy đó làm một sự vinh hạnh. Khi bị ngộ nhận phỉ báng cũng không lấy đó làm sự sầu muộn, buồn khổ thì gọi đó là Tâm Xả.

Lại nữa, Tâm Xả vô lượng là tâm đem lại lợi ích an lạc cho tất cả mọi người, cho tất cả chúng sanh mà không hề khởi lên một ý niệm chấp thủ; tâm cứu độ hết thảy tất cả mọi người, mọi chúng sanh mà không hề bị vướng mắc bởi những tâm lý được mất, khen chê, mừng giận v.v... không hề bị vướng mắc bởi những tâm tướng hữu ngã.

Lại nữa, Tâm Xả vô lượng là tâm tùy hỷ với tất cả niềm vui, sự an lạc của tất cả chúng sanh mà không có bất cứ một hậu ý nào.

Tâm Xả như vậy, tiếng Phạn gọi là Upekkhà Citta, nghĩa là xả trừ toàn bộ mọi khát ái. Do Tâm Xả đã xả trừ toàn bộ mọi khát ái, nên không còn mọi ý niệm hữu ngã. Do không còn mọi vọng tưởng về tự ngã, nên mới xả trừ toàn bộ mọi chấp thủ; do xả trừ toàn bộ mọi chấp thủ, nên tự tại giải thoát; do tự tại giải thoát, nên mới đem lại niềm vui cho tất cả chúng sanh và mới có thể cứu độ và tùy thuận niềm vui với tất cả chúng sanh.

Bởi vậy, bất cứ ai có Tâm Xả vô lượng thì người ấy sống giữa cuộc đời không bị đời khống chế, không bị đời quấy nhiễu, không bị đời lừa phỉnh, không bị đời nhiếp phục. Trái lại, họ có thể nhiếp phục và chuyển hóa lại đời.

Bất cứ ai có Tâm Xả vô lượng mà đi giữa cuộc đời, người ấy sẽ không bị vướng mắc bởi tài, sắc, danh, lợi... người ấy đi bước đi của Sư tử chúa, người ấy ngồi như cách ngồi của Sư tử chúa, vững vàng an tịnh; người ấy nói ra như Sư tử rống, làm rơi rụng mọi tâm lý hẹp hòi, ích kỷ và chấp thủ. Người ấy cư trú bất cứ nơi nào, thì niềm tin và sự an lạc sẽ phát sinh ở nơi đó.

Tâm Xả và hiệu năng của nó là vô lượng như vậy, không thể phát sinh từ sự nhận thức tà vạy mà nó phải được phát sinh từ một nhận thức đúng đắn đó là chánh kiến. Nó không thể phát sinh từ một sự suy tư tà vạy mà nó phải phát sinh từ một sự suy tư hợp lý. Đó là chánh tư duy. Nó không thể phát sinh từ những lời nói, việc làm, ý nghĩ, nỗ lực, thiền định tà vạy mà nó phải phát sinh từ những lời nói, việc làm, ý nghĩ, nỗ lực, thiền định đúng đắn.

Nói tóm lại, Tâm Xả vô lượng không thể phát sinh từ sự thực hành tám sự tà vạy mà phải được phát sinh từ tám yếu tố thực hành đúng đắn, đó là Bát chánh đạo.

Nếu không có Bát chánh đạo thì không do đâu mà có Tâm Từ vô lượng, Tâm Bi vô lượng, Tâm Hỷ vô lượng và Tâm Xả vô lượng.

Bốn tâm vô lượng ấy, phải được phát sinh và nuôi dưỡng từ Bát chánh đạo và một hành giả thực hành Bát chánh đạo sâu xa bao nhiêu, thì bốn tâm vô lượng ấy càng tích cực và rộng lớn bấy nhiêu, và càng thực hành bốn tâm vô lượng một cách tích cực bao nhiêu, thì lại càng tiến sâu vào Bát chánh đạo bấy nhiêu.

Do đó, Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm không thể tách biệt lẫn nhau trong một đời sống có ý thức cao về vấn đề tự giác và giác tha. Nên, Tứ vô lượng tâm không thể tách biệt Bát chánh đạo. Bởi vì, Bát chánh đạo là thuộc về tự giác và Tứ vô lượng tâm là thuộc về giác tha. Nhưng, vấn đề tự giác hay giác tha là hai yếu tố không thể tách rời nơi một thực thể giác ngộ, mà chúng là hai mặt của một đời sống giác ngộ hoàn toàn.

Bởi vậy, Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm là hai chất liệu không thể thiếu để nuôi dưỡng một đời sống toàn giác. Trong đời sống giác ngộ hoàn toàn, thì Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm là một.

 


 

TRỢ NIỆM KHI LÂM CHUNG

THÍCH NGUYÊN LIÊN

 

Khi nhắm mắt lìa đời được Phật A-di-đà, cùng Bồ-tát Quán Âm, Thế Chí và chư thượng thiện nhân hiện thân tiếp dẫn thần thức, vãng sanh thế giới Tây phương Cực Lạc là niềm mong ước cháy bỏng của người tu Phật nói chung và người tu Tịnh độ nói riêng. Tuy nhiên, muốn đạt được điều đó, đòi hỏi người niệm Phật khi sống phải có công phu tu tập; nghĩa là có tín sâu, nguyện thiết, chuyên trì thánh hiệu Phật và nhất là khi lâm chung phải có sự trợ duyên niệm Phật của người khác.

Do vậy, hành giả ngoài việc bình sanh nhất tâm niệm Phật, thì sự trợ niệm khi lâm chung của bạn đồng tu là điều kiện vô cùng quan trọng, đóng vai trò quyết định cho sự vãng sanh. Có vài người thường ngày tuy có công phu niệm Phật, nhưng khi lâm chung gia đình không biết Phật pháp, y theo những tà thuyết của thế tục, làm cho người bịnh tâm thức rối loạn không thành tựu chánh niệm, khiến việc vãng sanh bị chướng ngại vô cùng.

Trong phạm vi bài viết, chúng tôi xin trình bày về phương thức trợ niệm lúc lâm chung mà chư vị cổ đức đã chỉ dạy, ngõ hầu trợ giúp cho người niệm Phật giữ vững chánh niệm, trong giây phút quyết định sự phân phàm rẽ thánh quan trọng này.

Phần trợ niệm khi lâm chung, được chia thành ba phần lớn.

I. Người thân nên làm những việc gì khi có người thân lâm chung.

II. Việc làm của người trợ niệm và phương thức trợ niệm.

III. Người lâm chung nên chuẩn bị những việc gì.

Bài này chúng tôi sẽ trình bày phần thứ nhất.

I - Người bà con nên làm những việc gì khi có người thân lâm chung.

Trong gia đình khi có người thân bịnh nặng sắp lâm chung, để tỏ lòng thương yêu, đồng thời giúp đỡ cho thần thức người chết được vãng sanh các cảnh giới an lành, gia đình người bịnh cần chú ý những việc sau:

1. Đối với người bịnh phải có tình thương yêu chân thật.

Phàm làm người, tất nhiên đối với cha mẹ, anh em, vợ con, chúng ta đều mang ân nghĩa sâu nặng. Vì thế phận làm con cần phải có hiếu thảo với cha mẹ, làm chồng phải có tình nghĩa với vợ, làm cha phải có trách nhiệm với con cái, làm anh phải có từ ái đối với em. Do vậy, trong gia đình khi có người bịnh nặng, chúng ta cần đem lòng thương yêu chân thật, chăm sóc người bịnh cho tận tình chu đáo. Khi người bịnh sắp lâm chung, phải y theo lời Phật dạy để trợ niệm cho thần thức họ được vãng sanh Tây phương. Làm được như thế, mới thật sự đền ân đáp nghĩa trọn vẹn, đối với người mình đã mang ân.

Thời điểm bịnh nặng là giai đoạn khổ đau nhất của đời người, người bà con cần phải hết mình trong giai đoạn này. Đối với người bịnh nên chân thành, biểu lộ sự quan tâm, chăm sóc, thăm hỏi. Bất luận sự tình như thế nào, chúng ta đều phải tùy thuận ý muốn của người bịnh, tránh cho người bịnh phiền muộn, khởi phiền não. Và nhất là khi sắp lâm chung, người thân phải hết lòng trợ duyên niệm Phật, khiến cho tâm họ duyên theo câu hiệu Phật sớm được vãng sanh.

2. Phòng bịnh cần sạch sẽ, thoáng mát.

Trong phòng bịnh, gia đình nên thường xuyên lau chùi, quét dọn sạch sẽ. Tất cả những vật dụng không cần thiết nên dọn ra ngoài, chỉ để phòng trống không; một mặt là tránh sự chật chội gây chướng ngại người bịnh, kế nữa là tránh sự va chạm cho người trợ niệm ra vào. Nếu thời tiết quá nóng mà trong phòng không có máy điều hòa nhiệt độ, có thể mua nước đá về để quanh phòng, làm cho không khí trong phòng mát dịu.

Trong phòng bịnh trừ người trợ niệm, còn lại bà con đến thăm hỏi, hoặc những người không cầm đặng nét bi ai, sầu khổ; gia đình đều nên ngăn cản, không cho họ vào. Nếu để họ tiếp xúc người bịnh, dễ làm người bịnh loạn tâm, khó giữ được chánh niệm. Tất cả mọi người không được gây ồn ào, không được cười giỡn nói chuyện tạp, cũng như ăn uống trong phòng bịnh.

Trước giường bịnh nên thỉnh một bức tượng Phật A-di-dà (hoặc tượng Tây phương tam thánh), để đối diện sao cho người bịnh trông thấy, để sanh lòng kính ngưỡng, đồng thời cắm bình hoa tươi và đốt lò hương nhẹ. Trừ những khi có người niệm Phật trợ niệm ra, thời gian còn lại gia đình nên mở máy niệm Phật, để người bịnh nhiếp tâm theo tiếng niệm Phật trong máy mà niệm theo.

3. Không được bi ai, khóc lóc.

Giờ phút người bịnh sắp lâm chung, là giây phút quyết định cho sự vãng sanh hay đọa lạc. Nếu giây phút này, tâm người bịnh không luyến ái thế gian, một lòng tưởng Phật, niệm Phật thì quyết định sẽ được vãng sanh. Bằng không, sanh tâm tham luyến vợ con, tài sản... tất sẽ đọa lạc vào cảnh giới khổ đau. Vì thế, khi người bịnh sắp mạng chung, gia đình tuyệt đối không được bi ai khóc lóc, nếu bi ai khóc lóc chính là bản thân mình đã vô tình đẩy thần thức người bịnh đọa lạc vào cảnh giới tam đồ ác đạo.

Trong thân quyến, nếu ai không cầm lòng đặng trước nỗi chia ly, gia đình nên yêu cầu họ tránh xa, không được đứng gần người bịnh. Từ thời điểm người bịnh tắt hơi thở cho đến khoảng tám tiếng đồng hồ sau, những ai nếu khóc lóc thì phải đứng xa, khoảng cách tối thiểu làm sao cho tiếng khóc, không lọt vào tai người chết.

Hoặc như có người bà con, hàng xóm đến thăm, gia đình nên mời họ cùng đến phòng bịnh trợ duyên niệm Phật cho người bịnh. Nếu họ không đồng ý, nên mời họ sang phòng bên và nói: “Giai đoạn lâm chung là giai đoạn quan trọng nhất đời người, các vị đến trợ duyên niệm Phật cho người bịnh trong lúc này là rất tốt. Nếu không, xin các vị thông cảm sang phòng bên uống nước, nếu đối trước người bịnh khóc lóc, sẽ gây chướng ngại rất lớn cho sự vãng sanh của người bịnh. Mong các vị thông cảm cho”.

4. Thay người bịnh sắp xếp mọi công việc.

Có người với một số công việc đang làm dang dỡ, nhưng vô thường lại đến, khiến tâm nguyện chưa thành; từ đó sanh lòng lo lắng, sầu khổ. Ví như người xuất gia, thì chùa chiền xây cất chưa xong, đệ tử chưa thành tài để nối nghiệp; hoặc người tại gia thì gia cảnh bộn bề, con cái còn nhỏ... tất cả những điều đó làm cho người bịnh khi sắp lâm chung bứt rứt không yên, đôi khi miệng tuy niệm Phật, nhưng trong lòng vẫn không chút an ổn.

Với người bịnh nếu còn một số việc quan trọng, mà ngày thường chưa kịp nói, nhân khi tinh thần họ còn tỉnh táo, chúng ta nên hỏi cho rõ ràng. Và tùy theo mỗi việc khúc mắc của họ, cũng như những công việc họ đang lỡ dỡ... gia đình nên tùy nghi giải thích và hứa sẽ cố gắng thay họ nối tiếp công việc, để cho người bịnh trước khi chết có sự an lòng.

Còn khi người bịnh tâm thức đã rơi vào hôn mê, lúc đó gia đình không nên đối trước họ nói các việc thế sự, gia đình… tránh làm loạn chánh niệm. Chúng ta nên nói: “Giờ phút này mong ông đừng bận tâm việc thế sự, mọi công việc chúng tôi sẽ thay ông đảm đương, bây giờ ông chỉ một lòng niệm Phật, cầu nguyện vãng sanh Tây phương mà thôi”.

5. Mời người trợ niệm.

Muốn thành tựu vãng sanh, ngoài việc người bịnh khi sanh tiền có công phu niệm Phật đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn, thì việc trợ duyên niệm Phật khi lâm chung là một yếu tố vô cùng quan trọng. Do vậy, người niệm Phật khi còn sống, nên kết bạn với những người đồng tu Tịnh độ, để sách tấn nhau trong việc tu học và khi lâm chung trợ niệm cho nhau, ngõ hầu thành tựu tịnh nghiệp vãng sanh, điều này vô cùng quan trọng.

Thời điểm người bịnh sắp mạng chung, gia đình nên mời chư Tăng hay các vị cư sĩ đồng tu tịnh độ đến trợ niệm. Khi người trợ niệm đến, chúng ta phải nhất nhất nghe theo lời chỉ giáo của họ, bởi những vị này là người chịu trách nhiệm cứu độ thần thức của người thân quyến mình. Người thân quyến có vãng sanh hay không phần lớn là nhờ vào sức trợ niệm của họ. Vì thế gia đình cần hết lòng tiếp đãi các vị đó. Giả sử họ bận việc hoặc chưa kịp đến, lúc này gia đình nên như pháp, đứng ra trợ duyên niệm Phật cho người bịnh.

6. Khuyến khích người bịnh niệm Phật.

Người bịnh lúc còn khỏe, nếu như bình sanh niềm tin pháp môn Tịnh độ chưa vững, chúng ta nên mỗi ngày đối trước họ có đôi lời khai thị. Đối trước người bịnh nói về nỗi khổ Ta bà và niềm vui thù thắng của Cực lạc, để người bịnh nhận thức được Ta bà là cõi tạm, Tịnh độ mới là chốn quê nhà, từ đó sanh tâm hoan hỷ một lòng chấp trì danh hiệu Phật. 

Nếu người bịnh khi sống đã phát khởi tín tâm, dốc lòng niệm Phật, chúng ta không cần khuyến đạo khai thị, mà chỉ khuyên người bịnh nhất tâm niệm Phật là được. Giả sử tâm thức người bịnh đã đến lúc hôn muội, bấy giờ gia đình không cần nói lời khuyến khích niệm Phật, mà chỉ chuyên tâm niệm Phật lớn tiếng, để trợ duyên cho người bịnh.

Người bịnh khi sắp tắt hơi thở, giả sử thân thể có đại tiểu tiện xú uế cũng không cần lau chùi, lúc đó chúng ta chỉ lo niệm Phật trợ niệm. Có điều người bà con trong khi trợ niệm, không nên đứng đối diện mà chỉ nên đứng hai bên người bịnh, cũng như tiếng niệm Phật không được xen lẫn niềm bi ai sầu thảm, bởi người bịnh nếu thấy mặt bà con, hoặc nghe tiếng niệm Phật pha lẫn sầu thảm; dễ sanh niệm quyến luyến khó được vãng sanh.

 7. Vì người bịnh tu tạo công đức.

Trong gia đình có người bịnh nặng, cả nhà nên phát nguyện ăn chay, tuyệt đối không được sát hại chúng sanh, đồng thời vì người bịnh tu tạo các công đức. Việc lúc lâm chung có chánh niệm hay không, tùy thuộc rất nhiều vào công đức sâu hay cạn của người bịnh sanh tiền đã tác tạo. Vì thế, thay người bịnh làm các công đức là điều vô cùng quan trọng, đây là việc thể hiện tình thương chân thật đối với người bịnh, đồng thời có ảnh hưởng rất lớn đối với sự giải thoát của họ.

Trong kinh Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện phẩm Như lai tán thán thứ sáu, dạy gia đình nào có người bịnh nặng, rơi vào cảnh cầu sống không được cầu chết không xong; người bà con nên đem những tài vật người bịnh ưa thích, đối trước bịnh nhân xướng lên ba lần, đại để nói nay tôi đem những tài sản của ông để bố thí cúng dường, hồi hướng công đức cho ông. Có điều với người bịnh nào sanh tiền tâm còn đầy bỏn sẻn, chúng ta không nên đối người bịnh xướng lời trên, tránh việc khởi lòng tham tiếc của họ, mà chỉ nên đối trước Tam bảo để xướng lời trên là được.

Người bịnh rơi vào trường hợp cầu sanh bất đắc, cầu tử bất đắc, là do tâm tham ái vật chất quá nặng, vì vậy kinh Địa Tạng dạy đem của cải họ yêu thích ra bố thí, mục đích để xả trừ tâm tham ái cho họ. Thứ nữa, việc làm bố thí lúc này, là để cho người bịnh hưởng trọn phần công đức. Như trong kinh dạy, người nào khi sống làm công đức sẽ hưởng được trọn phần, bằng như đợi sau khi chết gia đình vì họ làm công đức hồi hướng, người chết chỉ hưởng được một phần bảy, sáu phần còn lại thuộc về người sống làm công đức.

8. Đối trị nghiệp chướng phát hiện.

Người bịnh sắp chết nếu nghiệp chướng phát hiện, như họ không hoan hỷ khi nghe tiếng niệm Phật, hoặc khởi tâm tham ái, sân hận, hoặc thấy các oan hồn hiện ra đòi mạng sống… Lúc đó chúng ta nên đối trước Tam bảo trì tụng kinh sám, khẩn thiết chí thành vì họ sám hối nghiệp chướng, khiến nghiệp chướng của họ sớm được tiêu trừ.

Đại để nghiệp chướng phát hiện khi sắp lâm chung có hai phần, một là người bịnh tuy niệm Phật nhưng vẫn sanh tâm nghi ngờ, như pháp sư Từ Chiếu dạy: “Người tu Tịnh độ, khi lâm chung thường có ba điều nghi, hay làm chướng ngại cho sự vãng sanh. Ba điều nghi là: Nghi mình túc nghiệp sâu nặng, thời gian công phu tu hành ít, e không được vãng sanh. Nghi mình bản nguyện chưa thành, tham sân si chưa dứt, e không được vãng sanh. Nghi mình niệm Phật, Phật không đến rước, e không được vãng sanh”.

Phần thứ hai là cảnh giới khủng bố trong tâm, như người bịnh thấy các oan hồn đến đòi mạng, hoặc chúng sanh các cảnh gi