Tập san
Pháp Luân
số 19 - tháng 09 năm Ất dậu
Chuyên đề: Bổn Phận Người Phật Tử Tại
Gia
---o0o---
Bát Chánh Đạo Với Tam Vô Lậu
Học
TT.Thích Thái Hòa
Tam vô lậu học là ba pháp học
tập để dẫn đến đời sống vô lậu, tức là sống đời sống không bị rơi vào sinh
tử luân hồi.
Vô lậu học giới là phần thứ
nhất trong ba pháp vô lậu học và nó cũng làm nền tảng cho vô lậu học định
và vô lậu học tuệ.
* VÔ LẬU HỌC GIỚI:
Tức là học tập và thực hành học giới, để dẫn đến đời sống vô lậu, đời sống
giải thoát. Giới nói theo tiếng Phạn là Sìla, nó có khả năng phòng hộ các
căn, không cho các trần cấu quấy nhiễm. Và nó cũng có khả năng phòng hộ ba
nghiệp, không để cho ba nghiệp hành động một cách sai lầm dẫn đến những
kết quả khổ đau. Giới ngoài ý nghĩa phòng hộ, nó còn là động cơ thúc đẩy
ba nghiệp thực hành mọi thiện pháp.
Như vậy, “Sìla” hay giới được
biểu hiện như là luân lý, đạo đức; và học tập giới chính là học tập đời
sống đạo đức, bằng cách chuyển đổi mọi ác nghiệp thành thiện nghiệp.
Vì nghiệp (Karma) xác định sự hiện hữu của con người và chúng sanh, hay
nói theo lập trường của luận Câu-xá:
“Thế biệt do nghiệp sinh
Tư cập tư sở tác
Tư tức thị ý nghiệp
Sở tác thị thân ngữ”.
Nghĩa là sự sai biệt của thế
gian là do nghiệp sinh khởi. Đó là Tư và điều được tác động bởi Tư. Tư tức
là ý nghiệp và điều được tác động bởi Tư tức là thân và ngữ.
Nghiệp (Karma):
xác định mọi sự hiện hữu sai khác của tất cả chúng sanh trong thế gian. Và
mọi sự sai khác của chúng sanh trong thế gian được xác định bởi nghiệp.
Nghiệp là hành vi tạo tác có cố ý và luôn luôn xảy ra trong thời gian hiện
tại. Chính hành vi của con người, của chúng sanh như thế nào, thì nó sẽ
khẳng định con người và chúng sanh là như thế ấy.
Chẳng hạn, hành động giết người sẽ khẳng định người ấy là kẻ giết người.
Và như vậy, đó là kẻ ác. Trái lại, một hành động cứu giúp kẻ khác thoát
khỏi sự chết chóc, hành động cứu giúp ấy, khẳng định kẻ kia như là một
người hiền thiện.
Một hành động thiện hay ác theo
Phật giáo phải có đủ bốn tiêu chuẩn. Hành động ấy, gây nên hạnh phúc cho
mình và kẻ khác trong hiện tại và trong tương lai. Và hành động ác thì
ngược lại, nghĩa là gây thiệt hại cho mình và kẻ khác không những trong
hiện tại mà ngay cả trong tương lai nữa.
Hành động thiện, chính là điều
kiện dẫn đến niềm vui và an lạc. Nhưng, niềm vui và sự an lạc nào chỉ có
trong thoáng chốc, và sau đó là những cảm giác khó chịu, sầu muộn và khổ
đau, thì đó không phải là chơn thiện, không phải là chơn hạnh phúc, an
lạc. Trái lại, niềm vui và sự an lạc nào do hành động thiện đem lại, thời
gian dễ chịu, êm ái càng kéo dài bao nhiêu, thì giá trị của hành động
thiện được đánh giá bằng những mức độ cao bấy nhiêu. Lại nữa, cảm giác
hạnh phúc và an lạc liên tục kéo dài cho đến vô tận, nghĩa là không bao
giờ chấm dứt, thì sự an lạc hạnh phúc ấy, gọi là hạnh phúc an lạc của
Niết-bàn, và chỉ có Niết-bàn mới gọi là điều thiện tối thắng.
Hành động để dẫn đến sự an lạc tối thắng của Niết-Bàn, hay là điều thiện
tối thắng, hành động ấy gọi là Chánh nghiệp.
Như vậy, Sìla hay Giới có khả
năng phòng hộ ác nghiệp và làm cho ba nghiệp trở nên thanh tịnh. Điều này
đã được luật Tứ Phần nói rất rõ trong phần tóm lược các Giới kinh của chư
Phật, có bài kệ như sau:
“Thiện hộ ư khẩu ngôn
Tự
tịnh kỳ chí ý
Thân
mạc tác chư ác
Thử tam nghiệp đạo tịnh
Năng
đắc như thị hành
Thị Đại Tiên Nhân Đạo”.
Nghĩa là:
“Khéo phòng hộ lời nói
Tâm
chí tự lắng trong
Thân
không làm các ác
Ba
nghiệp đạo này tịnh
Thực
hành được như thế
Là
Đạo Đấng Đại Tiên”.
Đây là Giới kinh mà đức Phật
Thích-ca đã giảng dạy cho chúng Tỳ-kheo trong mười hai năm đầu.
Ba nghiệp thanh tịnh là do sự hành trì thanh tịnh giới. Nếu không có giới,
thì ba nghiệp không biết dựa vào đâu để có được sự thanh tịnh.
Theo luận Câu Xá, nghiệp
(Karma) tạo nên sự đa dạng và sai thù của chúng sanh trong thế gian về quả
báo thiện và ác, thì Sìla hay Giới là để phòng hộ mọi ác nghiệp ở nơi
thân, ngữ và ý. Đồng thời cũng là năng lực thúc đẩy mọi hoạt động của
thân, ngữ, ý phù hợp với thiện vô lậu, tức là Niết-bàn.
Như vậy, Giới dẫn dắt hành động
của thân, ngữ và ý đến chỗ hợp lý. Chỗ hợp lý ấy chính là Niết-bàn.
Thế nên, trong Bát Chánh Đạo
thì Chánh nghiệp được xem như là Giới và Giới là Chánh nghiệp. Chánh ngữ
và Chánh mạng cũng vậy. Nghĩa là ở trong Tam vô lậu học thì chúng thuộc về
Giới vô lậu học.
Vì một người hành trì thanh tịnh giới không thể nào có một đời sống tà
nghiệp, tà ngữ và tà mạng.
Do đó, ba thành phần trong tám yếu tố của Thánh đạo đã nêu ra ở trên được
xem như là Vô lậu học giới.
* VÔ LẬU HỌC ĐỊNH:
Tức là học tập và thực hành thiền định dẫn đến đời sống giải thoát, không
còn bị vướng mắc ở trong sinh tử luân hồi.
Thực tập thiền định vô lậu, tức là làm cho thân tâm đình
chỉ mọi khát ái, hay nói cách khác mọi khát ái đang khô dần ở trong tâm
hồn của người đang thực hành thiền định vô lậu.
Ở trong Bát Chánh Đạo, thì ba yếu tố Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh
định được xem như là Vô lậu học định.
* VÔ LẬU HỌC TUỆ:
Tức là trí tuệ vô lậu, trí tuệ vô lậu là con đường dẫn thoát khổ đau và
sinh tử, con đường đưa đến giác ngộ.
Trí tuệ vô lậu này phát sinh không phải do sự suy luận hay học hỏi mà
chính do sự hành trì thanh tịnh giới vô lậu và thiền định vô lậu.
Ở trong Bát Chánh Đạo, thì
Chánh tư duy và Chánh kiến được xem như là Vô lậu học tuệ.
Bát Chánh Đạo phối hợp với Tam vô lậu học như vậy, ta có thấy ở trong kinh
Cùlavedalla (Hữu Minh Tiểu Kinh) và Giải Thoát Đạo Luận của Ưu Ba Đề Sa.
Tuy nhiên, sự phối hợp như vậy, chúng chỉ có giá trị ở mặt tương đối. Còn
đối với mặt tuyệt đối thì chúng không phải nhất định là như vậy.
Và chính ở trong giới có định
và trong định có giới, trong tuệ có giới và trong giới có tuệ; trong giới
có định có tuệ; trong định có tuệ có giới và trong tuệ có giới có định…
Nhìn một cách sâu sắc và tế nhị thì lằn mức giữa Giới, Định, Tuệ thật khó
phân định. Vì trong đời sống tu tập để hướng đến giải thoát và Niết-bàn,
ba yếu tố ấy không thể nào tách biệt khỏi nhau; chúng là thế chân vạc, nếu
thiếu một thì hai cái kia không thể có mặt.
Bởi vậy, sự phân định lằn mức giữa Giới, Định và Tuệ chỉ có một giá trị
tương đối, thì sự phối định Bát Chánh Đạo vào trong Giới, Định, Tuệ không
phải là sự phối định tuyệt đối.
Vì sao? Vì Chánh tinh tấn không
phải chỉ có mặt nhất định ở trong Vô lậu học định mà nó cũng có thể có mặt
ở trong Vô lậu học giới cũng như ở trong Vô lậu học tuệ nữa.
Vì, nếu hành trì giới mà thiếu Chánh tinh tấn thì khả năng phòng hộ của
giới không kiên quyết, bờ đê phòng hộ của giới có thể bị các trần tướng
xói mòn và đâm thủng. Vì vậy mà có những trường hợp phạm giới và hủy giới.
Và, nếu thực hành Chánh tư duy
hoặc Chánh kiến mà không nỗ lực thường xuyên, thì chắc chắn sự tư duy sẽ
không thấu đáo và sự hiểu biết cũng không thể nào quán triệt.
Do đó, ở trong lĩnh vực Tuệ vô lậu học cũng không thể vắng mặt Chánh tinh
tấn.
Như vậy, Chánh tinh tấn không những chỉ có mặt ở Định mà còn luôn luôn có
mặt ở Giới và Tuệ nữa.
Nói gọn lại, Bát Chánh Đạo đối
với Tam vô lậu học, cả hai đều tương dung tương nhiếp với nhau. Tam vô lậu
học có mặt ở trong Bát Chánh Đạo và Bát Chánh Đạo có mặt ở trong Tam vô
lậu học, hoặc Bát Chánh Đạo là hình thức khai triển của Tam vô lậu học và
Tam vô lậu học là cái lõi thu hẹp của Bát Chánh Đạo.
Do đó, nhìn từ khía cạnh thực
hành và cốt lõi thì Bát Chánh Đạo là Giới, Định, Tuệ và Giới, Định, Tuệ là
Bát Chánh Đạo. Nên, bất cứ ai thực tập được Giới, Định, Tuệ thì người ấy
thành tựu được Bát Chánh Đạo và cũng chính là thành tựu Giới, Định và
Tuệ.
Kết luận phần này cho chúng ta thấy, Bát Chánh Đạo hay Tam vô lậu học đều
có chung mục đích phòng hộ mọi ác nghiệp của thân, ngữ và ý. Và mỗi khi
thiện vô lậu đã được phát khởi thì đó là thiện Niết-bàn đã bắt đầu có mặt.
Thiện của Niết-bàn có mặt là
kết quả do thực hành Giới, Định, Tuệ hay thực hành Bát Chánh Đạo.
Vậy, trên hình thức thì Bát
Chánh Đạo và Giới, Định, Tuệ xem như là hai, nhưng thực chất của nội dung
và mục đích thì cả hai chỉ là một.
Thế nên Bát Chánh Đạo đối với
Giới, Định, Tuệ là một. Và chúng là con đường đưa đến Niết-Bàn tối thượng.
Bổn Phận Người Phật Tử Tại Gia
Tâm Minh
Kính thưa quí vị,
Tuổi
trẻ,
đến
với
đạo
Phật
với
nhiều
bỡ
ngỡ
như người
lạc
vào khu rừng
đầy
hoa thơm cỏ
lạ
nhưng lại
khó tìm lối
ra. Tiết
mục
“Tuổi
trẻ
với
Phật
pháp” đến
với
các bạn
trẻ,
đặc
biệt
là những
bạn
trẻ
Phật
tử
VN ở
hải
ngoại,
trưởng
thành tại
một
nơi mà tiếng
mẹ
đẻ
không được
dùng trong sinh hoạt
hằng
ngày, để
giúp nói đến
những
việc
rất
bình thường
nhưng có thể
“khó” với
họ.
Ngoài ra, “Tuổi
trẻ
với
Phật
pháp” sẽ
giúp chúng ta cùng tìm hiểu
và thực
hành Phật
pháp, hầu
đạt
được
an lạc,
hạnh
phúc và thảnh
thơi ngay
trong cuộc sống
trước
mặt
cho bản
thân, gia đình
và cho mọi người
quanh ta. Kính mời
quý vị
và các bạn
trẻ
cùng theo dõi câu chuyện
hôm nay với
tiêu đề
“Bổn
phận
người
Phật
tử
tại
gia” với
các bạn
trẻ
A,B,C.
A: Xin chào các bạn!
Người
Phật
tử
là người
con Phật,
đi theo con
đường của
đức
Phật,
học
sống
theo giáo lý của
Ngài, nhưng
tại sao lại
gọi
là “người
Phật
tử
tại
gia” hả?
C: Gọi
như vậy
để
phân biệt
với
người
Phật
tử
xuất
gia là quí vị
Sa-di, Sa-di-ni, Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni,
v.v… sống
ở
chùa, “ly gia cát ái” nghĩa
là thoát ly khỏi
sự
ràng buộc
của
tình cảm
gia đình
đó.
A: Người
Phật
tử
tại
gia có phải
còn được
gọi
là Ưu-bà-tắc
(nam) và
Ưu-bà-di (nữ) hay “cận
sự
nam”, “cận
sự
nữ”
hay “thiện
nam”, “tín nữ”
nữa
phải
không?
B: Đúng
rồi, nói tóm lại,
là Phật
tử
chúng ta có “4 Chúng
đồng
tu” là Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di.
A: Vậy
thì các bạn
hãy cho biết
bổn
phận
của
những
người
Phật
tử
tại
gia (PTTG) là gì ngay
đi!
C: Bổn
phận
chính của
người
PTTG là sống
đúng
với Phật
pháp, truyền
bá Phật
pháp đến
mọi
người
để
mọi
người
được
an lạc.
B: Như vậy
vấn
đề
là trước
hết,
người
PTTG phải
biết
áp dụng
Phật
pháp vào đời
sống
hằng
ngày để
tự
mình có sự
an lạc,
rồi
mới
đem an lạc
cho người
khác được,
có phải
không?
A: Phải
rồi!
Làm sao để
gọi
là sống
đúng
theo Phật pháp và có an
lạc?
B: Trong Phẩm
“Tịnh
hạnh”
của
kinh Hoa Nghiêm,
ngài Văn Thù có trả
lời
cho Phật
tử
tại
gia, những
vị
Bồ-tát
ở
nhà, sống
như thế
nào gọi
là sống
đúng
theo Phật pháp (sách do
thầy
Hằng
Trường
Việt
dịch
và giảng).
C: Có phải
ngài Văn Thù
dạy ta nhìn mọi
sự
vật,
hiện
tượng
trong cuộc
đời
này bằng
cặp
mắt
trí tuệ,
hướng
về
chân lý chứ
đừng
nhìn với
cái tâm hẹp
hòi, cố
chấp...?
B: Đúng
rồi! Ngài có
đưa ra hơn 10 lời
dạy
cho người
PPTG sử
dụng
để
sống
đúng
tinh thần Phật
pháp trong những
hoàn cảnh
sinh hoạt
bình thường
ở
gia đình.
A: Thật
là hay quá, bạn
hãy cho biết
những
lời
dạy
ấy
đi!
B: Bài học
thứ
nhất
là Ngài dạy:
ở
gia đình,
người PTTG phải
nhường
nhịn
(không tranh giành), phải
bao dung với
mọi
người,
nói năng nhỏ
nhẹ,
phải
biết
lắng
nghe, chuyện
qua rồi
đừng
có nhắc
lại,
đừng
trách móc; tránh bàn luận
chuyện
đúng
sai, hay dở của
các thành viên trong gia
đình;
nên chia sẻ chân lý,
truyền
đạt
những
gì mình học
được
trong Phật
pháp để
mọi
người
biết
làm những
điều
thiện
lành tránh điều
hung ác.
C: Có phải
bài kệ
thường
nhắc
nhở
chúng ta mà hôm trước
bạn
đã
nhắc
đến
hay không?
Bồ-tát ở nhà
Nguyện rằng chúng sanh
Biết nhà tánh Không
Tránh mọi bức bách.
A: Tôi nhớ
ra rồi!
Nghĩa
là mình yêu mến
gia đình
nhưng đừng quá tham luyến,
quá khẩn
trương để
sinh ra đủ
thứ
stress - là “bức
bách” - phải
không?
B: Phải rồi,
các bạn
đã
nhớ
đúng
rồi
đó.
Còn đối với
cha mẹ
thì hiếu
thảo,
chăm sóc
nhưng cũng phải
biết
rằng
đức
Phật
đã
dạy: “Tất
cả
chúng sanh đều
là cha mẹ
của
chúng ta trong bảy
kiếp”;
ý nói là thương
yêu thờ phụng
cha mẹ
là hiếu,
nhưng phải
từ
lòng hiếu
đó
lan rộng ra
đến
mọi
người
chứ
không phải
chỉ
biết
chăm lo cho
cha mẹ mình mà xúc phạm
đến
cha mẹ
người
khác, hay vì lòng hiếu
mà làm những
chuyện
sai trái tội
lỗi
v.v... thì đó
lại là bất
hiếu.
Ngoài ra, phải
biết
cha mẹ
cần
mình nhất
là những
lúc già yếu,
bệnh tật,
tuyệt
vọng;
hãy gần
gũi
họ,
lắng
nghe họ
và chia sẻ
kinh nghiệm
tu học
với
họ.
Các bạn
còn nhớ
bài kệ
này chứ?
C: Ừ,
nhớ!
Bài kệ
nhắc
nhở
chúng ta là:
Hiếu thảo cha mẹ,
Nguyện rằng chúng sanh
Khéo phụng sự Phật,
Chăm sóc hết thảy!
A: Tôi cũng
nhớ
bài kệ
nói về
gia đình
nhỏ gồm
vợ
con nhưng hai
câu cuối chưa
được thông suốt,
các bạn
hãy giảng
nghĩa
giùm nha:
Vợ con sum vầy,
Nguyện rằng chúng sanh
Oán thân bình đẳng
Vĩnh ly tham trước.
B: Đức
Phật
dạy:
“Phải
có duyên nợ
với
nhau trong
nhiều
đời
nhiều
kiếp
mới
thành vợ
chồng”,
vì vậy
phải
thương yêu
giúp đỡ chia sẻ
hạnh
phúc hay đau
khổ với
nhau cho đúng
đạo lý. Mặt
khác, đừng
yêu đương
tham đắm quá mà sinh ra
ích kỷ,
rồi
từ
đó
nghi kỵ, hiểu
lầm,
ghen tuông, ly dị
v.v... kéo theo liền!
Phải
tập
sống
theo “trung
đạo”-không thắt
chặt
quá, không thả
lỏng
quá-thì tình vợ
chồng,
con cái mới
bền
vững
và dành cho nhau sự
tự
do đúng
mức.
Đó
cũng là ý nghĩa
mấy
chữ
“vĩnh
ly tham trước”
và “bình đẳng”
đối
với
kẻ
oán, người
thân trong hai câu cuối.
Thế
còn về
“ngũ
dục
thất
tình”, các bạn
có còn nhớ
bài kệ
nhắc
nhở
chúng ta như
thế nào không?
A: Đó
là:
Được hưởng ngũ dục,
Nguyện rằng chúng sanh
Nhổ mũi tên dục,
Cứu cánh yên ổn.
Nhưng tôi chưa nhớ
ra ngũ
dục
là gì? Và tại
sao gọi là “mũi
tên dục”?
B: Ngũ
dục
là năm “đối
tượng”
(object) của
dục
vọng:
tiền
tài vật
chất,
sắc
đẹp,
danh vọng,
ăn uống
hưởng
thụ,
ngủ
nghỉ
(tài, sắc,
danh, thực,
thùy). Đặc
tính của
ngũ
dục
là khiến
người
ta nghiện
ngập
chìm đắm-các
bạn
đừng
tưởng
chỉ
có rượu
hay thuốc
phiện
mới
làm người
ta nghiện
đâu
nha-ngay cả danh vọng,
địa
vị,
sắc
đẹp
cũng
làm người
ta say đắm
và nhận
chìm người
ta được
(“sắc
bất
ba đào
dị nịch
nhân” - có nghĩa
là “sắc
đẹp
không có sóng nhưng
nhận chìm người
ta dễ
dàng”) đó!
C: Bạn
nói đúng
quá! Ai đã
nếm mùi ngũ
dục
thì thật
khó mà buông xả.
Cho dù bạn
muốn
tránh né, nó cũng
vẫn
còn gốc
rễ
nằm
sâu trong đáy
lòng, phải không? Hèn gì
đức
Phật
nói “ngũ
dục
là gốc
rễ
của
địa
ngục
đọa
lạc”
- giống
như mũi
tên độc
đã
ngấm vào da thịt,
khó nhổ
cho ra và dù nhổ
ra được
thì đau đớn
biết
bao nhiêu và chất
độc
đã
ngấm vào cơ
thể rồi!
A: Như vậy
thì nguy rồi!
Cuộc
sống
của
người
PTTG luôn có ngũ
dục
vây quanh, làm sao mà tránh
đây
các bạn?
B: Thì mình phải
giữ
mình bằng
cách “tiết
chế”
những
ham muốn
(to bound your desire, to limit) chứ
biếr
có làm sao hơn!
Mình thực hành các hạnh
sau đây:
biết
đủ
(tri túc), tịch
tĩnh,
đạm
bạc,
buông xả,
muốn
ít.
C: Tôi nghe quý thầy
giảng
rằng
muốn
tránh ngũ
dục
mình phải
suy nghĩ
như thế
này: làm giàu
để
làm gì? Chết
có đem theo
được không? (để
đối
trị
với
“tài”)
Sắc
đẹp
làm mê đắm
lòng người,
có thể
dẫn
đến
tội
ác, phạm
giới
v.v... có đáng
cho mình hy sinh mọi thứ
để
chạy
theo “sắc”
hay không?
Danh là thật
hay là giả,
là hình hay bóng? Chạy
theo có phí thời
gian không? (Tỉnh
giấc
mộng
nồi
kê chưa
chín”)
Thực
(ăn): bệnh
là do miệng
mà vào, tham thực
cực
thân, ăn vào
dễ, nhả
ra khó.
Ngủ
nghỉ
(thùy): hưởng
thụ
sướng
thân, sinh biếng
nhác, ham vui, phóng dật;
đến
lúc giật
mình thì thời
gian không còn nữa,
cái chết
đến
gần...
có phải
một
đời
hối
hận
không?
A: Thế
còn đi xem
văn nghệ, ca nhạc
v.v... có phải
là “ngũ
dục”
không?
C: Cũng
có bài kệ
nói về
ca nhạc
tụ
họp
đó
nha:
Ca nhạc tụ họp
Nguyện rằng chúng sanh
Vui với chân lý
Biết nhạc là giả.
B: Ca nhạc,
thơ văn, hội
họa
v.v... nói chung là văn
nghệ có tác dụng
nuôi dưỡng
tinh thần,
tâm hồn
con người,
đặc
biệt
âm nhạc
có sức
mạnh
thay đổi
trạng
thái tâm hồn
của
người
nghe. Vẻ
đẹp,
cái hay, cái kỳ
diệu
của
nhạc
và thơ, không
chỉ loài người
mới
có, mà cõi
trời cũng
có nhạc
nữa
đấy
(nhạc
trời)
và tiếng
chim hót, tiếng
suối
reo, thông reo v.v... không phải
cũng
là những
khúc nhạc
làm êm dịu
tâm hồn
ta hay sao? Tuy nhiên, âm nhạc
có thể
cứu
người
mà cũng
có thể
hại
người;
cái chính là chúng ta luôn tỉnh
giác để
biết
rằng
tìm vui trong ca nhạc
chỉ
là tạm
bợ,
niềm
vui chân chính, cứu
cánh của
an lạc
phải
là tìm vui nơi Chánh pháp, nơi chân lý.
C: Niềm
vui nơi chân
lý có phải là vui với
Pháp, với
sự
chấm
dứt
của
vọng
tưởng,
sự
dừng
lại
của
mọi
ham muốn
tham đắm
hay không?
B: Phải
đó!
A: Các bạn
có muốn
nghe câu chuyện
về
“Bài ca vô thanh” mà
đức
Phật
đã
kể
ở
một
cõi trời
không?
C: Muốn
chứ,
bạn
hãy kể
đi!
A: Có một
vị
Bồ-tát
được
mời
lên một
cung Trời
thuyết
pháp. Ngài yên lặng
nhập
định,
chuẩn
bị
giảng
kinh. Các Thiên nữ
tán hoa, múa hát, nhạc
Trời
trổi
lên ai nghe cũng
thấy
tâm thần
nhẹ
nhõm và hoàn toàn bị
cuốn
hút vào. Sau khi vị
Bồ-tát
thuyết
pháp xong,
vua Trời
Đế
Thích hỏi:
“Thưa Ngài,
Ngài là bậc
đã
du hành vô số cõi Trời,
đã
nghe vô số âm nhạc,
phải
chăng âm nhạc
của
chúng tôi ở
đây
là hay nhất?” Vị
Bồ-tát
chắp
tay đáp
rằng: “Thật
hổ
thẹn,
xin Ngài thứ
lỗi,
theo thiển
kiến,
chẳng
âm nhạc
nào xuất
sắc
bằng
bản
nhạc
của
sự
im lặng
tuyệt
đối,
chẳng
có bài hát nào du dương
bằng âm
điệu
của
chân lý, của
Pháp!” Vua Trời
bỗng
nhiên tỉnh
thức,
học
tập
lắng
nghe bài ca vô thanh.
B: Trên đây
là những nhắc
nhở
chúng ta, những
người
PTTG về
những
sinh hoạt
bình thường,
làm sao để
được
an lạc
và làm cho mọi
người
thân quanh mình
được
an lạc.
Ngoài ra, về
xử
thế,
chúng ta còn
được
dạy
về
“cách cho”, tức
là bố
thí nữa:
Cho ai vật gì
Nguyện rằng chúng sanh
Cho được mọi thứ
Lòng chẳng ái trước.
Nghĩa
là đã
cho thì nên thật lòng
cho, không hối
tiếc,
không tính toán hay mong cầu
được
trả
công; vì “cho” là thành khẩn
muốn
làm vui lòng người,
không phải
là trao đổi,
mua chuộc,
nịnh
bợ
v.v... Cho-hay bố
thí chính là phương
pháp mở rộng
lòng từ
bi, đối
trị
bệnh
ích kỷ,
hà tiện,
keo kiệt,
tham lam v.v... Các bạn
còn gì bổ
sung không?
C: Tôi còn nhớ
ngài Văn Thù
còn dạy bài kệ
này cho người
PTTG:
Nếu bị ách nạn
Nguyện rằng chúng sanh
Tùy ý tự tại
Việc làm vô ngại!
Tôi có một
thắc
mắc
là tại
sao khi bị
ách nạn
tức
là mình hoàn toàn bị
động
mà sao mình lại
nguyện
cho người
khác được
“tự
tại”,
“vô ngại”
được
hở
các bạn?
B: Bạn
thắc
mắc
đúng
lắm! Gặp
tai nạn,
bị
áp bức,
khống
chế,
ép buộc,
oan ức
v.v... là những
điều
đâu
có ai muốn xảy
ra cho mình, tất
nhiên là mình
ở
trong hoàn cảnh
bị
động
và bất
lực
rồi,
thế
nhưng mình vẫn
có thể
“chủ
động”
trong cách tư
duy (suy nghĩ, phản
tỉnh)
để
không đi đến
tình trạng
khủng
hoảng,
tuyệt
vọng,
than thân trách phận,
oán trời
trách đất
hay làm những
việc
điên rồ
để
rồi
hối
hận
cả
đời
như tự
tử
hay giết
người
hay nuôi thù oán hàng chục
năm v.v...
A: Tôi hiểu
rồi!
Nghĩa
là khi gặp
ách nạn,
oan ức,
mình nghĩ
rằng
đây
là nghiệp nhân quá khứ
của
mình đã
“chín” thành quả rồi-mình
đã
từng gây nhân hống
hách, hiếp
đáp
người, gây khó khăn
cho người, nói oan cho
người,
nên nay mình gặt
quả
bị
mất
tự
do, tự
tại,
tự
chủ.
Bây giờ
mình phải
gây nhân lành gieo hạt
giống
thiện,
từ
bi hỷ
xả
để
có thể
gặt
quả
“tai qua nạn
khỏi
ách nạn
tiêu trừ”
phải
không các bạn?
C: Phải
rồi!
Có còn gì nữa
không, các bạn?
B: Còn chứ!
Vừa
rồi,
chúng ta chỉ
mới
nói về
bổn
phận
đối
với
bản
thân mà chưa nói tới
việc
hộ
trì Tam bảo.
A: Phải
rồi,
Phật
có dạy
Chúng xuất
gia thì trụ
trì ngôi nhà Phật
giáo, còn hàng Phật
tử
tại
gia phải
hộ
trì (protect, sponsor) Tam bảo
đó
nha!
C: Cho một
ví dụ
cụ
thể
đi! Tôi thường
nghe Tam bảo
hộ
trì mình, bảo
vệ
mình chứ
đâu
có nghe mình mà bảo vệ
và hộ
trì (sponsor) cho Tam bảo
đâu
anh!
B: Tam bảo
hộ
trì mình là hộ
trì về
tâm linh, về
kinh điển,
về
Phật
pháp; còn mình hộ
trì Tam bảo
là về
vật
chất, về
phương tiện
và chống
lại
“thú dữ”
giữa
cuộc
đời
làm hại
chư Tăng, Ni…
Tại bạn
không nhớ
đó
thôi! Hồi Pháp nạn
1963, các chùa trên toàn quốc
miền
Nam Việt
Nam bị
lính tấn
công vào đánh
đập chư
Tăng Ni và Phật tử,
hồi
đó
Phật tử
chùa nào tụ
họp
về
chùa đó
để bảo
vệ
chư Tăng,
Ni... Người Phật
tử,
bao gồm
GÐPT của
anh chị
em chúng ta, cũng
có mặt
với
quý Thầy,
quý Sư cô của
mình trong cơn
biến
động
đó.
Hằng ngàn hàng vạn
Tăng Ni, Phật
tử
đã
bị bắt
bớ
giam cầm,
có vị
đã
tự thiêu
để
cầu
nguyện,
có vị
bị
chết
vì súng đạn
đàn
áp hay chết trong tù…
C: Hồi
nãy chúng ta mới
nói đến
các pháp tu, nhưng chưa nói hết,
chỉ
mới
nói đến
Bố
thí, tức
là thực
hành hạnh
Từ
Bi, các bạn
nhớ
không?
B: Nhớ
chứ,
thực
hành Bố
thí là thực
hành một
trong bốn
nhiếp
sự
(Four Assistant Methods): Bố
thí (Donation_ donation of Goods, of Dharma, of Encouragement), Ái ngữ
(Friendly Speech), Lợi
hành (Benificial Actions), Ðồng
sự
(Collaboration) - Những
điều
này chúng ta
đã
biết rồi.
A: Chúng ta cũng
cần
nhắc
nhau rằng
chúng ta không những
chỉ
biết
hộ
trì Tam bảo
lúc Chùa gặp
nguy hiểm
mà ngày thường
cũng
vậy,
không những
chúng ta hộ
trì bảo
vệ
chư Tăng Ni
mà chúng ta còn quan tâm những
việc
như xây cất
tu bổ
chùa, việc
ăn ở
của
chư Tăng Ni,
việc tổ
chức
tu học
cho Phật
tử,
việc
chi phí cho các
đại
lễ
Phật
Ðản,
Vu Lan, Tết
Nguyên đán
v.v… cũng cần
có tài chánh. Chúng ta cũng
phải
quan tâm đóng
góp phần mình; bởi
vì nếu
không có Chùa, chúng ta làm sao “làm quen” với
Tam bảo
được,
phải
không?
C: Phải
rồi,
nhưng đó
là việc của
Ban hộ
trì Tam bảo
ở
các Chùa phải
không?
B: Đúng
vậy; nhưng
có nhiều Chùa nhỏ,
ít chư Tăng,
ít Thiện nam Tín nữ
thì quý Thầy
phải
tự
túc, nếu
biết
được,
chúng ta cũng
phải
có bổn
phận
quan tâm hộ
trì Tam bảo
ở
những
nơi đó.
A: OK. Vậy
cũng
tạm
đủ
rồi.
Nếu
PTTG chúng ta làm
được
những
điều
như chúng ta
vừa học
tập
và thảo
luận
trên đây
thì cũng
đủ
đem lại
hạnh
phúc, an lạc
cho bản
thân, cho gia
đình
và cho mọi người
quanh ta. Đó
cũng là cách hoằng
dương Phật
pháp một
cách hữu hiệu
nhất,
phải
không các bạn?
C: Phải
rồi,
vậy
bài học
hôm nay tạm
đủ,
xin tạm
biệt
nha!
A và B: Tạm
biệt!
Tạm
biệt!
Các Cảnh Giới Tái Sanh
Thích Nguyên Liên
2. Thiên đạo.
a. Định
nghĩa.
Thiên đạo
là nẻo
trời,
chữ
thiên có nghĩa
là thiên nhiên, tự
nhiên. Đây
là chỉ cho các chúng
sanh ở
các cõi trời
do tu thượng
phẩm
thập
thiện
và các thiền
định,
nên hưởng
phước
thiên nhiên, sự
ăn mặc
thọ
dụng
đều
tùy niệm
hóa hiện.
Lại
chữ
thiên ở
đây
còn có bốn nghĩa
ẩn:
tối
thắng,
tối
thiên, tối
lạc,
tối
tôn.
Sáu hạng
cõi trời
dục
giới
đều
có hình tướng
nam nữ,
dục
nhiễm
tùy theo cao thấp
mà có nặng
nhẹ.
Mười
tám hạng
trời
cõi sắc,
không hình tướng
nam nữ,
không có sự
dục
nhiễm,
dùng thiền
định
để
trưởng
dưỡng
sắc
thân. Còn bốn
hạng
trời
cõi vô sắc,
chỉ
có tâm thức,
vì là báo thể
của
cõi không định.
Riêng chúng sanh
trong sáu cõi, chỉ có chư
thiên là có ánh sáng rõ rệt,
như chư thiên
ở dục
giới
do tu bố
thí trì giới,
nhẫn
nhục,
thanh tịnh
nên thân thường
có ánh sáng rực
rỡ.
Chư thiên cõi sắc do ly dục
tu thiền
định,
nên nơi thân
phát ra ánh sáng nhiệm mầu,
hơn cả
ánh nhật
nguyệt
và quang minh của
thiên chúng cõi dục.
Ánh sáng đây
là do tâm thanh tịnh mà
có.
b. Thân tướng
và thọ
lượng:
Ở
Dục
giới,
chư thiên trời
Tứ
Vương thân
lượng cao nửa
dặm,
áo nặng
nửa
lượng.
Chư thiên trời Dạ
Ma cao một
dặm
rưỡi,
áo nặng
ba thù. Chư thiên trời
Đâu
Suất cao hai dặm,
áo nặng
hai thù. Chư thiên trời Hóa Lạc
cao hai dặm
rưỡi,
áo nặng
một
thù. Chư thiên trời Tha Hóa cao ba dặm,
áo nặng
nửa
thù.
Ở
Sắc
giới,
chư thiên trời
Phạm
Chúng thân cao nửa
do tuần,
chư thiên trời
Phạm
Phụ
thân cao một
do tuần,
trời
Đại
Phạm
cao một
do tuần
rưỡi,
trời
Thiểu
Quang cao hai do tuần,
trời
Vô Lượng
Quang cao bốn
do tuần,
trời
Quang Âm cao tám do tuần,
trời
Thiểu
Tịnh
cao 16 do tuần,
trời
Vô Lượng
Tịnh
cao 32 do tuần,
trời
Biến
Tịnh
cao 64 do tuần,
trời
Vô Vân cao 125 do tuần,
trời
Phước
Sanh cao 250 do tuần,
trời
Quảng
Quả
cao 500 do tuần,
trời
Vô Phiền
cao 1000 do tuần,
trời
Vô Nhiệt
cao 2000 do tuần,
trời
Thiện
Kiến
cao 4000 do tuần,
trời
Thiện
Hiện
cao 8000 do tuần,
trời
Sắc
Cứu
Cánh cao 16000 do tuần.
Chư thiên cõi Sắc
tuy không mặc
y phục,
song cũng
như có mặc;
tuy không đội
mũ
thiên quan,
song như có đội, vì do
thân quang chiếu
hiện.
Chư thiên ở Vô sắc
giới
chỉ
có định
quả
sắc,
nên không có thân lượng.
Thọ
lượng
chúng sanh ở
thiên thú cũng
có hơn kém
tùy theo mỗi tầng
trời.
Như về
Dục
giới
trời
Tứ
thiên vương
thọ 500 tuổi,
một
ngày đêm
nơi đây
bằng 50 năm
cõi người. Trời
Đao Lợi
thọ1000
tuổi,
một
ngày đêm
nơi đây
bằng 100 năm
cõi người. Trời
Dạ
Ma thọ
2000 tuổi,
một
ngày đêm
nơi đây
bằng 200 năm
cõi người. Trời
Đâu
Suất thọ
4000 tuổi,
một
ngày đêm
nơi đây
bằng 400 năm
cõi người. Trời
Hóa Lạc
thọ
8000 tuổi,
một
ngày đêm
nơi đây
bằng 800 năm
cõi người. Trời
Tha Hóa Tự
Tại
thọ
16000 tuổi,
một
ngày đêm
nơi đây
bằng 1600 năm
cõi người.
Thọ
mạng
của
chư thiên cõi
Sắc thì lấy
kiếp
làm lượng.
Như Sơ thiền,
trời
Phạm
Chúng thọ
nửa
trung kiếp,
trời
Phạm
Phụ
thọ
một
trung kiếp,
trời
Đại
Phạm
thọ
một
trung kiếp
rưỡi.
Về
Nhị
thiền,
trời
Thiểu
Quang thọ
hai đại
kiếp,
trời
Vô Lượng
Quang thọ
bốn
đại
kiếp,
trời
Quang Âm thọ
tám đại
kiếp.
Về
Tam thiền,
trời
Thiểu
Tịnh
thọ
16 đại
kiếp,
trời
Vô Lượng
Tịnh
thọ
32 đại
kiếp,
trời
Biến
Tịnh
thọ
64 đại
kiếp.
Về
Tứ
thiền,
trời
Vô Vân thọ
125 đại
kiếp,
cứ
như thế
tăng gấp
đôi
cho đến trời
Sắc
Cứu
Cánh thọ
16000 đại
kiếp.
Trong đây
trừ trời
Vô Tưởng
Thiên thọ
lượng
đồng
với
Quảng
Quả
Thiên. Ở
Vô sắc
giới,
trời
Không Vô Biên thọ
20.000 đại
kiếp,
cứ
như tăng gấp
đôi
cho đến trời
Phi Phi Tưởng
thọ
80.000 đại
kiếp.
c. Cảnh
giới
thọ
dụng
Về
khổ
lạc
thọ
dụng,
chúng sanh ở
cảnh
giới
này khổ
ít vui nhiều.
Chư thiên ở cõi Dục
thọ
dụng
nhiều
phần
vui, có ít phần
khổ
về
sự
suy não đọa
lạc.
Chư thiên ở cõi Sắc
giới
từ
Sơ thiền
đến
Tam thiền
lấy
định
cảnh
làm vui, sự
vui cùng cực
duy ở
cõi tam thiền.
Từ
Tứ
thiền
cho đến
chư thiên cõi
vô sắc thì không có khổ
lạc
thọ.
Về
ẩm
thực
thọ
dụng,
chư thiên ở
cõi Dục
thọ
dụng
những
trân vị
như cam lồ,
tô đà.
Tuy nhiên, tùy theo phước
báu của
mỗi
vị
sai khác mà có vị
thọ
dụng
đầy
đủ
có vị
thọ
dụng
không đầy
đủ,
đồng
thời
mùi vị
của
thức
ăn có sự
hơn kém. Chư
thiên ở cõi Sắc
giới
thọ
phần
tư thực,
dùng sự
vui thiền
định
để
nuôi sắc
thân. Còn chư thiên ở
cõi vô sắc
thì chỉ
có thức
thực.
Về
dục
nhiễm
thọ
dụng,
chúng sanh ở
cảnh
thiên đạo,
chỉ
có chư thiên
ở dục
giới
là có sự
hành dâm, còn chư
thiên ở cõi sắc
và vô sắc
giới
đều
tu phạm
hạnh,
không có dục
nhiễm
thọ
dụng.
Thiên chúng
ở
Dục
giới
khi gần
gũi
với
nhau không có chảy
ra chất
bất
tịnh,
chỉ
nơi căn môn
có hơi gió nhẹ thổi
ra, dục
niệm
liền
tiêu. Trời
Tứ
Thiên vương
và Đao Lợi có sự
giao cảm
cũng
như loài người.
Trời
Dạ Ma nam nữ
chỉ
ôm nhau là đã
thỏa mãn dâm dục.
Trời
Đâu
Suất hai bên nắm
tay nhau dục
niệm
liền
tiêu. Trời
Hoá Lạc
hai bên nam nữ
chỉ
chăm nhìn
nhau cười là dục
sự
đầy
đủ.
Trời
Tha Hoá chư thiên chỉ
liếc
mắt
nhau là đã
xong dục sự.
d. Nghiệp
nhân tái sanh
và biểu hiện
lâm chung:
d1. Nghiệp
nhân tái sanh.
Người
nào hiện
đời
thành tựu
năm việc,
khi chết
được
tái sanh lên cõi trời.
- Giữ
hạnh
từ
bi, không giết
hại
loài hữu
tình, thường
phóng sanh nuôi dưỡng,
ái mộ
vật
mạng,
khiến
cho chúng được
yên ổn.
- Giữ
hạnh
hiền
lương không
tham lam, không trộm cướp
tài vật
của
người
khác, bố
thí giúp đỡ
kẻ
nghèo nàn khốn
khổ.
- Giữ
hạnh
trinh tiết
không ngoại
tình, tinh tấn
phụng
trì trai giới.
- Giữ
hạnh
thành tín không dối
người,
tránh bốn
điều
vọng
ngữ
(nói dối,
nói hai lưỡi,
nói thô ác, nói lời
vô ích).
- Không say mê rượi
chè cờ
bạc,
khéo giữ
tâm trí sáng suốt
xa lìa nhiễm
duyên.
Người
nào tu năm
điều trên cộng
với
chứng
đắc
một
trong bốn
thiền
định
(tứ
thiền)
sẽ
tái sanh về
một
trong các cảnh
trời
thuộc
Sắc
giới,
hoặc người
chứng
đắc
một
trong bốn
không định
(tứ
không) sẽ
tái sanh về
một
trong các cảnh
trời
thuộc
Vô sắc
giới.
d2. Biểu
hiện
lâm chung.
Nếu
ai lâm chung
được tái sanh về
cảnh
trời
sẽ
có những
biểu
hiện
sau.
- Sanh lòng thương
xót.
- Phát khởi
tâm lành.
- Lòng thường
vui vẻ.
- Chánh niệm
rõ ràng.
- Đối
với
của
cải,
vợ
con lòng không lưu
luyến.
- Đôi
mắt có vẻ
sáng sạch.
- Không có những
sự
hôi hám.
- Ngửa
mặt
lên và mỉm
cười,
hoặc
mắt
thấy
thiên đồng,
tai nghe thiên nhạc.
- Sống
mũi
không xiên vẹo.
- Lòng không giận
giữ.
Chư thiên khi sắp
mạng
chung có năm tướng
tiểu
suy: Y phục
và đồ
trang nghiêm như vòng xuyến,
chuỗi
anh lạc,
kêu vang ra tiếng
không được
thanh tao êm dịu.
Ánh sáng nơi
thân hốt nhiên mờ
yếu.
Khi tắm
gội
các giọt
nước
dính đọng
nơi mình.
Tánh tình thường thung
dung phóng khoáng, nay bị
trệ
lại
một
cảnh.
Mắt
luôn luôn máy
đọng,
không được
trong lặng
như mọi
khi.
Kế
đó
lại có năm
tướng
đại
suy: Y phục
dính bụi.
Vòng hoa trên
đầu
rũ
héo. Hai nách chảy
mồ
hôi. Thân có mùi
hôi bay ra. Không ưa chỗ
ngồi
của
mình. Lúc năm tướng
này hiện
ra, quyết
định
sẽ
mạng
chung.
e.Tiến
trình thác sanh:
Chúng hữu
tình châu Nam Thiện
Bộ,
khi lâm chung sắp
sanh lên cõi trời,
trước
tiên thấy
một
dải
lụa
trắng
tế
nhuyễn
rũ
xuống
như muốn
rớt,
lại
trông thấy
các tướng
vườn
cây, ao hoa chư
thiên múa hát. Lúc đó
dù quyến thuộc
có than khóc kêu gọi,
nhưng bởi
phước
nghiệp,
kẻ
ấy
cũng
không hay biết;
chỉ
ngửi
thấy
mùi thơm,
nghe tiếng âm nhạc,
trong lòng vui vẻ
không còn nhớ
nghĩ
gì hết,
liền
được
mạng
chung.
Chúng hữu
tình ở
châu Đông
Thắng Thần,
khi lâm chung sắp
sanh lên cõi trời,
tự
thấy
cung điện
nghiêm đẹp,
xung quanh có thiên tử,
thiên nữ
đang vui vẻ
nhàn du. Lúc
đó
trong lòng sanh hoan hỷ,
tự
có cảm
giác như người
mới
thức
dậy.
Bấy
giờ
liền
được
thọ
sanh.
Chúng hữu
tình ở
châu Tây Ngưu Hóa khi lâm chung sắp
sanh lên cõi trời,
trước
tiên thấy
nước
chảy
xao xuyến
trong ao đầm
mới.
Lúc đó
thần thức
nương theo
ngọn nước
trôi qua đến
bờ
bên kia. Kế
đó
lại thấy
các thiên nữ
xinh đẹp,
tự
thấy
mình chạy
đến
mà ôm. Khi ấy
chính là lúc hóa sanh.
Chúng hữu
tình ở
châu Bắc
Câu Lô, khi sanh lên cõi trời
có nhiều
tướng
trạng.
Nếu
là người
phước
bậc
hạ,
thì khi lâm chung mũi
ngửi
mùi thơm lạ,
mắt
thấy
hoa quý đẹp,
trong lòng ưa
thích muốn leo lên cây
cao. Đang khi
leo cây chính là lúc trung ấm
bay lên núi Tu Di. Khi
đến
nơi liền
thấy
thế
giới
của
chư thiên,
cung điện vườn
hoa tất
cả
đều
trang nghiêm xinh
đẹp.
Lúc ấy
tùy theo nhân duyên kẻ
đáng
làm cha mẹ mà hóa sanh.
Như kẻ
phước
đức
bậc
trung thì khi lâm chung thấy
có bầy
ong vần
vũ
xung quanh một
hoa sen trong hồ,
tự
mình bước
lên hoa sen ấy
bay đến
thiên cung. Lúc
ấy
tùy nơi nhân
duyên của kẻ
đáng
làm cha mẹ mà hóa sanh.
Còn người
phước
đức
bậc
thượng,
thì khi lâm chung thấy
cung điện tốt
đẹp
trang nghiêm, thân trung hữu
nương nơi
cung điện
ấy
mà bay lên hóa sanh nơi
thiên giới.
Lưu ý: Biểu
hiện
lâm chung của
sáu cảnh
giới
kể
trên, không phải
con người
khi sắp
chết
đều
biểu
hiện
đầy
đủ,
mà đôi
lúc chỉ có những
điểm
thiết
yếu.
Lại chúng ta cần
phân biệt,
ví như hai cảnh
giới
nhân đạo
và thiên đạo
thì tâm hồn
họ
đều
trong sạch,
nhưng một
bên chỉ
nghĩ
đến
thiên cung xao lãng việc
đời,
một
bên thì thương nhớ
bà con căn dặn
việc
nhà. Còn hai cảnh
ngạ
quỷ
và địa
ngục
thì tâm hồn
họ
đều
mê man, nhưng
một bên thì sanh tâm
nóng nảy
mất
hết
sự
từ
hòa, một
bên thì biểu
hiện
tham lam hay nói
đến
chuyện
ăn uống.
Đến
như loài bàng
sanh thì thân thể tháo mồ
hôi, tiếng
nói khàn nghẹt
nhưng còn
luyến tiếc
bà con… đó
là những
điểm
dị
biệt
trong sáu cảnh
giới
để
chúng ta xác
định
rõ từng
cảnh
giới
tái sanh.
Lại
có đôi
người
đến
khi chết
tâm hồn
trở
thành vô ký (không biểu
hiện
lành hay dữ
như thế
nào). Hạng
người
này muốn
dự
đoán họ
sẽ
tái sanh về
cảnh
giới
nào, chúng ta chỉ
xác định
dựa
theo hơi nóng
nơi nào trên thân thể
sau cùng, mới
có thể
quyết
đoán được.
III. Ba yếu
tố
quyết
định
thành tựu
một
cảnh
giới.
Xưa nay có một
số
người
quan niệm
rằng,
con người
chúng ta khi tâm thanh tịnh
chính là đang sống
trong cảnh
giới
Tịnh
độ;
khi tâm đang
tham lam, sân hận là họ
đang sống
trong cảnh
giới
Ngạ
quỷ,
hoặc
khi tâm đang
ngu si, mê mờ là
đang sống
trong cảnh
giới
địa
ngục…
chứ
không có cảnh
giới
Tịnh
độ,
cảnh
giới
Ngạ
quỷ
hay cảnh
giới
Địa
ngục
nào khác. Quan niệm
về
cảnh
giới
như thế là hết
sức
sai lầm,
hoàn toàn không chính xác,
đôi
khi dẫn
đến
nhiều
sự
ngộ
nhận
khiến
gây tác hại
cho người
tin theo không nhỏ.
Với
những
biểu
hiện
của
tâm con người
như thế,
chúng ta chỉ
có thể
nói đó
là những người
đang tạo
nghiệp
nhân Tịnh
độ,
nghiệp nhân Ngạ
quỷ
hay nghiệp
nhân địa
ngục
mà thôi.
Chung quy, cảnh
giới
mà mỗi
khi chúng sanh thọ
dụng
phải
đầy
đủ
ba yếu
tố
sau, mới
có thể
thành tựu.
1. Vũ
trụ
quan.
Là xác định
vị
trí địa
lý của
mỗi
cảnh
giới,
như cảnh
Tây phương Tịnh
độ
là cõi cực
kỳ
trang nghiêm nằm
ở
phía Tây cõi Ta bà, cảnh
bàng sanh bàn bạc
khắp
người
và ngạ
quỷ,
địa
ngục
là cảnh
giới
thuần
khổ
đau, vị
trí ở
ngoài mé núi Thiết
vi.
2. Nhân sanh quan.
Là xác định
thân tướng
sai biệt
của
mỗi
cảnh
giới,
bởi
thân tướng
của mỗi
loài tuỳ
theo phước
báu có hơn
kém mà mỗi loài
đều
có hình tướng
sai biệt,
như thân tướng
của
Thánh chúng cõi Tây phương
Tịnh
độ
thì trang nghiêm
đủ
ba mươi hai
tướng tốt
tám mươi vẻ
đẹp,
còn thân tướng
của
chúng sanh ở
cảnh
giới
Ngạ
quỷ
thì bụng
to như trống,
cổ
nhỏ
như kim; thân
tướng chúng sanh
ở
cảnh
địa
ngục
thì xấu
xa kỳ
dị,
đầu
trâu mặt
ngựa…
3. Tâm lý quan.
Là xác định
tâm lý sai biệt
của
mỗi
cảnh
giới,
như tâm của
Thánh chúng cõi Tây phương
Tịnh
độ
thì luôn thanh tịnh,
tâm các Ngài luôn
an trụ
vào thiền
định
đồng
thọ
hưởng
pháp lạc
của
thiền
định
tương đồng
với
Phật
A di đà;
còn tâm chúng sanh ở cảnh
giới
ngạ
quỷ
luôn bị
sự
đốt
cháy của
đói
khát, tâm của chúng sanh
ở
cảnh
giới
địa
ngục
luôn sân hận,
sợ
hãi…
Như thế,
chúng sanh hiện
đời
gây tạo
nghiệp
nhân gì sau khi lâm chung sẽ
tuỳ
theo nghiệp
nhân đó
mà tái sanh về một
trong sáu cảnh
giới
luân hồi.
Do đó,
cảnh giới
tái sanh chỉ
xác lập
khi đã
đầy
đủ
ba yếu
tố
kể
trên, nếu
chưa đủ
ba yếu
tố
đó
thì chưa có thể nói
đó
là cảnh giới
chúng sanh đang thọ
dụng.
Hay nói một
cách khác, ở
mỗi
cảnh
giới
đều
có vị
trí, thân tướng
và tâm lý sai khác mà chúng sanh
ấy
phải
thọ
dụng.
C. Kết
luận.
Tóm lại,
bởi
do vô minh và ái dục
chi phối
mà chúng sanh cứ
sống
rồi
chết,
chết
rồi
lại
sống,
cứ
thế
mãi mãi trôi lăn vào một
trong sáu cảnh
giới
luân hồi.
Trong sáu cảnh
giới
đó,
bốn cảnh
giới
trước
hoàn toàn khổ
đau, hai cảnh
sau trời
và người
tuy có hạnh
phúc nhưng
xét lại vẫn
là vui ít khổ
nhiều.
Ví như chúng sanh ở
cảnh
giới
địa
ngục
thì một
ngày một
đêm
phải trải
qua cảnh
vạn
lần
chết
đi sống
lại,
bị
sự
tra tấn
của
vạc
dầu
hầm
lửa.
Chúng sanh ở
cảnh
giới
Ngạ
quỷ
thì bị
sự
thiêu đốt
của
nạn
đói
khát, trải qua ngàn vạn
năm cái tên
cơm nước chưa
từng nghe huống
gì là được
ăn no. Chúng
sanh ở cảnh
giới
Bàng sanh thì bị
sự
khổ
của
si mê dày vò, bị
người
khác nấu
nướng,
banh da, xẻo
thịt
nhai nuốt
vào bụng.
Chúng sanh ở
cảnh
giới
A tu la thì bị
sự
sân hận
và tham dục
chi phối,
suốt
ngày luôn đánh
giết lẫn
nhau để
tìm cầu
sự
thỏa
mãn của
xác thịt.
Còn chúng sanh
ở
hai cảnh
giới
trời,
người
tuy có hạnh
phúc xen lẫn
khổ
đau nhưng ở
cảnh
người,
chúng sanh phải
chịu
tướng
bát khổ;
ở
cảnh
giới
trời
vẫn
bị
năm tướng
suy hao.
Vì thế,
so sánh về
sự
hơn kém và
đau khổ hạnh
phúc giữa
các cảnh
giới,
ngõ hầu
tìm ra được
đâu
là cảnh giới
an ổn
để
quay về,
trong Pháp giới
tập
thuật
ngữ
có nói: Bởi
ba cõi định
ngôi, sáu đường
chia loại,
nên hình hài xấu
đẹp,
quả
có khổ
vui! Tìm ra
điểm
sanh khởi
chẳng
rời
sắc
thân, xả
đến
chỗ
hội
quy không ngoài sanh
diệt. Mà sanh diệt
luân hồi
chính là vô thường,
sắc
tâm hư huyễn
nguyên là cội
khổ!
Thế
nên kinh Pháp hoa dụ
cho nhà lửa,
kinh Niết
bàn ví dòng sông to. Bậc
thánh nhân thiết
giáo để
đưa nhân loại
vượt
ra ba cõi, về
nẻo
chân tâm là do lẽ
trên vậy.
Đến
như thiên
báo, tuy lầu quỳnh
áo gấm,
người
đẹp
cảnh
xinh, nhưng trên trời
Tha Hóa vẫn
còn có thiên ma, trong cõi Vô Vân vẫn
còn ngoại
đạo.
Huống
nữa
bậc
sanh lên Phi phi tưởng
định
còn đọa
phi ly, trời
Đâu
Suất
Đà
hãy còn mê ngũ dục,
nên biết
phước
báo dễ
sanh kiêu mạn,
cảnh
vui khó học
Niết-bàn!
Đến
khi thắng
nghiệp
hết
rồi,
thì tóc tiên hoa héo, áo ngọc
bụi
vương, điện
vàng tắt
ánh quang minh, thân nhớp
còn mong chi vẻ
đẹp?
Khắp
khuyên rửa
lòng sám hối,
niệm
Phật
làm lành, xa thì vui cảnh
chân thường,
gần
được
xum vầy
nơi Tịnh
độ.
Chi bằng
muốn
thoát ly sanh tử
luân hồi,
tránh sự
nhọc
nhằn
khi phải
làm kẻ
lữ
khách qua lại
nơi tam giới;
chúng ta nên cố
gắng
phát tâm tín sâu, nguyện
thiết,
chuyên trì danh hiệu
Phật
A-di-đà.
Nơi cảnh giới
đó
có Phật A-di-đà,
Bồ-tát Quan Âm, Bồ-tát
Thế
Chí là cha mẹ,
chư thượng
thiện
nhân là bạn
lành, chim hót suối
reo đều
tuyên bày diệu
pháp. Do vậy
đã
không vãng sanh thì thôi, nếu
vãng sanh thì quả
vị
Vô sanh pháp nhẫn
đã
ở trong tầm
tay. Chúng ta chỉ
mong làm sao hiện
đời
trả
chút nghiệp
còn lại,
lâm chung sớm
được
vãng sanh về
nước
Phật.
Thế nào là Đại Ý Phật Pháp?
Thanh Tâm
(tiếp theo)
Nhiều
người thường
quan niệm rằng
đạo nào cũng tốt,
ai cũng
khuyên răn
con người
ăn
ở hiền
lành, sống tốt
với mình tức tốt
với người, chưa
tìm hiểu hay nghiên cứu
sâu xa đã vội
đồng hóa giáo
lý này giống
giáo lý kia, nhưng
thực chất
các phương diện
thực hành lại
không thể như
thế. Quan niệm
đạo
đức về
thiện ác của
mỗi tôn giáo
khác nhau, như
quan niệm về
thiện ác theo
các nền văn
hóa luân lý xã hội
của nhiều nước,
nhiều khu vực trên trái
đất khác nhau
hoàn toàn. Ví dụ
như quan niệm
về chữ
hiếu, người phương
Đông báo hiếu
hoàn toàn khác xa với
sự báo hiếu người
phương Tây.
Có một bộ
tộc
ở Châu Phi
cho rằng, một
người con sống
có hiếu thảo
là sau khi cha mẹ
đến tuổi già bắt
cha mẹ trèo
lên cây và mình ở
dưới rung cây
để cha mẹ
té xuống chết,
đó là hiếu thảo
với cha mẹ. Nhưng
nhìn từ góc
độ của
những người
sống
ở các nước phương
Đông thì người
con có hành động
như vậy
rõ ràng đó là
sự bất
hiếu, không
thể tha thứ.
Theo quan niệm
phương
Đông, người
con sống có hiếu,
tức là phải
phụng dưỡng cha mẹ
lúc về già, sớm
hầu tối
nom chăm sóc không nên làm cho cha mẹ buồn,
đau khổ
hay có bất cứ
một hành
động nào
đi ngược lại
thói thường
đạo lý mà xã
hội
đã
ấn
định như thế-một
hành động trái ngược
đạo lý như giết
cha mẹ bằng
cách rung cây như
vậy là không
thể chấp
nhận. Việt
Nam không đồng
quan niệm rung cây theo kiểu
báo hiếu như
vậy. Do
ảnh hưởng
chữ hiếu
của người phương
Đông,
ảnh hưởng
nền văn
hóa Phật giáo
đã trên hai
ngàn năm nên
tinh thần hiếu thảo
của người Việt
Nam hiển bày
rất rõ trong từng
nếp sống,
nếp suy nghĩ của
mỗi người, cung cách
ứng xử của
mỗi người sống
sao hiếu thuận mẹ
cha. Nghĩa là
một người
con cần phải phụng
dưỡng cha mẹ trên cả
hai phương diện
vật chất cũng
như tinh thần-phụng dưỡng
vật chất và phụng
dưỡng
đời sống
tâm linh tinh thần
để cha mẹ vui lòng. Trong quan
điểm
này, vấn
đề về
thiện ác của
mỗi tôn giáo
tồn tại
trong một phong-hóa tuy có tính chất
khác nhau, dù có giống
nhau chút ít là khuyên người
làm lành tránh dữ
nhưng mục
đích chung
trên con đường
cải thiện hướng
cho con người
tiến
đến
đỉnh thăng hoa của
đời sống
tâm linh, đạt
được hạnh
phúc an lạc
thì hoàn toàn khác xa. Có
đạt
được
điều
đó hay không,
có an lạc hạnh
phúc hay không còn là
điều
mà con người
sống cần phải
biết, phải học
và cần phải trải
qua một quá
trình thể
nghiệm tu tập.
Đối với
Phật giáo, ngoài bỏ
ác làm lành ra, người
con Phật còn
phải thanh lọc
thân tâm để
cho đời sống
tự thân thanh tịnh,
trong sạch và
hằng giờ hằng
phút không huân tập
các chủng tử
bất thiện
đưa
đến
đau khổ.
Bỏ
ác làm lành, hai điều
này nói ra thì rất
dễ nhưng
không phải ai
cũng làm
được. Như
đứa con nít
ba tuổi
đã
được Bạch
Cư Dị
đưa ra cũng
có thể học
thuộc, nói thì dễ
nhưng thực
hành thì không phải
dễ dàng chút
nào, đó mới
là điều
mà đạo Phật
chú ý đến.
Làm sao biết
rõ việc nào
là làm lành, việc
nào là làm ác. Vì vậy,
vấn
đề thiện
ác thực chất
rất khó phân
định. Còn nếu
cho rằng như
thế này
đúng hay như
thế kia sai,
điều
đó chẳng qua là theo quan
điểm
luân lý của mỗi
quốc
độ trong mức
độ tương
đối mà thôi.
Có những
điều
mà ở thời
điểm
này, giai đoạn
này, tôn giáo này, xã hội
này cho là đúng,
là điều
lành, nhưng
ở thời
buổi khác, tôn giáo khác, xã hội
khác cho là sai, là làm ác. Cho nên
điều
quan yếu của
một người học
Phật cần
phải nắm
vững và hiểu biết
phân biệt rõ
ràng hai lãnh vực
thiện ác. Thiện ác nào thuộc
lãnh vực
đạo
đức tôn giáo,
thiện ác nào
thuộc lãnh vực luân lý xã hội.
Nhờ
đó chúng ta
có thể
đánh giá
được mức
độ
đúng sai theo
chiều hướng:
tôn giáo hay luân lý. Khi phân
định
được sự
việc mà không
phạm vào những
sai lầm có thể
đưa
đến tranh
cãi, thì dù là giá trị
phổ quát hay
khép kín đi
chăng nữa
chúng ta cũng
có thể hiểu
được trong khả năng
chấp nhận
giới hạn
của chúng.
Ở
đây
để
đưa
đến giải
thoát thì vấn
đề thiện ác của
một luân lý
xã hội nào
đó, nếu phù hợp
với
đạo
đức con người thì chúng ta có thể
chấp nhận và xem chúng như
là tiền
đề
để thực
hiện hoài bảo giải
thoát cho mọi
người. Chỉ
có làm lành chúng ta mới
không thấy ray rứt
lương tâm,
không có đau
khổ hay hối
hận. Làm lành
còn đem lại cho con người
sự thảnh
thơi an lạc,
làm cho gia đình
xã hội, bạn bè thân quen hạnh
phúc, đất nước
an bình, quốc
gia thịnh vượng.
Chỉ có làm
lành mới
đem lại
hạnh phúc cho
mình và cho chúng sanh. Chỉ
có làm lành mới
đem lại
và tôn trọng
sự sống
của tất
cả chúng sanh
hay cộng
đồng
đang hiện
hữu trên thế gian này.
Giáo lý
đức Phật
định nghĩa
rất rõ về việc
làm lành hay tránh dữ.
Trong sách thường
có dạy: “Thiện
giả lợi
dã”. Nghĩa là, người
làm việc thiện
là người luôn
đem lại
lợi lạc
cho mình và cho người
trong hiện tại
và tương lai. Những
việc làm mà không
đem lại
lợi mình và lợi
người trong
hiện tại
và tương lai
đều là việc ác. Làm một
sự việc
mà sự việc
đó
đem lại
lợi ích, hạnh phúc, an lạc
cho mình trong hiện
tại và tương lai nhưng
lại
đem
đến sự
đau khổ
cho người
khác thì vẫn
là điều
ác, hay ngược
lại. Trong
Kalama, đức
Phật dạy
cho các hoàng tử
rằng: “Hành
động gì có hại
cho mình, có hại
cho người, có
hại cho cả
hai, bị người
chỉ trích, nếu
chấp nhận
và thực hiện sẽ
đem lại
tâm khổ sở,
tâm ưu phiền,
hành động như
vậy là hành
động bất
thiện và
chúng ta phải
loại bỏ
hành động
ấy. Hành
động gì mà
không có hại
cho mình, không có hại
cho người, không có hại
cho cả hai,
được người
trí tán thán, nếu
chấp nhận và thực
hiện sẽ
đem lại
tâm an lạc
hoan hỷ. Hành
động như
vậy là hành
động thiện và chúng ta phải
thực hành”. Như
vậy, vấn
đề thiện hay ác của
đạo Phật muốn
thẩm
định cần phải
căn cứ
vào hai tiêu chí hạnh
phúc hay đau
khổ của
tự thân và
tha nhân. Trong cuộc
sống hiện tại
nếu chúng ta
thực thi những
hành động không
đem lại
hạnh phúc cho
chúng sanh thì những
hành động
đó gọi
là ác.
Còn những
hành động nào
đem lại
hạnh phúc an
lạc cho chúng
sanh thì gọi
là thiện.
Đó là
điều
được
đức Phật chỉ
dạy trong suốt hành trình chuyển
vận bánh xe
Pháp, “Ngài ra đời
vì lòng thương
tưởng chúng
sanh, vì an lạc
cho chúng sanh, vì hạnh
phúc và an lạc
cho chư thiên và loài người”.
Cho nên sau khi Thành
đạo, Ngài
đã
đem những
gì mà mình chứng
đạt, niềm hạnh
phúc an lạc
đã
đạt
được trao
truyền lại
cho chúng sanh, ngõ hầu
chúng sanh cùng sống
chung trong một
cảnh giới thật
sự không có
bóng dáng của
phiền muộn khổ
đau.
Đã là người
theo Phật, chúng ta không nên tự
làm khổ mình, không nên tự
làm khổ người,
không tự làm
khổ bất
cứ một
chúng sanh nào khác, vì khi tự
làm khổ chúng
sanh, tự làm
khổ tha nhân
tức là mình
đã tự
làm khổ mình. Nhờ
vậy, chúng ta
mới không
đi lệch
ra khỏi
đạo lộ
giải thoát.
Chúng ta không chỉ
giải thoát
cho cá nhân mình mà còn giải
thoát cho cả
chúng sanh. Tôn trọng
sự sống
và bảo vệ
sự sống
của chúng sanh là thiện
pháp. Ngược lại
không tôn trọng
và bảo vệ
sự sống
của các loài khác là ác pháp. Vì thế,
giáo lý đạo Phật
mới
đưa ra các
pháp môn, phân ra nhiều
chương mục
là tùy hợp với
căn cơ
của chúng
sanh mà chỉ
bày cho thích ứng.
Làm lành tức
là làm việc
lành, hành động
lành, tác ý việc
lành. Việc lành này
được xây dựng trên ba khía cạnh
của thân khẩu
ý: thân không làm ác, miệng
không nói việc
ác, tâm không nghĩ
điều
ác. Khi một
người làm những
việc như
sát sanh, trộm
cắp, tà dâm
thì gọi là
làm ác, khi một
người nói dối
để
đem lại
lợi lạc
cho mình, làm tổn
hại cho người, hay thỏa
mãn tính vị kỷ,
tư kỷ
cho mình đem
lại chia rẽ
cho người,…
đều gọi
là ác, thậm
chí tâm khởi
lên một niệm
mà có yếu tố
tham, sân, si chi phối
đều gọi
là ác cả; còn nếu
thân không tạo
sát, đạo, dâm, ý không khởi
tham, sân, si, miệng
không ỷ ngữ,
lưỡng thiệt, vọng
ngôn, ác khẩu
thì gọi là “chư
ác mạc tác”;
lại có thể nói rằng,
tiêu diệt các
điều
ác đã sanh,
điều
ác chưa sanh
thì không cho phát khởi,
nên gọi là “chư
ác mạc tác”.
Người làm
được như
vậy mới
gọi là học Phật,
giữ miệng,
nhiếp ý,
phòng thân chớ
phạm.
Đây là bước
đầu của
người học
Phật pháp.
Không phải
“chư ác mạc
tác” mà còn phải
“chúng thiện
phụng hành”,
không những
không sát sanh mà còn phóng sanh, không những
không trộm cướp
mà còn bố thí, không những
không tà dâm mà còn phải
sống phạm hạnh,
không những
đừng nói lời ác, nói hai lưỡi,
nói dối, nói thêu dệt
mà còn nói lời
chân thật,
nhu nhuyến
hòa hợp…,
không khởi
tâm tham sân si mà còn phát tâm từ bi và trí tuệ,
cũng như các
điều
thiện
đã sanh làm
cho tăng trưởng, các
điều
thiện chưa sanh làm cho sanh khởi.
Những việc
làm như vậy
đều gọi
là các việc
thiện nên
làm. Cho nên chúng ta có thể
kết luận, làm thiện
theo Phật giáo tức
là không xâm phạm
đến
đời sống
an lạc hạnh
phúc của một
cá nhân, không đem
lại
đau khổ cho một
chúng sanh hay một
cộng
đồng nào
khác, cũng như
không đem lại
đau khổ
hay ray rứt
cho lương tâm của
chính mình, làm được
như vậy
thì chúng ta đang
tiến triển
theo chiều hướng
thiện.
Ngoài những
điều
đó ra, nếu chúng ta làm ngược
lại thì chính
bản thân
chúng ta đang
làm các điều
ác.
Mặt
khác, tu học
là để chuyển hóa nghiệp
ác thành nghiệp
thiện, hướng con người
vào con đường luân lý tốt,
đạo
đức tốt,
đem lại
niềm an vui hạnh phúc cho cá nhân,
ổn
định cho gia
đình và hòa
bình cho xã hội.
Người làm thiện
sẽ hưởng
phước báo sanh thiên, khi hết
phước báo sẽ
tái sanh lên cảnh
giới an lành,
không tái sanh vào những
cõi dữ và còn
được cơ
hội
để tu tập và sống
thiện tiếp theo. Còn làm ác thì phải
luân chuyển
trong các cõi ác nghiệp.
Làm thiện hay làm ác vẫn
còn trong vòng đối