Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

số 19 - tháng 09 năm Ất dậu

Chuyên đề: Bổn Phận Người Phật Tử Tại Gia

 

Mục Lục 

 

--Bát Chánh Đạo Với Tam Vô Lậu Học

--Bổn Phận Người Phật Tử Tại Gia  

--Các Cảnh Giới Tái Sanh  

--Thế nào là Đại Ý Phật Pháp?  

--Niệm Phật và Đức Tin  

--Tóm tắt tiểu sử mười bốn đời của đức Đạt-lai-lạt-ma  

--Tập Tục Dâng Hương  

--Chùa Thầy Giai Thoại và Triết Học  

--Hạnh Nhẫn Nhục của một Ẩn Sĩ  

--Nơi Bình Minh Yên Tịnh  

--Đặc điểm tâm lý của tuổi thiếu niên Phật tử và phương pháp giáo dục  

--BAMIYAN: Dùng tia Laser để phục hồi những pho tượng bị phá hủy bởi chính quyền Taliban  

--CANADA: Thiền Định có tác dụng làm giảm đau nhức kinh niên  

--Thơ: Thiện Hữu; Ninh Giang Thu Cúc; Hạnh Phương; Huỳnh Khải Nguyên; Mặc Không Tử; Nguyễn Xuân

 ---o0o--- 

Bát Chánh Đạo Với Tam Vô Lậu Học

TT.Thích Thái Hòa
 

Tam vô lậu học là ba pháp học tập để dẫn đến đời sống vô lậu, tức là sống đời sống không bị rơi vào sinh tử luân hồi.

Vô lậu học giới là phần thứ nhất trong ba pháp vô lậu học và nó cũng làm nền tảng cho vô lậu học định và vô lậu học tuệ.

* VÔ LẬU HỌC GIỚI: Tức là học tập và thực hành học giới, để dẫn đến đời sống vô lậu, đời sống giải thoát. Giới nói theo tiếng Phạn là Sìla, nó có khả năng phòng hộ các căn, không cho các trần cấu quấy nhiễm. Và nó cũng có khả năng phòng hộ ba nghiệp, không để cho ba nghiệp hành động một cách sai lầm dẫn đến những kết quả khổ đau. Giới ngoài ý nghĩa phòng hộ, nó còn là động cơ thúc đẩy ba nghiệp thực hành mọi thiện pháp.

Như vậy, “Sìla” hay giới được biểu hiện như là luân lý, đạo đức; và học tập giới chính là học tập đời sống đạo đức, bằng cách chuyển đổi mọi ác nghiệp thành thiện nghiệp.
Vì nghiệp (Karma) xác định sự hiện hữu của con người và chúng sanh, hay nói theo lập trường của luận Câu-xá:

“Thế biệt do nghiệp sinh

  Tư cập tư sở tác

  Tư tức thị ý nghiệp

  Sở tác thị thân ngữ”.

Nghĩa là sự sai biệt của thế gian là do nghiệp sinh khởi. Đó là Tư và điều được tác động bởi Tư. Tư tức là ý nghiệp và điều được tác động bởi Tư tức là thân và ngữ.

Nghiệp (Karma): xác định mọi sự hiện hữu sai khác của tất cả chúng sanh trong thế gian. Và mọi sự sai khác của chúng sanh trong thế gian được xác định bởi nghiệp. Nghiệp là hành vi tạo tác có cố ý và luôn luôn xảy ra trong thời gian hiện tại. Chính hành vi của con người, của chúng sanh như thế nào, thì nó sẽ khẳng định con người và chúng sanh là như thế ấy.
Chẳng hạn, hành động giết người sẽ khẳng định người ấy là kẻ giết người. Và như vậy, đó là kẻ ác. Trái lại, một hành động cứu giúp kẻ khác thoát khỏi sự chết chóc, hành động cứu giúp ấy, khẳng định kẻ kia như là một người hiền thiện.

Một hành động thiện hay ác theo Phật giáo phải có đủ bốn tiêu chuẩn. Hành động ấy, gây nên hạnh phúc cho mình và kẻ khác trong hiện tại và trong tương lai. Và hành động ác thì ngược lại, nghĩa là gây thiệt hại cho mình và kẻ khác không những trong hiện tại mà ngay cả trong tương lai nữa.

Hành động thiện, chính là  điều kiện dẫn đến niềm vui và an lạc. Nhưng, niềm vui và sự an lạc nào chỉ có trong thoáng chốc, và sau đó là những cảm giác khó chịu, sầu muộn và khổ đau, thì đó không phải là chơn thiện, không phải là chơn hạnh phúc, an lạc. Trái lại, niềm vui và sự an lạc nào do hành động thiện đem lại, thời gian dễ chịu, êm ái càng kéo dài bao nhiêu, thì giá trị của hành động thiện được đánh giá bằng những mức độ cao bấy nhiêu. Lại nữa, cảm giác hạnh phúc và an lạc liên tục kéo dài cho đến vô tận, nghĩa là không bao giờ chấm dứt, thì sự an lạc hạnh phúc ấy, gọi là hạnh phúc an lạc của Niết-bàn, và chỉ có Niết-bàn mới gọi là điều thiện tối thắng.
Hành động để dẫn đến sự an lạc tối thắng của Niết-Bàn, hay là điều thiện tối thắng, hành động ấy gọi là Chánh nghiệp.

Như vậy, Sìla hay Giới có khả năng phòng hộ ác nghiệp và làm cho ba nghiệp trở nên thanh tịnh. Điều này đã được luật Tứ Phần nói rất rõ trong phần tóm lược các Giới kinh của chư Phật, có bài kệ như sau:

“Thiện hộ ư khẩu ngôn

 Tự tịnh kỳ chí ý

 Thân mạc tác chư ác

  Thử tam nghiệp đạo tịnh

 Năng đắc như thị hành

  Thị Đại Tiên Nhân Đạo”.

Nghĩa là:

“Khéo phòng hộ lời nói

 Tâm chí tự lắng trong

 Thân không làm các ác

 Ba nghiệp đạo này tịnh

 Thực hành được như thế

 Là Đạo Đấng Đại Tiên”.

Đây là Giới kinh mà đức Phật Thích-ca đã giảng dạy cho chúng Tỳ-kheo trong mười hai năm đầu.
Ba nghiệp thanh tịnh là do sự hành trì thanh tịnh giới. Nếu không có giới, thì ba nghiệp không biết dựa vào đâu để có được sự thanh tịnh.

Theo luận Câu Xá, nghiệp (Karma) tạo nên sự đa dạng và sai thù của chúng sanh trong thế gian về quả báo thiện và ác, thì Sìla hay Giới là để phòng hộ mọi ác nghiệp ở nơi thân, ngữ và ý. Đồng thời cũng là năng lực thúc đẩy mọi hoạt động của thân, ngữ, ý phù hợp với thiện vô lậu, tức là Niết-bàn.

Như vậy, Giới dẫn dắt hành động của thân, ngữ và ý đến chỗ hợp lý. Chỗ hợp lý ấy chính là Niết-bàn.

Thế nên, trong Bát Chánh Đạo thì Chánh nghiệp được xem như là Giới và Giới là Chánh nghiệp. Chánh ngữ và Chánh mạng cũng vậy. Nghĩa là ở trong Tam vô lậu học thì chúng thuộc về Giới vô lậu học.
Vì một người hành trì thanh tịnh giới không thể nào có một đời sống tà nghiệp, tà ngữ và tà mạng.
Do đó, ba thành phần trong tám yếu tố của Thánh đạo đã nêu ra ở trên được xem như là Vô lậu học giới.

* VÔ LẬU HỌC ĐỊNH: Tức là học tập và thực hành thiền định dẫn đến đời sống giải thoát, không còn bị vướng mắc ở trong sinh tử luân hồi.
Thực tập thiền định vô lậu, tức là làm cho thân tâm đình
chỉ mọi khát ái, hay nói cách khác mọi khát ái đang khô dần ở trong tâm hồn của người đang thực hành thiền định vô lậu.
Ở trong Bát Chánh Đạo, thì ba yếu tố Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định được xem như là Vô lậu học định.

* VÔ LẬU HỌC TUỆ: Tức là trí tuệ vô lậu, trí tuệ vô lậu là con đường dẫn thoát khổ đau và sinh tử, con đường đưa đến giác ngộ.
Trí tuệ vô lậu này phát sinh không phải do sự suy luận hay học hỏi mà chính do sự hành trì thanh tịnh giới vô lậu và thiền định vô lậu.

Ở trong Bát Chánh Đạo, thì Chánh tư duy và Chánh kiến được xem như là Vô lậu học tuệ.
Bát Chánh Đạo phối hợp với Tam vô lậu học như vậy, ta có thấy ở trong kinh Cùlavedalla (Hữu Minh Tiểu Kinh) và Giải Thoát Đạo Luận của Ưu Ba Đề Sa.
Tuy nhiên, sự phối hợp như vậy, chúng chỉ có giá trị ở mặt tương đối. Còn đối với mặt tuyệt đối thì chúng không phải nhất định là như vậy.

Và chính ở trong giới có định và trong định có giới, trong tuệ có giới và trong giới có tuệ; trong giới có định có tuệ; trong định có tuệ có giới và trong tuệ có giới có định…
Nhìn một cách sâu sắc và tế nhị thì lằn mức giữa Giới, Định, Tuệ thật khó phân định. Vì trong đời sống tu tập để hướng đến giải thoát và Niết-bàn, ba yếu tố ấy không thể nào tách biệt khỏi nhau; chúng là thế chân vạc, nếu thiếu một thì hai cái kia không thể có mặt.
Bởi vậy, sự phân định lằn mức giữa Giới, Định và Tuệ chỉ có một giá trị tương đối, thì sự phối định Bát Chánh Đạo vào trong Giới, Định, Tuệ không phải là sự phối định tuyệt đối.

Vì sao? Vì Chánh tinh tấn không phải chỉ có mặt nhất định ở trong Vô lậu học định mà nó cũng có thể có mặt ở trong Vô lậu học giới cũng như ở trong Vô lậu học tuệ nữa.
Vì, nếu hành trì giới mà thiếu Chánh tinh tấn thì khả năng phòng hộ của giới không kiên quyết, bờ đê phòng hộ của giới có thể bị các trần tướng xói mòn và đâm thủng. Vì vậy mà có những trường hợp phạm giới và hủy giới.

Và, nếu thực hành Chánh tư duy hoặc Chánh kiến mà không nỗ lực thường xuyên, thì chắc chắn sự tư duy sẽ không thấu đáo và sự hiểu biết cũng không thể nào quán triệt.
Do đó, ở trong lĩnh vực Tuệ vô lậu học cũng không thể vắng mặt Chánh tinh tấn.
 Như vậy, Chánh tinh tấn không những chỉ có mặt ở Định mà còn luôn luôn có mặt ở Giới và Tuệ nữa.

Nói gọn lại, Bát Chánh Đạo đối với Tam vô lậu học, cả hai đều tương dung tương nhiếp với nhau. Tam vô lậu học có mặt ở trong Bát Chánh Đạo và Bát Chánh Đạo có mặt ở trong Tam vô lậu học, hoặc Bát Chánh Đạo là hình thức khai triển của Tam vô lậu học và Tam vô lậu học là cái lõi thu hẹp của Bát Chánh Đạo.

Do đó, nhìn từ khía cạnh thực hành và cốt lõi thì Bát Chánh Đạo là Giới, Định, Tuệ và Giới, Định, Tuệ là Bát Chánh Đạo. Nên, bất cứ ai thực tập được Giới, Định, Tuệ thì người ấy thành tựu được Bát Chánh Đạo và cũng chính là  thành tựu Giới, Định và Tuệ.
Kết luận phần này cho chúng ta thấy, Bát Chánh Đạo hay Tam vô lậu học đều có chung mục đích phòng hộ mọi ác nghiệp của thân, ngữ và ý. Và mỗi khi thiện vô lậu đã được phát khởi thì đó là thiện Niết-bàn đã bắt đầu có mặt.

Thiện của Niết-bàn có mặt là kết quả do thực hành Giới, Định, Tuệ hay thực hành Bát Chánh Đạo.

Vậy, trên hình thức thì Bát Chánh Đạo và Giới, Định, Tuệ xem như là hai, nhưng thực chất của nội dung và mục đích thì cả hai chỉ là một.

Thế nên Bát Chánh Đạo đối với Giới, Định, Tuệ là một. Và chúng là con đường đưa đến Niết-Bàn tối thượng.
 

 

Bổn Phận Người Phật Tử Tại Gia

Tâm Minh  

Kính thưa quí vị, 

Tuổi tr, đến vi đạo Pht vi nhiu b ng như người lc vào khu rng đầy hoa thơm cỏ l nhưng lại khó tìm li ra. Tiết mc “Tui tr vi Pht pháp” đến vi các bn tr, đặc bit là nhng bn tr Pht t VN hi ngoi, trưởng thành ti mt nơi mà tiếng m đẻ không được dùng trong sinh hot hng ngày, để giúp nói đến nhng vic rt bình thường nhưng có thể “khó” vi h.  

Ngoài ra, “Tuổi tr vi Pht pháp” s giúp chúng ta cùng tìm hiu và thc hành Pht pháp, hu đạt được an lc, hnh phúc và thnh thơi ngay trong cuộc sng trước mt cho bn thân, gia đình và cho mọi người quanh ta. Kính mi quý vị và các bn tr cùng theo dõi câu chuyn hôm nay vi tiêu đề “Bn phn người Pht t ti gia” vi các bn tr A,B,C. 

A: Xin chào các bạn! Người Pht t là người con Pht, đi theo con đường ca đức Pht, hc sng theo giáo lý ca Ngài, nhưng tại sao li gi là “người Pht t ti gia” h?

C: Gọi như vậy để phân bit vi người Pht t xut gia là quí vị Sa-di, Sa-di-ni, T-kheo, T-kheo-ni, v.v… sng chùa, “ly gia cát ái” nghĩa là thoát ly khi s ràng buc ca tình cm gia đình đó.

A: Người Pht t ti gia có phi còn được gi là Ưu-bà-tắc (nam) và Ưu-bà-di (nữ) hay “cn s nam”, “cn s n” hay “thin nam”, “tín n” na phi không?

B: Đúng rồi, nói tóm li, là Pht t chúng ta có “4 Chúng đồng tu” là T-kheo, T-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.

A: Vậy thì các bn hãy cho biết bn phn ca nhng người Pht t ti gia (PTTG) là gì ngay đi!

C: Bổn phn chính ca người PTTG là sng đúng với Pht pháp, truyn bá Pht pháp đến mi người để mi người được an lc.

B: Như vậy vn đề là trước hết, người PTTG phi biết áp dng Pht pháp vào đời sng hng ngày để t mình có s an lc, ri mi đem an lạc cho người khác được, có phi không?

A: Phải ri! Làm sao để gi là sng đúng theo Phật pháp và có an lc?

B: Trong Phẩm “Tnh hnh” ca kinh Hoa Nghiêm, ngài Văn Thù có trả li cho Pht t ti gia, nhng v B-tát nhà, sng như thế nào gi là sng đúng theo Phật pháp (sách do thy Hng Trường Vit dch và ging).

C: Có phải ngài Văn Thù dạy ta nhìn mi s vt, hin tượng trong cuc đời này bng cp mt trí tuệ, hướng v chân lý ch đừng nhìn vi cái tâm hp hòi, c chp...?

B: Đúng rồi! Ngài có đưa ra hơn 10 lời dy cho người PPTG s dng để sng đúng tinh thần Pht pháp trong nhng hoàn cnh sinh hot bình thường gia đình.

A: Thật là hay quá, bn hãy cho biết nhng li dy y đi!

B: Bài học th nht là Ngài dy: gia đình, người PTTG phi nhường nhn (không tranh giành), phi bao dung vi mi người, nói năng nhỏ nh, phi biết lng nghe, chuyn qua ri đừng có nhc li, đừng trách móc; tránh bàn lun chuyện đúng sai, hay dở ca các thành viên trong gia đình; nên chia sẻ chân lý, truyn đạt nhng gì mình hc được trong Pht pháp để mi người biết làm nhng điều thin lành tránh điều hung ác.

C: Có phải bài k thường nhc nh chúng ta mà hôm trước bn đã nhắc đến hay không?

Bồ-tát ở nhà

Nguyện rằng chúng sanh

Biết nhà tánh Không

Tránh mọi bức bách.  

A: Tôi nhớ ra ri! Nghĩa là mình yêu mến gia đình nhưng đừng quá tham luyến, quá khn trương để sinh ra đủ th stress - là “bc bách” - phi không?

B: Phải rồi, các bn đã nhớ đúng rồi đó. Còn đối vi cha m thì hiếu tho, chăm sóc nhưng cũng phi biết rng đức Pht đã dạy: “Tt c chúng sanh đều là cha m ca chúng ta trong by kiếp”; ý nói là thương yêu thờ phng cha m là hiếu, nhưng phải t lòng hiếu đó lan rộng ra đến mi người ch không phi ch biết chăm lo cho cha mẹ mình mà xúc phm đến cha m người khác, hay vì lòng hiếu mà làm nhng chuyn sai trái ti li v.v... thì đó lại là bt hiếu. Ngoài ra, phi biết cha m cn mình nht là nhng lúc già yếu, bệnh tt, tuyt vng; hãy gn gũi h, lng nghe h và chia s kinh nghim tu hc vi h. Các bn còn nh bài k này ch?

C: Ừ, nh! Bài k nhc nh chúng ta là:

Hiếu thảo cha mẹ,

Nguyện rằng chúng sanh

Khéo phụng sự Phật,

Chăm sóc hết thảy! 

A: Tôi cũng nh bài k nói v gia đình nhỏ gm v con nhưng hai câu cuối chưa được thông sut, các bn hãy ging nghĩa giùm nha:

Vợ con sum vầy,

Nguyện rằng chúng sanh

Oán thân bình đẳng

Vĩnh ly tham trước.  

B: Đức Pht dy: “Phi có duyên n vi nhau trong nhiều đời nhiu kiếp mi thành v chng”, vì vy phi thương yêu giúp đỡ chia s hnh phúc hay đau khổ vi nhau cho đúng đạo lý. Mt khác, đừng yêu đương tham đắm quá mà sinh ra ích k, ri t đó nghi kỵ, hiu lm, ghen tuông, ly d v.v... kéo theo liền! Phi tp sng theo “trung đạo”-không tht cht quá, không th lng quá-thì tình v chng, con cái mi bn vng và dành cho nhau s t do đúng mức. Đóng là ý nghĩa my ch “vĩnh ly tham trước” và “bình đẳng” đối vi k oán, người thân trong hai câu cui. Thế còn v “ngũ dc tht tình”, các bn có còn nh bài k nhc nh chúng ta như thế nào không?

A: Đó là:

Được hưởng ngũ dục,

Nguyện rằng chúng sanh

Nhổ mũi tên dục,

Cứu cánh yên ổn.

Nhưng tôi chưa nhớ ra ngũ dc là gì? Và ti sao gọi là “mũi tên dc”?

B: Ngũ dc là năm “đối tượng” (object) ca dc vng: tin tài vt cht, sc đẹp, danh vng, ăn uống hưởng th, ng ngh (tài, sc, danh, thc, thùy). Đặc tính ca ngũ dc là khiến người ta nghin ngp chìm đắm-các bn đừng tưởng chỉ có rượu hay thuc phin mi làm người ta nghin đâu nha-ngay cả danh vng, địa v, sc đẹp cũng làm người ta say đắm và nhn chìm người ta được (“sc bt ba đào dị nch nhân” - có nghĩa là “sc đẹp không có sóng nhưng nhận chìm người ta d dàng”) đó!

C: Bạn nói đúng quá! Ai đã nếm mùi ngũ dc thì tht khó mà buông x. Cho dù bn mun tránh né, nó cũng vn còn gc r nm sâu trong đáy lòng, phải không? Hèn gì đức Pht nói “ngũ dc là gc r ca địa ngc đọa lc” - ging như mũi tên độc đã ngấm vào da tht, khó nh cho ra và dù nh ra được thì đau đớn biết bao nhiêu và cht độc đã ngấm vào cơ thể ri!

A: Như vậy thì nguy ri! Cuc sng ca người PTTG luôn có ngũ dc vây quanh, làm sao mà tránh đây các bạn?

B: Thì mình phải gi mình bng cách “tiết chế” nhng ham mun (to bound your desire, to limit) ch biếr có làm sao hơn! Mình thực hành các hnh sau đây: biết đủ (tri túc), tch tĩnh, đạm bc, buông x,  mun ít.

C: Tôi nghe quý thầy ging rng mun tránh ngũ dc mình phi suy nghĩ như thế này: làm giàu để làm gì? Chết có đem theo được không? (để đối tr vi “tài”)

Sắc đẹp làm mê đắm lòng người, có th dn đến ti ác, phm gii v.v... có đáng cho mình hy sinh mọi th để chy theo “sc” hay không?

Danh là thật hay là gi, là hình hay bóng? Chy theo có phí thi gian không? (Tnh gic mng ni kê chưa chín”)

Thực (ăn): bệnh là do ming mà vào, tham thc cc thân, ăn vào dễ, nh ra khó.

Ngủ ngh (thùy): hưởng th sướng thân, sinh biếng nhác, ham vui, phóng dt; đến lúc git mình thì thi gian không còn na, cái chết đến gn... có phi mt đời hi hn không?

A: Thế còn đi xem văn nghệ, ca nhc v.v... có phi là “ngũ dc” không?

C: Cũng có bài k nói v ca nhc t hp đó nha:

Ca nhạc tụ họp

Nguyện rằng chúng sanh

Vui với chân lý

Biết nhạc là giả. 

B: Ca nhạc, thơ văn, hội ha v.v... nói chung là văn nghệ có tác dng nuôi dưỡng tinh thn, tâm hn con người, đặc bit âm nhc có sc mnh thay đổi trng thái tâm hn ca người nghe. V đẹp, cái hay, cái k diu ca nhc và thơ, không chỉ loài người mi có, mà cõi trời cũng có nhc na đấy (nhc tri) và tiếng chim hót, tiếng sui reo, thông reo v.v... không phi cũng là nhng khúc nhc làm êm du tâm hn ta hay sao? Tuy nhiên, âm nhc có thể cu người mà cũng có th hi người; cái chính là chúng ta luôn tnh giác để biết rng tìm vui trong ca nhc ch là tm b, nim vui chân chính, cu cánh ca an lc phi là tìm vui nơi Chánh pháp, nơi chân lý.

C: Niềm vui nơi chân lý có phải là vui vi Pháp, vi s chm dt ca vng tưởng, s dng li ca mi ham mun tham đắm hay không?

B: Phải đó!

A: Các bạn có mun nghe câu chuyn v “Bài ca vô thanh” mà đức Pht đã kể mt cõi tri không?

C: Muốn ch, bn hãy k đi!

A: Có một v B-tát được mi lên mt cung Tri thuyết pháp. Ngài yên lng nhp định, chun b ging kinh. Các Thiên n tán hoa, múa hát, nhc Tri tri lên ai nghe cũng thy tâm thn nh nhõm và hoàn toàn b cun hút vào. Sau khi v B-tát thuyết pháp xong, vua Trời Đế Thích hi: “Thưa Ngài, Ngài là bậc đã du hành vô số cõi Tri, đã nghe vô số âm nhc, phi chăng âm nhạc ca chúng tôi đây là hay nhất?” V B-tát chp tay đáp rằng: “Tht h thn, xin Ngài th li, theo thin kiến, chng âm nhc nào xut sc bằng bn nhc ca s im lng tuyt đối, chng có bài hát nào du dương bằng âm điệu ca chân lý, ca Pháp!” Vua Tri bng nhiên tnh thc, hc tp lng nghe bài ca vô thanh.

B: Trên đây là những nhc nh chúng ta, nhng người PTTG v nhng sinh hot bình thường, làm sao để được an lc và làm cho mi người thân quanh mình được an lc. Ngoài ra, v x thế, chúng ta còn được dy v “cách cho”, tc là b thí na:

Cho ai vật gì

Nguyện rằng chúng sanh

Cho được mọi thứ

Lòng chẳng ái trước.  

Nghĩa là đã cho thì nên thật lòng cho, không hi tiếc, không tính toán hay mong cu được tr công; vì “cho” là thành khn mun làm vui lòng người, không phi là trao đổi, mua chuc, nnh b v.v... Cho-hay b thí chính là phương pháp mở rng lòng t bi, đối tr bnh ích k, hà tiện, keo kit, tham lam v.v... Các bn còn gì b sung không?

C: Tôi còn nhớ ngài Văn Thù còn dạy bài k này cho người PTTG:

Nếu bị ách nạn

Nguyện rằng chúng sanh

Tùy ý tự tại

Việc làm vô ngại! 

Tôi có một thc mc là ti sao khi b ách nn tc là mình hoàn toàn bị động mà sao mình li nguyn cho người khác được “t ti”, “vô ngi” được h các bn?

B: Bạn thc mc đúng lắm! Gp tai nn, b áp bc, khng chế, ép buc, oan c v.v... là nhng điều đâu có ai muốn xy ra cho mình, tt nhiên là mình trong hoàn cảnh b động và bt lc ri, thế nhưng mình vẫn có th “ch động” trong cách tư duy (suy nghĩ, phn tnh) để không đi đến tình trng khng hong, tuyt vng, than thân trách phn, oán tri trách đất hay làm nhng vic điên rồ để ri hi hn c đời như tự t hay giết người hay nuôi thù oán hàng chc năm v.v...

A: Tôi hiểu ri! Nghĩa là khi gp ách nn, oan c, mình nghĩ rng đây là nghiệp nhân quá kh ca mình đã “chín” thành quả ri-mình đã từng gây nhân hng hách, hiếp đáp người, gây khó khăn cho người, nói oan cho người, nên nay mình gt qu b mt t do, t ti, t ch. Bây gi mình phi gây nhân lành gieo ht ging thin, t bi h x để có th gt qu “tai qua nn khi ách nn tiêu tr” phi không các bn?

C: Phải ri! Có còn gì na không, các bn?

B: Còn chứ! Va ri, chúng ta ch mi nói v bn phn đối vi bn thân mà chưa nói tới vic h trì Tam bo.

A: Phải ri, Pht có dy Chúng xut gia thì tr trì ngôi nhà Pht giáo, còn hàng Pht t ti gia phi h trì (protect, sponsor) Tam bo đó nha!

C: Cho một ví d c th đi! Tôi thường nghe Tam bo h trì mình, bo v mình ch đâu có nghe mình mà bảo v và h trì (sponsor) cho Tam bo đâu anh!

B: Tam bảo h trì mình là h trì v tâm linh, v kinh điển, v Pht pháp; còn mình h trì Tam bo là v vt chất, v phương tiện và chng li “thú d” gia cuc đời làm hi chư Tăng, Ni… Tại bn không nh đó thôi! Hồi Pháp nn 1963, các chùa trên toàn quc min Nam Vit Nam b lính tn công vào đánh đập chư Tăng Ni và Phật t, hi đó Phật t chùa nào t hp v chùa đó để bo v chư Tăng, Ni... Người Pht t, bao gm GÐPT ca anh ch em chúng ta, cũng có mt vi quý Thy, quý Sư cô của mình trong cơn biến động đó. Hằng ngàn hàng vn Tăng Ni, Phật t đã bị bt b giam cm, có v đã tự thiêu để cu nguyn, có v b chết vì súng đạn đàn áp hay chết trong tù…

C: Hồi nãy chúng ta mi nói đến các pháp tu, nhưng chưa nói hết, ch mi nói đến B thí, tc là thc hành hnh T Bi, các bn nh không?

B: Nhớ ch, thc hành B thí là thc hành mt trong bốn nhiếp s (Four Assistant Methods): B thí (Donation_ donation of Goods, of Dharma, of Encouragement), Ái ng (Friendly Speech), Li hành (Benificial Actions), Ðng s (Collaboration) - Nhng điều này chúng ta đã biết ri.

A: Chúng ta cũng cn nhc nhau rng chúng ta không nhng ch biết h trì Tam bo lúc Chùa gp nguy him mà ngày thường cũng vy, không nhng chúng ta h trì bo v chư Tăng Ni mà chúng ta còn quan tâm những vic như xây cất tu b chùa, vic ăn ở ca chư Tăng Ni, việc t chc tu hc cho Pht t, vic chi phí cho các đại l Pht Ðn, Vu Lan, Tết Nguyên đán v.v… cũng cn có tài chánh. Chúng ta cũng phi quan tâm đóng góp phần mình; bi vì nếu không có Chùa, chúng ta làm sao “làm quen” vi Tam bo được, phi không?

C: Phải ri, nhưng đó là việc ca Ban h trì Tam bo các Chùa phi không?

B: Đúng vậy; nhưng có nhiều Chùa nh, ít chư Tăng, ít Thiện nam Tín n thì quý Thy phi t túc, nếu biết được, chúng ta cũng phi có bn phn quan tâm h trì Tam bo nhng nơi đó.

A: OK. Vậy cũng tm đủ ri. Nếu PTTG chúng ta làm được nhng điều như chúng ta vừa hc tp và tho lun trên đây thì cũng đủ đem lại hnh phúc, an lc cho bn thân, cho gia đình và cho mọi người quanh ta. Đóng là cách hong dương Phật pháp mt cách hữu hiu nht, phi không các bn? 

C: Phải ri, vy bài hc hôm nay tm đủ, xin tm bit nha!

A và B: Tạm bit! Tm bit!

 

 

Các Cảnh Giới Tái Sanh

Thích Nguyên Liên 

 

2. Thiên đạo. 

a. Định nghĩa. 

Thiên đạo là no tri, ch thiên có nghĩa là thiên nhiên, t nhiên. Đây là chỉ cho các chúng sanh các cõi tri do tu thượng phm thp thin và các thin định, nên hưởng phước thiên nhiên, s ăn mặc th dng đều tùy nim hóa hin. Li ch thiên đây còn có bốn nghĩa n: ti thng, ti thiên, ti lc, ti tôn. 

Sáu hạng cõi tri dc gii đều có hình tướng nam n, dc nhim tùy theo cao thp mà có nng nh. Mười tám hng tri cõi sc, không hình tướng nam n, không có sự dc nhim, dùng thin định để trưởng dưỡng sc thân. Còn bn hng tri cõi vô sc, ch có tâm thc, vì là báo th ca cõi không định. 

Riêng chúng sanh trong sáu cõi, chỉ có chư thiên là có ánh sáng rõ rệt, như chư thiên ở dc gii do tu b thí trì giới, nhn nhc, thanh tnh nên thân thường có ánh sáng rc r. Chư thiên cõi sắc do ly dc tu thin định, nên nơi thân phát ra ánh sáng nhiệm mu, hơn cả ánh nht nguyt và quang minh ca thiên chúng cõi dc. Ánh sáng đây là do tâm thanh tịnh mà có. 

b. Thân tướng và th lượng: 

Dc gii, chư thiên trời T Vương thân lượng cao na dm, áo nng na lượng. Chư thiên trời D Ma cao mt dm rưỡi, áo nng ba thù. Chư thiên trời Đâu Suất cao hai dm, áo nng hai thù. Chư thiên trời Hóa Lc cao hai dm rưỡi, áo nng mt thù. Chư thiên trời Tha Hóa cao ba dm, áo nng na thù. 

Sc gii, chư thiên trời Phm Chúng thân cao na do tun, chư thiên trời Phm Ph thân cao mt do tun, tri Đại Phm cao mt do tun rưỡi, tri Thiu Quang cao hai do tun, tri Vô Lượng Quang cao bn do tun, tri Quang Âm cao tám do tun, tri Thiu Tnh cao 16 do tun, tri Vô Lượng Tnh cao 32 do tun, tri Biến Tnh cao 64 do tun, tri Vô Vân cao 125 do tun, tri Phước Sanh cao 250 do tun, tri Qung Qu cao 500 do tun, tri Vô Phin cao 1000 do tun, tri Vô Nhit cao 2000 do tun, tri Thin Kiến cao 4000 do tun, tri Thin Hin cao 8000 do tun, tri Sc Cu Cánh cao 16000 do tun. 

Chư thiên cõi Sắc tuy không mc y phc, song cũng như có mặc; tuy không đội mũ thiên quan, song như có đội, vì do thân quang chiếu hin. Chư thiên ở Vô sc gii chđịnh qu sc, nên không có thân lượng. 

Thọ lượng chúng sanh thiên thú cũng có hơn kém tùy theo mỗi tng tri. Như về Dc gii tri T thiên vương thọ 500 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 50 năm cõi người. Tri Đao Lợi th1000 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 100 năm cõi người. Tri D Ma th 2000 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 200 năm cõi người. Tri Đâu Suất th 4000 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 400 năm cõi người. Tri Hóa Lạc th 8000 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 800 năm cõi người. Tri Tha Hóa T Ti th 16000 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 1600 năm cõi người. 

Thọ mng ca chư thiên cõi Sắc thì ly kiếp làm lượng. Như Sơ thiền, tri Phm Chúng th na trung kiếp, trời Phm Ph th mt trung kiếp, tri Đại Phm th mt trung kiếp rưỡi. V Nh thin, tri Thiu Quang th hai đại kiếp, tri Vô Lượng Quang th bn đại kiếp, tri Quang Âm th tám đại kiếp. V Tam thin, tri Thiu Tnh th 16 đại kiếp, tri Vô Lượng Tnh th 32 đại kiếp, tri Biến Tnh th 64 đại kiếp. V T thin, tri Vô Vân th 125 đại kiếp, c như thế tăng gấp đôi cho đến tri Sc Cu Cánh th 16000 đại kiếp. Trong đây trừ tri Vô Tưởng Thiên th lượng đồng vi Qung Qu Thiên. Vô sc gii, trời Không Vô Biên th 20.000 đại kiếp, c như tăng gấp đôi cho đến tri Phi Phi Tưởng th 80.000 đại kiếp. 

c. Cảnh gii th dng 

Về kh lc th dng, chúng sanh cnh gii này kh ít vui nhiu. Chư thiên ở cõi Dc th dng nhiu phn vui, có ít phn kh v s suy não đọa lc. Chư thiên ở cõi Sc gii t Sơ thiền đến Tam thin ly định cnh làm vui, s vui cùng cc duy cõi tam thin. T T thin cho đến chư thiên cõi vô sắc thì không có kh lc th. 

Về m thc th dng, chư thiên ở cõi Dc th dng nhng trân v như cam lồ, tô đà. Tuy nhiên, tùy theo phước báu ca mi v sai khác mà có v th dng đầy đủ có v th dng không đầy đủ, đồng thi mùi v ca thc ăn có sự hơn kém. Chư thiên ở cõi Sc gii th phn tư thực, dùng s vui thin định để nuôi sc thân. Còn chư thiên ở cõi vô sc thì ch có thc thc. 

Về dc nhim th dng, chúng sanh cnh thiên đạo, ch có chư thiên ở dc gii là có s hành dâm, còn chư thiên ở cõi sc và vô sc gii đều tu phm hnh, không có dc nhim th dng. Thiên chúng Dc gii khi gn gũi vi nhau không có chy ra cht bt tnh, ch nơi căn môn có hơi gió nhẹ thi ra, dc nim lin tiêu. Tri T Thiên vương và Đao Lợi có s giao cm cũng như loài người. Tri Dạ Ma nam nữ ch ôm nhau là đã thỏa mãn dâm dc. Tri Đâu Suất hai bên nm tay nhau dc nim lin tiêu. Tri Hoá Lc hai bên nam n ch chăm nhìn nhau cười là dc s đầy đủ. Tri Tha Hoá chư thiên chỉ liếc mt nhau là đã xong dục s. 

d. Nghiệp nhân tái sanh và biểu hin lâm chung: 

d1. Nghiệp nhân tái sanh. 

Người nào hin đời thành tu năm việc, khi chết được tái sanh lên cõi tri.

- Giữ hnh t bi, không giết hi loài hu tình, thường phóng sanh nuôi dưỡng, ái m vt mng, khiến cho chúng được yên n.

- Giữ hnh hin lương không tham lam, không trộm cướp tài vt ca người khác, b thí giúp đỡ k nghèo nàn khn kh.

- Giữ hnh trinh tiết không ngoi tình, tinh tn phng trì trai gii.

- Giữ hnh thành tín không di người, tránh bn điều vng ng (nói di, nói hai lưỡi, nói thô ác, nói li vô ích).

- Không say mê rượi chè c bc, khéo gi tâm trí sáng sut xa lìa nhim duyên.

Người nào tu năm điều trên cng vi chng đắc mt trong bn thin định (t thin) s tái sanh v mt trong các cnh tri thuc Sc gii, hoặc người chng đắc mt trong bn không định (t không) s tái sanh v mt trong các cnh tri thuc Vô sc gii. 

d2. Biểu hin lâm chung. 

Nếu ai lâm chung được tái sanh v cnh tri s có nhng biu hin sau.

- Sanh lòng thương xót.

- Phát khởi tâm lành.

- Lòng thường vui v.

- Chánh niệm rõ ràng.

- Đối vi ca ci, v con lòng không lưu luyến.

- Đôi mắt có v sáng sch.

- Không có những s hôi hám.

- Ngửa mt lên và mm cười, hoc mt thy thiên đồng, tai nghe thiên nhc.

- Sống mũi không xiên vẹo.

- Lòng không giận gi. 

Chư thiên khi sắp mng chung có năm tướng tiu suy: Y phc và đồ trang nghiêm như vòng xuyến, chui anh lc, kêu vang ra tiếng không được thanh tao êm du. Ánh sáng nơi thân hốt nhiên m yếu. Khi tm gi các git nước dính đọng nơi mình. Tánh tình thường thung dung phóng khoáng, nay b tr li mt cnh. Mt luôn luôn máy đọng, không được trong lng như mọi khi. 

Kế đó lại có năm tướng đại suy: Y phc dính bi. Vòng hoa trên đầu rũ héo. Hai nách chy m hôi. Thân có mùi hôi bay ra. Không ưa chỗ ngi ca mình. Lúc năm tướng này hin ra, quyết định s mng chung. 

e.Tiến trình thác sanh: 

Chúng hữu tình châu Nam Thin B, khi lâm chung sp sanh lên cõi tri, trước tiên thy mt di la trng tế nhuyn rũ xung như muốn rt, li trông thy các tướng vườn cây, ao hoa chư thiên múa hát. Lúc đó dù quyến thuc có than khóc kêu gi, nhưng bởi phước nghip, k y cũng không hay biết; ch ngi thy mùi thơm, nghe tiếng âm nhc, trong lòng vui v không còn nh nghĩ gì hết, lin được mng chung. 

Chúng hữu tình châu Đông Thắng Thn, khi lâm chung sp sanh lên cõi tri, t thy cung điện nghiêm đẹp, xung quanh có thiên t, thiên n đang vui vẻ nhàn du. Lúc đó trong lòng sanh hoan hỷ, t có cm giác như người mi thc dy. By gi liền được th sanh. 

Chúng hữu tình châu Tây Ngưu Hóa khi lâm chung sắp sanh lên cõi tri, trước tiên thy nước chy xao xuyến trong ao đầm mi. Lúc đó thần thc nương theo ngọn nước trôi qua đến b bên kia. Kế đó lại thy các thiên n xinh đẹp, t thy mình chạy đến mà ôm. Khi y chính là lúc hóa sanh. 

Chúng hữu tình châu Bc Câu Lô, khi sanh lên cõi tri có nhiu tướng trng. Nếu là người phước bc h, thì khi lâm chung mũi ngi mùi thơm lạ, mt thy hoa quý đẹp, trong lòng ưa thích muốn leo lên cây cao. Đang khi leo cây chính là lúc trung ấm bay lên núi Tu Di. Khi đến nơi liền thy thế gii ca chư thiên, cung điện vườn hoa tt c đều trang nghiêm xinh đẹp. Lúc y tùy theo nhân duyên k đáng làm cha mẹ mà hóa sanh. 

Như kẻ phước đức bc trung thì khi lâm chung thy có by ong vn vũ xung quanh mt hoa sen trong h, t mình bước lên hoa sen y bay đến thiên cung. Lúc y tùy nơi nhân duyên của k đáng làm cha mẹ mà hóa sanh. Còn người phước đức bc thượng, thì khi lâm chung thy cung điện tt đẹp trang nghiêm, thân trung hu nương nơi cung điện y mà bay lên hóa sanh nơi thiên giới. 

Lưu ý: Biểu hin lâm chung ca sáu cnh gii k trên, không phi con người khi sp chết đều biu hin đầy đủ, mà đôi lúc chỉ có nhng điểm thiết yếu. Lại chúng ta cn phân bit, ví như hai cảnh gii nhân đạo và thiên đạo thì tâm hn h đều trong sch, nhưng một bên ch nghĩ đến thiên cung xao lãng vic đời, mt bên thì thương nhớ bà con căn dặn vic nhà. Còn hai cnh ng quđịa ngc thì tâm hn h đều mê man, nhưng một bên thì sanh tâm nóng ny mt hết s t hòa, mt bên thì biu hin tham lam hay nói đến chuyn ăn uống. Đến như loài bàng sanh thì thân thể tháo m hôi, tiếng nói khàn nght nhưng còn luyến tiếc bà con… đó là những điểm d bit trong sáu cnh gii để chúng ta xác định rõ tng cnh gii tái sanh. 

Lại có đôi người đến khi chết tâm hn tr thành vô ký (không biu hin lành hay d như thế nào). Hng người này mun d đoán họ s tái sanh v cnh gii nào, chúng ta ch xác định da theo hơi nóng nơi nào trên thân thể sau cùng, mi có th quyết đoán được.

 

III. Ba yếu t quyết định thành tu mt cnh gii. 

Xưa nay có một s người quan nim rng, con người chúng ta khi tâm thanh tnh chính là đang sống trong cnh gii Tnh độ; khi tâm đang tham lam, sân hận là h đang sống trong cnh gii Ng qu, hoc khi tâm đang ngu si, mê mờ đang sống trong cnh gii địa ngc… ch không có cnh gii Tnh độ, cnh gii Ng qu hay cnh gii Địa ngc nào khác. Quan nim v cnh gii như thế là hết sc sai lm, hoàn toàn không chính xác, đôi khi dẫn đến nhiu s ng nhn khiến gây tác hi cho người tin theo không nh. Vi nhng biu hin ca tâm con người như thế, chúng ta ch có th nói đó là những người đang tạo nghip nhân Tnh độ, nghiệp nhân Ng qu hay nghip nhân địa ngc mà thôi.

Chung quy, cảnh gii mà mi khi chúng sanh th dng phi đầy đủ ba yếu t sau, mi có th thành tu. 

1. Vũ tr quan. 

Là xác định v trí địa lý ca mi cnh gii, như cảnh Tây phương Tịnh độ là cõi cc k trang nghiêm nm phía Tây cõi Ta bà, cnh bàng sanh bàn bc khp người và ng qu, địa ngc là cnh gii thun kh đau, vị trí ngoài mé núi Thiết vi. 

2. Nhân sanh quan. 

Là xác định thân tướng sai bit ca mi cnh gii, bi thân tướng của mi loài tu theo phước báu có hơn kém mà mỗi loài đều có hình tướng sai bit, như thân tướng ca Thánh chúng cõi Tây phương Tịnh độ thì trang nghiêm đủ ba mươi hai tướng tt tám mươi vẻ đẹp, còn thân tướng ca chúng sanh cnh gii Ng qu thì bng to như trống, c nh như kim; thân tướng chúng sanh cnh địa ngc thì xu xa k d, đầu trâu mt nga… 

3. Tâm lý quan. 

Là xác định tâm lý sai bit ca mi cnh gii, như tâm của Thánh chúng cõi Tây phương Tịnh độ thì luôn thanh tnh, tâm các Ngài luôn an trụ vào thin định đồng th hưởng pháp lc ca thin định tương đồng vi Pht A di đà; còn tâm chúng sanh ở cnh gii ng qu luôn b s đốt cháy ca đói khát, tâm của chúng sanh cnh gii địa ngc luôn sân hn, s hãi… 

Như thế, chúng sanh hin đời gây tạo nghip nhân gì sau khi lâm chung s tu theo nghip nhân đó mà tái sanh về mt trong sáu cnh gii luân hi. Do đó, cảnh gii tái sanh ch xác lp khi đã đầy đủ ba yếu t k trên, nếu chưa đủ ba yếu t đó thì chưa có thể nói đó là cảnh gii chúng sanh đang thọ dng. Hay nói mt cách khác, mi cnh gii đều có v trí, thân tướng và tâm lý sai khác mà chúng sanh y phi th dng. 

 C. Kết lun. 

Tóm lại, bi do vô minh và ái dc chi phi mà chúng sanh c sng ri chết, chết ri lại sng, c thế mãi mãi trôi lăn vào một trong sáu cnh gii luân hi. Trong sáu cnh gii đó, bốn cnh gii trước hoàn toàn kh đau, hai cảnh sau tri và người tuy có hnh phúc nhưng xét lại vn là vui ít kh nhiu. 

Ví như chúng sanh ở cnh gii địa ngc thì mt ngày mt đêm phải tri qua cnh vn ln chết đi sống li, b s tra tn ca vc du hm la. Chúng sanh cnh gii Ng qu thì b s thiêu đốt ca nn đói khát, trải qua ngàn vn năm cái tên cơm nước chưa từng nghe hung gì là được ăn no. Chúng sanh ở cnh gii Bàng sanh thì b s kh ca si mê dày vò, b người khác nu nướng, banh da, xo tht nhai nut vào bng. Chúng sanh cnh gii A tu la thì b s sân hn và tham dc chi phi, sut ngày luôn đánh giết ln nhau để tìm cu s tha mãn của xác tht. Còn chúng sanh hai cnh gii tri, người tuy có hnh phúc xen ln kh đau nhưng ở cnh người, chúng sanh phi chu tướng bát kh; cnh gii tri vn b năm tướng suy hao. 

Vì thế, so sánh v s hơn kém và đau khổ hnh phúc gia các cnh giới, ngõ hu tìm ra được đâu là cảnh gii an n để quay v, trong Pháp gii tp thut ng có nói: Bi ba cõi định ngôi, sáu đường chia loi, nên hình hài xu đẹp, qu có kh vui! Tìm ra điểm sanh khi chng ri sc thân, x đến ch hi quy không ngoài sanh diệt. Mà sanh dit luân hi chính là vô thường, sc tâm hư huyễn nguyên là ci kh! Thế nên kinh Pháp hoa d cho nhà la, kinh Niết bàn ví dòng sông to. Bc thánh nhân thiết giáo để đưa nhân loại vượt ra ba cõi, v no chân tâm là do l trên vy. 

Đến như thiên báo, tuy lầu qunh áo gm, người đẹp cnh xinh, nhưng trên trời Tha Hóa vn còn có thiên ma, trong cõi Vô Vân vn còn ngoi đạo. Hung na bc sanh lên Phi phi tưởng định còn đọa phi ly, tri Đâu Suất Đà hãy còn mê ngũ dc, nên biết phước báo d sanh kiêu mạn, cnh vui khó hc Niết-bàn! Đến khi thng nghip hết ri, thì tóc tiên hoa héo, áo ngc bi vương, điện vàng tt ánh quang minh, thân nhp còn mong chi v đẹp? Khp khuyên ra lòng sám hi, nim Pht làm lành, xa thì vui cnh chân thường, gn được xum vy nơi Tịnh độ. 

Chi bằng mun thoát ly sanh t luân hi, tránh s nhc nhn khi phi làm k l khách qua li nơi tam giới; chúng ta nên c gng phát tâm tín sâu, nguyn thiết, chuyên trì danh hiu Pht A-di-đà. Nơi cảnh gii đó có Phật A-di-đà, Bồ-tát Quan Âm, Bồ-tát Thế Chí là cha m, chư thượng thin nhân là bn lành, chim hót sui reo đều tuyên bày diu pháp. Do vy đã không vãng sanh thì thôi, nếu vãng sanh thì qu v Vô sanh pháp nhn đã trong tm tay. Chúng ta ch mong làm sao hin đời tr chút nghiệp còn li, lâm chung sm được vãng sanh v nước Pht. 

 

Thế nào là Đại Ý Phật Pháp?

Thanh Tâm 

(tiếp theo) 

Nhiu người thường quan nim rng đạo nào cũng tt, ai cũng khuyên răn con người ăn hin lành, sng tt vi mình tc tt vi người, chưa tìm hiu hay nghiên cu sâu xa đã vi đồng hóa giáo lý này ging giáo lý kia, nhưng thc cht các phương din thc hành li không th như thế. Quan nim đạo đức v thin ác ca mi tôn giáo khác nhau, như quan nim v thin ác theo các nn văn hóa luân lý xã hi ca nhiu nước, nhiu khu vc trên trái đất khác nhau hoàn toàn. Ví d như quan nim v ch hiếu, người phương Đông báo hiếu hoàn toàn khác xa vi s báo hiếu người phương Tây. Có mt b tc Châu Phi cho rng, mt người con sng có hiếu tho là sau khi cha m đến tui già bt cha m trèo lên cây và mình dưới rung cây để cha m té xung chết, đó là hiếu tho vi cha m. Nhưng nhìn t góc độ ca nhng người sng các nước phương Đông thì người con có hành động như vy rõ ràng đó là s bt hiếu, không th tha th. Theo quan nim phương Đông, người con sng có hiếu, tc là phi phng dưỡng cha m lúc v già, sm hu ti nom chăm sóc không nên làm cho cha m bun, đau kh hay có bt c mt hành động nào đi ngược li thói thường đạo lý mà xã hi đã n định như thế-mt hành động trái ngược đạo lý như giết cha m bng cách rung cây như vy là không th chp nhn. Vit Nam không đồng quan nim rung cây theo kiu báo hiếu như vy. Do nh hưởng ch hiếu ca người phương Đông, nh hưởng nn văn hóa Pht giáo đã trên hai ngàn năm nên tinh thn hiếu tho ca người Vit Nam hin bày rt rõ trong tng nếp sng, nếp suy nghĩ ca mi người, cung cách ng x ca mi người sng sao hiếu thun m cha. Nghĩa là mt người con cn phi phng dưỡng cha m trên c hai phương din vt cht cũng như tinh thn-phng dưỡng vt cht và phng dưỡng đời sng tâm linh tinh thn để cha m vui lòng. Trong quan đim này, vn đề v thin ác ca mi tôn giáo tn ti trong mt phong-hóa tuy có tính cht khác nhau, dù có ging nhau chút ít là khuyên người làm lành tránh d nhưng mc đích chung trên con đường ci thin hướng cho con người tiến đến đỉnh thăng hoa ca đời sng tâm linh, đạt được hnh phúc an lc thì hoàn toàn khác xa. Có đạt được điu đó hay không, có an lc hnh phúc hay không còn là điu mà con người sng cn phi biết, phi hc và cn phi tri qua mt quá trình th nghim tu tp. Đối vi Pht giáo, ngoài b ác làm lành ra, người con Pht còn phi thanh lc thân tâm để cho đời sng t thân thanh tnh, trong sch và hng gi hng phút không huân tp các chng t bt thin đưa đến đau kh.  

B ác làm lành, hai điu này nói ra thì rt d nhưng không phi ai cũng làm được. Như đứa con nít ba tui đã được Bch Cư D đưa ra cũng có th hc thuc, nói thì d nhưng thc hành thì không phi d dàng chút nào, đó mi là điu mà đạo Pht chú ý đến. Làm sao biết rõ vic nào là làm lành, vic nào là làm ác. Vì vy, vn đề thin ác thc cht rt khó phân định. Còn nếu cho rng như thế này đúng hay như thế kia sai, điu đó chng qua là theo quan đim luân lý ca mi quc độ trong mc độ tương đối mà thôi. 

Có nhng điu mà thi đim này, giai đon này, tôn giáo này, xã hi này cho là đúng, là điu lành, nhưng thi bui khác, tôn giáo khác, xã hi khác cho là sai, là làm ác. Cho nên điu quan yếu ca mt người hc Pht cn phi nm vng và hiu biết phân bit rõ ràng hai lãnh vc thin ác. Thin ác nào thuc lãnh vc đạo đức tôn giáo, thin ác nào thuc lãnh vc luân lý xã hi. Nh đó chúng ta có th đánh giá được mc độ đúng sai theo chiu hướng: tôn giáo hay luân lý. Khi phân định được s vic mà không phm vào nhng sai lm có th đưa đến tranh cãi, thì dù là giá tr ph quát hay khép kín đi chăng na chúng ta cũng có th hiu được trong kh năng chp nhn gii hn ca chúng. đây để đưa đến gii thoát thì vn đề thin ác ca mt luân lý xã hi nào đó, nếu phù hp vi đạo đức con người thì chúng ta có th chp nhn và xem chúng như là tin đề để thc hin hoài bo gii thoát cho mi người. Ch có làm lành chúng ta mi không thy ray rt lương tâm, không có đau kh hay hi hn. Làm lành còn đem li cho con người s thnh thơi an lc, làm cho gia đình xã hi, bn bè thân quen hnh phúc, đất nước an bình, quc gia thnh vượng. Ch có làm lành mi đem li hnh phúc cho mình và cho chúng sanh. Ch có làm lành mi đem li và tôn trng s sng ca tt c chúng sanh hay cng đồng đang hin hu trên thế gian này.  

Giáo lý đức Pht định nghĩa rt rõ v vic làm lành hay tránh d. Trong sách thường có dy: “Thin gi li dã”. Nghĩa là, người làm vic thin là người luôn đem li li lc cho mình và cho người trong hin ti và tương lai. Nhng vic làm mà không đem li li mình và li người trong hin ti và tương lai đều là vic ác. Làm mt s vic mà s vic đó đem li li ích, hnh phúc, an lc cho mình trong hin ti và tương lai nhưng li đem đến s đau kh cho người khác thì vn là điu ác, hay ngược li. Trong Kalama, đức Pht dy cho các hoàng t rng: “Hành động gì có hi cho mình, có hi cho người, có hi cho c hai, b người ch trích, nếu chp nhn và thc hin s đem li tâm kh s, tâm ưu phin, hành động như vy là hành động bt thin và chúng ta phi loi b hành động y. Hành động gì mà không có hi cho mình, không có hi cho người, không có hi cho c hai, được người trí tán thán, nếu chp nhn và thc hin s đem li tâm an lc hoan h. Hành động như vy là hành động thin và chúng ta phi thc hành”. Như vy, vn đề thin hay ác ca đạo Pht mun thm định cn phi căn c vào hai tiêu chí hnh phúc hay đau kh ca t thân và tha nhân. Trong cuc sng hin ti nếu chúng ta thc thi nhng hành động không đem li hnh phúc cho chúng sanh thì nhng hành động đó gi là ác.  

Còn nhng hành động nào đem li hnh phúc an lc cho chúng sanh thì gi là thin. Đó là điu được đức Pht ch dy trong sut hành trình chuyn vn bánh xe Pháp, “Ngài ra đời vì lòng thương tưởng chúng sanh, vì an lc cho chúng sanh, vì hnh phúc và an lc cho chư thiên và loài người”. Cho nên sau khi Thành đạo, Ngài đã đem nhng gì mà mình chng đạt, nim  hnh phúc an lc đã đạt được trao truyn li cho chúng sanh, ngõ hu chúng sanh cùng sng chung trong mt cnh gii tht s không có bóng dáng ca phin mun kh đau. Đã là người theo Pht, chúng ta không nên t làm kh mình, không nên t làm kh người, không t làm kh bt c mt chúng sanh nào khác, vì khi t làm kh chúng sanh, t làm kh tha nhân tc là mình đã t làm kh mình. Nh vy, chúng ta mi không đi lch ra khi đạo l gii thoát. Chúng ta không ch gii thoát cho cá nhân mình mà còn gii thoát cho c chúng sanh. Tôn trng s sng và bo v s sng ca chúng sanh là thin pháp. Ngược li không tôn trng và bo v s sng ca các loài khác là ác pháp. Vì thế, giáo lý đạo Pht mi đưa ra các pháp môn, phân ra nhiu chương mc là tùy hp vi căn cơ ca chúng sanh mà ch bày cho thích ng. Làm lành tc là làm vic lành, hành động lành, tác ý vic lành. Vic lành này được xây dng trên ba khía cnh ca thân khu ý: thân không làm ác, ming không nói vic ác, tâm không nghĩ điu ác. Khi mt người làm nhng vic như sát sanh, trm cp, tà dâm thì gi là làm ác, khi mt người nói di để đem li li lc cho mình, làm tn hi cho người, hay tha mãn tính v k, tư k cho mình đem li chia r cho người,… đều gi là ác, thm chí tâm khi lên mt nim mà có yếu t tham, sân, si chi phi đều gi là ác c; còn nếu thân không to sát, đạo, dâm, ý không khi tham, sân, si, ming không ng, lưỡng thit, vng ngôn, ác khu thì gi là “chư ác mc tác”; li có th nói rng, tiêu dit các điu ác đã sanh, điu ác chưa sanh thì không cho phát khi, nên gi là “chư ác mc tác”. Người làm được như vy mi gi là hc Pht, gi ming, nhiếp ý, phòng thân ch phm. Đây là bước đầu ca người hc Pht pháp. Không phi “chư ác mc tác” mà còn phi “chúng thin phng hành”, không nhng không sát sanh mà còn phóng sanh, không nhng không trm cướp mà còn b thí, không nhng không tà dâm mà còn phi sng phm hnh, không nhng đừng nói li ác, nói hai lưỡi, nói di, nói thêu dt mà còn nói li chân tht, nhu nhuyến hòa hp…, không khi tâm tham sân si mà còn phát tâm t bi và trí tu, cũng như các điu thin đã sanh làm cho tăng trưởng, các điu thin chưa sanh làm cho sanh khi. Nhng vic làm như vy đều gi là các vic thin nên làm. Cho nên chúng ta có th kết lun, làm thin theo Pht giáo tc là không xâm phm đến đời sng an lc hnh phúc ca mt cá nhân, không đem li đau kh cho mt chúng sanh hay mt cng đồng nào khác, cũng như không đem li đau kh hay ray rt cho lương tâm ca chính mình, làm được như vy thì chúng ta đang tiến trin theo chiu hướng thin.  

Ngoài nhng điu đó ra, nếu chúng ta làm ngược li thì chính bn thân chúng ta đang làm các điu ác. 

Mt khác, tu hc là để chuyn hóa nghip ác thành nghip thin, hướng con người vào con đường luân lý tt, đạo đức tt, đem li nim an vui hnh phúc cho cá nhân, n định cho gia đình và hòa bình cho xã hi. Người làm thin s hưởng phước báo sanh thiên, khi hết phước báo s tái sanh lên cnh gii an lành, không tái sanh vào nhng cõi d và còn được cơ hi để tu tp và sng thin tiếp theo. Còn làm ác thì phi luân chuyn trong các cõi ác nghip. Làm thin hay làm ác vn còn trong vòng đối