Tập san
Pháp Luân
No.18 tháng 8 năm Ất dậu
---o0o---
Ngũ
căn – Ngũ lực
Thích Đức Thắng
Ngũ căn và ngũ lực
là hai hành pháp thứ tư và thứ năm thuộc bảy hành phẩm trong ba mươi bảy
phẩm trợ đạo. Năm căn và năm lực ở đây thuộc nền tảng căn bản thúc đẩy để
từ đó phát sinh ra kết quả tùy thuộc vào tác nhân tạo ra chúng hoặc thiện
hoặc ác, hoặc tốt hoặc xấu… Năm căn là nền tảng có khả năng sản sinh và
tăng thượng các thiện nghiệp, thì năm lực chính là sức mạnh để chận đứng,
triệt tiêu các thế lực vô minh phiền não bất thiện và tác dụng các khả
năng tăng thượng các pháp lành.
- NGŨ CĂN
(Pañcānām indriyāṇām)
ở đây chỉ cho năm vô lậu căn, là năm nền tảng căn bản để đưa đến việc sản
sinh và tăng trưởng thiện nghiệp, là con đường đưa về Thánh đạo; chúng câu
hữu với tác dụng tăng thượng giải thoát cho hành giả, cho nên gọi là năm
căn. Theo Luận Trí Ðộ 10, giải thì: “Năm căn này là nền tảng căn
bản để phát sanh ra tất cả các thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”. Và
theo luận Câu-xá 3 thì: “Đối trong pháp thanh tịnh thì năm căn này có
tác dụng tăng thượng. Vì sao vậy? Vì thế lực của chúng có khả năng hàng
phục tất cả các thứ phiền não, đưa hành giả đến Thánh đạo.” Năm căn ấy
là:
Tín căn (Śraddhendriya)
Tấn căn (Vīryendriya)
Niệm căn (Smṛtīndriya)
Ðịnh căn (Samādhīndriya)
Huệ căn (Prajñendriya).
1. Tín căn (Śraddhendriya):
là lòng tin được đặt trên chiều hướng câu hữu với thiện pháp và đưa đến
giải thoát, tức là tin một cách vững chắc vào Tam bảo, tin một cách như
thật vào đạo lý Tứ đế. Lòng tin này được đặt trên nền tảng như thật không
giống như lòng tin mù mờ, vô căn cứ, không thấy, không biết, không nghe mà
vẫn cứ tin, đó gọi là tin mù quáng, mê tín dị đoan không có cơ sở, bất
chấp sự thật của hầu hết các bộ phái ngoại đạo. Lòng tin ở đây là con đẻ
của lý trí, là kết quả của sự suy luận so sánh đối chiếu sáng suốt, của sự
quan sát tư duy kỹ càng chứ không phải của tình cảm đam mê lú lẫn. Ðức Đạo
sư không bao giờ bắt buộc chúng ta tin một điều gì mà không tìm hiểu suy
xét về nó, không giải thích tường tận rõ ràng về nó. Vì vậy cho nên, Ngài
thường dạy cho các đệ tử của Ngài là: “Tin Ta mà không hiểu Ta, tức là
hủy báng Ta!” Lòng tin của chúng ta phát khởi từ trí tuệ, có xét đoán
tìm hiểu một cách rõ ràng minh bạch thì lòng tin đó nó mới vững chắc, mãnh
liệt. Chính nó là nền tảng căn bản phát sinh các hạnh lành, Phật dạy:
“Tin là mẹ vô lượng công đức”. Nhưng hành giả chúng ta tin cái gì cho
đúng với thiện pháp, đúng với giải thoát? Đó chính là tin vào ba ngôi báu:
a) Tin Phật:
Chúng ta biết rằng đức đức Đạo sư là bậc hoàn toàn giác ngộ và giải thoát
tất cả mọi vướng bận của khổ đau thế gian. Vì vậy, hành giả chúng ta lúc
nào cũng luôn luôn tin tưởng về Phật và hướng mục tiêu hoàn thành giác
ngộ, cũng như giải thoát cuối cùng của chúng ta như chính đức Đạo sư đã
thân chứng.
b) Tin pháp:
Hành giả chúng ta tin vào Pháp là chân lý sống, là pháp như thật mà đức
Ðạo sư đã thân chứng và truyền lại cho những người đi sau như chúng ta.
Hay nói một cách khác, pháp đó chính là giáo lý chỉ cho bốn sự thật mà đức
Đạo sư đã thuyết minh lần đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn
nai. Chúng ta tin tưởng một cách tuyệt đối vào những giáo lý ấy, vì người
nói ra là đức Đạo sư, Ngài đã tự thân tác chứng và giác ngộ được cũng nhờ
vào giáo lý ấy.
c) Tin Tăng:
Hành giả chúng ta tin tưởng vào Tăng là những người thật hành các giáo lý
của đức Đạo sư, để tự thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý, giác ngộ mình,
giác ngộ người khác, là những vị đại diện cho đức Đạo sư đưa cao ngọn đuốc
chánh pháp sáng soi cho mọi người đi theo. Nên hành giả quyết trọn đời
phải tin tưởng và quy hướng về Tăng để thực hành giải thoát.
2. Tấn căn (Vīryendriya):
Là sự nỗ lực siêng năng, tinh tấn dũng mãnh trong việc thực hành tu tập
các pháp lành mà hành giả đã lựa chọn, không bao giờ để cho thối lui. Nếu
hành giả đã có lòng tin chắc chắn vào pháp tu mà không nỗ lực siêng năng
tinh tấn thực hiện, thì lòng tin suông trên lý thuyết đó sẽ trở thành vô
dụng, không đưa hành giả chúng ta đạt đến cứu cánh giải thoát được.
Vì thế, hành giả nào
đã tin tưởng vào Tam bảo, thì phải luôn luôn nỗ lực siêng năng, tinh tấn
thực hành giáo lý của Phật mà mình đã chọn. Theo Nhiếp đại thừa luận,
tinh tấn có ba:
a) Bị giáp tinh
tấn: Mặc áo giáp tinh tấn, là một trong những thứ vũ khí lợi hại khi
chiến đấu với các loại giặc, các loại ma trong đó có nội ma ngoại ma.
Trong cuộc chiến đấu này, hành giả bắt buộc phải cần đến áo giáp tinh tấn,
nó là một trong những lợi khí khi xông pha vào trận địa “phiền não”, nó
luôn luôn động viên và thúc giục hành giả tiến lên phía trước một cách cam
đảm dũng mãnh mà không còn sợ sệt ma quân hãm hại. Nhờ có áo giáp này, nó
là một năng lực khiến chúng ta hùng dũng tiến tới, không sợ gian nan nguy
hiểm, không lùi bước trước một trở ngại hay một địch thủ nào, nên siêng
năng tinh tấn là một trợ lực rất có hiệu quả cho hành giả trên bước đường
tu tập thực hành để đạt giải thoát.
b) Gia hành tinh
tấn: Hành giả luôn luôn nỗ lực gắng sức không bao giờ lười nhác dừng
nghỉ trên bước đường tu tập đi đến giải thoát. Với thứ tinh tấn này, nỗ
lực của sức mạnh tiếp sức này tức là chỉ cho những duyên phụ thuộc kích
thích hành giả chúng ta càng tiến lên càng tạo thêm sức mạnh càng hăng,
càng kích thích phấn chí nhiều hơn và chúng sẽ làm cho hành giả không còn
mệt mỏi biếng nhác nữa.
c) Vô hỷ túc tinh
tấn: Là không vui sướng tự mãn với thành quả vừa đạt được trong lúc tu
tập thực hành mà cho là vừa đủ, không cần cố gắng tiến lên nữa. Hành giả
nào chưa vào được Thánh đạo thì dứt khoát phải còn gia công gắng sức tu
tập mãi mãi, chứ không chịu dừng lại, mà hưởng vui với một quả vị thấp
kém, tạm thời. Như người đi bộ khi chưa đến đích cuối cùng thì vẫn còn
hăng hái tiến bước mãi càng nhanh càng tốt, chứ không chịu chấm dứt cuộc
hành trình của mình với dạng lấy lệ, hay cho như vậy là đủ bằng cách an
phận nghỉ ngơi mãi trong quán trọ bên đường, làm cho tiến độ càng ngày
càng suy giảm tốc độ dần cho đến khi quên mất mục đích tối hậu của mình.
3. Niệm căn
(Smṛtīndriya):
Mục tiêu của niệm là nhớ nghĩ đến những pháp câu hữu với giải thoát, giúp
hành giả nếu muốn đạt được mục đích thì cần phải nhờ vào những pháp phương
tiện trợ duyên pháp hành của mình. Nhớ nghĩ ở đây liên quan đến:
a) Niệm thí:
Là nhớ nghĩ đến việc tu tập bố thí. Hành giả ở đây ngoài việc tự làm lợi
cho chính mình, mà còn phải lúc nào cũng phải nhớ nghĩ đến việc đem tài
sản bố thí cho người nghèo khổ; đem hùng lực vô úy của chính mình cứu giúp
cho những người sợ hãi nhút nhát; đem chánh pháp chỉ giáo bày vẽ cho người
si mê, khiến họ hết khổ được vui như mình.
b) Niệm giới:
Là nhớ nghĩ đến việc trì tịnh giới để đoạn trừ các phiền não nghiệp chướng
mà hành giả đã lỡ tạo ra trong quá khứ gần hay xa và ngăn ngừa những
nghiệp nhân ác bất thiện có thể xảy ra trong hiện tại, cùng làm tăng
trưởng mọi pháp lành trong quá khứ qua những tác nhân trong hiện tại. Hành
giả ở đây cũng vậy, ngoài việc tự lợi cho chính mình trong việc giữ gìn
giới cho thanh tịnh mà còn ảnh hưởng hỗ tương đến mọi người chung quanh
qua việc sống với người trong một cộng đồng cọng hưởng qua ba loại Giới:
- Nhiếp luật nghi
giới: Những giới điều để ngăn cấm các tác nghiệp thô xấu qua các oai nghi
có thể xảy ra trong hiện tại, đồng thời cùng lúc đoạn trừ các nghiệp
chướng nơi thân tâm có thể xảy ra trong tương lai.
- Nhiếp thiện pháp
giới: Những giới điều được đặt ra đúng pháp và lợi ích, chúng câu hữu với
giải thoát. Hành giả tu tập thực hành giữ gìn theo nó, có thể thành tựu
tất cả mọi pháp lành trong tương lai.
- Nhiêu ích hữu tình
giới: Những giới điều đưa đến làm lợi ích an lạc cho tất cả chúng sinh khi
hành giả thực hành tu tập giữ gìn chúng. Vì sự tương quan tương duyên sinh
khởi nên một khi hành giả thành tựu pháp tu thì tất cả đều cùng lúc thành
tựu trong sự hiện hữu đồng thời của chúng.
c) Niệm thiên:
Lúc nào hành giả cũng nhớ nghĩ đến sự giàu sang vui sướng của chư thiên và
bố thí trì giới để tạo ra các thiện nghiệp cho tương lai thì chắc chắn sẽ
hưởng được mọi thứ công đức này khi thọ thân trời, phóng ra ánh sáng,
không đâu là không chiếu tới. Như Kinh Tăng Nhất A-hàm 2, phẩm
Quảng diễn, đức Đạo sư dạy: “Nếu có Tỳ-kheo nào, chánh thân chánh
ý, ngồi kiết già, cột niệm phía trước, không tưởng nghĩ đến việc khác, chỉ
nhớ nghĩ đến trời, thân khẩu ý thanh tịnh, không tạo ra các việc xấu. Giữ
gìn giới, thành tựu thân giới thì thân phóng ra ánh sáng, không đâu không
đến… lúc nào cũng nhớ nghĩ đến trời không bao giờ quên thì, sẽ thu được
mọi thứ công đức thiện này.” Hay Nhiếp Ðại Thừa luận nói:
“Niệm thiên là an trụ vào bốn món thiền định”. Vậy niệm thiên là nhớ
nghĩ đến cách tu tập bốn thiền định, để thanh lọc hết tất cả phiền não mà
giải thoát.
4. Ðịnh căn
(Samādhīndriya): Ðịnh
nói cho đủ là Chánh định, dịch nghĩa từ chữ Samādhi phiên âm là
Tam-ma-địa. Ðịnh là khiến tâm hành giả trụ vào một nơi, một chỗ để lắng
tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp, không cho tâm hành giả tán loạn
mà quán sát suy đạt thật nghĩa của nó. Còn căn phạn ngữ gọi là indriya bao
gồm vừa có nghĩa tăng thượng, vừa có nghĩa sinh khởi. Do đó định căn có
nhiệm vụ khiến cho tâm hành giả dừng lại một chỗ, không vì hoàn cảnh ngoại
tại mà sức thiền định bị dao động; vì sức thiền định này có khả năng sinh
khởi ra mọi thứ công đức và làm chúng tăng trưởng lên, cho nên gọi là căn.
Theo Thành duy thức luận 9, trong Thập độ tam hành, độ thứ năm là
Thiền độ tam hạnh thì tịnh lự (định) có thể chia làm ba bậc:
a) An trụ tịnh lự:
Để tâm an trụ vào định, nên vọng tưởng không có cơ hội để khởi lên, nhờ
vậy mà hành giả đi sâu vào trong thiền định và từ đó phiền não được diệt
trừ.
b) Dẫn phát tịnh
lự: Nhờ phiền não đã được đoạn trừ nên trí tuệ được hiện hữu phát sinh
các thứ công đức thù thắng.
c) Biện sự tịnh
lự: Nhờ đã phát sinh các thứ công đức viên thành, nên thường làm lợi
ích cho tất cả chúng sanh; cứu độ chúng sanh giải thoát sanh tử, chứng đắc
Niết-bàn.
5. Huệ căn
(Prajñendriya): Quán
trí phát sinh được nhờ trong định và cũng từ đó mà hành giả hiểu rõ được
chân lý như thật của muôn pháp. Quán đạt chân lý gọi là tuệ; khi trí huệ
đầy đủ thì tất cả mọi thứ phiền não tự tiêu trừ và các năng lực thiện pháp
xuất hiện, thành tựu trọn vẹn mọi thứ công đức, cho đến lúc thành đạo. Cho
nên gọi là Huệ căn. Theo Nhiếp Ðại Thừa, trí huệ có ba thứ:
a) Vô phân biệt
gia hành huệ: Trí tuệ nầy không còn có sự phân biệt nữa, nhưng còn cần
phải thực hành thêm, nghĩa là còn cần sự dụng công tu hành, để thành tựu
hoàn toàn trí vô phân biệt. Vì thế, nên gọi là “vô phân biệt gia hành
huệ”.
b) Vô phân biệt
huệ: Trí huệ nầy không còn có sự phân biệt và cũng không cần phải thực
hành thêm nữa vì nó đã đầy đủ và thuần phục. Nhờ trí huệ này, mà hành giả
thể chứng Chân như một cách tự tại.
c) Vô phân biệt
hậu đắc huệ: Còn gọi là hậu đắc trí, là trí huệ có được sau khi đã
chứng được Chân như. Trí huệ này không còn phân biệt nữa, hoàn toàn sáng
suốt, tỏ ngộ được thật nghĩa của các pháp. Chư Phật nhờ hậu đắc trí nầy mà
thi tác vô lượng công đức, để cứu độ chúng sanh. Nói một cách tổng quát
giản dị, huệ căn là trí huệ nhờ thiền định làm lặng sạch có được. Nó thông
đạt được sự thật của các pháp; nó là nền tảng mà phát sanh ra mọi việc vĩ
đại để giải thoát chúng sinh ra khỏi khổ đau.
Tóm lại, vì năm căn
này là nền tảng có khả năng sinh sản ra tất cả các pháp thiện, nên gọi là
năm căn. Hơn nữa ‘căn’ ở đây nó cũng mang ý nghĩa tăng thượng, như trên
chúng ta đã biết, năm loại căn này cũng có thể khiến cho con người sản
sinh ra Thánh đạo vô lậu nên cũng gọi là căn. Theo Đại thừa nghĩa
chương 16 nói về ý nghĩa của căn “Vì sức mạnh của năm căn này
nghiêng nặng hơn về việc sản sinh ra Thánh đạo xuất thế, nên gọi là căn.”
Năm loại căn này còn có tác dụng dùng để đối trị với những người:
không có lòng tin (bất tín), biếng nhác (giải đãi), buông lung (phóng
dật), táy máy thân hình (trạo cử), phiền não vô minh, nên cũng gọi là căn.
Ngoài ra theo phần một quyển 7, Chỉ Quán bổ hành truyện hoằng
quyết, thì người tu hành tuy mầm thiện chưa phát, vì căn chưa sinh,
song nay nếu tu tập năm pháp này thì sẽ khiến cho thiện căn sẽ sinh ra,
nên năm pháp này được gọi là căn.
- NGŨ LỰC
(Pañcānāṃ
balānām): tức là năm lực này có được nhờ vào năm căn tăng trưởng sinh ra
trong lúc hành giả tu hành, chúng chính là sức mạnh duy trì sự liên tục
đưa đến giải thoát cho hành giả. Đó chính là thần lực của năm căn, chúng
có khả năng đối trị thế lực của năm chướng. Nói một cách dễ hiểu: Ngũ căn
như năm cánh tay của chúng ta, còn ngũ lực như là sức mạnh của năm cánh
tay ấy.
1. Tín lực
(Śraddhā-bala):
Tức là sức mạnh do tín căn sinh ra, với công năng là phá hủy tất cả mọi
thứ tà tín.
2. Tấn lực
(Vīrya-bala): Tức sức mạnh do tinh tấn căn sinh ra, có công năng phá
hủy mọi sự lười biếng nhác nhớm của thân và lúc nào cũng siêng năng tinh
cần trong việc chỉ ác hành thiện, trong việc thực hành tu tập Tứ chánh
cần.
3. Niệm lực
(Smriti-bala): Tức là sức mạnh do niệm căn sinh ra, hay sức mạnh
lớn lao bền chắc của niệm căn, với khả năng phá hủy mọi thứ tà niệm và
dùng pháp tứ niệm xứ để giữ gìn chánh niệm.
4. Ðịnh lực
(Samādhi-bala): Tức sức mạnh do định căn sinh ra, với khả năng
chống phá các thứ loạn tưởng, bằng vào chuyên tâm thiền định để đoạn trừ
các dục phiền não.
5. Huệ lực
(Prajñā-bala): Tức sức mạnh do huệ căn sinh ra, với khả năng phá hoại
các hoặc của ba cõi, bằng vào quán ngộ Tứ đế, thành tựu trí tuệ, mà đạt
được giải thoát.
Năm lực này vì chúng
có công năng phá hủy mọi thứ ác pháp nên gọi là năm thứ sức mạnh. Theo
Trí độ luận 19: “Năm căn tăng trưởng, không bị phiền não phá hoại,
đó gọi là lực.” hay: “Thiên ma ngoại đạo không thể làm trở ngại, đó
gọi là lực.” Nội dung ý nghĩa và công dụng của chúng cùng với năm vô
lậu căn giống nhau, vì Phật giáo là một đạo thực tiễn nên việc thực hành
những giáo pháp này là cần thiết theo thứ tự từ trước đến sau, từ trên
xuống dưới. Những sức mạnh nầy là kết quả đã đạt được từ sự nỗ lực tinh
tấn siêng năng tu tập của Ngũ căn. Nó như là một ngọn lửa được bật lên sau
khi hành giả đã nỗ lực tinh tấn cọ sát hai cây gỗ vào nhau để có kết quả
ngọn lửa được sinh ra.
Tóm lại, năm căn là nền tảng có khả năng sản sinh ra và làm
tăng thượng các thiện nghiệp, thì năm lực chính là sức mạnh để chận đứng,
triệt tiêu các thế lực vô minh phiền não bất thiện và tác dụng của nó có
khả năng tăng thượng các pháp lành. Qua những trình bày ở trên, chúng ta
thấy ngũ căn và ngũ lực vừa là những nền tảng căn bản phát sinh các thiện
pháp và làm tăng thượng vô lượng công đức thù thắng đưa hành giả đến Thánh
đạo, vừa có khả năng chận đứng tiêu diệt các pháp ác bất thiện vô minh,
giải thoát mọi thứ phiền não để đạt Niết-bàn an vui. Chúng là những nền
tảng cơ bản để hành giả làm nhân tư lương tốt trong việc thực hiện giải
thoát đưa về Thánh đạo.
Thiếu Niên Trong Phật Giáo Qua Hình Tượng Của Tôn Giả La-Hầu-La
Thích Trí Lộc
Cuộc đời của một kiếp người:
sinh ra, lớn lên, làm ăn, sinh sống,… bất chợt có ai đó hỏi một câu rằng:
Trong cuộc đời của anh (chị) thời nào đẹp nhất, vui nhất và nhiều kỉ niệm
nhất? Hầu như ai trong chúng ta cũng trả lời rằng: Thời thơ ấu hay thời
niên thiếu của tôi là đẹp nhất, vui nhất, và nhiều kỉ niệm nhất. Thời niên
thiếu luôn để lại những dấu ấn khó phai trong lòng mỗi người: “Thuở thiếu
thời vui lắm ai ơi!”, một nhạc sĩ nào đó đã để lại những lời nhạc êm đềm
như vậy. Hơn thế nữa, thời niên thiếu còn ẩn chứa những tiềm năng, những
tính chất tốt đẹp… hứa hẹn một tương lai tươi sáng đang mở rộng trước mắt
mỗi người. Đây chính là một bước ngoặc để mỗi người chuẩn bị đi vào lứa
tuổi thanh niên, vươn vai gánh vác những trọng trách của đời mình. Trong
kinh A-Hàm, đức Phật dạy các Tỳ-kheo: “Này các thầy, có 4 điều không nên
xem thường: một đốm lửa nhỏ, một con rắn con, một tu sĩ trẻ và một Thái
tử”. Một đốm lửa nhỏ có khả năng thiêu rụi cả một thành phố, cả ngôi làng.
Một con rắn nhỏ có thể cắn chết nhiều người; một vị Thái tử có thể làm vua
quyết định sự tồn vong của một quốc gia và một tu sĩ trẻ hay một chú tiểu
có thể trở thành những nhà hướng dẫn đạo đức, làm mô phạm cho trời người…
Trong bài này, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về thời niên thiếu của tôn
giả La-hầu-la và cùng bàn luận về thời niên thiếu của mọi người.
Hình tượng của một Vương tử bé
nhỏ từ bỏ hoàng cung, xa lìa vòng tay thương mến của mẹ hiền, từ bỏ tất cả
những gì cao sang sung sướng nhất của đời người… từ bỏ ngai vàng quyền uy,
danh vọng tột đỉnh của nhân gian đang hứa hẹn… để bước vào đời sống phạm
hạnh, trở thành một Sa-di bé bỏng đầu tiên trong Phật giáo; đây là hình
bóng đặc biệt, là biểu tượng không phai mờ trong khối óc và con tim của
những người con Phật.
Tôn giả La-hầu-la là người con
duy nhất của thái tử Tất-đạt-đa và công chúa Da-du-đà-la, là cháu đích tôn
của vua Tịnh Phạn và là cháu ngoại của vua Thiện Giác. Thời thơ ấu,
La-hầu-la được sống trong vòng tay hết mực yêu thương của người mẹ hiền,
sự nuông chiều và kỳ vọng hết mực của Tịnh Phạn vương và cả hoàng tộc, là
một bậc Vương tử được sự quí chuộng và sung sướng bậc nhất của vương thành
Ca-tỳ-la-vệ. Năm La-hầu-la lên 10 tuổi thì đức Phật trở về cố hương để
viếng thăm và hóa độ mọi người trong Hoàng tộc cùng dân chúng vương thành
Ca-tỳ-la-vệ. Với tướng hảo quang minh, với tôn dung uy nghiêm và khả kính
của đức Phật, vương tử La-hầu-la đã hoàn toàn bị chinh phục. Chính vì thế,
vương tử La-hầu-la cứ đi theo chân của đức Đạo sư đòi xin gia tài theo lời
chỉ bảo của mẹ mình. Đức Phật nói với La-hầu-la: “Ta có hai gia tài quí
giá, một là gia tài danh vọng và quyền lực tối cao của ngai vàng mà mọi
người hằng mong ước, nhưng nó mong manh, vô thường ẩn chứa những khổ đau
của tranh giành đầy phiền não… gia tài này Ta đã từ bỏ và Ta sẽ không trao
lại cho con. Gia tài thứ hai là gia tài Pháp bảo vô giá mà Ta đã chứng ngộ
được, gia tài này an lạc và giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau… Ta sẽ trao
lại cho con gia tài cao cả quý giá nhất này”. Nói xong, đức Đạo sư gọi tôn
giả Xá-lợi-phất lại, giao La-hầu-la cho Tôn giả hướng dẫn. Tôn giả
Xá-lợi-phất đã xuống tóc cho vương tử La-hầu-la và vương tử trở thành vị
Sa-di đầu tiên trong Phật giáo.
Thuở thiếu thời, sung sướng
danh vọng và cao sang của vương tử La-hầu-la nơi thế gian giả tạm đã bắt
đầu khép lại. Từ đây, La-hầu-la chính thức bước vào thời niên thiếu trong
Phật pháp, bắt đầu thực tập đời sống phạm hạnh gian khổ, một cuộc sống
xuất trần thượng sĩ.
Tuổi thơ nào cũng nghịch ngợm
hồn nhiên vô tư lự, và vị Sa-di bé bỏng mới mười tuổi đầu của chúng ta
cũng không ra ngoài thông lệ ấy. Lúc bấy giờ, tôn giả Xá-lợi-phất cũng vừa
được đức Phật cho phép thâu nhận chú bé thứ hai vào tu tập tên là Quân
Đầu. Từ đấy, Sa-di La-hầu-la đã có bạn, với bản tánh hồn nhiên vui giỡn và
được nuông chiều trong Hoàng tộc, Sa-di La-hầu-la thường cùng với Sa-di
Quân Đầu hay vui đùa, chạy nhảy và hay chơi trò dối gạt những người khác
để lấy làm vui. Lúc bấy giờ, Sa-di La-hầu-la thường ở với đại chúng
Tỳ-kheo và đức Phật tại rừng Ôn Tuyền ngoài thành Vương-xá, nơi đây thường
được các vua quan, đại thần, trưởng giả, cư sĩ… đến viếng thăm, đảnh lễ và
tu học, các vị này thường hỏi La-hầu-la, đức Phật đang ở đâu? La-hầu-la
chẳng những không chỉ mà còn cười giỡn trêu chọc hay chỉ lạc đường những
vị này để làm trò chơi. Nếu đức Phật ở tịnh xá Trúc Lâm thì La-hầu-la bảo
ở Kỳ-xà-quật, ngược lại đức Phật ở Kỳ-xà-quật thì bảo ở Trúc lâm… hai nơi
này cách nhau đến mấy dặm làm cho mọi người đều bực mình, nhưng họ còn
ngại chưa nói ra. Chuyện ấy rồi cũng đến tai đức Phật, Ngài liền đi đến
rừng Ôn Tuyền để giáo hóa La-hầu-la.
Nghe đức Phật đến rừng Ôn
Tuyền, La-hầu-la theo lời dạy của tôn giả Xá-lợi-phất múc một chậu nước
mang đến để đức Phật rửa chân (thời xưa đức Phật và chư Tăng luôn đi chân
đất, xứ Ấn Độ bụi rất nhiều…) khi rửa chân xong đức Phật hỏi La-hầu-la:
- Này La-hầu-la! Nước này có
thể uống được không?
- Bạch Thế Tôn! Không thể uống
được.
- Tại sao?
- Vì đây là nước rửa chân rất
dơ không thể uống được.
- Này La-hầu-la! Con cũng giống
như thứ nước đó. Thời gian xuất gia làm Sa-di khá dài, nhưng với lề thói
xấu xa, con chưa dứt được. Nước ô uế không uống được, thân tâm những người
còn ô uế các tập khí có khác gì đâu? Hình thức xuất gia mà thân, khẩu, ý
còn trần tục tất không thể thăng hoa. Người rời bỏ thế tục phải giữ lòng
thanh tịnh, hành vi cử chỉ nhẹ nhàng, lời nói phải chơn thật, lựa lời mà
nói. Xuất gia mà không trừ bỏ ba độc uế, chẳng khác gì nước dơ. Nước không
sạch người ta sẽ đem đổ. Con người mang nhiều tật xấu bị mọi người xa
lánh, ắt sẽ sa đọa, tương lai mờ mịt đen tối.
Nói xong, Phật bảo La-hầu-la
mang chậu đi đổ rồi mang chậu về. Khi trở lại, đức Phật hỏi:
- Này La-hầu-la! Bây giờ, con
đem chậu này đựng thức ăn được không?
- Thưa không.
- Tại sao?
- Vì chậu này chỉ để rửa chân,
lại bị bụi đất dơ bám đầy, không đựng thức ăn được.
- Này La-hầu-la! Chậu dơ không
đựng thức ăn được, thân dơ cũng thế thôi. Con chỉ là một hình đồng Sa-di
mà thân, khẩu, ý không đồng, không tu tập giới, định, tuệ, tâm không trong
sạch, lời nói bông đùa nghịch ngợm, thân dính đầy cấu uế, mất hết oai
nghi, thức ăn đạo lý làm sao chứa đựng vào tâm được; như thế, khác gì nước
uế, chậu dơ. Chậu dùng không được thì giữ lại làm gì?
Nói vừa dứt lời, Phật lấy chân
đá nhẹ vào chậu, khiến cái chậu lăn mấy vòng, La-hầu-la thấy thế hoảng sợ,
Phật lại hỏi tiếp:
- Này La-hầu-la! Con có sợ cái
chậu này bị đá bể không?
- Bạch đức Thế Tôn! Không sợ ạ.
Vì nó là chậu rửa chân đã dơ bẩn, rủi bể cũng không sao.
- Này La-hầu-la! Con không tiếc
cái chậu này, giống như mọi người không thương mến con, vì con còn nhiều
lầm lỗi, kể cả việc nói để mà chơi. Mang danh xuất gia, ăn nói không được
thật thà, oai nghi thiếu chuẩn mực, phỉnh gạt người khác, dẫu con có chết
cũng không ai thương tiếc cả. La-hầu-la nghe Phật dạy toát mồ hôi, vô cùng
hổ thẹn, chí thành sám hối, nguyện từ nay về sau sẽ cố gắng sửa đổi tâm
tánh, không còn tái phạm nữa.
Đức Phật bèn kể cho La-hầu-la
một câu chuyện: xưa kia có một ông vua nuôi một con voi chiến vô cùng dũng
mãnh. Mỗi khi nhà vua ra trận liền mặc áo giáp cho voi, ngà voi nối giáo
nhọn, bên tai voi giắt kiếm bén, bốn chân voi đều có dao sáng ngời, sau
đuôi lại có cột thêm gậy sắt... Những lúc giao chiến quân địch đến gần đều
bị voi giết sạch. Tuy dũng mãnh và trang bị đầy đủ vũ khí như thế, nhưng
lúc giao chiến, voi đều cuốn vòi lại giấu kín bên trong, vì đó là chỗ
nhược, nếu để trúng tên liền chết ngay. Phật khuyên La-hầu-la cần cẩn thận
lời nói, giống như con voi bảo vệ cái vòi. Mở miệng nói dối, dù nói chơi,
huệ mạng của ông sẽ mất. Con voi ra trận mà không biết bảo vệ cái vòi thì
vô cùng nguy hiểm; Con người không cẩn thận, cân nhắc lời nói cứ nói láo,
nói dối sẽ không có tàm quí và không chừa một việc xấu xa nào mà không
làm, khi lâm chung sẽ bị đọa trong tam đồ, ác đạo.
Nghe qua câu chuyện, La-hầu-la
tỉnh ngộ, phát nguyện sửa đổi oai nghi, bỏ lời dối gạt… tinh tấn tu học,
âm thầm phát nguyện tu trì Mật hạnh.
Tuổi thơ hay thời niên thiếu
nào cũng có những hồn nhiên và vui tươi. Đó là những nét đáng yêu của mọi
người; nhưng sự nghịch ngợm dối gạt cũng luôn song hành tồn tại ở lứa tuổi
này, đây là điều đáng trách. Phương pháp mà đức Phật đã dạy là một trong
những phương pháp giáo dục tuyệt vời nhất từ xưa đến nay. Giáo dục trẻ thơ
hay thiếu niên ta không nên đánh đập hay la hét mà phải có những phương
cách hay đẹp, nhẹ nhàng mà sâu sắc như đức Phật đã giáo giới Sa-di
La-hầu-la .
Đức Phật dạy có hai hạng người
đáng quí: Một là hạng người không phạm lỗi lầm và hai là hạng người phạm
lỗi lầm nhưng biết sửa đổi. Sa-di La-hầu-la thuộc về hạng người đáng quí
thứ hai. Là một vương tử sống đời cao sang, sung sướng nhưng khi bước vào
cuộc sống phạm hạnh, thanh bần, đời sống xuất thế, Sa-di La-hầu-la phải
gặp nhiều gian khổ. Công việc của chú Sa-di thời đức Phật là đuổi chim
quạ, quét dọn sân chùa (tịnh xá), phòng ốc, hầu thầy, nghe đức Phật giảng
pháp… Nhưng có lúc La-hầu-la phải nhẫn nhục những điều làm cho chúng ta vô
cùng khâm phục. Một hôm sau khi thực hiện xong, những công tác hằng ngày,
La-hầu-la vào giảng đường nghe đức Phật thuyết pháp. Mãi đến tối mới trở
về phòng, La-hầu-la thấy một vị khách Tăng đã dọn y bát của mình để ra
ngoài và nằm ngủ trong phòng, theo sự hướng dẫn của thầy quản lý (Sa-di
phải nhường phòng cho Tỳ-kheo). Vì đã phát nguyện tu theo pháp Mật hạnh,
La-hầu-la đành ôm y bát ra sân ngồi. Bất ngờ lúc ấy trời đổ mưa rất lớn,
La-hầu-la lại ôm y bát vào nhà xí để trú mưa. Gần nhà xí, có một hang rắn
độc. Vì trời mưa quá lớn, nước ngập hang, con rắn tìm nơi tránh nạn, bò vô
nhà xí. Trời thì tối, mưa lại như trút nước, La-hầu-la ngồi bất động không
thấy rắn. Ngược lại trong cơn nước ngập, rắn bò ra khỏi hang tìm chỗ khô
ráo nên cũng không biết có người trong nhà xí. Ngay tối hôm đó, có người
báo cho Phật hay La-hầu-la bị một khách Tăng chiếm phòng và có thể
La-hầu-la đang ẩn mưa trong nhà xí. Phật liền cùng người ấy đến nhà xí đón
La-hầu-la. Khi rọi đèn vào nhà xí, Phật thấy La-hầu-la ngồi bó gối trong
một góc, con rắn khoanh tròn ở một góc. Thấy có ánh sáng, rắn nằm bất
động, còn La-hầu-la được Phật gọi ra và dẫn về tịnh xá. Sáng hôm sau, nhân
lúc chư Tăng đông đủ, đức Phật chế giới Sa-di có thể được ở chung với
Tỳ-kheo trong vòng ba hôm.
Tuổi trẻ dù ở tại gia hay xuất gia cũng luôn cần có những nhu cầu về ăn
mặc, ngủ nghỉ, vui đùa… Sa-di La-hầu-la thường theo chư Tăng đi khất thực.
Vì tôn kính Tỳ-kheo hơn Sa-di, nên các đàn việt đem những thức ăn ngon
cúng dường cho Tỳ-kheo, còn Sa-di La-hầu-la chỉ nhận được những thức ăn
thô dở, ít chất dinh dưỡng khó lòng nuốt được. Tuy đã phát nguyện nhẫn
nhịn, tịnh hóa thân tâm, nhưng khả năng tu tập chưa cao nên các tập khí bị
dồn nén lâu ngày, giờ có thời cơ trỗi dậy. Những lần gặp trường hợp như
thế, hồi tưởng lại thuở sung sướng nơi hoàng cung của mình… khi khất thực
về La-hầu-la thường lộ nét u buồn trên gương mặt. Một hôm đức thấy được
liền hỏi lý do, La-hầu-la xúc động trình bày sự việc qua tiếng khóc. Phật
dạy La-hầu-la nên cố gắng chịu đựng, vì cuộc sống của một xuất trần ắt
phải gặp nhiều gian lao, khó khăn và thử thách; vả lại thức ăn chỉ dùng để
duy trì thân mạng, chúng ta ăn để sống chứ không phải sống để ăn. Bởi thế,
Phật khuyên La-hầu-la nên chú trọng đến hạnh tu, không nên quá quan tâm
đến ăn uống. Thức ăn chỉ là thuốc trị bệnh đói khát… Đồng thời, đức Phật
cũng bảo tôn giả Xá-lợi-phất và chư Tỳ-kheo nên chăm sóc đến sức khỏe của
các vị Sa-di bằng cách lưu tâm đến sự ăn uống cho đủ chất dinh dưỡng… Ghi
nhớ lời dạy của Phật, La-hầu-la, không còn lưu tâm nhiều đến vấn đề ăn
uống. Ngược lại, cũng từ đó chư Tăng lại rất quan tâm đến vấn đề ăn uống
đủ chất dinh dưỡng cho các vị Sa-di.
Những khó khăn về ăn uống đã đi
qua, nhưng những khó khăn và thử thách vẫn luôn giăng bủa trên bước đường
xuất thế của vị Sa-di bé bỏng của chúng ta. Có lần La-hầu-la cùng với tôn
giả Xá-lợi-phất đi khất thực trên đường gặp một tên du đảng, hắn chặn
đường văng tục, chửi mắng và lấy các đồ dơ phẩn đất… bỏ vào bình bát của
tôn giả Xá-lợi-phất và dùng cây đánh lên đầu Sa-di La-hầu-la đến chảy máu.
Tôn giả Xá-lợi-phất đã chứng Thánh quả xem mọi việc như không có gì xảy
ra, nhưng đối với Sa-di La-hầu-la còn nhỏ không chịu được nên rất tức giận
và khóc thảm thương, tôn giả Xá Lợi Phất phải băng bó vết thương và an ủi
khuyến khích La-hầu-la nên nhẫn tâm cố gắng học hạnh nhẫn nhục và hãy cố
gắng trải lòng từ đến với hết thảy chúng sanh. Về đến Tinh xá, tôn giả
Xá-lợi-phất đem sự việc trên thưa đức Thế Tôn, đức Phật dạy Sa-di
La-hầu-la: Này La-hầu-la! Nhẫn nhục là hạnh vô cùng cao quý. Muốn thấy
Phật, thuận Pháp, gần Tăng. Ông hãy tu hạnh nhẫn nhục. Người biết nhẫn
nhục tâm hồn sẽ thư thái, an ổn, diệt trừ được các tai họa, trí tuệ phát
sinh; trí tuệ là kiếm báu chặt đứt gốc rễ vô minh, tham ái, ngã chấp.
Người có trí tuệ, dù có chung đụng với thế lực vẫn không bị ô nhiễm. Nhẫn
nhục là điều kiện làm tăng thượng duyên, tuyên dương chánh pháp, là tư
lương để sớm được giải thoát sinh tử luân hồi.
Nghe lời chỉ dạy vô cùng thâm
thúy của đức Phật, Sa-di La-hầu-la như được truyền những sức mạnh vô biên,
quyết tâm tu hạnh nhẫn nhục, đồng thời tu tập lòng từ đối với mọi chúng
sanh, chuyên tâm tu tập mọi oai nghi tế hạnh… Không bao lâu sau đó Tôn giả
thọ đại giới, nỗ lực tấn tu chứng đắc quả vị Vô sanh. Trở thành một trong
mười đệ tử có năng lực đứng bậc nhất trong hàng vạn đệ tử xuất gia của đức
Thế Tôn, được đức Phật và chư Tăng khen ngợi là bậc có mật hạnh đệ nhất;
dự vào hàng “Thập đại đệ tử” của đức Thế Tôn.
Tuổi trẻ với những nhu cầu cuộc
sống không phải chỉ được xã hội bây giờ quan tâm mà đã được đức Phật quan
tâm đúng mực; đồng thời Ngài còn chỉ dạy những phương pháp giáo dục xuyên
qua những tâm lý và nhu cầu của tuổi trẻ, chỉ dạy những phương pháp tu tập
khuyến khích và nêu cao hạnh nguyện cao cả của một bậc thượng sĩ xuất trần
trong buổi đầu đến với Phật pháp dưới danh xưng là “chú điệu, chú tiểu và
chú Sa-di), sự quan tâm về mọi mặt của một vị xuất gia trong thời niên
thiếu một cách đúng mức và sinh động được đức Phật dạy rõ qua hình tượng
của Sa-di La-hầu-la.
Câu chuyện đức Khổng Tử phải bó
tay trước những câu hỏi của những trẻ em đã đánh giá tầm quan trọng của
trẻ em trong thời niên thiếu: Một hôm trên đường đi du thuyết, ngồi trên
xe có người điều khiển, đức Khổng Tử nghe hai chú bé cãi nhau quyết liệt
không phân thắng bại, Ông bảo người đánh xe dừng lại hỏi để hỏi rõ chúng
cãi nhau về chuyện gì.
Một em nói rằng: Con bảo mặt trời buổi sáng gần ta hơn mặt trời buổi trưa,
vì con thấy mặt trời buổi sáng nó to hơn mặt trời buổi trưa nhưng thằng
này không chịu. Em còn lại bảo rằng: Con nói mặt trời buổi trưa gần chúng
ta hơn ví nó chiếu sáng và nóng hơn, buổi sáng xa nên nó không làm nóng…
vậy mà thằng này nó không chịu. Và cả hai em bé xin đức Khổng Tử giải
thích giùm.
Đức Khổng Tử nghe xong toát mồ
hôi vì nghĩ mình từng dạy hàng ngàn, hàng triệu người học tập mà không trả
lời được sự thắc mắc của hai thằng bé, cảm thán ông thốt lên rằng: “ hậu
sanh khả úy” rồi lên xe bỏ đi.
Các nhà giáo dục bây giờ đã
nhận thấy được tầm quan trọng của tuổi thanh thiếu niên nên đã có những
lời nhận định: “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” hay “tuổi trẻ hôm nay là
chủ của thế giới ngày mai”. Ông cha ta cũng đã khẳng định tầm quan trọng
của tuổi thơ nên có những lời nhận định rất bình dị mà sâu sắc: “Tre già
măng mọc”.
Đến với đạo Phật ngày nay,
chúng ta sẽ thấy được hình bóng của hàng thanh thiếu niên được đề cao qua
sự chú trọng phát triển các Gia Đình Phật Tử. Tuy nhiên điều này còn rất
mờ nhạt chưa được quí thầy, giáo hội và các giới Phật tử… quan tâm đúng
mức, nếu như lớp Phật tử trung niên hay lão thành đi qua mà không có hàng
thanh thiếu niên Phật tử lên thay thế thử hỏi Phật giáo có bị mai một hay
không? Truyền thống tâm linh sâu sắc, đạo đức cao đẹp ngàn đời có được
nhiều người kế thừa hay không?
Quan trọng hơn thanh thiếu niên
trong Gia Đình Phật Tử là hàng Sa-di và Tăng Ni trẻ cần phải được quí thầy
và giáo hội quan tâm hết mình, bởi đây là điều kiện quyết định sự tồn
vong, thạnh suy của Phật pháp trong tương lai. Xác định được tầm quan
trọng là một phần, nhưng đưa ra đường hướng để giáo dục, hiểu được nhu cầu
từng lứa tuổi… lại là vấn đề quan trọng hơn.
Cuộc đời của các bậc Thánh đi
qua lặng lẽ như một dòng sông với nước sông tưới mát ruộng đồng, với phù
sa vun bồi cho từng khu vườn, đồng lúa… nhưng hình ảnh của các Ngài, Thánh
hạnh của các Ngài và nhất là giáo pháp quí giá của quí Ngài, sẽ là những
dòng suối thanh lương tưới tẩm cho mọi tâm hồn, mọi cuộc đời ngày càng
thêm thăng hoa, tươi đẹp. Nhất là Thánh hạnh của tôn giả La-hầu-la một
cuộc sống hy sinh vĩ đại thời thơ ấu tuyệt vời và cao cả: Từ bỏ những gì
cao sang nhất sung sướng danh vọng nhất… để đón nhận những khổ đau nhọc
nhằn nhất và thành tựu được Mật hạnh cao cả nhất. Xứng đáng là tấm gương
tốt cho hàng Sa-di, hàng thanh thiếu niên Phật tử chúng ta rọi soi, học
tập để làm thăng tiến cuộc sống, lý tưởng cao cả của mình ngay trong cuộc
sống phồn hoa giả mộng như thế giới ngày nay.
Các Cảnh Giới Tái Sanh
Thích Nguyên Liên
(tiếp theo)
1. Ngạ quỷ
đạo.
a. Định nghĩa.
Ngạ quỷ đạo còn gọi
quỷ thần đạo. Quỷ có nghĩa là úy, là hay khiếp sợ; thần có nghĩa linh
thông biến hóa. Trong kinh có nói loài quỷ do nhân tạo trung phẩm thập ác
mà được sanh, và sắp quỷ đạo sau bàng sanh đạo. Nhưng đó là chỉ nói riêng
về phương diện ngạ quỷ. Sự thật nếu nói rộng, ngạ quỷ đạo phải gọi là quỷ
thần đạo, vì loài này chia làm hai hạng: hạng có uy phước và hạng không uy
phước. Đây là những chúng sanh do tạo nghiệp nhân bất thiện từ thuở tiền
sanh mà cảm lấy thân ngạ quỷ.
Loại quỷ thần uy
phước cũng có cung điện, thân tướng trang nghiêm nhiều kẻ tùy thuộc, hoặc
thọ dụng những trân vị cam lồ, hoặc được người thờ cúng. Loại này chia làm
hai hạng: chánh thần và tà thần. Bậc chánh thần thì giữ lòng chân chánh
hay giúp đỡ nhân gian, hạng tà thần tâm niệm quỷ quyệt không chân thật,
hoặc đa dâm đa sát, thường làm tổn hại mọi người. Loài quỷ không uy phước
thì vất vả, ở chỗ âm u, thường đói khát, hoặc ăn những đồ bất tịnh.
Xứ sở của quỷ thần
có hai nơi: chánh trụ và biên trụ. Chánh trụ như trong kinh Chánh Pháp
Niệm nói: “Có thành Diêm La, nơi ở chánh thức của vô số ngạ quỷ do Diêm
La vương thống lãnh. Thành này ở dưới châu Diêm-phù-đề, chu vi rộng
7.500.000 dặm. Nơi đây không có ánh sáng mặt trời mặt trăng.” Biên trụ
là những chỗ như mé biển, triền núi, rừng bụi, đình miếu, hang hố, mồ mả
cho đến vườn nhà cùng các nơi bất định. Chánh trụ là xứ sở riêng của loài
nghiệp nặng, thuộc về thế giới ngạ quỷ. Biên trụ là xứ sở của các quỷ thần
nghiệp nhẹ hoặc có phước nghiệp, thuộc về hạng ở lẫn lộn trong nhân gian.
b. Thân tướng và thọ
lượng.
Thân tướng chúng
sanh, quỷ, thần, thú có tốt xấu, lớn nhỏ khác nhau. Đại khái hạng quỷ thần
lớn nhất, thân hình cao một do tuần, hạng bậc trung thì thân hình không
nhất định, hạng nhỏ hơn hết, thân hình như đứa trẻ mới vừa biết nói. Hạng
quỷ thần có uy phước, thân hình cao lớn xinh đẹp như chư thiên. Các quỷ
thần ở núi non, sông ngòi biển cả, phần nhiều thân thể đều trang nghiêm
đoan chánh.
Hạng quỷ không uy
phước, thân hình thô xấu không thể kể xiết. Có loại bụng lép như chó đói,
chân như khúc củi khô, miệng mũi thường chảy ra nước mũi, nước dãi, lỗ tai
sanh mũ, nơi mắt chảy ra máu. Có loại cao lênh khênh, bụng lớn như cái
trống, cổ họng nhỏ như mũi kim, miệng thường phụt ra lửa, thân mình hôi
hám, lông cứng như gai nhọn. Các ngạ quỷ khác thân thể còn ghê gớm xấu xa
hơn nữa.
Thọ lượng của loài
quỷ thần thú dài ngắn không định, hoặc trong sát na, hoặc muôn ức năm.
c. Cảnh giới thọ
dụng.
Về khổ lạc thọ dụng,
chúng sanh ở cảnh giới ngạ quỷ chịu nhiều phần khổ não về sự đói khát, chỉ
có chút ít phần vui. Đại để loài ngạ quỷ phân thành ba loại: loại thứ nhất
là quỷ đa tài, hạng quỷ này do đời trước có tu phước, nên hiện đời được ăn
uống sung mãn có đầy đủ thần lực; loại thứ hai là quỷ thiểu tài, hạng quỷ
này đời trước tuy có tu phước nhưng không nhiều, nên hiện đời tuy có đủ
vật ăn uống, nhưng không được như ý và thần lực kém cỏi; loại thứ ba là
quỷ hy tự, hạng quỷ này bụng to như cái trống, cổ nhỏ như cây kim, bởi do
đời trước tham lam bỏn xẻn, nên hiện đời luôn phải chịu cảnh khổ sở đói
khát liên tục…
Về ẩm thực thọ dụng,
chúng sanh ở cảnh giới ngạ quỷ đều dùng thô đoạn thực, tức ăn uống những
vật thực như con người. Có điều, loài quỷ hy tự (quỷ kém phước) chỉ ăn
thuần đồ bất tịnh. Loài ngạ quỷ này khi thấy nước hay thức ăn, thì những
vật này đều hóa thành máu lửa và cát sạn.
Về dục nhiễm thọ
dụng, chúng sanh ở cảnh giới ngạ quỷ do vì có khổ vui xen lộn nên có sự
dâm dục. Ở cõi này khi hai giống giao hợp, trong tâm khoái lạc tột độ liền
có chất bất tịnh chảy ra.
d. Nghiệp nhân tái
sanh và biểu hiện lâm chung.
d.1. Nghiệp nhân tái
sanh.
Cũng theo kinh Biện
Ý Trưởng Giả Tử, người nào hiện đời tạo năm nghiệp ác, sau khi chết sẽ đọa
vào cảnh giới đau khổ này.
- Bỏn sẻn không
thích bố thí.
- Trộm cướp bất hiếu
với cha mẹ.
- Ngu dốt hẹp hòi
không có lòng rộng rãi, xót thương.
- Chứa cất nhiều
tiền của mà không dám ăn mặc.
- Có tiền của, song
không cấp dưỡng cha mẹ, anh em, vợ con, tôi tớ.
d.2. Biểu hiện lâm
chung.
Nếu người nào lâm
chung đọa vào cảnh giới ngạ quỷ sẽ có những biểu hiện sau.
- Thân mình nóng như
lửa.
- Lưỡi luôn luôn
liếm môi.
- Thường lo nghĩ đói
khát, hay nói đến việc ăn uống.
- Miệng hả ra không
ngậm lại.
- Tham tiếc tiền của
dây dưa khó chết.
- Mắt thường trương
lên mà không nhắm.
- Đôi mắt khô khan
như mắt chim gỗ.
- Không đại tiện
nhưng đi tiểu tiện nhiều.
- Đầu gối bên phải
lạnh trước.
- Tay bên phải nắm
lại biểu hiện lòng bỏn xẻn.
- Lúc tắt hơi thở
hai mắt vẫn mở.
e. Tiến trình thác
sanh.
Thân trung ấm nào
sắp đọa vào cảnh giới ngạ quỷ, tự thấy một bãi sa mạc rộng lớn mênh mông
không cây cối, hoặc chỉ có những hang hố có cây khô héo. Lúc này tự mình
bị sức gió nghiệp xô đến, liền thác sanh vào loài ngạ quỷ, chịu nhiều điều
nóng bức đói khát vô cùng .
3. Bàng sanh
đạo.
a. Định nghĩa.
Bàng sanh là loại
chúng sanh có xương sống nằm ngang. Lại chữ “Bàng” còn có nghĩa là biến
mãn, vì bàng sanh có nhiều chi loại, và ở các nẻo đều có loài này. Trong
kinh Phật có chỗ gọi nẻo này là súc sanh đạo, nhưng danh từ súc sanh chỉ ở
trong phạm vi loài sanh vật được con người nuôi dưỡng, vẫn không rộng rãi
và đầy đủ bằng danh từ bàng sanh.
Chủng loại bàng sanh
tuy nhiều nhưng đại ước có ba: loại bay trên hư không, loại ở trên mặt đất
và loại sống dưới nước. Theo kinh Chánh Pháp Niệm, bàng sanh có đến 40 ức
chi loại khác nhau. Duyên phận của loại này cao thấp không đồng, cao như
kim súy điểu vương, long vương có uy thần phước đức; thấp như dòi, đĩa,
côn trùng, sống trong một khung cảnh nhơ nhớp tối tăm, ngắn ngủi.
b. Thân thể và thọ
lượng.
Thân của chúng sanh
ở bàng sanh cũng lớn nhỏ không định. Như Nan-đà và Bạt-nan-đà Long vương
thân hình rất lớn, quấn núi tu di bảy vòng, đầu gác trên đỉnh núi, đuôi
chấm xuống dưới biển. Loài chim lớn nhất là kim súy điểu vương. Chim này
đầu và đuôi cách nhau tám ngàn do tuần, bề cao thấp cũng như vậy. Khi nó
cất cánh thì bay luôn một mạch từ núi tu di này sang núi tu di khác, giữa
chừng không nghỉ. Ở Đại hàm hải có loài cá ma kiệt, thân dài từ 300 đến
700 do tuần, mắt mũi cực to, miệng như hang máu.
Cũng như loài ngạ
quỷ, thọ lượng của bàng sanh dài ngắn không nhất định, hoặc trong sát na
như các vi trùng, hoặc là muôn ức năm. Các loài rồng và kim súy điểu thọ
lượng một trung kiếp, cũng có khi giữa chừng chết yểu.
c. Cảnh giới thọ
dụng.
Về khổ lạc thọ
dụng, chúng sanh ở cảnh giới bàng sanh chịu nhiều phần khổ vì ăn nuốt lẫn
nhau, chỉ có chút ít phần vui. Chúng sanh ở cảnh này phải chịu sự đánh
đập, cày bừa, bị banh da xẻo thịt và nấu nướng, bị người nhai nuốt… Nói
chung, bàng sanh luôn sống trong tâm trạng si mê xen lẫn đầy nỗi sợ hãi.
Về ẩm thực thọ dụng,
chúng sanh ở cảnh giới súc sanh đều dùng thô đoạn thực. Các loài rồng
thường dùng rùa, cá, ếch, nhái… làm thức ăn, loài kim suý điểu dùng rồng
làm thức ăn, những vị long vương có phước báo cũng thọ dụng các trân vị
như hương phạn, cam lồ, nhưng miếng ăn sau cùng đều biến thành ếch nhái.
Còn lại các loài bàng sanh khác đều ăn uống những vật bất tịnh.
Về dục nhiễm thọ
dụng, chúng sanh ở cảnh giới súc sanh, do vì có khổ vui xen lộn nên có sự
hành dâm. Ở cõi này khi hai giống giao hợp, trong tâm khởi niệm khoái lạc
tột độ liền có chất bất tịnh chảy ra.
d. Nghiệp nhân tái
sanh và biểu hiện lâm chung.
d.1. Nghiệp nhân
tái sanh.
Cũng theo kinh Biện
Ý Trưởng Giả Tử, người nào hiện đời tạo năm ác nghiệp, khi chết sẽ đọa vào
cảnh giới bàng sanh.
- Phạm giới, ngoại
tình, trộm cướp, nhận của người khác không đồng ý cho.
- Mắc nợ mà lừa lọc,
ngang ngạnh không chịu trả.
- Ưa sát sanh, ăn
nhậu rượu thịt.
- Không chịu nghe
kinh, học pháp.
- Say mê theo tục
duyên, không thích trì trai, giữ giới, bố thí.
d.2. Biểu hiện lâm
chung.
Nếu ai lâm chung đọa
vào cảnh giới bàng sanh sẽ có những biểu hiện sau.
- Thân mang bịnh
nặng, tâm mê mờ tán loạn như ở trong mây mù.
- Sợ nghe danh hiệu
Phật, không chịu nghe ai khuyên bảo điều lành.
- Ưa thích mùi cá
thịt.
- Sanh lòng yêu mến
vợ con đắm đuối không bỏ.
- Các ngón tay và
ngón chân đều co quắp.
- Cả mình toát mồ
hôi.
- Khóe miệng chảy ra
nước.
- Tiếng nói khò khè
hoặc rít nóng khó nghe.
- Miệng thường ngậm
đồ ăn.
e. Tiến trình thác
sanh.
Trung ấm nào sắp đọa
vào loài chó lợn, thường thấy nhiều cô gái đẹp, mình ưa thích chạy theo,
do nhân duyên đó mà bị thác thai. Trung ấm nào sắp đọa vào các loài bàng
sanh khác, cảm thấy có luồng gió mãnh liệt cuốn lôi không cưỡng bức được,
hoặc thấy vô số quỷ thần cầm binh trượng đuổi theo, hoặc thấy lửa cháy lan
tới rần rần, sấm sét phủ đầu dữ dội, sương mù phủ giăng khắp nơi, núi lở
biển động ầm ầm, tự mình sợ hãi chạy vào rừng bụi, hang đá mà lẫn trốn;
hoặc đang khi thấy ba cái hố trắng, đỏ, đen, liền nhảy ào xuống mà ẩn
thân. Do nhân duyên đó mà bị thọ sanh vào dị loại như hùm, beo, nai, chồn,
rắn, rít.
4. A-tu-la
đạo.
a. Định nghĩa.
A-tu-la là loại
chúng sanh nhiều sân hận, đa số có hình tướng không đoan chánh. A-tu-la
cũng gọi là A-tố-lạc, dịch là vô đoan chánh, phi thiên. Hai danh từ này có
nghĩa: không xinh đẹp, có phước trời nhưng đức không bằng trời. Trong các
kinh luận có chỗ cho rằng loài A-tu-la do gây nhân hạ phẩm thập thiện mà
được sanh. Nhưng đó chỉ là nói riêng về một phương diện, cho đến danh từ
phi thiên cũng thế. Sự thật, phần chánh nhân là loài này do hay nóng giận,
hiếu thắng ưa tranh cãi mà sanh.
A-tu-la chia bốn
bậc, loài ở cõi trời thì giống trời, loài ở cõi người thì giống người,
loài ở cõi quỷ thì giống quỷ, loài ở cõi súc thì giống súc. Vì họ không có
chủng loại và trụ xứ nhất định, có thể nhiếp về các nẻo khác, nên trong
kinh đối với lục đạo, có chỗ chỉ gọi là ngũ đạo hoặc ngũ thú.
A-tu-la ở cõi trời
cũng có cung điện thất bảo, sự ăn mặc tự nhiên hóa hiện như chư thiên.
Nhưng do nhân sân hận họ có ba sự kém hơn người, nên xếp loài người: -
Loài này có ăn món ăn trân vị, song miếng sau cùng tự nhiên hóa ra bùn. -
Ở cõi trời mưa hoa hoặc châu báu, nơi cõi người mưa nước, cõi A-tu-la mưa
xuống những binh gậy. - Loài người tâm điềm tỉnh nên dễ thựt hành theo
chánh pháp của Như lai, loài A-tu-la tâm sôi nổi hơn thua, nên khó tu đạo
giải thoát.
b. Thân tướng và thọ
lượng.
Thân thể của
A-tu-la tùy theo chủng loại không nhất định, hoặc giống người, hoặc giống
quỷ, hoặc giống súc. Các loại A-tu-la ở cõi nhân thiên, người nam thì xấu
trái lại người nữ rất xinh đẹp. Còn các bậc vua A-tu-la, bản thân cao từ
một trăm đến bảy trăm do tuần, hóa thân cao mười sáu vạn tám ngàn do tuần,
chân đứng dưới đáy biển, đầu cao bằng núi. Tu di A-tu-la vương có đại
huyễn thuật, thường đánh với chư thiên, vì phước kém hơn trời nên thường
bại trận.
Về thọ lượng loài
hữu tình A-tu-la cũng không nhất định, tùy theo súc, quỷ, nhân, thiên mà
có ít nhiều hơn kém. Thiên A-tu-la thọ lượng bằng chư thiên, như La hầu
A-tu-la vương và thuộc chúng ở thành quang minh thọ 5000 tuổi, một ngày
đêm nơi đây bằng 500 năm cõi người. Dõng kiện A-tu-la vương và thuộc chúng
ở thành tinh mạng thọ 6000 tuổi, một ngày đêm nơi đây bằng 600 năm cõi
người. Hoa mang A-tu-la vương và thuộc chúng ở thành Tỳ-xá-la thọ 7000
tuổi, một ngày đêm nơi đây bằng 700 năm cõi người. Tỳ-ma-chất-đa A-tu-la
vương và thuộc chúng ở thành Xá-tỳ-la thọ 8000 tuổi, một ngày đêm nơi đây
bằng 800 năm cõi người.
c. Cảnh giới thọ
dụng.
Về khổ lạc thọ dụng,
chúng sanh ở cảnh giới A-tu-la thọ sự khổ vui xen tạp, hoặc nhiều hoặc ít
tùy theo tội phước hơn kém của mỗi người. Nói chung, A-tu-la tùy theo ở
cảnh giới nào thì có sự khổ lạc thọ dụng tương tự như ở cảnh giới đó, vì
thế họ không có chủng loại và trụ xứ riêng biệt.
Về ẩm thực thọ dụng,
chúng sanh ở cảnh giới A-tu-la thọ dụng có thô đoạn thực và tế đoạn thực.
A-tu-la ở trong súc sanh, ngạ quỷ và cõi người dùng các vật bất tịnh.
Riêng loài thiên A-tu-la dù có ăn các món ăn trân vị, song miếng sau cùng
tự nhiên hóa ra bùn hay sâu nhái. Về dục nhiễm thọ dụng, chúng sanh ở cảnh
giới A-tu-la có sự hành dâm tương đồng như chúng sanh loài người, quỷ,
bàng sanh.
d. Nghiệp nhân tái
sanh và biểu hiện lâm chung.
d1. Nghiệp nhân tái
sanh.
Người nào hiện đời
tuy có tu ngũ giới nhưng tâm còn nhiều sân hận và lòng dục nhiễm, sau khi
chết sẽ đọa vào cảnh giới khổ đau này.
d2. Biểu hiện lâm
chung.
Có thể nói A-tu-la
là một dạng khác của ngạ quỷ, do vậy biểu hiện lâm chung của người nào sắp
tái sanh về cảnh giới A-tu-la, thời có những biểu hiện như chúng sanh tái
sanh về cảnh giới ngạ quỷ.
e. Tiến trình thác
sanh.
Trung ấm nào sắp
sanh về cõi A-tu-la, thì sẽ thấy có những vườn cây khả ái và những vần lửa
lẫn lộn chuyển xoay. Nếu thấy cảnh ấy sanh lòng vui vẻ đi đến đó, tức là
thác sanh vào nẻo này.
** Sanh về thiện đạo
1. Nhân đạo.
a. Định nghĩa.
Nhân đạo là nẻo
người. Nhân có nghĩa là nhẫn, chỉ cho loài người khi gặp cảnh thuận
nghịch đều có năng lực nhẫn nại an chịu với duyên phận. Luận Lập Thế nói:
“Loài người do tu trung phẩm thập thiện mà được sanh. Trong ngũ thú chỉ
có nhân thú là nhiều kiêu mạn, nhưng về phần trấn định tâm ý lại hơn các
nẻo kia”. Chúng sanh cảnh này có hình tướng nam nữ, ở rãi rác khắp bốn
đại bộ châu.
Chúng sanh ở trong
bốn đại bộ châu phần nhiều theo đường dục nhiễm, song cũng có người trọn
đời giữ nếp sống tu hành thanh tịnh. Luận về phước báo, người ở ba châu:
Tây ngưu hóa châu, Đông thắng thần châu và Bắc câu lô châu thì thù thắng
hơn, nhưng về nhân duyên giải thoát thì họ kém thua người Nam thiệm bộ
châu.
b. Thân tướng và thọ
lượng.
Thân tướng chúng
sanh ở nhân thú Nam thiệm bộ châu tùy theo kiếp tăng giảm, lớn nhỏ không
nhất định. Người Nam thiệm bộ châu cao ba chẩu rưỡi hoặc bốn chẩu. Người
Đông thắng thần châu cao tám chẩu. Người Tây ngưu hóa châu cao mười sáu
chẩu. Người Bắc câu lô châu cao ba mươi hai chẩu.
Người Bắc châu mắt
có thể thấy suốt tường vách núi non, tai có thể nghe rõ ràng những tiếng
hoặc lớn hoặc nhỏ ở xa hay gần. Người Đông châu mắt có thể thấy rõ ràng
màu sắc hình dáng trong chỗ tối, tai có thể nghe tiếng cách xa một làn
tên. Người ở Tây châu mắt có thể nghe được tiếng và thấy suốt tường vách
núi non, tai nghe được những âm thanh ở các nơi xa xôi cách ngại. Nhân
loại ở Nam châu có đủ các sắc da, ở hai châu Đông Tây cũng có các sắc da
nhưng không có giống người da đen. Nhân dân ở Bắc châu chỉ toàn là người
da trắng.
Chúng sanh ở nhân
loại, thọ lượng tùy nơi có hơn kém. Người ở châu Nam thiện bộ thọ lượng
nhất định, như ở vào lúc kiếp cực tăng thì sống đến 84.000 tuổi, ở vào lúc
kiếp cực giảm thì sống chỉ 10 tuổi. Người ở châu Đông thắng thần thọ 250
tuổi. Người ở châu Tây ngưu hóa thọ 500 tuổi. Người ở châu Bắc câu lô thọ
1.000 tuổi. Nhân loại ở Bắc câu lô thọ lượng nhất định, không có chết yểu,
còn ba châu kia thì có khi chết yểu giữa chừng.
c. Cảnh giới thọ
dụng.
Về khổ lạc thọ dụng,
chúng sanh trong cảnh giới nhân đạo thọ sự khổ vui xen tạp, hoặc ít hoặc
nhiều tùy theo nghiệp nhân mỗi người đã tạo ra. Nói chung, bên cạnh sự
hạnh phúc đôi chút con người phải bị chi phối tám nỗi khổ lớn. Đó là: sanh
là khổ, bịnh là khổ, già là khổ, tử là khổ, cầu bất đắc là khổ, ái biệt ly
là khổ, oán tắng hội là khổ và ngũ ấm xí thạnh là khổ.
Về ẩm thực thọ dụng,
chúng sanh trong cảnh giới nhân đạo về ẩm thực thọ dụng có tế đoạn thực và
thô đoạn thực. Tế đoạn thực là khi ở trong thai thọ dụng huyết phần của
mẹ. Thô đoạn thực là ăn những thức ăn như: cơm, rau, cá, thịt… Nói rộng
ra, các sự thọ dụng khác như: phòng nhà, chiếu, gối, tắm… cũng gọi là tế
đoạn thực.
Về dục nhiễm thọ
dụng, chúng sanh ở cảnh giới nhân đạo vì có sự khổ vui xen lộn nên có hành
dâm. Sự hành dâm tương đồng như loài bàng sanh, quỷ, thần… khi hai thân
khác giống giao hợp, trong tâm khởi niệm khoái lạc tột cùng, liền có chất
bất tịnh chảy ra.
d. Nghiệp nhân tái
sanh và biểu hiện lâm chung.
d.1. Nghiệp nhân tái
sanh.
Cũng theo kinh Biện
Ý Trưởng Giả Tử, người nào hiện đời thực hành năm việc, khi chết được sanh
lên cõi người.
- Bố thí thi ân
trạch đối với kẻ bần cùng.
- Giữ giới, không
phạm mười điều ác.
- Nhẫn nhục không
làm não hại người.
- Tinh tấn khuyến
hóa kẻ giải đãi.
- Nhất tâm, trọn
hiếu, tận trung.
Thực hành năm điều
này, không chỉ được sanh làm người mà còn là người giàu sang, sống lâu,
khỏe đẹp, có oai đức, hoặc làm vua chúa được mọi người kính mến thừa sự.
d.2. Biểu hiện lâm
chung.
Nếu ai lâm chung
được tái sanh vào cảnh giới nhân đạo sẽ có những biểu hiện sau.
- Thân không bịnh
nặng.
- Khởi niệm lành
sanh lòng hòa dịu, lòng vui vẻ ưa làm việc phước đức.
- Ít sự nói phô, nhớ
nghĩ đến cha mẹ vợ con.
- Đối với việc lành
hay dữ tâm không lầm loạn.
- Sanh lòng chánh
tín thỉnh Tam bảo đến đối diện quy y.
- Con trai và con
gái đều đem lòng thương mến gần gũi, coi như việc thường.
- Tai muốn nghe tên
họ của anh em, chị em, bè bạn.
- Tâm tánh chánh
trực không dua nịnh.
- Rõ biết bạn bè
giúp đỡ cho mình, thấy bà con trông nom sanh lòng vui mừng.
- Dặn dò giao phó
các công việc lại cho thân quyến rồi từ biệt ra đi.
e. Tiến trình thác
sanh.
Loài người mạng
chung sắp sanh trở lại châu Nam thiệm bộ, trước tiên thấy có tòa núi to
như muốn rớt trên mình, tự tay đưa ra đỡ. Liền khi ấy lại thấy tòa núi đó
đổi hình lại như giải nệm trắng, chính mình ngồi nơi nệm ấy mà bay đi.
Trong khi bay lại thấy nệm hóa ra màu đỏ. Kế đó lại thấy ánh sáng, trong
ánh sáng có nam nữ hội hiệp. Nếu sẽ sanh làm thân nam, thì tự thấy mình
cùng mẹ giao hiệp, đối với cha cho là chướng ngại có lòng ghét, nếu sanh
làm thân nữ thì trái lại. Bấy giờ hốt nhiên tướng trung ấm diệt, liền vào
thai.
Chúng hữu tình ở
châu Nam thiệm bộ sắp sanh về châu Đông thắng thần, khi lâm chung thấy tất
cả đều màu xanh, có một giải nệm xanh rũ xuống, lúc đó do sợ giải nệm xanh
rớt, tự đưa hai tay lên đỡ lấy, vẻ mặt dường như có sắc kinh hãi. Kế đó
lại thấy có một cái hồ, bầy ngựa chạy giỡn trên bãi cỏ, cha là ngựa đực,
mẹ là ngựa cái. Nếu trung ấm sẽ sanh làm người nam, thì tự thấy mình là
ngựa đực, đối với cha sanh lòng ghét đối với mẹ sanh lòng thương yêu. Như
trung ấm sẽ sanh làm người nữ, thì tự thấy mình là ngựa cái, đối với cha
yêu mến, với mẹ lại ganh ghét. Lúc ấy liền được thọ sanh.
Chúng hữu tình ở
châu Nam thiệm bộ khi lâm chung sắp sanh về châu Bắc câu lô, trước tiên
thấy một giải nệm đỏ mịn màng, trong lòng ưa thích đưa tay khuấy động như
muốn tiếp lấy. Kế lại trông thấy một hồ sen xanh, các loại bạch nga, hồng
nhạn, uyên ương lội đùa trên mặt nước, mình cũng vào đó chơi giỡn. Khi ở
dưới hồ bước lên, vừa lúc cha mẹ dục nhiễm bất tịnh, do nghiệp điên đảo
thấy mình là chim ngỗng, cha là ngỗng trống, mẹ là ngỗng mái. Bấy giờ tùy
nghiệp duyên sẽ sanh làm trai hay gái, đối cha mẹ sanh lòng yêu ghét.
Trong khi đó liền được thọ sanh.
(còn tiếp).
Chữ Hiếu trong Nho giáo và
Phật giáo
Thích Đồng Thành
(tiếp theo)
Phật giáo được truyền đến Trung Hoa dưới
triều Hán, một triều đại vốn xem trọng chữ hiếu như một nguyên tắc hành xử
quan trọng trong triều đình cũng như ngoài xã hội. Lúc ấy Hiếu kinh là một
trong những bộ sách chính được giảng dạy trong hoàng gia. Theo các tác giả
của hai bộ Tiền Hán Thư và Hậu Hán Thư, các hoàng đế nhà Hán đều dùng chữ
“Hiếu” để đặt danh hiệu của mình sau khi qua đời. Truyền thống này kéo dài
từ thời vua Huệ Đế (trị vì từ 195-188 Trc CN) cho đến đời vua cuối cùng là
Hiến Đế (trị vì từ 189-220 TL).14 Theo luật pháp thời ấy những ai bất hiếu
thì bị nghiêm trị còn những tấm gương hiếu thảo luôn được mọi người nhắc
đến. Đối với các viên chức của triều đình khi cha mẹ của mình qua đời thì
vị ấy được nghỉ việc trong suốt thời gian tang chế. Sách Nhị Thập Tứ Hiếu
cũng được phổ biến sâu rộng trong dân chúng vào thời đó.
Khi Phật giáo xuất hiện tại quốc gia này, các
nhà sư Phật giáo gặp phải một sự công kích mạnh mẽ của Nho giáo. Không
những các nhà Nho mà ngay cả các đạo sĩ Lão giáo cũng cho rằng truyền
thống Phật giáo tương phản với thánh điển của mình. Chương thứ 117 trong
Thái Bình Kinh, một tác phẩm của Lão giáo, có nói đến bốn tà hạnh làm ô
nhiễm đời sống cao thượng là: 1) bất hiếu; 2) sống độc thân, không duy trì
nòi giống tổ tiên; 3) dùng phân và nước tiểu làm dược liệu; 4) khất thực
để sinh sống.15 Rõ ràng Lão giáo có thể căn cứ vào điều thứ hai và thứ tư
trên đây để phê phán Phật giáo. Các nhà Nho ở Trung Hoa thường chỉ trích
Phật giáo ở ba điểm chính là: thứ nhất, kinh điển nhà Phật không đề cao
chữ hiếu; thứ hai, các nhà sư Phật giáo đã cạo bỏ râu tóc, một việc làm
trái với Hiếu kinh; và thứ ba, họ không lập gia đình để nối dõi tông
đường.
Để trả lời cho điều phê phán thứ nhất, trong
quá trình phiên dịch kinh điển, các dịch giả Phật giáo đã cho phổ biến
những bản kinh mà đức Phật đã dạy về công ơn cha mẹ và phương pháp để báo
đáp thâm ân đó. Trong Đại tạng Trung Hoa, bản Kinh Thiện Sanh
(Sigalovādasutta) được dịch ra nhiều lần bởi những dịch giả khác nhau như:
Phật Thuyết Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh do ngài An Thế Cao dịch vào
đời Hậu Hán, Phật Thuyết Thiện Sanh Tử Kinh do ngài Pháp Độ dịch vào đời
Tây Tấn, Trường A Hàm Kinh (quyển 11) do hai ngài Phật Đà Da Xá và Trúc
Phật Niệm dịch vào đời Hậu Tần, Trung A Hàm Kinh (quyển 33) do ngài Tăng
Già Đề Bà dịch vào đời Đông Tấn. Ngoài Kinh Thiện Sanh có nhiều bản kinh
khác nói về chữ hiếu như: Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh và Phật Thăng Đao
Lợi Thiên Vị Mẫu Thuyết Pháp Kinh do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây
Tấn, Phật Thuyết Phụ Mẫu Ân Nan Báo Kinh do ngài An Thế Cao dịch vào đời
Hậu Hán, Phật Thuyết Báo Ân Phụng Bồn Kinh (còn gọi là Báo Tượng Công Đức
Kinh) và Phật Thuyết Hiếu Tử Kinh. Xuất Tam Tạng Kí Tập có nói đến các
kinh khác như Hiếu Tử Báo Ân Kinh, Hiếu Tử Thiểm Kinh. Khai Nguyên Thích
Giáo Lục có đề cập đến kinh Tịnh Độ Vu Lan Bồn… trong số này Phật Thuyết
Vu Lan Bồn Kinh và Phật Thuyết Phụ Mẫu Ân Nan Báo Kinh là hai bản kinh phổ
biến nhất. Ngoài việc phổ biến kinh điển nói về chữ hiếu, các tác giả Phật
giáo cũng viết nhiều sớ giải cho những bản kinh này cùng những luận thư
khác để giải trình ý nghĩa của chữ hiếu trong Phật giáo, chẳng hạn như đời
Tấn có ngài Tôn Xước, đời Đường có các ngài Cát Tạng, Tông Mật, Pháp Lâm,
Huệ Tịnh, Vương Minh Quảng, Minh Khái, đời Tống có các ngài Ngộ Vinh, Trí
Viên, Nhật Tân v.v… Bên cạnh các bản sớ giải này trong dân gian còn lưu
truyền một loại hình văn học mới gọi là biến văn nói về gương hiếu hạnh
của ngài Mục Kiền Liên. Một số bản biến văn như thế được tìm thấy tại động
Đôn Hoàng như: Mục Liên Biến Văn, Mục Liên Duyên Khởi, Mục Liên Minh Gian
Cứu Mẫu Biến Văn Tinh Đồ v.v... Việc phiên dịch và trước tác về các bản
kinh nói đến hạnh hiếu như thế đã phần nào chứng minh được kinh điển Phật
giáo nói rất nhiều về chữ hiếu và những tấm gương hiếu thảo để người đời
sau noi theo.
Về khía cạnh thứ hai, điểm thứ chín trong
sách Mâu Tử Lý Hoặc Luận đề cập đến việc Sa môn cạo bỏ râu tóc là trái với
lời thánh nhân, không hợp với đạo hiếu như Hiếu kinh đã dạy. Để trả lời
cho vấn nạn này, Mâu Tử đã dẫn một mẫu chuyện vào thời nhà Tề có hai cha
con cùng qua sông, khi thuyền đến giữa dòng người cha bỗng té xuống nước,
nhưng may thay người con đã cứu được cha và liền khi đó cậu ta bèn kéo
ngược cha lên để nước trong miệng cha chảy ra ngoài. Nhờ sự thông minh đó
của người con mà người cha thoát khỏi cái chết. Hành động kéo ngược cha
như thế được xem là bất hiếu, nhưng trong trường hợp này thì thật đáng
khen. Do vậy không nên hiểu chữ hiếu một cách giáo điều, cứng nhắc mà cần
phải tùy thuận theo hoàn cảnh. Mâu Tử cũng dẫn gương Thái Bá cắt tóc, vẽ
mình, tự theo tục của Ngô Việt, việc này trái với nghĩa lý trân quí thân
thể, tóc, da vậy mà Khổng Tử lại cho đó là chí đức. Dự Nhượng nuốt than,
sơn mình. Nhiếp Chính lột mặt, tự vẫn. Bá Cơ dẫm lửa. Cao Hạnh cắt mặt...
những người này được bậc Quân tử cho là dũng bởi đã chết vì nghĩa, không
ai dám chê bai về họ cả. Mâu Tử kết luận rằng so với hành động của những
người trên thì việc sa môn cạo bỏ râu tóc có gì để gièm pha.
Điều chỉ trích thứ ba của Nho giáo đối với
Phật giáo được đề cập trong vấn nạn kế tiếp của sách Mâu Tử Lý Hoặc Luận,
đó là việc sa môn xuất gia, sống đời độc thân không lập gia đình để sanh
con nối dõi dòng tộc. Đáp lại lời phê phán này, Mâu Tử lấy gương Hứa Do,
Bá Di, Thúc Tề là những người không sinh con để nói dõi tông đường nhưng
lại được Khổng Tử tôn là hiền giả, là những người có lòng Nhân. Theo Mâu
Tử, bậc sa môn từ bỏ niềm vui tầm thường của vợ con để vui với niềm vui tu
dưỡng đạo đức thì đâu có chi là lạ.
Trong phần đầu của bản sớ giải kinh Vu Lan
Bồn, ngài Tông Mật, tổ thứ năm của Hoa Nghiêm Tông, đã xưng tán và viết về
gương hiếu của đức Phật như sau: “Kính lễ Bậc giáo chủ của ba cõi, đức
đại hiếu Thích-ca, nhiều kiếp báo thân ân, tích nhân thành chánh giác…Thái
tử Tất Đạt chẳng nối ngôi vua, từ giã song thân, rời xa vương quốc, quyết
chí tu hành, thành tựu đạo quả để báo ân cha mẹ.”18 Nói về công hạnh của
đức Mục-kiền-liên, ngài Tông Mật cũng viết rằng: “Tôn giả Mục-kiền-liên,
tâm vốn hiếu thảo, muốn độ mẹ cha, báo ân bú mớm, nên đã xuất gia tu hành,
thành bậc đứng đầu về thần thông. Ngài quán thấy vong mẫu đọa trong loài
ngạ quỷ, biết tự mình không cứu được nên thỉnh Phật chỉ dạy pháp môn cứu
độ, nhân đó đức Phật đã dạy pháp Vu Lan Bồn để cứu mẹ của Tôn giả đang bị
tội treo ngược.”19 Qua hai tấm gương trên, ngài Tông Mật muốn chỉ rõ những
nhận thức sai lầm của Khổng giáo đối với Phật giáo về quan niệm chữ hiếu.
Trải qua nhiều kiếp đức Phật đã phụng dưỡng, báo ân cha mẹ và hạnh hiếu đó
được viên thành khi Ngài thành tựu đạo quả để độ song thân và chúng sanh.
Theo ngài Tông Mật, Nho giáo xem hiếu là hạnh
đứng đầu trong muôn hạnh, là lý của trời, là nghĩa của đất, đạo đức do đây
mà thành, giáo lý do đây mà sanh, vì thế từ vua quan cho đến thứ dân, ai
ai cũng lập tông miếu để thờ cha mẹ, tổ tiên. Ngài cho rằng quan điểm này
về chữ hiếu của Nho giáo không khác gì với quan niệm chữ hiếu trong Phật
giáo. Giáo lý của đức Thích Ca gồm có kinh và luật, kinh lý giải về lý
trí, luật lý giải về giới hạnh. Giới tuy gồm vạn hạnh, nhưng lấy hiếu làm
tông cho nên đức Phật Lô Xá Na lúc mới thành Chánh giác liền thuyết đại
kinh Hoa Nghiêm, đại giới Bồ tát. Còn theo Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới, khi
đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cội Bồ đề thành Vô thượng Chánh giác,
đầu tiên Ngài kiết Bồ tát giới bổn và dạy: “Hiếu thuận cha mẹ, sư tăng,
tam bảo, hiếu thuận pháp chí đạo, hiếu gọi là giới, cũng gọi là ngăn
cấm.”20 Ngài Tông Mật cũng dẫn một đoạn trong Kinh Niết Bàn kể đến thâm ân
sanh thành, nuôi dưỡng, chịu đựng muôn ngàn gian khổ của cha mẹ và khuyên
hàng Phật tử phải ghi nhớ và cố công đền trả ân đức đó. Như vậy trong Phật
giáo, hiếu cũng được xem là nguồn của đức, là gốc của muôn hạnh.
Ngoài việc đả thông những nghi vấn của các
nhà Nho về phong tục cũng như ý nghĩa đạo hiếu của Phật giáo, người Phật
tử Trung Hoa còn chứng minh được rằng đạo hiếu trong Phật giáo siêu việt
hơn đạo hiếu trong Nho giáo. Dưới mắt các tín đồ Nho giáo khi một vị tu sĩ
xuất gia học đạo, người ấy đã cắt đứt mọi quan hệ với cha mẹ, gia đình, đó
là bất hiếu. Song người Phật tử không đồng ý với quan điểm đó. Theo họ,
khi gia nhập Tăng đoàn, đối với mỗi vị xuất gia, phần thì tu trì để hồi
hướng phước báu cho cha mẹ, phần thì khuyến hóa cha mẹ tu tập theo chá