Tập san
Pháp Luân
No.14
---o0o---
Kính bạch chư Tôn đức,
Thưa quý cư sĩ Phật tử,
Trong kiếp quá khứ, cõi Ta-bà này đã có sáu đức Phật
thị hiện. Đó là Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù, Phật
Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm-mâu-ni, và Phật Ca-diếp. Chư Phật xuất hiện ở
đời có chung một đại hạnh là giáo hóa cho chúng sanh chứng ngộ tri kiến
Phật. Kiếp hiện tại, đức Thích-ca thị hiện ở cõi Ta-bà này cũng vì mục
đích như vậy.
Ngài ra đời đã làm chấn động cả thế giới, thiên nhiên
biến chuyển tươi đẹp, trời người hân hoan và hạnh phúc. Sau đó, Ngài đã
khơi nguồn cho dòng lịch sử Phật giáo chảy hơn 2500 năm trên thế giới này.
Hơn 2549 năm qua, tác dụng ngày Phật đản vẫn không
ngừng ảnh hưởng sâu sắc và lan rộng trong xã hội loài người. Ngày ấy đã
trở nên thiêng liêng đối với người con Phật. Đồng thời là ngày hết sức có
ý nghĩa đối với nhân loại, khiến cho Liên Hiệp Quốc phải công nhận, tôn
vinh và tổ chức lễ tưởng niệm hằng năm tại trụ sở vào ngày Phật đản.
Riêng tăng ni sinh, ngày Phật đản là thời điểm để kết
thúc một năm tu học đã qua và bắt đầu một năm tu học mới. Chúng ta hãy lấy
thành quả tu học làm phẩm vật cúng dường ngày Phật đản, noi theo hạnh
nguyện chư Phật để làm hành trang, làm sức sống dõng mãnh trên bước đường
hoằng pháp lợi sanh.
Chúng ta sanh trong thời mạt pháp, nhưng vẫn còn được
học và thực hành theo giáo pháp của Phật; vẫn còn có chư Tôn đức, người
thừa kế của chư Tổ, giảng dạy, chỉ bày ý nghĩa thâm sâu của Phật pháp,
cùng với những trải nghiệm mà quý Ngài có được từ sự tu chứng. Quý ngài đã
tạo điểm son rực rỡ trên dòng sử Phật giáo và đang hướng dẫn chúng ta làm
theo như vậy để tự lợi, lợi tha, đạt đến đạo quả giải thoát.
Tu học theo sự chỉ dạy của chư Tôn đức là bổn phận, là
hạnh nguyện của tăng ni sinh chúng ta, thế hệ sẽ tiếp nối trong dòng chảy
lịch sử ấy. Chúng ta hãy tu học để thấy rõ mức độ cao sâu, vi diệu của
giáo pháp đức Phật; thấy được giá trị hiện thực và siêu thoát của Phật
giáo, để tạo cho mình một điểm son rực rỡ trên dòng lịch sử như Thầy Tổ đã
làm.
Trong không khí đón mừng ngày Phật đản năm nay, tăng ni
sinh chúng con cầu nguyện cho Phật pháp được truyền bá sâu rộng, pháp thể
của chư Tôn đức thường an lạc, và kính chúc quý cư sĩ Phật tử luôn hạnh
phúc.
Phật đản PL.2549, Ban biên tập
Kính chúc
Tứ Niệm Trụ
TT. Thích
Đức Thắng
Tứ
niệm trụ là hành phẩm thứ nhất trong bảy hành phẩm của Ba mươi bảy phẩm
trợ đạo: Một là Tứ niệm trụ, hai Tứ chánh cần, ba Tứ như ý túc, bốn Ngũ
căn, năm Ngũ lực, sáu Thất giác phần, bảy Bát chánh đạo. Ở đây, Tứ Niệm
trụ Phạn ngữ gọi là catvāri smṛty-upasthānāni, Pāli gọi là
cattāro sati-paṭṭhānāni còn gọi là tứ niệm xứ, tứ ý chỉ, tứ chỉ niệm,
tứ niệm, thân thọ tâm pháp, nghĩa là Bốn phạm trù thân, thọ, tâm và pháp
là nơi để hành giả tập trung tâm niệm vào một trong bốn điểm này khi tu
tập, với mục đích là đề phòng và đình chỉ những tạp niệm vọng tưởng khởi
lên. Đây là bốn loại phương pháp dùng để đạt chân lý trong pháp môn tu
hành theo kinh điển Phật giáo Nguyên thỉ mà đức Đạo sư đã chỉ dạy.
Hành giả lúc tu tập chỉ cần
dùng tự tướng thân mình cùng những cọng tướng khác mà quán sát thân này là
bất tịnh, những nhận lãnh (thọ) là khổ, tâm mình luôn luôn không thường
hay thay đổi, và các pháp thì luôn không có ngã, nó chỉ là một giả hợp. Vì
sao hành giả phải quán sát như vậy? Vì chúng ta luôn bị bốn pháp này chi
phối làm lệch lạc tư duy của chúng ta, nên lúc nào chúng ta cũng cho rằng
thân này là trong sạch, mọi thứ thủ đắc có được của chúng ta đối với cuộc
sống mang lại vui sướng khoái lạc hạnh phúc, tâm của chúng ta thì lúc nào
cũng vĩnh viễn thường hằng bất biến và các pháp giữa cuộc đời này là thật
có, là ta, là của ta. Những tư duy cố chấp lệch lạc như vậy đưa chúng ta
đi đến những hành động tạo nhân nghiệp sai trái đưa đến quả khổ trong sinh
tử luân hồi. Để đối trị lại bốn thứ tà chấp điên đảo cho rằng thân là
trong sạch, thọ nhận là khoái lạc, tâm là thường hằng, các pháp (tâm và
vật) là hữu ngã, đức Đạo sư đã dùng bốn pháp quán thân là bất tịnh, thọ
nhận là khổ, tâm là vô thường, pháp là vô ngã để phá trừ bốn thứ tà chấp
điên đảo trên. Ở đây, niệm có nghĩa là chúng ta quán sát có trí tuệ (tuệ
quán); trụ chỉ bốn nơi thân, thọ, tâm và pháp phát sinh ra bất tịnh, khổ,
vô thường, vô ngã. Khi hành giả dùng trí tuệ để quán sát, tức là tâm niệm
chúng ta có thể đình chỉ trụ vào những chỗ này để tu tập.
Tứ niệm trụ tức chỉ cho:
1. Thân niệm trụ (Skrt:
kāya smṛty-upasthānāni; Pāli: kaye kāyanuppassi viharati ātāpi sampajāno
satimā.) còn gọi là thân niệm xứ, tức là quán sát tự tướng của thân là
bất tịnh, nhơ nhớp, và cùng lúc quán sát cộng tướng thân của chúng ta là
vô thường, là khổ đau, là không thật, là vô ngã để đối trị lại các bệnh
chấp điên đảo cho là thanh tịnh.
2. Thọ niệm trụ (Skrt:
vedanā-smṛty-upasthāna; Pāli: vedanāsu vedanānupassi viharati ātāpi
sampajāno satimā.) còn gọi là thọ niệm xứ, tức quán sát nguyên do đối
trong việc hân hoan mong cầu hưởng lạc sẽ sinh ra khổ đau ngược lại, và
cũng đồng thời quán sát cộng tướng của nó là khổ đau, không thật hữu, để
đối trị bệnh chấp điên đảo cho là lạc thú.
3. Tâm niệm trụ (Skrt:
citta-smṛty-upasthāna; Pāli: citte cittānupassi viharati ātāpi sampajāno
satimā.) Còn gọi là tâm niệm xứ, tức quán sát tâm thường mong cầu của
chúng ta luôn sinh diệt vô thường biến đổi, và quán sát mọi cộng tướng của
chúng cũng như vậy, để đối trị bệnh chấp điên đảo cho là thường hằng vĩnh
viễn.
4. Pháp niệm trụ (Skrt:
dharma-smṛty-upasthāna; Pāli: dhammesu dhammānupassi viharati ātāpi
sampajāno satima.) Còn gọi là pháp niệm xứ, tức là quán sát tất cả các
pháp đều nương vào nhân duyên mà sinh khởi, nên sự hiện hữu của chúng là
không có tự tánh, và tất cả những cộng tướng khác cũng được quán sát như
vậy, để đối trị bệnh chấp ngã điên đảo.
Theo Trung A-hàm 24, (Đ.1,
tr.582) thuộc Hán tạng thì gọi là kinh Niệm xứ chứ không gọi là Niệm trụ.
Bốn niệm xứ là tên gọi khác của niệm trụ. Bốn niệm xứ là quán thân như
thân, quán thọ như thọ, quán tâm như tâm và quán pháp như pháp.
Theo đức Đạo sư dạy thì:
Quán thân như thân
là Tỳ-kheo khi nào đi thì biết mình đang đi, khi nào đứng thì biết mình
đang đứng, khi nào ngồi thì biết mình đang ngồi, khi nào nằm thì biết mình
đang nằm, khi nào ngủ thì biết mình đang ngủ, khi nào thức thì biết mình
đang thức, khi nào ngủ say thì biết mình đang ngủ say.
Biết rõ chính xác khi vào
khi ra, khi co khi duỗi, khi cúi khi ngẩng, oai nghi chững chạc, khéo
khoác tăng-già-lê và cầm bát; đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói năng, im
lặng đều biết rõ chính xác.
Khi sanh niệm ác bất thiện,
liền niệm điều thiện để đối trị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Răng ngậm
khít lại, lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn trừ, tiêu
diệt, tĩnh chỉ.
Niệm hơi thở vào thì biết
niệm hơi thở vào, niệm hơi thở ra thì biết niệm hơi thở ra. Thở vào dài
thì biết thở vào dài, thở ra dài thì biết thở ra dài. Thở vào ngắn thì
biết thở vào ngắn, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn. Học toàn thân thở
vào, học toàn thân thở ra. Học thân hành tĩnh chỉ thở vào, học khẩu hành
tĩnh chỉ thở ra.
Hỷ lạc sinh do ly dục, thấm
nhuần thân thể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể không đâu không có.
Như người hầu tắm, bỏ bột tắm đầy chậu, nước hòa thành bọt, nước thấm vào
thân, phổ biến sung mãn, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc
do ly dục nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể, hỷ
lạc sanh nhờ ly dục không đâu không có.
Tỳ-kheo có hỷ lạc nhờ định sanh, nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp;
biến trong thân thể, hỷ lạc nhờ định sanh không đâu không có. Cũng như
suối trên núi, trong sạch không nhơ, nước từ bốn phương chảy đến đổ vào tự
nhiên, từ đáy suối, nước tự vọt lên, chảy tràn ra ngoài, thấm ướt cả núi,
phổ biến đầy khắp, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc nhờ
định sanh thấm nhuần thân thể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể, hỷ
lạc do định không đâu không có.
Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ
nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể, lạc sanh do
ly hỷ không đâu không có. Như các thứ sen xanh, hồng, đỏ, trắng sanh ra từ
nước, lớn lên trong nước, ở dưới đáy nước, rễ, hoa, lá, cọng thảy đều thấm
nhuần, phổ biến đầy khắp, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có lạc do
ly hỷ nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp, biến trong thân thể, lạc do
ly hỷ không đâu không có.
Tỳ-kheo ở trong thân này
được biến mãn với tâm thanh tịnh, ý giải, thành tựu an trụ; ở trong thân
này tâm thanh tịnh không đâu không biến khắp. Như có một người trùm một
cái áo rộng bảy hoặc tám khuỷu tay, từ đầu đến chân, thì khắp cả thân đều
được phủ kín. Cũng vậy, Tỳ-kheo ở trong thân này với tâm thanh tịnh, không
đâu không có.
Tỳ-kheo niệm quang minh
tưởng, khéo thọ trì, nhớ rõ điều niệm; như phía trước, phía sau cũng vậy;
ngày cũng như đêm, đêm cũng như ngày; dưới cũng như trên, trên cũng như
dưới. Như vậy tâm không điên đảo, tâm không bị ràng buộc, tâm tự sáng tỏ,
không khi nào còn bị bóng đen che lấp.
Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng
tu quán, khéo nhớ điều niệm, như người ngồi quán sát kẻ nằm, rồi nằm quán
sát kẻ ngồi. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,
cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo tùy theo những chỗ
trong thân, tùy theo tính chất tốt xấu từ đầu đến chân quán thấy thảy đều
đầy dẫy bất tịnh: “Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da
dày, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non,
lá lách, dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước
miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nước tiểu”. Như một cái bồn chứa đủ
hạt giống, ai có mắt sáng thì thấy rõ ràng: “Đây là hạt lúa, hạt gạo,
kia là hạt cải, cỏ, rau”. Cũng vậy, Tỳ-kheo tùy theo những chỗ trong
thân, tùy theo tính chất tốt xấu, từ đầu đến chân, quán thấy thảy đều đầy
dẫy bất tịnh: “Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da dày,
da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non, lá
lách, dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước
miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nước tiểu”. Tỳ-kheo khéo giữ tướng
trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo quán sát giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta có địa
giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới’. Như gã
đồ tể mổ bò, lột hết bộ da, trải lên mặt đất, phân thành sáu đoạn. Cũng
vậy, Tỳ-kheo quán các giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta có
địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới’.
Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như
vậy.
Tỳ-kheo quán xác chết, mới chết từ một hai ngày đến sáu bảy ngày, đang bị
quạ diều bươi mổ, sài lang cấu xé, hoặc đã hỏa thiêu, hay đã được chôn
lấp, đang bị rửa nát hư hoại. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế,
đều có những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ
tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo như từng thấy trong
nghĩa địa, hài cốt xám xanh, rữa nát gần hết, xương vãi khắp đất. Quán rồi
tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao
tránh khỏi,’ Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,
cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo như từng thấy trong
nghĩa địa, da, thịt, máu, huyết tiêu cả, chỉ còn xương dính gân. Quán rồi
tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều có trường hợp này, không sao tránh
khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng
giống như vậy.
Tỳ-kheo như từng trong nghĩa
địa thấy xương rời từng đốt, rải rác khắp nơi, xương chân, xương đùi,
xương đầu gối, xương bắp vế, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ,
mỗi thứ một nơi. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều có những
trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu
quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo như từng thấy trong
nghĩa địa, xương trắng như vỏ ốc, xanh như lông chim bồ câu, đỏ như màu
máu, mục nát bể vụn. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta rồi cũng thế, đều có
những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng
trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy. Tỳ-kheo như vậy,
những phương pháp quán trên là quán nội thân như thân; quán ngoại thân như
thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là
Tỳ-kheo quán thân như thân.
Quán thọ như thọ
là Tỳ-kheo khi thọ nhận cảm
giác lạc liền biết đang thọ nhận cảm giác lạc, khi thọ nhận cảm giác khổ
liền biết đang thọ nhận cảm giác khổ, khi thọ nhận cảm giác không lạc
không khổ liền biết đang thọ nhận cảm giác không lạc không khổ. Khi thân
thọ nhận cảm giác lạc, thân thọ nhận cảm giác khổ, thân thọ nhận cảm giác
không lạc không khổ; khi tâm thọ nhận cảm giác lạc, tâm thọ nhận cảm giác
khổ, tâm thọ nhận cảm giác không lạc không khổ; cảm giác lạc khi ăn, cảm
giác khổ khi ăn, cảm giác không lạc không khổ khi ăn; cảm giác lạc khi
không ăn, cảm giác khổ khi không ăn, cảm giác không lạc không khổ khi
không ăn; cảm giác lạc khi có dục, cảm giác khổ khi có dục, cảm giác không
khổ không lạc khi có dục; cảm giác lạc khi không có dục, cảm giác khổ khi
không có dục, cảm giác không lạc không khổ khi không có dục. Tỳ-kheo như
vậy, quán nội thọ như thọ, quán ngoại thọ như thọ, lập niệm tại thọ, có
tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thọ như thọ.
Quán tâm như tâm
là Tỳ-kheo có tâm tham dục
thì biết đúng như thật có tâm tham dục, có tâm không dục thì biết đúng như
thật là có tâm không dục. Khi có sân hay không sân, có si hay không si, có
ô uế hay không ô uế, có hợp hay có tan, có thấp hay có cao, có nhỏ hay có
lớn; tụ hay không tụ, định hay không định, giải thoát hay không giải
thoát. Cũng như vậy, có tâm giải thoát thì biết đúng như thật có tâm giải
thoát; có tâm không giải thoát thì biết đúng như thật là có tâm không giải
thoát. Tỳ-kheo như vậy, quán nội tâm như tâm, lập niệm tại tâm, có tri, có
kiến, có minh, có đạt. Như vậy là Tỳ-kheo quán tâm như tâm.
Quán pháp như pháp
là khi con mắt duyên
sắc, sinh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết đúng như
thật là bên trong có kết; bên trong thật không có kết thì biết đúng như
thật là bên trong không có kết. Nội kết chưa sinh, bây giờ sinh, biết đúng
như thật. Nội kết đã sinh và được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúng
như thật. Với tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng giống như vậy. Khi ý duyên
pháp, sinh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết đúng như
thật là bên trong có kết, bên trong không có kết thì biết đúng như thật là
bên trong không có kết, nội kết chưa sinh bây giờ sinh; biết đúng như thật
nội kết đã sinh và đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúng như
thật.
Bên trong thật có ái dục thì
biết đúng như thật là đang có ái dục, bên trong thật không có ái dục thì
biết đúng như thật là không có ái dục. Ái dục chưa sinh nay sinh, biết
đúng như thật. Ái dục đã sinh và đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa,
biết đúng như thật. Với sân nhuế, thùy miên, điệu hối và nghi cũng giống
như vậy. Bên trong thật có nghi, biết đúng như thật là đang có nghi; bên
trong thật không có nghi, biết đúng như thật là không có nghi. Nghi chưa
sinh, nay đã sinh, biết đúng như thật. Nghi đã sinh và đã được đoạn trừ,
không sinh lại nữa, biết đúng như thật.
Bên trong thật có niệm giác
chi thì biết đúng như thật là có niệm giác chi; bên trong thật không có
niệm giác chi thì biết đúng như thật là không có niệm giác chi. Niệm giác
chi chưa sinh nay sinh, biết đúng như thật. Niệm giác chi đã sinh thì ghi
nhớ không quên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng tăng trưởng, biết
đúng như thật. Với trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả cũng
giống như vậy. Bên trong thật có xả giác chi thì biết đúng như thật là
đang có xả giác chi, bên trong thật không có xả giác chi thì biết đúng như
thật là không có xả giác chi. Xả giác chi chưa sinh nay sinh, biết đúng
như thật, xả giác chi đã sinh thì ghi nhớ không quên, không suy thoái, tu
tập càng lúc càng tăng trưởng, biết đúng như thật. Tỳ-kheo như vậy quán
nội pháp đúng như pháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp,
có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán pháp như
pháp, nghĩa là quán Bảy giác chi.
Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào
trụ Bốn niệm xứ thì lâu nhất trong vòng bảy năm, nhất định sẽ chứng được
một trong hai quả: hoặc chứng Cứu cánh trí ngay trong hiện tại, hoặc chứng
A-na-hàm nếu còn hữu dư. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào luôn luôn trong từng
khoảnh khắc lập tâm chánh trú nơi Bốn niệm xứ thì nếu buổi sáng thực hành
như vậy, nhất định buổi tối liền được thăng tiến. Nếu buổi tối thực hành
như vậy, nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tiến.
Trên là phương pháp tu tập
Bốn niệm trụ (xứ) quán được chúng tôi tóm lược đầy đủ từ trong kinh Niệm
xứ văn hệ Hán tạng thuộc Thinh văn thừa trong Trung A-hàm mà đức Đạo sư đã
dạy cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni khi Ngài còn tại thế. Ở đây tuy đức Đạo sư
chỉ dạy cho hàng xuất gia, nhưng hàng tại gia chúng ta cũng có thể tu tập
phương pháp này, nếu mọi người nỗ lực thực hành trong miên mật thì sự
thành công đối với chúng ta cũng không phải là chuyện khó. Vì đây, cũng
chỉ là một phương pháp thiền định của hiện quán tự thân mỗi chúng ta đối
với cuộc sống mà thôi.
Ngoài ra, nếu chúng ta muốn
tìm hiểu rộng sâu hơn nữa thì chúng ta cũng có thể tìm hiểu và y cứ vào
Câu-xá luận quyển 23 thì pháp tu tập tứ niệm trụ lệ thuộc vào tự tướng
(tướng riêng) và cọng tướng (tướng chung), y vào thứ tự bốn thứ nơi thân,
thọ, tâm và pháp mà quán chiếu; nhưng trong lãnh vực này mỗi phạm trù có
tự tánh riêng của chúng. Như tự tánh của thân là bốn đại chủng sắc đã tạo
ra nó, còn cọng tướng là chỉ cho tánh cộng thông của các pháp, tức là tánh
của tất cả các pháp đều vô thường, khổ, không, vô ngã.
Về thể của tứ niệm trụ thì
mỗi phạm trù nó có ba loại, gọi là ba niệm trụ:
a/ Tự tánh niệm trụ, còn gọi
là tự tánh niệm xứ: Là dùng ba tuệ văn, tư, tu làm thể thường quán sát
thân, thọ, tâm và pháp.
b/ Tương tạp niệm trụ, còn
gọi là cộng niệm xứ: Dùng tâm, tâm sở cùng với tuệ đồng lúc tồn tại làm
thể, ở đây chỉ cho mọi tác dụng của tinh thần.
c/ Sở duyên niệm trụ, còn
gọi là duyên niệm xứ: Lấy tuệ làm đối tượng của sở duyên, tức chúng ta lấy
bốn phạm trù thân, thọ, tâm và pháp làm thể.
Quán pháp của tứ niệm trụ,
chúng ta có thể phân ra làm hai loại biệt tướng và tổng tướng:
1/ Biệt tướng niệm trụ: là
chỉ cho mỗi quán pháp riêng của tứ niệm trụ.
2/ Tổng tướng niệm trụ: là
chỉ cho quán pháp chung cho tứ niệm trụ.
Hơn nữa trong tứ niệm trụ
thì ba phạm trù trước thuộc về tạp duyên, còn pháp niệm trụ thứ tư thì
chung cho tạp duyên cùng không tạp duyên. Nên chỉ có quán pháp niệm trụ
mới gọi là bất tạp duyên; đối với thân, thọ, tâm và pháp thì hoặc là hợp
duyên quán hai phạm trù, hay ba phạm trù, hoặc hợp duyên quán chung cả bốn
phạm trù thì gọi là tạp duyên. Ở đây, hành giả nếu tu tập tạp duyên pháp
niệm trụ thì có thể vào được vị của tứ thiện căn, tức là hành giả đã hoàn
thành phàm vị của mình để bắt đầu chuẩn bị đi vào Thánh vị của kiến đạo.
Và cũng theo Đại thừa
A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận quyển 10 thì, Tứ niệm trụ này chúng ta có thể
theo thứ tự phối hợp với Tứ thánh đế: Tức là thân niệm trụ kết hợp với khổ
thánh đế, thọ niệm trụ có thể kết hợp với tập thánh đế, tâm niệm trụ có
thể kết hợp với diệt thánh đế và pháp niệm trụ có thể kết hợp với đạo
thánh đế để quán sát trong việc thanh tu ba nghiệp thân khẩu ý trừ khổ đạt
vui trong hiện quán.
Tóm lại, pháp quán Tứ niệm
trụ, dù là Tiểu thừa hay Đại thừa trên phương pháp, tức chỉ cho sự tướng
tuy có cạn sâu, có nhanh có chậm, nhưng trên bình diện thể cứu cánh thì
cũng như nhau. Hành giả sẽ đạt được cứu cánh nếu những nỗ lực thực hành tu
tập của chúng ta luôn đặt trên chiều miên mật trong hiện quán thì chính
như đức Đạo sư đã dạy: “Luôn luôn trong từng khoảnh khắc lập tâm chánh
trú nơi Bốn niệm xứ thì nếu buổi sáng thực hành như vậy, nhất định buổi
tối liền được thăng tiến. Nếu buổi tối thực hành như vậy, nhất định sáng
hôm sau sẽ được thăng tiến.” Ở đây, đức Đạo sư muốn nói đến sự thăng
tiến đạt đến kết quả của cứu cánh Niết-bàn an vui giải thoát trong hiện
quán.
Thần thông và
Nghiệp lực Tôn giả Mục-kiền-liên
Thích Trí
Lộc
(Tiếp theo)
B. Nghiệp lực qua cuộc đời Tôn giả Mục-kiền-liên:
Nếu thần thông của Tôn giả Mục-kiền-liên là cánh diều no
gió tung bay trên trời cao để hoằng hóa độ sanh một cách tự tại, thì những
nghiệp bất thiện mà Tôn giả đã tạo trong tiền kiếp lại như tảng đá lớn níu
dây diều trở lại, để rồi cuối cùng khi trời ngừng gió thì cánh diều lại
rơi. Yếu tố này trong các kinh sách Phật giáo gọi là: “thần thông không
thắng được nghiệp báo”. Cuộc đời của Tôn giả Mục-kiền-liên từ trong vô
thỉ kiếp luôn ẩn chứa những nghiệp cực thiện và cực ác, để đến kiếp sau
cùng mọi hậu quả tốt xấu đều hiện hành. Điều này thể hiện rất rõ nét qua
hai yếu tố thần thông và nghiệp lực để lại bao suy tư, lo âu nhưng chứa
dựng những điều kính phục sâu xa trong hàng triệu trái tim của người con
Phật đến bây giờ và mãi ngàn sau. Trong vô lượng kiếp, Ngài đã từng cùng
với Tôn giả Xá-lợi-phất quì dưới chân đức Phật Anomadassi để cúng dường và
dâng lời phát nguyện trở thành Đại đệ tử của đức Phật Thích-ca, tạo một
nghiệp cực thiện mà muôn triệu người khác không dễ gì làm được. Trong vô
biên kiếp trước, Ngài đã từng cúng dường và phát nguyện cầu chứng thần
thông trước sự chứng minh của một vị Bích-chi Phật, để rồi đến đời sau
cùng, Ngài chứng đắc đệ nhất thần thông giữa muôn ngàn đệ tử của đức Phật
v.v… Tích tụ thiện nghiệp trong nhiều đời nhiều kiếp như thế, đến đời sau
cùng Ngài xuất gia tu tập, chứng được Thánh quả, siêu xuất luân hồi.
Bên cạnh những thiện nghiệp mà Ngài đã làm trong vô lượng
kiếp trước, thì cũng có những nghiệp bất thiện mà Ngài đã tạo trong những
kiếp lâu xa. Trong những đời quá khứ lâu xa ấy, Ngài đã từng nghe theo lời
người vợ độc ác, đánh đập, bất hiếu với cha mẹ; đã từng làm nghề chài lưới
để sát hại hàng triệu sinh linh… từ đó đã tạo nên những nghiệp cực ác, cho
đến kiếp sau cùng, dù đã chứng đắc quả vị Vô sanh cũng vẫn phải trả những
món nợ xa xưa ấy. Những điều trên cho ta thấy rằng, năng lực của nghiệp
rất công bình, thể hiện rất rõ nét và xuyên suốt cuộc đời Ngài. Thần thông
là yếu tố siêu phàm nhưng không thể chuyển đổi được nghiệp lực mà mình đã
tạo, điều đó thể hiện rất rõ nét qua những đặc điểm trong đời Ngài, đặc
biệt là ba yếu tố sau: thần thông đối với dòng họ Thích, thần thông với
mẫu thân và thần thông với nghiệp của Ngài.
1. Thần thông với dòng họ Thích:
“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.”
Hai câu thơ trong tác phẩm truyện Kiều bất hủ của Nguyễn
Du đã thuyết minh được phần nào về giáo lý Nghiệp của đạo Phật. Nghiệp là
hành động của thân, khẩu và ý có tác ý . Trong suốt dòng sanh tử vô tận,
con người đã tạo rất nhiều nghiệp thiện và ác; tất cả những nghiệp thiện,
ác ấy dẫn đến sự khác biệt của muôn người với nhau. Nghiệp không phải là
cái gì bất biến, mà nó luôn biến đổi theo thời gian và không gian, tùy
theo những hành động của con người, của chúng sanh và không bao giờ mất đi
được; đã tạo nghiệp thì hiển nhiên có quả báo.
Thuở Phật còn tại thế, vua Tỳ-lưu-ly thuộc nước
Kiều-tất-la đã đem quân sát hại dòng họ Thích để rửa mối hận trong thuở
thiếu thời. Mối hận ấy bắt nguồn từ sự thiếu chân thật của vua Ma-ha-nam,
chủ nhân thành Ca-tỳ-la-vệ, thuộc dòng họ Thích. Thuở ấy, vua nước
Kiều-tất-la là Ba-tư-nặc, là vua một nước giàu có, binh hùng, tướng mạnh.
Ông biết thành Ca-tỳ-la-vệ có nhiều mỹ nữ nên muốn kết thân với nước này.
Vua Ma-ha-nam vì thương công chúa xinh đẹp con của mình nên không muốn gả
cho vua Ba-tư-nặc, bèn chọn một nàng tỳ nữ thật xinh đẹp tên là Mạt Lợi
cho cải trang thành công chúa để gả cho vua nước này.
Tỳ nữ Mạt Lợi vừa xinh đẹp, khôn ngoan, lại phúc hậu cũng
rất xứng đáng với ngôi vị hoàng hậu nước Kiều-tất-la. Ai cũng khen ngợi
nàng nên vì thế không nghi ngờ gì về thân phận của nàng. Năm tháng dần
trôi, hoàng hậu Mạt Lợi đã sanh cho vua Ba-tư-nặc hai hoàng nam tuấn tú đó
là thái tử Kỳ-đà và hoàng tử Lưu Ly. Lúc bấy giờ, hoàng tử Lưu Ly còn nhỏ
và được phụ hoàng gởi sang vương thành Ca-tỳ-la-vệ để học bắn cung, vì kỷ
thuật bắn cung của dân Ca-tỳ-la-vệ rất điêu luyện. Trong lúc đang vui
chơi, hoàng tử Lưu Ly thấy một ngôi nhà tráng lệ được trang trí rất đẹp,
giữa nhà có đặt một bảo tòa sư tử rất đẹp và cao quí. Thấy vậy, hoàng tử
liền leo lên bảo tòa ngồi chơi. Đúng lúc ấy, có một đoàn người thuộc dòng
họ Thích đi qua, nổi giận mắng rằng:
“Mi là con của một đứa nữ tỳ hạ tiện, làm sao dám bước
chân vào tòa giảng đường linh thiêng của ta, và làm ô uế bảo tòa sư tử
này? Mi có biết là bọn ta xây ngôi giảng đường này để tiếp rước bậc Đại
Thánh đức Phật Thích-ca về quê không? Làm sao một đứa ti tiện như mi lại
có thể đặt chân đến một chỗ thanh tịnh thế này, có mau cút đi cho ta
không?”
Hoàng tử Lưu Ly tuy còn nhỏ nhưng đã vốn có lòng sân giận
và độc ác nên vô cùng tức giận và nói với Khổ Mẫu (tên người bạn thân, con
của tể tướng nước Kiều-tất-la đi cùng với hoàng tử Lưu Ly) rằng:
“Khổ Mẫu! Chuyện hôm nay huynh hãy nhớ giùm tôi, ngày nào
tôi lên ngôi vua thì việc thứ nhất là báo thù rửa cái nhục hôm nay.”
Nói xong liền cùng với tùy tùng trở về nước, từ đó cho đến
lúc trưởng thành, hoàng tử Lưu Ly luôn ôm mối hận trong lòng. Với bản tánh
độc ác và tham tàn, Lưu Ly đã tìm cách giết anh mình là thái tử Kỳ-đà và
vua cha để lên ngôi vua. Ngay sau khi lên ngôi vua, việc làm gian ác tiếp
theo của Lưu Ly là đích thân thống lãnh quân đội hùng mạnh của nước mình
đi tàn sát vương thành Ca-tỳ-la-vệ để tiêu diệt dòng họ Thích.
Với năng lực thần thông siêu việt của mình, tôn giả
Mục-kiền-liên biết được thảm hại diệt vong của dòng họ Thích, Ngài đã sử
dụng thần thông đem năm trăm người dòng họ Thích bỏ vào bình bát của mình,
cứu họ thoát khỏi thảm họa tàn sát của Lưu Ly, nhưng sau khi mở bình bát
ra thì hỡi ôi, chỉ toàn là máu!
Đức Phật dạy tôn giả Mục-kiền-liên rằng, thần thông không
thể thắng được nghiệp lực mà con người đã tạo ra. Và đức Phật đã kể về
tiền kiếp của dòng họ Thích: Vào thời quá khứ, dân chúng thành Ca-tỳ-la-vệ
là cư dân sinh sống ở một ngôi làng lớn, gặp kì đại hạn kéo dài, cỏ cây
không sống được, lương thực của làng cũng không còn gì để ăn. Trong làng
có một cái đầm rất lớn, trong đầm có một con cá khổng lồ tên là Ma-kiệt,
vì đại hạn nên nước đầm này cũng khô, cá Ma-kiệt ấy cũng chịu chung số
phận sống với chút ít nước còn lại dưới đáy bụng của mình. Cư dân trong
làng vì không còn gì ăn nên muốn giết con cá Ma-kiệt này để ăn. Sau một
hồi bàn cãi, họ quyết định dùng dao, rựa và rìu để bửa từng mảng thịt của
cá Ma-kiệt mà không giết nó, để ăn được lâu dài. Cá Ma-kiệt đau đớn buốt
xương, van nài dân làng hãy giết nó đi, đừng hành hạ nó đau đớn kinh khiếp
từng ngày như vậy, nhưng cư dân vẫn không chịu nghe lời van lơn của cá
Ma-kiệt. Với tâm căm thù kinh khiếp, cá Ma-kiệt đã phát lời thề rằng sẽ
giết tất cả dân làng này ở đời sau để rửa hận. Đức Phật dạy rằng, cá
Ma-kiệt chính là tiền thân của vua Tỳ-lưu-ly.
Với tâm độc ác của vua Lưu Ly như thế, đức Phật đã cho mọi
người biết rằng, trong vòng bảy ngày sau ông sẽ bị thảm họa chết cháy.
Nghe lời tiên đoán của Phật, vua Lưu Ly rất kinh khiếp, vội cùng với quần
thần lên đại thuyền trốn ra giữa biển khơi để lánh nạn. Bảy ngày trôi qua,
đến đêm thứ bảy, một cung nữ của vua đã vô tình làm đổ ngọn đèn, gặp gió
lớn ngọn lửa bốc cao, thiêu sống toàn bộ vua quan và thể nữ. Đức Phật dạy
rằng: “Lấy oán báo oán, oán thêm chồng chất; lấy ân báo oán, oán ấy mới
tiêu”.
2. Thần thông với mẫu thân
Đông phương có những truyền thống rất cao đẹp mà các nước
khác ở Tây phương không có được. Một trong những truyền thống cao đẹp ấy
là hạnh hiếu. Hạnh hiếu của tôn giả Mục-kiền-liên là một trong những tấm
gương sáng ngời nhất. Hạnh hiếu ấy có liên quan đến hai yếu tố thần thông
và nghiệp lực.
Sau khi giã biệt cuộc sống hồng trần để bước chân vào con
đường xuất thế, Tôn giả Mục-kiền-liên đã nỗ lực tu tập chỉ trong một tuần
đã chứng được quả vị Vô sanh, chứng được năng lực thần thông siêu việt
nhất. Lúc ấy vì lòng hiếu thảo cao cả, Ngài đã dùng thiên nhãn siêu nhiên
quan sát tìm thân mẫu mình đang ở cảnh giới nào hầu mong được đáp đền công
đức sanh thành trong muôn một.
Nhưng với thần lực thiên nhãn siêu nhiên ấy, Tôn giả
Mục-kiền-liên cũng không tìm thấy mẹ mình. Bởi mẹ Ngài, là bà Thanh Đề lúc
sanh tiền đã tạo quá nhiều nghiệp ác: tội không tin Tam bảo, hủy báng
Phật, phá hoại Chánh pháp, dối gạt, đánh đập chư Tăng, lại đi phụng thờ
ngoại đạo, giết hại sinh linh để tế thần… Những tội nghiệp cực trọng ấy
chính là nguyên nhân để bà Thanh Đề chịu khổ đau hành hình nơi địa ngục
A-tỳ kinh khiếp nhất. Với tội nghiệp tham lam, bỏn sẻn... bà lại bị đọa
đày trong loài ngạ quỉ không được uống ăn. Trường hợp của bà Thanh Đề vừa
bị đọa vào địa ngục chịu đủ mọi cực hình đau đớn nhất, lại chịu khổ đói
khát của loài ngạ quỉ, đây quả là trường hợp đáng thương, đau xót nhất.
Với năng lực thần thông siêu việt, Tôn giả đã quan sát mọi cảnh giới cũng
không tìm thấy mẹ mình. Ngài đã thưa cùng đức Phật, đức Phật chỉ nơi thọ
khổ báo của mẹ Ngài và ban cho Ngài cây tích trượng để mở cửa ngục
Cao-tường thăm viếng mẹ. Nhìn thấy khổ cảnh đọa đày kinh khiếp của mẹ, tôn
giả dâng lên mẹ một bát cơm, nhưng hỡi ôi, cơm bốc cháy thành lửa dữ:
“Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt
Sợ chúng ma cướp giựt của bà.
Cơm chưa đưa đến miệng đà
Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu.”
Thần thông đệ nhất cũng đành bó tay không giúp gì được dù
đó là người mẹ thân yêu nhất của mình. Rời A-tỳ ngục, Tôn giả
Mục-kiền-liên cầu xin đức Phật cứu giúp. Vâng lời đức Phật, Ngài đã thành
tâm cung thỉnh đức Phật và chư Thánh Tăng tịnh tu trong ba tháng hạ, thiết
lễ trai Tăng nhất tâm chú nguyện, thị hiện năng lực siêu phàm, phóng đại
hào quang tiếp độ mẫu thân Ngài và vô số chúng sanh trong địa ngục thác
sanh về cõi trời Đao Lợi hưởng phước thanh nhàn.
Ở đây, chúng ta nhận thấy, thần thông và sự chú nguyện của
đức Phật và chư Thánh Tăng là một đại duyên lành để trợ lực cho bà Thanh
Đề phát khởi tín tâm, ăn năn sám hối những tội nghiệp của mình. Bà Thanh
Đề đã hoàn toàn hối lỗi qua chén cơm hóa lửa, qua sự tra tấn cực hình, qua
lời thuyết pháp khuyên răn chí tình của Tôn giả Mục-kiền-liên… Tất cả
những điều ấy cộng với năng lực chú nguyện của đức Phật, của chư Thánh
Tăng… đấy là đại thiện duyên để bà Thanh Đề thành tâm sám hối tất cả tội
nghiệp sâu xa của mình, khiến cho thân tâm thanh tịnh, những thiện nghiệp
trong tiền kiếp mót từng hạt gạo cúng chùa đã trở về… Đây mới là nguyên
nhân chính hợp cùng với đại thiện duyên trên để đưa bà Thanh Đề từ chốn
tối tăm, đọa đày, đau khổ, đói khát trong khổ cảnh địa ngục và ngạ quỉ,
thác sanh về cõi trời Đao lợi hưởng phước an lành.
3.Thần thông và nghiệp lực của Ngài
Thần thông không thể hoán cải được nghiệp của người khác
và cũng không thể vượt qua được nghiệp lực của chính bản thân mình. Chính
vì thế mà đức Phật không khuyến khích các đệ tử mình tu tập cầu chứng thần
thông. Bởi vì khi có thần thông mà tâm chưa được thanh tịnh thì sẽ phát
sanh lòng tham lam, tìm cầu nơi thế quyền, danh vọng… đó chính là rơi vào
con đường tu tập của hàng ngoại đạo hay ma Ba tuần…
Thời Phật còn tại thế, có rất nhiều ngoại đạo tu tập cầu
chứng thần thông. Họ dùng thần thông để lừa bịp thiên hạ, lôi kéo tín đồ,
tìm cầu danh vọng và lợi dưỡng. Từ ngày tôn giả Mục-kiền-liên được đức
Phật cho sử dụng thần thông để hóa độ hàng ngoại đạo, phần đông họ đã quay
về với Chánh pháp, nhưng vẫn còn một số vì nghiệp lực sâu xa, họ không
những không quay về Chánh pháp mà ngược lại họ nuôi lòng căm thù tìm cơ
hội để giết hại Tôn giả: “Một hôm trên đường hoằng dương Chánh pháp,
Mục-kiền-liên đi qua núi Ý-tư-xá-lê. Bọn lõa hình ngoại đạo thám thính
biết rõ lộ trình, chúng tụ tập nhau trên núi âm mưu phục kích. Khi Tôn giả
vừa tới nơi mai phục, chúng từ trên núi xô đá xuống. Đá rơi ầm ầm như sấm
rền, thác đổ, che lấp cả lối đi. Nhục thân tứ đại của Tôn giả bị đá đập
nát, máu tuôn đầm đìa. Thật là rùng rợn! Thật là thảm thương! Vậy mà bọn
ngoại đạo lại lấy làm đắc ý, toại nguyện vì đã trả được mối thâm thù.
Chúng không làm gì được Phật thì chúng sát hại đệ tử thượng thủ của Phật
để làm cho Phật pháp mất uy danh. Tin tôn giả Mục-kiền-liên bị ám hại
truyền đến tai đức Thế Tôn và vua A-xà-thế, nhà vua nổi giận hạ lệnh bắt
hết cả ngàn hung thủ lõa thể để ném vào hầm lửa, thần thức chúng sa đọa
vào địa ngục.”
Đọc qua lịch sử của tôn giả Mục-kiền-liên, gặp điểm này,
vẫn không ít người thắc mắc: Tại sao Tôn giả có đệ nhất thần thông lại để
bọn ngoại đạo ám hại dễ dàng như vậy? Đối với các bậc chân tu thì chuyện
sống chết tự tại như thay áo: cái áo này đã dơ, đã cũ thì nên thay cái áo
mới, sạch hơn, đẹp hơn. Thân này đã già cõi, bệnh tật thì nên từ bỏ không
cần lưu luyến. Hơn nữa những nghiệp bất thiện mà Tôn giả từng tạo trong
quá khứ như giết hại vô số sinh vật trong lúc làm nghề chài lưới, nghe lời
người vợ độc ác đánh đập cha mẹ, đem cha mẹ bỏ vào núi rừng… Những nghiệp
trong quá khứ như thế đã đến lúc trả quả nên Ngài không sử dụng thần thông
để trốn chạy, mà an nhiên nhận lãnh, đó mới chính là tinh thần vô úy, là
chân lý của nghiệp. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo! Ta không cần báo
trước, Mục-kiền-liên đã biết trước rồi. Tôn giả có thể dùng thần thông để
bảo vệ mình, nhưng đó không phải là biện pháp cứu cánh, vì nghiệp vẫn cứ
đeo mang. Tôn giả biết trước mà vẫn an nhiên tiến đến cái chết vì Ngài
muốn trả một lần cho dứt nghiệp hầu an nhàn thành Phật đạo ở mai sau. Cái
cao quí nhất là Mục-kiền-liên đã hy sinh tuẫn tử vì đạo pháp, nêu gương
sáng cho mọi người, mọi thời. Các ông hãy nêu gương ấy của Tôn giả.”
Nghiệp là một hành động tất yếu của chúng sanh, đã tạo
nghiệp ắt phải trả quả, cho dù đó là một Bậc đệ nhất thần thông như tôn
giả Mục-kiền-liên cũng không trốn tránh nghiệp xấu của mình. Ý thức được
bài pháp sống động qua thần thông và nghiệp lực của tôn giả Mục-kiền-liên,
chúng ta hãy cẩn trọng tỉnh giác trong lúc tạo nghiệp của mình, lúc nào
cũng cố gắng tạo những nghiệp thiện, nghiệp tốt để tự thăng hoa chính mình
ngay trong hiện tại cũng như vô lượng kiếp về sau.
(hết)
THƠ
MINH ĐỨC -
TRIỀU TÂM ẢNH
Niềm Vui Siêu Thoát
Vén
trăng, Phật xuống trần gian
Sắc
thân tinh đẩu chảy tràn lưu ly
Sen
vàng nở bảy bước đi
Cốt
cách vi diệu, dung nghi đại hiền
Hoàng thành Xá-vệ đứng lên
Mừng vui nhảy múa dáng mềm tiên nga
Hương thơm từ đóa sàlà
Thơm thơm đại nguyện, chan hòa nước mây
Gió
lành phơ phất, ô hay!
Đất
trời mát mẻ, và ngày và đêm
Người ơi! Giây phút linh thiêng
Núi
cao núi xuống, thương miền tà huân
Phật về cây lá thanh tân
Niềm đau hạt muối vỡ gần vỡ xa
Biển dâu lận đận không nhà
Chợt nghe siêu thoát câu ca thượng đầu!
Am
Mây Tía
Mùa
Phật Đản PL.2549
NGÀN
THƯƠNG
Đêm Cao Nguyên Bình An
Đêm cao nguyên
Lấp
lánh ánh sao
Hướng về Đản sanh
Cây
rừng tỏa mùi hương quế
Chim bay về từ đỉnh núi xa lơ.
Đêm cao nguyên
Hiền thánh tự bao giờ
Mà
suối hát
Chim ngân lời diễn cảm
Nghe hồn ấm cam lồ pháp vũ
Nguồn tâm linh vượt bể ái hà.
Đêm cao nguyên
Tâm
cảm thiết tha
Vẫn
thấy gần Ngài
Cho
những ai ngưỡng vọng
Chỉ
cần hướng tâm
Là
tới bến bình an…
NINH GIANG
THU CÚC
Mưa lành
Từng giọt mưa lành tưới thế gian
Đản sanh nhè nhẹ gót sen vàng
Bừng lên đuốc tuệ soi nhân loại
Tỏa khắp ta bà ánh đạo quang
Mẫu hậu Ma gia tròn ước nguyện
Quân vương Tịnh Phạn vẹn đôi đàng
Chuyển luân đời đạo lòng tâm niệm
Ruộng phước cấy cày buổi khẩn hoang.
Kính ngưỡng
Người đi những bước chân vào huyền thoại
Tự
an nhiên đại địa ngát hương sen
Nhạc trời tấu diệu hòa ca an lạc
Tháng tư trong vườn thiêng tỏa ánh quang
Tự
thể tánh Ngài hiện thân miên viễn
Thương chúng sanh vào cõi thế trầm kha
Từ
vô thủy thân vô biên thường trú
Mưa
pháp âm thấm nhuận cả sơn hà
Bi
vô lượng chuyển muôn ngàn phương tiện
Cũng sanh, già, hoại, diệt có hề chi
Đời
cứ thấy đến đi theo ngày tháng
Như
Lai thành trong một nghĩa nhất như.
VĨNH THI
THÔNG NHÃ
Với Bóng Tà dương
Thưa cùng với bóng tà dương
Tôi người lạc bước giữa đường nhân gian
Tạ ơn một kiếp trầm hoàn
Cho tôi thấy được muôn vàn khổ vui
Niềm chung xin gởi lại người
Niềm riêng chừ thả mây chiều bay đi
Trăm năm nắng chợt mưa thì
Lối về hư ảo còn gì cho nhau
Ngồi nghe biển hẹn ngàn dâu
Bờ rêu sương phủ trắng màu thời gian
Đi-về giữa nhịp ly tan
Khói mây nhân ảnh lấp tràn ước mong
Ngày mai sóng nước xuôi dòng
Lời thơ nhỏ lệ giữa lòng tịch liêu.
HẠNH PHÚC THAY ĐỨC PHẬT RA ĐỜI
Thích Trí
Nguyệt
Người xuất thế, đấng toàn năng giáng độ
Ôi
hân hoan! Ôi hạnh phúc dường nào!
Ba
nghìn năm thuở nhiệm mầu hiếm có,
Lâm-tỳ-ni bừng nở đóa vô ưu,
Lòng chúng sanh lịch kiếp vẫn truyền lưu,
Ngày kỷ niệm “ra đời đức Từ Phụ”
Hôm nay, ngày đản sinh của đấng Trí Tuệ lại
một lần nữa trở về với nhân loại. Không những nơi đây mà khắp nơi trên thế
giới hàng triệu con tim đang thành kính đón mừng ngày lịch sử của ánh sáng
từ bi. Giờ khắc này gợi lại cho chúng ta nhớ đến sự ra đời và lịch sử của
một con người vĩ đại nhất thế giới. Tính chất vĩ đại ở đây không phải vì
uy quyền, bạo động, vũ khí hay khủng bố, mà vĩ đại vì lòng thương và trí
tuệ. Không những nay mà muôn ngàn năm sau loài người vẫn còn kinh ngạc và
thán phục một con người sanh ra cách đây hơn 25 thế kỷ đã có thể tuyên bố
con người với con người vốn bình đẳng, phụ nữ cũng có đủ các khả năng như
đàn ông, thế giới này được quyết định bởi bàn tay con người, chứ không
phải thần linh, thượng đế hay đấng siêu nhiên nào, và sau cùng là con
người đều có khả năng tiến bộ (giác ngộ).
Đức Phật ra đời là mang lại cho thế gian
niềm tin và hạnh phúc tuyệt đối. Ngài là người kêu gọi và khen ngợi một
cuộc sống không thù hằn và cuộc sống hướng đến tiến bộ. Chính vì thế mà
trong suốt chiều dài lịch sử truyền giáo khắp đó đây, Phật giáo không hề
vô tình hay cố ý nhúng tay vào những cuộc đổ máu, cũng không lôi cuốn ai
lao vào con đường diệt vong đó.
Trước đây hơn 25 thế kỷ, tại thành
Ca-tỳ-la-vệ, vua Tịnh Phạn cùng nhân dân vui mừng khi thái tử Tất-đạt-đa
ra đời bao nhiêu, thì hôm nay, Phật tử khắp năm châu những người đã được
tắm gội trong giáo pháp từ bi cũng tràn đầy niềm hân hoan thanh khiết bấy
nhiêu để đón mừng lễ kỷ niệm Phật đản, PL 2549. Vì lòng bi mẫn muốn cứu độ
chúng sanh, muốn chúng sanh giác ngộ, thoát khỏi những cái đau khổ do sanh
lão bệnh tử mang lại, đức Phật đã thực hiện hai lần ra đi rất là cao cả.
Lần thứ nhất, Bồ-tát Hộ Minh từ giã cung điện Đâu Suất nguy nga lộng lẫy
đầy ánh sáng. Lần thứ hai, thái tử Tất-đạt-đa từ giã vương thành
Ca-tỳ-la-vệ ra đi tìm đạo trong đêm khuya. Hạnh phúc thay cho chúng ta, vì
đức Phật ra đời là thế giới được ánh sáng để chúng ta có thể chiến đấu với
ác ma, với kiếp sống mê muội, với đầu óc phi nhân. May mắn thay cho chúng
ta, nhờ đức Phật mà ta có được người hướng đạo để vượt qua biển khổ. Kể từ
đó đến nay, biết bao nhiêu người đã hưởng được hương vị giải thoát của
giáo pháp mà được an lạc hạnh phúc. Ngày nay trên thế giới diễn ra những
cảnh giết hại nhau, gây oán cừu và khổ cho nhau, tạo sự nghi kỵ và khủng
bố là đều do xa rời giáo pháp của Phật.
Ngày Phật xuất thế là một tiếng chuông cảnh
tỉnh mọi người hãy buông vũ khí thù hằn nguy hiểm của tham sân si xuống và
mang lên những gì hiền hòa của lòng từ bi để lợi người lợi vật. Muôn loại
ca vang vì ngày này mà nước mắt bớt chảy, oán giận nguôi dần, thù hằn giảm
xuống, và cũng nhân ngày này mà mọi người có thời gian nhớ lại những đức
tính hiền lành và khả năng giác ngộ đã bị chôn vùi từ vạn kiếp trong chủ
nghĩa cực đoan, trong thành kiến mê lầm. Ngày này, không những loài người,
mà luôn cả chim muôn, thú vật cũng đều vui mừng hớn hở, được tự do sống
ngày thanh thản, không lo âu hãi hùng cảnh máu chảy đầu rơi hoặc cảnh chảo
dầu lò nướng như những ngày kỷ niệm linh đình khác.
Ngày Phật xuất thế là ánh dương mầu nhiệm
soi rọi khắp trần gian, soi thấu tâm tư thầm kín mà mỗi khi bước đến gần
ngày này thì lòng người cảm thấy một năng lượng dịu hiền bát ngát tràn
ngập trong người, xóa bỏ bao lớp biên cương của ích kỷ vị ngã, để sống gần
nhau hơn, thương yêu nhau hơn trong một bản thể cao quý. Có được duyên
lành lại gần đức Phật, ta mới thấy ta bao la vĩ đại, cao thượng, ta với
mọi người, mọi vật không còn cách biệt lạ thường như xưa kia đã lầm tưởng
theo tâm lượng hẹp hòi u tối.
Cử hành lễ kỷ niệm Phật đản, chúng ta phải
noi gương cao cả của Ngài, đem hết năng lực để phục vụ chúng sanh theo
đúng chánh pháp theo phương châm “Cúng dường chúng sanh tức cúng dường
Phật”, cúng dường đây có nghĩa là làm việc thiện ích cho chúng sanh, đem
lại sự an vui cho chúng sanh, làm thế nào giữa chúng sanh nói chung, loài
người nói riêng không còn cảnh tàn sát lẫn nhau, bắt bớ tù đày hay nghi kỵ
giam lỏng lẫn nhau. Nhân loại chỉ biết đem trí thông minh xảo trá, tâm lừa
dối để tàn hại lẫn nhau trong khi đức Phật lại dùng trí giác ngộ để bảo
toàn tánh mạng cho chúng sanh, lắm lúc dùng ngay cả thân mạng mình, cả
cuộc đời của mình để bảo vệ một lý tưởng, một truyền thống hay một chính
nghĩa. Cho nên, chúng ta phải ý thức rằng chúng ta kính cẩn làm lễ Phật
đản không phải vì đức Phật, mà chính là vì nhân loại, vì chúng sanh.
Ngày lễ kỷ niệm sự kiện ra đời của đức Phật
là ngày lịch sử vĩ đại nhất trong tim của hàng triệu Phật giáo đồ trên thế
giới, ngày quý báu nhất của chúng ta. Để phát huy hết tính năng vĩ đại và
quý báu ấy, chúng ta phát tâm rộng lớn, thực hành nhiều Phật sự với tất cả
sự tích cực linh động trong tinh thần chân Phật giáo, dẹp tan quan niệm
của một Phật giáo thụ động.
Đời càng đau khổ chừng nào chúng ta phải
càng thực hành giáo lý đạo Phật chừng đó, vì chỉ có giáo lý của Phật mới
có thể xóa tan được nỗi thống khổ của chúng sanh, làm lắng dịu tâm niệm
thù hằn, xảo trá, phi đạo đức, phi nhân bản. Để có thể có những kết quả
như thế, chúng ta phải loại trừ tận gốc những tư duy và hành động lệch
lạc, xây dựng một cuộc sống đạo chân chính, không vụ lợi… Trách nhiệm của
chúng ta là làm sao cho ánh sáng của một đạo Phật quang minh chính đại tỏa
rạng khắp trong ta và trong nhân gian. Nếu làm được như thế mới có thể gọi
là thật sự đền đáp thâm ân của Phật trong ý tưởng cử hành lễ Đản sanh.
ĐỨC PHẬT VÀ
CUỘC CHUYỂN HÓA NHÂN SINH TẬN GỐC RỄ
Ỷ Thu Am
(Viết để kính dâng cúng dường ngày Đản Sanh
của đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, Phật lịch 2549)
Khi Thái tử Siddhàrtha vượt thành
Kapilavatthu trong đêm trường thanh vắng để vào núi Himalayas tìm đường tu
tập, Ngài đã xác định hướng đi cho cuộc chuyển hóa nhân sinh toàn diện
nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng có lẽ đó chỉ là thời điểm chín mùi của
một quá trình tư duy và chiêm nghiệm lâu dài từ trước về bản chất và ý
nghĩa đích thực của đời sống. Thật vậy, ở ngôi vị của một Thái tử quyền
quý cao sang như Ngài thì quyết định từ bỏ gia đình để xuất gia tầm đạo
không thể xảy ra mà không có những nguyên nhân và động lực sâu xa. Sử
truyện ghi rằng, khi Thái tử đi dạo chơi trong nhân gian, Ngài đã chứng
kiến những thực trạng của cuộc đời như già yếu, bệnh hoạn và chết chóc. Từ
đó Ngài bắt đầu tư duy về bản chất vô thường, giả tạm và khổ đau của cuộc
đời để rồi quyết tâm tìm đường chuyển hóa. Tuy nhiên, ắt hẳn trên thực tế
có lẽ với trí tuệ nhận thức bén nhạy và lòng thương yêu rộng lớn, Thái tử
đã thường trực cảm nhận được bản chất biến dịch không ngừng của cuộc đời
ngay trong chính những sinh hoạt và giao tiếp hằng ngày của Ngài, rồi cũng
qua đó Ngài đã trầm tư sâu thẳm về con đường diệt khổ cho bản thân và đồng
loại.
Sau khi thành đạo, đức Phật cùng chư vị
Tỷ-kheo về thăm vua Tịnh Phạn và thân bằng quyến thuộc ở thành
Kapilavatthu. Trong dịp này, hình ảnh của một vị xuất gia đầu tròn áo
vuông, tay ôm bình bát an nhiên đi khất thực từng nhà làm cho vua Tịnh
Phạn vì chưa hiểu được công hạnh xuất thế của Phật nên đã cảm thấy đau
lòng. Nhưng cũng từ đó, chúng ta thấy được hai biểu tượng: Một nhà vua với
tâm nguyện an bang tế thế bằng quyền lực chính trị, quân sự và kinh tế
trong tay. Một vị đạo sư với thệ nguyện cứu khổ độ sinh bằng con đường
cách mệnh tâm linh tận gốc rễ. Đức Phật trong lần về thăm cố hương này đã
lại một lần nữa khẳng quyết con đường chuyển hóa nhân sinh toàn diện của
Ngài.
Tại sao đức Phật đã không chọn con đường
chuyển hóa nhân sinh bằng quyền lực chính trị, quân sự và kinh tế như phụ
thân Ngài đã làm?
Con đường cách mệnh nhân sinh thế tục cưu
mang trong nó chủ trương đấu tranh không loại trừ yếu tố bạo lực. Giải
pháp nhân sinh như vậy tự nó không thoát khỏi phạm trù ý thức nhị nguyên.
Ý thức nhị nguyên dẫn đến thái độ phân biệt bỉ thử, nhân ngã, bạn thù, do
đó chỉ chấp nhận cái gì của mình là đúng, là chân lý, còn những cái khác
đều sai, đều tà vạy. Thay vì chuyển hóa mọi tranh chấp, bất an trong xã
hội, cách mệnh nhân sinh thế tục mang sắc thái nhị nguyên và đấu tranh chỉ
tạo ra thêm những đối lực thù nghịch, những chính sách bất công, thiên vị.
Hơn nữa, bạo lực không phải là giải pháp nhân sinh kiến hiệu để mang lại
ổn định xã hội và hạnh phúc cá nhân. Dùng bạo lực chỉ có thể thống trị xã
hội nhất thời, nhưng không thể chuyển hóa được tận gốc mầm mống của phân
hóa, thù hận, bất công, lại càng không thể tập trung được sức mạnh của
quần chúng để xây dựng xã hội, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của
con người.
Con đường cách mệnh nhân sinh thế tục chỉ
nhắm đến đối tượng là cái tổng thể xã hội, hoặc là cơ chế lãnh đạo xã hội
xét như là một tập hợp quyền lực của tổng thể xã hội, mà không nhắm đến
đối tượng cá nhân xét như là thực thể của xã hội. Thực chất, tổng thể xã
hội hay một tập hợp quyền lực của tổng thể xã hội chỉ là cái tên gọi suông
không phải là thực thể của xã hội. Thực thể xã hội, nếu có, chính là từng
cá nhân, vì xã hội là một tập hợp của nhiều cá nhân. Nếu cá nhân mà không
hiện hữu như một thực thể tồn tại thì xã hội cũng không thể hình thành.
Tất nhiên, khi quan niệm về cá nhân như là một thực thể đó chỉ là nói theo
nghĩa thông tục tương đối, bởi vì, đức Phật qua sự quán chiếu của trí tuệ
bát nhã thâm sâu đã thấu suốt được bản chất vô thường, giả tạm, không có
tự tánh của xác thân tập hợp ngũ uẩn được mệnh danh là cá nhân. Cách mệnh
nhân sinh do vậy phải nhắm đến đối tượng là những cá nhân, thực thể của xã
hội. Chính vì thế, mọi cuộc cách mệnh nhân sinh chỉ nhắm đến đối tượng là
cái tổng thể xã hội hoặc là tập hợp quyền lực của tổng thể xã hội, xưa
nay, đều không thể hoàn thành được mục đích chuyển hóa xã hội tận gốc rễ.
Con đường cách mệnh nhân sinh thế tục chỉ
nhắm đến việc chuyển đổi và cải tạo xã hội ở giới hạn bề ngoài mà không đi
sâu vào việc chuyển hóa bản chất bên trong. Thế nào là chuyển đổi và cải
tạo xã hội ở giới hạn bề ngoài? Ở đây con người chỉ nhắm đến việc thay
đổi, sửa đổi hay cải thiện những mô thức, định chế, cơ cấu, nguyên tắc
trong sinh hoạt xã hội từ văn hóa, giáo dục đến kinh tế, chính trị, v.v...
Tất nhiên, không ai chối cãi rằng công cuộc chuyển đổi và cải tạo xã hội ở
giới hạn bề ngoài ấy đã có những tác động, những thay đổi, những cải thiện
trong chiều hướng tích cực và lợi ích. Nhưng vấn đề mà chúng ta nói đến ở
đây chính là sự chuyển hóa tận gốc rễ mà điều này thì con đường cách mệnh
nhân sinh ở giới hạn bề ngoài vẫn chưa thể đạt được. Tại sao? Bởi vì những
mầm mống và thảm trạng của bất an, khủng hoảng, khổ đau, và những tệ nạn
xã hội khác vẫn còn đó. Một điển hình dễ thấy là luật pháp của các nhà
nước đã được công bố và thi hành, nhưng luật pháp ấy chỉ nhắm đến việc
ngăn chận và trừng phạt những hệ quả mà không có giải pháp để chuyển hóa
tận gốc từ nguyên nhân. Vậy, muốn giảm thiểu tối đa hay loại trừ các tội
trộm cướp, tham nhũng, v.v.., việc chế tài và trừng phạt theo hệ quả của
luật pháp nhà nước đối với tội phạm không, vẫn chưa đủ, cần phải có phương
thức để con người bỏ bớt hay diệt trừ lòng tham lam thì tệ nạn đó mới có
thể chấm dứt. Lòng tham chính là căn nguyên của tội trộm cướp, tham nhũng,
v.v... Ngày nào mà con người còn lòng tham thì ngày ấy xã hội vẫn còn tội
trộm cướp, tham nhũng, v.v... Công cuộc chuyển hóa bản chất bên trong
chính là ý nghĩa này. Do đó, các cuộc cách mệnh nhân sinh thế tục không
nhắm đến việc chuyển hóa bản chất con người mà cụ thể là chuyển hóa tâm
thức, cho nên đã không thể đem lại thành công tận gốc rễ.
Như vậy, công cuộc chuyển hóa nhân sinh của
đức Phật là gì?
Trước hết, đức Phật đã nêu cao giá trị làm
người. Mặc dù nhận thức được bản chất vô thường, giả tạm và không thật của
tập hợp ngũ uẩn, đức Phật đã không có thái độ phủ nhận giá trị hiện hữu
của con người, vì ít ra con người còn có thể vận dụng được xác thân ngũ
uẩn ấy cho công cuộc chuyển hóa vô minh và giải thoát phiền não khổ đau
đối với tự thân và tha nhân. Trong mối tương quan tương duyên của cộng
đồng xã hội, mỗi người đều có giá trị hiện hữu bình đẳng như nhau. Không
ai có quyền nhân danh bất cứ thế lực gì để chà đạp lên quyền sống và quyền
làm người của kẻ khác. Làm người ai cũng muốn bảo vệ sự sống và sợ cái
chết, ai cũng tránh khổ đau và mưu cầu hạnh phúc, ai cũng có sự tôn nghiêm
trong tư cách làm người cho nên, phẩm giá của con người là giá trị phổ
quát, không một ai có thể chối bỏ hay chà đạp.
Sau khi dựng lại giá trị làm người, đức
Phật đã mở ra khung trời quang đãng hơn trước mặt sự hiện hữu quý giá ấy.
Khung trời đó chính là khả năng mà con người vốn có trong việc tác tạo khổ
đau hoặc xây dựng hạnh phúc. Theo định luật hiển nhiên của nhân quả và lý
thuyết tất yếu của nghiệp, khổ đau hay hạnh phúc là do chính con người tạo
ra. Tu tập các thiện pháp, gieo trồng những nhân lành thì con người chắc
chắn sẽ có được sự an lạc trong đời này và đời sau. Ngược lại, buông thả
ba nghiệp thân-miệng-ý theo sự thao túng của vô minh và các phiền não tham
sân si để rồi tạo ra nhiều điều bất thiện thì trong đời này và đời sau
không thoát khỏi khổ não. Từ đây, con người có đủ niềm tin và khả lực để
đứng lên gánh lấy trách nhiệm trước vận mệnh của cuộc đời mình mà không
phải cầu cạnh nơi bất cứ thế lực nào khác. Đây chính là mở đầu của thời
đại nhân chủ.
Tuy nhiên, với khả tính vi diệu tiềm tàng
bên trong bản thể sâu nhiệm, con người có thể đạt thành mục tiêu tối hậu
của đời sống, đó là thực nghiệm sự chuyển hóa toàn diện và tận gốc rễ nơi
tự thân để giác ngộ vô minh và giải thoát phiền não khổ đau rốt ráo. Chỉ
có con đường này, cảnh giới này mới thật sự kết thúc chuỗi xích trói buộc
của sanh tử luân hồi từ vô thỉ kiếp.
Nhưng làm sao để thực nghiệm sự chuyển hóa
con người tận gốc rễ?
Một con người có hai bình diện cấu trúc và
sinh hoạt chính yếu: Thể xác vật chất với các cơ năng vận hành để duy trì
và phát triển sự sống, hoạt động tinh thần bao gồm nhận thức và tình cảm
hay nói cách khác là lãnh vực tâm thức trách nhiệm chi phối và chỉ đạo mọi
động thái của tư duy, ngôn ngữ và hành động. Lẽ tất nhiên, cả hai cấu trúc
này đều đóng vai trò tương tác như nhau. Trong hoạt động của con người
không thể thiếu cái nào cả. Một thân xác không có tâm thức thì đó chỉ là
một xác chết. Ngược lại, một tâm thức không có thân xác thì không có căn
thân sở y để thực hiện mọi động thái của tư duy, ngôn ngữ và hành động thể
xác, như vậy cũng chẳng khác gì là một bóng ma. Cho nên, yếu tố đầu tiên
và cơ bản để thực nghiệm sự chuyển hóa con người tận gốc rễ một cách thành
công chính là cần có một chánh báo tương đối hoàn bị, nghĩa là một thân
xác với các cơ năng đầy đủ và hoạt động tốt, một tâm thức bình thường.
Vấn đề còn lại là công cuộc chuyển hóa. Đến
đây chúng ta cần phải ngược dòng lịch sử để dõi theo dấu chân tầm đạo của
Thái tử Tất-đạt-đa. Thoạt đầu, Ngài khởi sự công cuộc chuyển hóa nơi thể
xác vật chất theo như một số quan niệm về tu tập của các giáo phái đương
thời. Chính vì vậy, Ngài đã liên tục thực hiện việc tu khổ hạnh suốt mấy
năm trường với ý tưởng rằng làm như thế sẽ đoạn diệt được tất cả nghiệp
chướng của tham-sân-si và đạt thành giải thoát. Nhưng thân xác vật chất
chỉ là cơ năng thừa hành của tâm thức chủ đạo. Tạo tác nghiệp thiện hay
ác, thọ nhận an lạc hay khổ đau đều do tâm thức dẫn đầu. Không có tâm thức
tác ý, không có tâm thức điều động thì thân khẩu không làm sao tạo nghiệp.
“Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ,
tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói năng hoặc hành
động, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo
xe.” (Kinh Pháp Cú, Phẩm Song Yếu, kệ số 1, Thích Trí Đức dịch).
Tu khổ hạnh áp chế thân xác vật chất không
những không đạt được giải thoát mà còn làm suy nhược thể chất và tinh thần
khiến cho con người mất sức khỏe, mất nghị lực để tiếp tục cuộc chuyển
hóa. Do vậy, Thái tử Tất-đạt-đa đã quyết định chấm dứt việc tu tập theo
phương thức này. Ngài bắt đầu suy nghiệm lại để tìm một đạo lộ khác. Khi
trải cỏ ngồi dưới gốc cây Tất-bát-la, thệ nguyện không rời bỏ chỗ ngồi này
cho đến lúc thành tựu được mục tiêu tối thượng, dường như Thái tử đã khẳng
quyết về một phương cách chuyển hóa tận gốc rễ: Chuyển hóa tâm thức. Sau
bốn mươi chín ngày đêm tĩnh tọa thiền định, đức Phật đã thành tựu được tuệ
giác cứu cánh. Qua bao nhiêu năm đem thân lịch nghiệm con đường giác ngộ
vô minh và giải thoát phiền não với muôn vàn gian lao khó nhọc, cuối cùng
Ngài đã đến đích, đó là điểm tận cùng siêu việt mà một chúng sinh có thể
vươn tới, vì không còn cảnh giới nào cao hơn, rộng lớn hơn, siêu thoát
hơn. Đó là cảnh giới Thánh trí tự chứng, cảnh giới của Phật.
Đức Phật đã làm gì khi ngồi dưới cội Bồ-đề
suốt bốn mươi chín ngày đêm mà chúng ta gọi đó là cuộc chuyển hóa tâm thức
tận gốc rễ?
Điều hiển nhiên là không một ai khác ngoài
chính đức Phật có thể hiểu và cảm nhận được những trạng thái tâm thức mà
Ngài đã trải qua để chuyển từ tâm vô minh của chúng sinh đến tâm giác ngộ
của Phật. Nhưng qua những điều đức Phật đã dạy trong những năm Ngài hóa độ
sau này, còn ghi lại trong tam tạng kinh điển, chúng ta có thể hình dung
ra những dấu ấn chính trong cuộc chuyển hóa tâm thức tận gốc rễ ấy.
Cuộc chuyển hóa tận gốc rễ mà đức Phật đã
thành tựu đó chỉ nhắm đến có mỗi một tiêu đích duy nhất là cái tâm, bởi vì
làm chúng sinh hay làm Phật cũng đều do một tâm mà nên. Tâm ấy mà động
loạn thì sanh diệt khởi lên, ngã pháp có mặt, kết nghiệp thọ khổ, gọi là
chúng sinh. Tâm ấy mà tịch tịnh thì vô sanh hiện bày, ngã pháp trống vắng,
không ai tạo nghiệp nhân, không ai thọ quả báo, gọi là giác ngộ giải
thoát, là Phật. Tiến trình chuyển hóa tâm ấy xảy ra trên hai bình diện: Lý
kiến tánh thì đốn ngộ, nhưng sự tướng diệt trừ phiền não thì tiệm tu. Điều
này có nghĩa là về mặt chứng ngộ lý tánh vô sanh thì xảy ra trong đường tơ
kẽ tóc, song về mặt diệt trừ các tập khí vô minh phiền não đã được huân
tập từ vô lượng kiếp quá khứ thì phải tu tập giới định tuệ để lần hồi
chuyển hóa. Cho nên, trong giáo nghĩa Đại thừa nói rằng từ lúc sơ hưng
phát Bồ-đề tâm cho đến khi thành Đẳng Chánh Giác phải trải qua ba
A-tăng-kỳ kiếp tu tập ở năm mươi ba địa vị, từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng cho đến Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác và Phật.
Đến đây vấn đề này tất phải được đặt ra,
rằng như vậy thì cuộc chuyển hóa tâm thức ấy chỉ xảy ra cho mỗi cá nhân
con người, như thế làm sao nó có thể là công cuộc chuyển hóa rộng lớn đến
toàn thể nhân sinh, toàn thể xã hội? Phải chăng đức Phật đã không đưa ra
một phương thức mang tính vĩ mô để chuyển hóa và xây dựng xã hội nhân
sinh?
Có một điều mà có lẽ chúng ta đều đồng ý
rằng sở dĩ xã hội có những vấn đề như bất công, tham nhũng, trộm cướp,
không an ninh, bất ổn, bệnh tật, nghèo khó, v.v.. căn nguyên là vấn đề của
cá nhân, của mỗi người. Bởi vì chính mỗi cá nhân vẫn còn cưu mang trong tự
thân mình những yếu tố căn bản để dẫn đến các vấn đề ấy. Yếu tố căn bản đó
chính là một tâm thức nhiễm ô vì vô minh và các phiền não như tham, sân,
si, v.v... Khi mỗi cá nhân với tâm thức có vấn đề thì đi đến đâu, sinh
hoạt ở đâu, sống ở đâu, cá nhân đó cũng sẽ tạo ra vấn đề cho bản thân, cho
cộng đồng, cho xã hội. Một cá nhân có vấn đề, nhiều cá nhân có vấn đề thì
đó sẽ là vấn đề chung của xã hội. Nếu từng cá nhân tự chuyển hóa tâm thức
để giải tỏa những vấn đề trong chính họ, nghĩa là họ đã giảm trừ hay tận
diệt vô minh và các phiền não gây ra bất an khổ não, thì xã hội bớt đi một
thành viên tác tạo những vấn đề khó khăn. Đó là mới nói trên lãnh vực tiêu
cực, còn trên lãnh vực tích cực thì khi một cá nhân trở thành người hoàn
thiện, người tốt, sống lợi ích cho mình và người, thì cộng đồng xã hội có
thêm một thành viên kiến tạo hòa bình, an lạc và thịnh vượng. Một người
thiện, nhiều người thiện thì xã hội sẽ trở thành thiện.
Quan niệm rằng đức Phật chỉ nghĩ đến việc
giải thoát cá nhân mà không đoái hoài gì đến khổ đau của đồng loại và
chúng sinh là điều không như thật. Bởi vì, sau khi thành đạo, đức Phật đã
nỗ lực vân du khắp lưu vực rộng lớn của sông Hằng để thuyết Pháp độ sinh.
Suốt gần năm mươi năm mà ngày nào cũng vậy với ba y và một bình bát đi
khất thực từng nhà, ai có duyên được độ thì độ, không phân biệt thành phần
giai cấp xã hội, từ kẻ cùng đinh nghèo khó đến vua chúa trưởng giả, tất cả
Ngài đều đối xử bình đẳng như nhau. Tận tụy giáo hóa như vậy cho đến ngày
nhập Niết-bàn mới thôi là Ngài vì cái gì? Chẳng phải là vì lòng từ bi
thương xót con người và chúng sinh khổ não mà nhọc nhằn hóa độ đó sao?
Trong những bài Pháp mà Ngài đã dạy cho
hàng đệ tử lúc sinh tiền, đức Phật đã đưa ra những phương thức chuyển hóa
vừa mang tính triệt để cho từng cá nhân, vừa mang tính phổ cập cho quảng
đại quần chúng nhân sinh, chẳng hạn Ngũ giới, Thập thiện, Tứ nhiếp pháp,
Lục độ, v.v… Một người khi thực hành Ngũ giới, Thập thiện, Tứ nhiếp pháp,
Lục độ không phải chỉ mang lại lợi ích là đời sống an lạc và giải thoát
cho cá nhân không thôi, mà còn đem lại sự ổn định trật tự, an ninh, an
lạc, tinh thần tích cực dấn thân, lòng thương yêu cứu giúp, đời sống văn
hóa đạo đức, trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội, v.v.. Đặc
biệt, giáo nghĩa Lục độ là nền tảng xây dựng Bồ tát đạo, mà Bồ tát đạo là
con đường vị tha toàn diện, lấy việc cứu độ khổ ách cho chúng sinh làm bản
hạnh nguyện để qua đó tu tập và khai mở tâm đại từ bi đồng thời phát huy
diệu dụng của trí tuệ bát nhã để thành tựu mục đích tự giác giác tha giác
hạnh viên mãn.
Thực tế, trên hai mươi lăm thế kỷ nay, bắt
nguồn từ Ấn Độ rồi sang các nước Á châu, đến các nước Tây phương, và hiện
nay trên khắp thế giới, càng ngày loài người càng nhận chân ra được giá
trị ưu thắng của việc chuyển hóa tâm thức tận gốc rễ mà đức Phật đã khai
thị. Đó chính là sự xác minh rõ ràng nhất về tính phổ quát, hiện thực và
kiến hiệu của con đường chuyển hóa nhân sinh toàn diện của đức Thế Tôn.
Dòng Họ Thích Ca
Thích Đồng
Thành
Khi sinh ra và lớn lên trong cuộc đời này mỗi người đều
mang trong mình một huyết thống mà tổ tiên bao đời đã hun đúc, giữ gìn và
truyền