Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


...... ... .

 

TẬP SAN

NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC

PHẬT GIÁO THỪA THIÊN - HUẾ

Số 12 -  Pl. 2548 - Phổ biến nội bộ

---o0o---

 

Giới thiệu và giải thích đề Kinh

KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT

 

Thích Thái Hòa

 (tiếp theo Tập san số 11)

 

Ý nghĩa đề kinh theo phạn ngữ và kinh văn theo thể loại:

Tên Kinh theo tiếng Phạn là Vajraprajñā pāramitā sūtra hoặc Vajracchedika prajñāpāramitā-sūtra.

1.Vajraprajñā pāramitā sūtra:

Vajra là một loại khoáng chất kiên cố, bất hoại và sắc bén. Nó có khả năng phá hoại vật khác; nhưng vật khác thì không thể phá hoại được nó.

Vajra tự bản chất là kiên cố, bất hoại và sắc bén, chứ không phải do thứ khác tạo thành.

Vajra được dùng để ẩn dụ cho pháp, pháp ấy có hai ưu điểm.

a- Nó có khả năng tồi phục các oán địch, nhưng các oán địch thì không thể tồi phục được nó.

b- Nó có khả năng phá hoại các phiền não, nhưng các loại phiền não thì không thể phá hoại được nó.

Vajra, Hán dịch là Kim Cang và Anh dịch là Diamond.

Prajñā đi từ động từ căn jñā, có nghĩa là nhận thức, hiểu biết, liễu tri, … và prajñā có nghĩa là trí tuệ, minh tuệ, quán tuệ, thông tuệ, liễu tuệ, … Trí tuệ có khả năng soi chiếu đến chỗ tột cùng của chân lý, thấu triệt bản thể và mọi hình thái của các pháp.

Prajñā, Hán chuyển âm là Bát-Nhã và dịch là trí tuệ hoặc tuệ minh. Trí tuệ có khả năng soi chiếu để thấy rõ căn nguyên của sự vật.

Cũng có khi, Prajñā được dịch là không-trí hoặc không-tuệ. Trí tuệ phát sinh do thực hành pháp không-quán mà chứng đắc.

Như vậy, trí tuệ ấy tựu thành là do sự nỗ lực thực hành chứ không phải do loại suy.

Prajñā trong Hán ngữ không có một từ ngữ nào tương ứng, nên phần nhiều các dịch giả Hán chỉ chuyển âm Prajñā là Bát-Nhã và kèm theo nhiều sự giải thích.

Các nhà Anh dịch Prajñā là Wisdom hoặc Insight.

Wisdom, có nghĩa là kiến thức, học thức, sự từng trải, lịch duyệt và thông thái.

Insight, có nghĩa là sự nhìn thấy bên trong của sự vật, sự nhìn thấy bản chất của sự vật, sự sáng suốt, sự hiểu biết ưu việt,…

Tuy, Prajñā được dịch là Wisdom hoặc Insght, nhưng phần nhiều các dịch giả Anh ngữ cũng để nguyên Prajñā. Vì trong Anh ngữ cũng không có từ ngữ nào có thể gói trọn toàn vẹn ý nghĩa của từ ngữ Prajñā.

Pāramitā: Pāram có nghĩa là ở ngoài, ra ngoài, ở một bên bờ, ở thế giới bên kia. Ita có nghĩa là đã qua rồi, đã đến rồi.

Vậy, Pāramitā là đã vượt ra khỏi và đã đến nơi. Với nghĩa bóng thì Pāramitā là đã siêu việt thế gian, siêu việt vọng tưởng và đã đến nơi an tịnh, viên mãn của Niết Bàn.

Hán chuyển âm Pāramitā là Ba-la-mật và dịch là “độ khứ”- tức là đã vượt qua, hoặc “đáo bỉ ngạn” là đến bờ bên kia.

Vượt qua hay đến bờ bên kia đều là ngôn ngữ ẩn dụ.

Bờ bên nầy là dụ cho sinh tử, bờ bên kia là dụ cho Niết Bàn.

Bờ bên nầy là dụ cho mê lầm, bờ bên kia là dụ cho giác ngộ.

Hễ vượt qua dòng sông sanh tử thì đến Niết Bàn; hễ vượt qua vô minh thì tựu thành giác ngộ.

Nếu nói theo ngôn ngữ chứng ngộ, hễ đoạn trừ vô minh, khát ái và vọng tưởng thì giác ngộ, hạnh phúc và an lạc ở ngay đây và bây giờ, chứ không phải cần đợi đến bờ kia.

Pāramitā, các nhà Hán ngữ còn dịch là cứu cánh hoặc viên mãn.

Cứu cánh là hoàn thành mục đích và viên mãn là sự toàn vẹn mục đích.

Như vậy, Pāramitā là đã đến toàn vẹn, đạt đến chỗ hoàn thành tuyệt diệu, chỗ ấy không còn ngôn ngữ để diễn tả, không thể dùng khái niệm để khái niệm.

Anh dịch Pāramitā là perfection, có nghĩa là sự hoàn thành, sự toàn vẹn, sự tuyệt đích, sự tuyệt diệu…

Vậy, Prajñāpāramitā là trí tuệ toàn vẹn, trí tuệ tuyệt đích, trí tuệ tuyệt diệu, trí tuệ siêu việt, trí tuệ siêu niệm, trí tuệ không còn có khái niệm của ngôn ngữ.

Sūtra, có nghĩa là quan hệ và thấu suốt. Hán chuyển âm Tu-đa-la và dịch là tuyến, gồm những sợi chỉ xâu lại với nhau, hoặc dịch là Kinh.

Kinh, các nhà Phật học Hán tạng giải thích có 3 ý nghĩa, năm đặc tính và phân chia thành mười hai thể loại.

Ba ý nghĩa:

1-Khế lý: Kinh được đức Phật tuyên nói, Kinh ấy, thích hợp với chân lý.

2-Khế thời: Kinh được đức Phật tuyên nói, Kinh ấy, thích hợp mọi thời đại.

3-Khế cơ: Kinh được đức Phật tuyên nói, Kinh ấy, thích hợp mọi không gian và trình độ.

Năm đặc tính:

1-Xuất sanh: Tất cả mọi nghĩa lý của Luật và Luận đều xuất phát từ Kinh.

2-Tuyền dõng: Kinh hàm ngụ những nghĩa lý sâu thẳm và lưu thông tương tự như dòng nước chảy.

3-Hiển thị: Nghĩa lý được nêu ra rõ ràng từ Kinh.

4-Thằng mặc: Nghĩa lý của Kinh làm chừng mực cho chúng sanh tu học.

5-Kết man: Nghĩa lý cô đọng tóm thâu, như dây xâu kết những bông hoa.

Mười hai thể loại:

1.Tu-đa-la (Sūtra) cũng gọi là Trường-hàng hay Pháp-bổn: Kinh Đức Phật nói ra và đã được kết tập theo lối văn xuôi, nên gọi là Trường hàng. Và chính nó là căn bản của giáo pháp, nên gọi là Pháp bổn.

2.Kỳ dạ (Geyyā): Dịch là Trùng tụng hay Ứng tụng. Lối văn trùng thuật lại những ý nghĩa của văn Trường hàng. Nó thường dùng bốn câu làm một bài, trong đó có khi bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ.

3.Hòa già la (veyyākaraṇa): Dịch là Thọ ký. Loại Kinh viết theo cách ấn chứng. Chẳng hạn, Đức Phật ấn chứng cho các đệ tử Thanh Văn và Bồ Tát sẽ làm Phật trong tương lai và gồm có y báo, chánh báo của họ.

4.Già-đà (Gāthā): Dịch là Phúng tụng hay Cô khởi. Loại Kinh viết bằng những kệ tụng và mỗi kệ tụng có bốn câu. Loại này không phải như loại Kỳ dạ dùng để trùng tụng lại Trường hàng, mà chính nó hình thành từng bài kệ tự lập.

5.Ưu-đà-na (Udāna): Dịch là Tự thuật, Tự thuyết hoặc Vô vấn tự thuyết. Loại Kinh ghi lại theo lối tự thuật do Đức Phật xét đúng thời điểm hoặc đúng căn cơ Ngài tự tuyên nói, chứ không phải do có sự thưa hỏi của hàng đệ tử.

6.Ni-đà-na (Nidāna): Dịch là Nhân duyên. Loại Kinh nói về sự gặp gỡ nghe pháp giáo hóa giữa Đức Phật Thích Ca với chư Phật quá khứ và giữa những hàng đệ tử cùng với túc duyên của họ.

7.A-ba-đà-na (Avadāna): Dịch là Thí dụ. Loại Kinh nêu lên những thí dụ. Vì giáo pháp Đức Phật giảng dạy có khi thực tiễn, có khi sâu thẳm siêu việt. Do sâu thẳm và siêu việt, nên cần phải dùng những thí dụ khiến người nghe mới có thể tiếp thu được.

8.Y-đế-mục-đà-già (Itiruttaka): Dịch là Bổn sự. Loại Kinh nói về sự tu nhân của Đức Phật và các hàng đệ tử.

9.Xa-đà-già (Jātaka): Dịch là Bổn sanh. Loại Kinh nói về quá khứ, khi Đức Phật thực hành Bồ Tát đạo cũng như các đệ tử của Ngài và các vị Bồ Tát.

10.Tỳ Phật lực (Vedalla): Dịch là Phương quảng. Loại Kinh viết theo ngôn ngữ biểu tượng hàm chứa những ý nghĩa sâu rộng ở đằng sau ngôn ngữ ấy.

11.A-tỳ-đạt-ma (Abbhutadharma): Dịch là Vị tằng hữu. Loại Kinh ghi lại những tư tưởng hay thần lực bất tư nghì của Đức Phật trong khi thuyết pháp và giáo hóa.

12.Ưu-ba-đề-xá (Upadi’sa): Dịch là Luận nghị. Loại Kinh ghi lại những sự biện luận và vấn đáp. Một đôi khi Ưu-ba-đề-xá (Upadi’sa) còn được hiểu là bí mật. Ở trong tập “Aspects of Mahayāna Buddhism and its relation to Hinayāna Buddhism” nhà học giả N. Dutt nói, trong một bài Kinh (Sūtra) có thể có từng đoạn được xem là Sūtra (trường hàng), một Geyyā (trùng tụng), một Gāthā (kệ tụng), một Udāna (tự thuyết), một Veyyākaraṇā (thọ ký),…

Sự phân chia Kinh thành 12 thể loại, nó không có tính nhất định. Vì ở trong Thập Trụ Tỳ Bà Sa, Đại Chính Tân Tu 26, tr 69b, chỉ đề cập đến chín thể:

- Tu đa la (Sūtra).

- Kỳ dạ (Geyyā).

- Thọ ký (Veyyākaraṇa).

- Già đà (Gāthā).

- Ưu đà na (Udāna).

- Ni đà na (Nidāna).

- Tỳ Phật lực (Vedalla).

- Vị tằng hữu (Abbhutadharma).

- Luận nghị (Upade’sa).

Sự phân chia hình thành chín thể loại nầy, các Kinh và Luận sắp xếp, phân loại có đôi phần sai biệt nhau.

Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện phân loại có chín, những sự sắp xếp theo sau:

- Tu đa la (khế Kinh).

- Già đà (cô khởi).

- Y đế mục dà đà (bổn sự).

- Xà đà già (bổn sanh).

- A tỳ đạt ma (vị tằng hữu).

- Ni đà na (nhân duyên).

- A ba đà na (thí dụ).

- Kỳ dạ (trùng tụng).

- Ưu ba đề xá (luận nghị).

Sở dĩ, có sự sai biệt nầy, là tùy theo nghệ thuật thuyết giáo của Đức Phật, đối với căn cơ thính chúng, nên có Kinh, Ngài sử dụng đủ cả muời hai thể loại văn pháp để trình bày giáo nghĩa, nhưng có Kinh, Ngài chỉ sử dụng chín, hoặc tám và ở Kinh Kim Cang Bát Nhã nầy, Ngài đã sử dụng đến mười thể loại văn pháp để diễn tả giáo nghĩa.

Để trở lại với đề Kinh VajraPrajñā-Pāramitā Sūtra là Kinh nói về trí tuệ toàn hảo, trí tuệ tuyệt diệu, trí tuệ siêu việt, trí tuệ siêu niệm, trí tuệ đã vượt hẳn thế giới khái niệm, trí tuệ siêu niệm, chặt đứt mọi khái niệm như Kim Cang.

Đọc kỹ Kinh Kim Cang Bát Nhã, ta thấy Kinh nầy có mười thể loại như sau:

1. Trường hàng hay Pháp bản: Văn trường hàng hay văn xuôi như ta đã thấy phần nhiều ở trong Kinh được diễn tả theo thể loại văn nầy.

2. Ứng tụng hay Trùng tụng: Loại văn nầy trong Kinh được diễn tả qua bài kệ như sau:

“Nhược dĩ sắc kiến ngã,

dĩ âm thanh cầu ngã,

thị nhân hành tà đạo,

bất năng kiến Như Lai”.

(Đại Chính Tân Tu 8, tr 752a).

Nghĩa là:

“Nếu dùng sắc thấy ta,

dùng âm thanh cầu ta,

người ấy hành tà đạo,

không thể thấy Như Lai”.

3. Thọ ký: Phần thọ ký ở trong Kinh Kim Cang Bát Nhã là thọ ký thành phật chung cho hàng Bồ Tát, như văn Kinh sau đây: “Như Lai vị phát Đại Thừa giả thuyết; vị phát Tối Thượng Thừa giả thuyết. Nhược hữu nhân năng thọ trì đọc tụng quảng vị nhân thuyết. Như Lai tất tri thị nhân, tất kiến thị nhân, giai đắc thành tựu bất khả lượng, bất khả xưng, vô hữu biên, bất khả tư nghị công đức. Như thị nhân đẳng tắc vi hà đảm Như Lai A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Đại Chính Tân Tu 8, tr 750c). = Như Lai nói là vì người phát tâm Đại Thừa; là vì người phát tâm Tối Thượng Thừa. Nếu có người nào có khả năng thọ trì, đọc tụng, vì mọi người mà nói một cách rộng rãi, thì Như Lai biết chắc chắn người ấy, thấy chắc chắn người ấy, đều thành tựu được công đức không thể ước lượng, không thể so sánh, không có giới hạn, không thể nghĩ bàn. Những người như vậy là sẽ đảm nhận địa vị Vô Thượng Bồ Đề của Như Lai.

Đây là văn pháp theo thể loại thọ ký của Kinh Kim Cang Bát Nhã.

4. Già đà, Phúng tụng hay Cô khởi: Bài kệ:

“Nhất thiết hữu vi pháp,

như mộng huyễn bào ảnh,

như lộ diệc như điển,

ưng tác như thị quán”.

(Đại Chính Tân Tu 8, tr 752c).

Nghĩa là:

Hết thảy pháp hữu vi,

như mộng, huyễn, bào, ảnh

như sương mai, điện chớp,

hãy quán chiếu như vậy.

Đây là văn pháp theo thể loại kệ tụng hay cô khởi ở trong Kinh Kim Cang Bát Nhã.

5. Nhân duyên: Văn pháp theo thể loại nhân duyên ở Kinh nầy như sau: “Thời Trưởng lão Tu Bồ Đề tại đại chúng trung, tức tùng tòa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa. Hiệp chưởng cung kính nhi bạch Phật ngôn, hy hữu Thế Tôn. Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phó chúc chư Bồ Tát. Thế Tôn, thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm, ưng vân hà trú, vân hà hàng phục kỳ tâm”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 748c). = Lúc bấy giờ Trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng, chính từ nơi chỗ ngồi đứng dậy, trạt y bên phải, gối phải quỳ xuống sát đất, chắp tay cung kính bạch Đức Phật rằng: Thật hiếm có thay, bạch Thế Tôn! Như Lai khéo léo hộ niệm cho các vị Bồ Tát, khéo léo phó chúc cho các vị Bồ Tát. Bạch Thế Tôn! Người con trai tốt đẹp, người con gái tốt đẹp đã phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, thì họ làm sao để an trú tâm ấy và điều phục tâm ấy?

Đây là văn pháp diễn tả theo thể loại nhân duyên, nói về nhân duyên, Đức Phật giảng Kinh Kim Cang Bát Nhã.

6. Thí dụ: Văn pháp của Kinh Kim Cang Bát Nhã diễn tả theo thể loại Thí dụ hết sức độc đáo, sống động và thú vị. Chẳng hạn, Đức Phật diễn tả về phước đức do thực hành hạnh vô trú, Ngài đã sử dụng văn pháp theo thể loại Thí dụ như sau: “Tu Bồ Đề, ư ý vân hà? Đông phương hư không khả tư lượng phủ?-Phất giả, Thế Tôn. Tu Bồ Đề, Nam, Tây, Bắc phương, Tứ Duy, Thượng, Hạ hư không khả tư lượng phủ?-Phất giả, Thế Tôn. Tu Bồ Đề, Bồ Tát vô trú tướng bố thí phước đức, diệc phục như thị, bất khả tư lượng. Tu Bồ Đề, Bồ Tát đản ưng như sở giáo trú”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 749a). = Hỡi Tu Bồ Đề! Thầy nghĩ thế nào? Hư không ở phương Đông có thể suy nghĩ và đo lường được không?-Dạ, bạch Thế Tôn, không. Hỡi Tu Bồ Đề! Hư không các phương Nam, Tây, Bắc, Bốn Góc, Trên và Dưới có thể suy nghĩ và đo lường được không?-Dạ, bạch Thế Tôn, không. Hỡi Tu Bồ Đề! Phước đức bố thí của Bồ Tát với tâm không mắc kẹt nơi tướng, cũng giống như vậy, không thể nào suy nghĩ và đo lường. Hỡi Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên an trú đúng như điều đã được dạy.

Lại nữa, một đoạn khác của Kinh Kim Cang, Đức Phật đã sử dụng văn pháp theo thể loại Thí dụ nầy, để diễn tả phước đức của một người nghe, tin, đọc tụng và thọ trì Kinh nầy rất là độc đáo như sau: “Tu Bồ Đề, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, sơ nhật phần, dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí; trung nhật phần dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí; hậu nhật phần diệc dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí, như thị vô lượng trăm ngàn vạn ức kiếp dĩ thân bố thí. Nhược phục hữu nhân, văn thử Kinh điển, tín tâm bất nghịch, kỳ phước thắng bỉ, hà huống thơ tả, thọ trì độc tụng, vị nhân giải thuyết”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 570c). = Hỡi Tu Bồ Đề! Nếu có người con trai và người con gái hiền thiện nào, sử dụng thân để bố thí như số cát sông Hằng; buổi trưa sử dụng thân để bố thí như số cát sông Hằng; buổi chiều cũng sử dụng thân để bố thí như số cát sông Hằng, sử dụng thân để bố thí như vậy, trải qua vô lượng trăm ngàn vạn ức kiếp; nếu có người nghe Kinh điển nầy, lòng tin không trái nghịch, thì phước đức của người nghe và tin ấy, vượt thắng hơn người bố thí kia; huống nữa là biên chép, ghi nhớ hành trì, đọc tụng và giảng dạy cho người.

Và bài kệ sau cùng của Kinh nầy là:

“Nhất thiết hữu vi pháp,

như mộng huyễn bào ảnh,

như lộ diệc như điển,

ưng tác như thị quán”.

Tuy, Đức Phật sử dụng văn pháp theo thể loại Già đà hay Cô khởi, để diễn tả tóm lược tính chất bất thực và hư ảo của các pháp hữu vi, nhưng trong thi kệ cô khởi nầy đã có mặt văn pháp theo thể loại Thí dụ một cách độc đáo và thú vị.

7. Bổn sanh: Văn pháp theo thể loại nầy trong Kinh như sau:

“Tu Bồ Đề, như ngã tích vị Ca Lợi vương cát tiệt thân thể, ngã ư nhĩ thời vô ngã tuớng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng, hà dĩ cố, ngã ư vãng tích tiết tiết chi giải thời. Nhược hữu ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, ưng sanh sân hận.

Tu Bồ Đề, hựu niệm quá khứ, ư ngũ bách thế, tác nhẫn nhục Tiên nhân, ư nhĩ sở thế, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 750b). = Hỡi Tu Bồ Đề! Như tôi ngày xưa bị Vua Ca Lợi cắt chặt thân thể, bấy giờ tôi không có ý tưởng ngã, nhân, chúng sanh và thọ mạng. Vì sao, vì bấy giờ tôi đã hiểu rõ từng chi tiết. Nếu có ý tưởng về ngã, nhân, chúng sanh và thọ mạng, thì phải sinh ra sự giận dữ.

Hỡi Tu Bồ Đề! Lại nữa, ta nhớ trong thời gian quá khứ, năm trăm đời, ta làm Bậc Tiên Nhân nhẫn nhục. Suốt trong thời gian ấy, ta không có ý tưởng về ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả.

Đây văn pháp theo thể loại Bổn sanh được diễn tả ở trong Kinh.

8. Phương quảng: Thể loại văn pháp nầy được diễn tả ở trong Kinh rất nhiều đoạn, nhưng ở đây ta chỉ dẫn một đoạn để chứng minh văn pháp thuộc thể loại nầy:

“Phật cáo, Tu Bồ Đề, Chư Bồ Tát Ma ha tát, như thị hàng phục kỳ tâm, sở hữu nhất thiết chúng sanh chi loại, nhược noãn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hóa sanh, nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng, nhược phi vô tưởng, ngã giai linh nhập vô dư Niết Bàn nhi diệt độ chi. Như thị diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh, thật vô chúng sanh đắc diệt độ giả. Hà dĩ cố, Tu Bồ Đề, nhược Bồ Tát hữu ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ Tát”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 749a). = Phật dạy, hỡi Tu Bồ Đề! Các vị Đại Bồ Tát, thì phải điều phục tâm mình như vậy: Có bao nhiêu loại chúng sanh, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ thai, hoặc sinh từ sự ẩm thấp, hoặc sinh từ sự biến hóa; hoặc có hình sắc, hoặc không có hình sắc, hoặc có tưởng, hoặc không có tưởng, hoặc không phải có tưởng, không phải không tưởng, ta đều làm cho các loài ấy đều đi vào Niết Bàn tuyệt đối, để được giải thoát. Giải thoát cho vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế, mà kỳ thật ta không thấy có chúng sanh nào được giải thoát cả. Tại sao như vậy? Hỡi Tu Bồ Đề! Vì nếu là Bồ Tát mà còn có vọng tưởng về ngã, về nhân, về chúng sanh và về thọ mạng, thì chính vị ấy không phải là Bồ Tát.

Đây là một trong những đoạn văn pháp thuộc thể loại Phương quảng ở trong Kinh Kim Cang Bát Nhã.

9. Vị tằng hữu hay Hy hữu: Văn pháp theo thể loại nầy, ta thấy trong Kinh Kim Cang Bát Nhã, tuy ít sử dụng hơn các thể loại khác, như Bổn sanh, Thí dụ hay Luận nghị, nhưng ta cũng có thể dẫn ra hai đoạn mà Kinh đã diễn tả sự hy hữu hay hiếm có về người và về pháp như sau:

“Phục thứ, Tu Bồ Đề, tùy thuyết thị Kinh, nãi chí tứ cú kệ đẳng, đương tri thử xứ, nhất thiết thế gian thiên, nhân, a tu la, giai ưng cúng dường như Phật tháp miếu, hà huống hữu nhân tận năng thọ trì độc tụng. Tu Bồ Đề, đương tri thị nhân thành tựu tối thượng đệ nhất hy hữu chi pháp. Nhược thị Kinh điển sở tại chi xứ, tắc vi hữu Phật nhược tôn trọng đệ tử”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 750a). = Lại nữa, hỡi Tu Bồ Đề! Nơi nào diễn giải Kinh nầy, dù chỉ bài kệ bốn câu, phải biết chỗ ấy, tất cả trời, người, a tu la trong thế gian đều nên cúng dường như chỗ chùa tháp của Phật; huống nữa có người có thể thọ trì, đọc tụng suốt đời. Hỡi Tu Bồ Đề, phải biết người ấy thành tựu pháp hiếm có tối thượng bậc nhất. Và nếu Kinh nầy có mặt ở nơi xứ sở nào, thì xem như có Phật hoặc những vị đệ tử tôn kính, quý trọng ở nơi xứ sở ấy.

Lại nữa, ta có thể thấy thể loại văn pháp sau đây, Tôn giả Tu Bồ Đề, đã diễn tả sự hiếm có về pháp và công đức:

“Nhĩ thời, Tu Bồ Đề, văn thuyết thị Kinh, thâm giải nghĩa thú, thế lệ bi khấp nhi bạch phật ngôn; Hy hữu Thế Tôn, Phật thuyết như thị thậm thâm Kinh điển, ngã tùng tích lai sở đắc tuệ nhãn, vị tằng đắc văn như thị chi Kinh. Thế Tôn, nhược phục hữu nhân đắc văn thị Kinh, tín tâm thanh tịnh, tắc sanh thực tướng, đương tri thị nhân thành tựu đệ nhất hy hữu công đức”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 750ab). = Bấy giờ, Tôn giả Tu Bồ Đề, nghe Phật nói Kinh nầy, hiểu được nghĩa lý và thú hướng sâu xa, xúc động tuôn trào nước mắt mà bạch với Đức Phật rằng: Thật hiếm có thay, bạch Thế Tôn! Ngài đã tuyên thuyết Kinh điển sâu xa hết mức như vậy. Từ khi con được mắt tuệ cho đến ngày nay, chưa hề được nghe bất cứ Kinh nào như vậy cả.

Bạch Thế Tôn, nếu có người nào được nghe Kinh nầy, lòng tin thanh tịnh, khởi sinh tướng chân thực, phải biết người ấy thành tựu công đức hiếm có số một.

Đây là thể loại văn pháp Vị tằng hữu hay Hy hữu ở Kinh Kim Cang Bát Nhã.

10. Luận nghị: Văn pháp Luận nghị là thể loại hỏi và đáp mang tính luận chứng. Đối với thể loại văn pháp nầy, ta thấy ở Kinh Kim Cang Bát Nhã đã được Đức Phật và Tôn giả Tu Bồ Đề sử dụng rất nhiều về hỏi và đáp, cũng như lối luận chứng về “phi” và “thị” để diễn tả lý tính Bát Nhã. Lý tính ấy trong ngôn ngữ luận lý không phải hiển lộ qua “thị” mà chính nó được hiển lộ qua “phi”. Và nhờ Bát Nhã diễn tả thực tại tính qua “phi”, mà ta nhận ra được thực tại tính bằng “thị”, và “thị” ấy chính là “phi”.

Đây là lối văn Luận nghị hết sức độc đáo của Kinh Kim Cang Bát Nhã, ta có thể dẫn một vài đoạn để thấy:

“Tu Bồ Đề, ư ý vân hà? Bồ Tát trang nghiêm phật độ phủ? Phất giả, Thế Tôn. Hà dĩ cố? Trang nghiêm phật độ giả, tắc phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 749c). = Hỡi Tu Bồ Đề! Ý Thầy nghĩ như thế nào? Phải chăng Bồ Tát trang nghiêm cõi phật? Bạch Thế Tôn, không. Tại vì sao? Trang nghiêm cõi phật, chính là không trang nghiêm cõi phật, nên mới gọi là trang nghiêm cõi phật.

“Tu Bồ Đề, thí như hữu nhân, thân như Tu Di sơn vương, ư ý vân hà? Thị thân vi đại phủ? Tu Bồ Đề ngôn, thậm đại Thế Tôn! Hà dĩ cố? Phật thuyết phi thân, thị danh đại thân”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 749c). = Hỡi Tu Bồ Đề, thí như có người thân lớn như núi Chúa Tu Di, ý Thầy nghĩ thế nào, thân người ấy có lớn không? Tôn giả Tu Bồ Đề thưa, bạch Thế Tôn, thân ấy là rất lớn. Vì sao? Vì Ngài nói, không phải thân, nên mới gọi là thân lớn.

“Tu Bồ Đề, ư ý vân hà? Tam thiên đại thiên thế giới, sở hữu vi trần thị vi đa phủ? Tu Bồ Đề ngôn, thậm đa Thế Tôn. Tu Bồ Đề, chư vi trần, Như Lai thuyết phi vi trần, thị danh vi trần. Như Lai thuyết thế giới, phi thế giới, thị danh thế giới”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 750a). = Hỡi Tu Bồ Đề! Ý Thầy nghĩ như thế nào? Số vi trần ở trong thế giới tam thiên đại thiên có nhiều không? Tôn giả Tu Bồ Đề thưa, bạch đức Thế Tôn, rất nhiều. Hỡi Tu Bồ Đề! Những vi trần ấy, Như Lai nói chúng không phải là vi trần, nên mới gọi chúng là vi trần. Như Lai nói thế giới, không phải là thế giới, nên mới gọi là thế giới.

Đây là văn pháp theo thể loại Luận nghị mà Kinh Kim Cang Bát Nhã đã sử dụng rất nhiều, để diễn tả tự thân thực tại một cách độc đáo qua “phi và thị” mà ở đây chúng tôi chỉ dẫn ra một vài đoạn tiêu biểu.

Như vậy đã giải thích ý nghĩa đề Kinh Kim Cang Bát Nhã được dịch từ Vajraprajñā-Pāramitā Sūtra và nêu ra mười thể loại văn pháp được sử dụng ở trong Kinh này.

Và với đề Kinh VajraPrajñā-Pāramitā Sūtra nầy, các Ngài Cưu-ma-la-thập (344-413), Bồ-đề-lưu-chi (508), Chơn-đế (thế kỷ 6 và 7) đều dịch là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh.

2. Vajracchedikā Prajñāpāramitā-Sūtra

Vajracchedikā là từ ngữ ghép phối âm giữa Vajra và chedika

Theo luật phối âm (Sandhi) tiếng Phạn “ch” đứng sau nguyên âm bắt buộc phải trở thành “cch”.

Nên, Vajra và Chedikā ghép lại phải viết là Vajracchedikā.

Vajra là một khoáng chất với ý nghĩa như trên đã đề cập.

Chedikā động từ căn của nó là Chid, có nghĩa là chặt đứt, cắt đứt, tách rời ra,…

Vậy, Chedikā là khả năng chặt đứt, có khả năng cắt đứt, có khả năng tách rời ra.

Vajracchedikāprajñāpāramitā-Sūtra là trí tuệ siêu việt, trí tuệ chặt đứt mọi vọng tưởng, mọi khát ái. Ví như khoáng chất Kim Cang sắc bén, có khả năng chặt đứt và làm tan vỡ những vật khác.

Và Vajracchedikāprajñāpāramitā-Sūtra là Kinh nói về trí tuệ siêu việt, chặt đứt mọi chấp trước vọng tưởng, ví như kim cang có khả năng chặt đứt mọi vật khác.

Ngài Cấp Đa (590-619), dịch Vajracchedikāprajñāpāramitā-Sūtra là Kim Cang Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Ngài Nghĩa Tịnh (635-713), dịch Phật Thuyết Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Ngài Huyền Tráng dịch là Năng Đoạn Kim Cang.

 

II. Ý nghĩa đề kinh Kim Cang Bát Nhã qua pháp và dụ

 

Kinh Pháp Hoa dùng Hoa sen để ẩn dụ cho Diệu pháp. Diệu pháp là Phật tâm, Phật tính, Phật đạo, hay là Nhất Thừa đạo. Phật đạo hay Nhất Thừa đạo có mặt ngay trong lòng cuộc đời mà vô nhiễm; ngay trong lòng sinh tử mà hiện chứng Niết Bàn; ngay trong lòng khổ đau mà hiện khởi an lạc, giải thoát; ngay giữa mê lầm mà hiện chứng giác ngộ; ngay nơi chúng sanh tính mà hiện khởi và ngộ nhập phật tính; ngay nơi huyễn thân mà chứng nhập pháp thân hay kim cang bất hoại thân. Diệu pháp ấy được ví như Hoa sen. Hoa sen tuy ở trong bùn mà vẫn vô nhiễm; không những vậy mà còn nở ra hương thơm thanh khiết, các loài hoa khác không thể so sánh và các loài ong bướm không thể phá hoại. Ẩn dụ của Kinh Pháp hoa như vậy, quả thực hết sức hùng tráng mà lại cực kỳ thơ mộng.

Nhưng, Kinh Kim Cang Bát Nhã, không dùng Hoa sen để ẩn dụ cho Pháp mà lại dùng Kim Cang. Kinh dùng Kim Cang mà ẩn dụ cho pháp như vậy, đã được Đức Phật dạy cho Tôn giả Tu Bồ Đề và đã được Kinh ghi lại theo bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập như sau:

“Bấy giờ, Tôn giả Tu Bồ Đề, bạch Đức Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Kinh nầy nên gọi là tên gì? Chúng con cần phải phụng sự và hành trì như thế nào? Đức Phật dạy, hỡi Tu Bồ Đề! Kinh nầy gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, Tôn giả hãy phụng sự và hành trì Kinh với danh hiệu ấy. Tại sao như vậy, hỡi Thầy Tu Bồ Đề? Vì Như Lai nói Bát Nhã Ba La Mật, thì chính không phải là Bát Nhã Ba La Mật. = Nhĩ thời, Tu Bồ Đề, bạch Phật ngôn, Thế Tôn, đương hà danh thử Kinh, ngã đẳng vân hà phụng trì? Phật cáo, Tu Bồ Đề, thị Kinh danh vi Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, dĩ thị danh tự, nhữ đương phụng trì. Sở dĩ giả hà? Tu Bồ Đề, Phật thuyết Bát Nhã Ba La Mật, tắc phi Bát Nhã Ba La Mật”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 750a).

Kim cang là một loại khoáng chất hết sức cứng rắn và sắc bén. Nó có khả năng phá hoại vạn vật, nhưng vạn vật thì không có khả năng phá hoại chúng. Kim cang như vậy được Đức Phật sử dụng để ví dụ cho pháp, pháp ấy là Bát Nhã. Như Kinh nói: “Phật thuyết Bát Nhã Ba La Mật, tắc phi Bát Nhã Ba La Mật. Tu Bồ Đề, ư ý vân hà? Như Lai hữu sở thuyết pháp phủ? Tu Bồ Đề, bạch Phật ngôn. Như Lai vô sở thuyết. Tu Bồ Đề, ư ý vân hà? Tam thiên đại thiên thế giới, sở hữu vi trần thị vi đa phủ? Tu Bồ Đề ngôn, thậm đa Thế Tôn. Tu Bồ Đề, chư vi trần, Như Lai thuyết phi vi trần, thị danh vi trần; Như Lai thuyết thế giới phi thế giới, thị danh thế giới. Tu Bồ Đề, ư ý vân hà? Khả dĩ tam thập nhị tướng kiến Như Lai phủ? Phất giả, Thế Tôn. Bất khả dĩ tam thập nhị tướng đắc kiến Như Lai. Hà dĩ cố? Như Lai thuyết tam thập nhị tướng tức thị phi tướng, thị danh tam thập nhị tướng”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 750a). = Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, chính không phải là Bát Nhã Ba La Mật. Hỡi Tu Bồ Đề! Ý Thầy nghĩ như thế nào? Như Lai có thuyết pháp không? Tôn giả Tu Bồ Đề, bạch Đức Phật rằng, Bạch Thế Tôn, Như Lai không có thuyết pháp. Hỡi Tu Bồ Đề, Ý Thầy nghĩ như thế nào? Số vi trần ở trong thế giới tam thiên đại thiên có nhiều không? Tôn giả Tu Bồ Đề thưa, bạch Thế Tôn, rất nhiều. Hỡi Tu Bồ Đề! Các vi trần, Như Lai nói không phải là vi trần, nên mới gọi là vi trần; Như Lai nói thế giới không phải là thế giới, nên mới gọi là thế giới. Hỡi Tu Bồ Đề, Ý thầy nghĩ như thế nào? Có thể nhìn thấy Như Lai với ba mươi hai sắc tướng chăng? Bạch Thế Tôn, không. Không thể thấy được Như Lai bằng ba mươi hai sắc tướng. Vì sao? Vì Như Lai nói ba mươi hai sắc tướng, chính không phải là sắc tướng, cho nên mới gọi là ba mươi hai sắc tướng.

Chỉ có Bát Nhã mới thấy rõ những cái nầy không phải là những cái nầy, chính những cái nầy được tạo nên bởi những cái kia; những cái kia không phải là những cái kia mà những cái kia được tạo nên bởi những cái không phải là những cái kia, tức là những cái nầy. Nên, Kinh nói: Bát Nhã không phải là Bát Nhã, mà chính là Bát Nhã. Bởi vì, Bát Nhã được tạo thành từ những cái không phải là Bát Nhã, như là Không, Duyên khởi, Vô thể, Vô tự tính, Đương sinh vô sinh, Đương sinh tức không, hay Chân như vô vi. Bát Nhã được sinh khởi từ những cái không phải là Bát Nhã như vậy, nên mới gọi là Bát Nhã. Thuyết pháp hay không thuyết pháp, vi trần, thế giới hay sắc tướng cũng vậy, chúng được tạo nên bởi những cái không phải là chúng. Núi không phải là núi, núi chỉ là cây, đất và đá, nên thấy núi là phải thấy cho được những yếu tố tạo nên núi, như là cây, đất và đá. Cũng như vậy, thấy cây, đất và đá được tạo nên từ những cái không phải là chúng, thấy được như vậy, mới gọi là thấy được cây, đất và đá. Nếu thấy núi mà không thấy những yếu tố tạo nên nó, thì làm sao gọi là thấy núi một cách đích thực? Và nếu thấy cây, đất và đá mà không thấy được những yếu tố tạo nên chúng, thì làm sao gọi là thấy được cây, đất và đá một cách đích thực, đúng như tự thân của chính nó? Cũng vậy, thấy vi trần, thấy thế giới, thấy tự thân, thấy con người, thấy chúng sanh, thấy sinh mệnh, thấy sắc tướng, thấy xã hội…, mà không thấy những yếu tố và thể tính tạo nên chúng, thì làm sao gọi là người thấy được chúng hay thấy được chân như của chúng, hay là thấy chân như của mọi sự hiện hữu.

Bản chất của Bát Nhã được tôi luyện và tinh kết từ những cái không phải là nó, cái ấy gọi là “Phi”, và cái “Phi” ấy, chính là cái “Thị”. “Phi và Thị” như vậy, là hai mệnh đề mà Đức Phật đã sử dụng ở trong Kinh Kim Cang Bát Nhã, để hiển thị lý tính chân như ở nơi mọi sự hiện hữu cho Tôn giả Tu Bồ Đề và thính chúng. “Phi và Thị” như vậy, chúng đã được tinh luyện từ tuệ giác, nên nó cứng rắn và sắc bén như kim cang. Nó có khả năng phá vỡ các loại ma quân, oán địch và chặt đứt mọi sự chướng ngại từ phiền não và sở tri, cũng như từ ngã chấp và pháp chấp; nhưng các loại ma quân, oán địch cũng như các loại phiền não và sở tri, thì không thể làm chướng ngại và phá hoại được Bát Nhã.

Lại nữa, Bát Nhã có khả năng chặt đứt và phá sạch hết thảy học thuyết, luận thuyết, giáo thuyết của các trường phái hữu ngã thường kiến bởi lát kiếm “Phi”, và cũng chặt đứt phăng luôn những học thuyết và giáo thuyết chủ trương đoạn diệt bởi lát kiếm “Thị”; không những vậy, mà Bát Nhã còn có khả năng chặt đứt và phá sạch mọi vướng mắc đối với những ý niệm về pháp và phi pháp ở trong các trường phái phật giáo bởi lát kiếm “phi, thị”, và “Phi chẳng khác Thị, Thị chẳng khác Phi; Phi chính là Thị, Thị chính là Phi” ấy.

Pháp ở trong Kinh Kim Cang Bát Nhã là như vậy, nên Kim cang đã được Đức Phật sử dụng để ví dụ cho pháp. Nên, Bát Nhã ở trong Kinh Kim Cang là pháp liễu nghĩa, là pháp toàn hảo, là pháp cứu cánh, là pháp tột cùng, là pháp siêu việt mọi ý niệm. Pháp ấy không còn có bất cứ một sức mạnh trí tuệ nào có thể đối kháng, cũng giống như Kim cang không còn có bất cứ một sức mạnh vật chất nào có thể đương đầu và phá hủy.

Như vậy, Kim Cang Bát Nhã không những chỉ là tuệ giác cứng rắn, hùng tráng, linh hoạt và sắc bén, có khả năng phá hủy hết sạch những hệ thống thành quách, lâu đài của thế giới tư duy và khái niệm, để đâm chạm vào chỗ tột cùng của bí nhiệm-vô ngôn, mà chúng còn có khả năng dựng lại và phơi bày mọi cái đẹp chân thực, diệu kỳ và bình dị cho tất cả; và chúng đích thực là người tình chung thủy, yêu chuộng và hiển thị chân lý đến chỗ tột cùng!

 

III. Ý nghĩa đề Kinh Kim Cang Bát Nhã qua Giáo, Lý, Hạnh và Quả

 

Ø Giáo Pháp:

Giáo pháp được trình bày trong Kinh Kim Cang Bát Nhã là giáo pháp bao gồm: Bồ Tát Thừa, Tối Thượng Thừa hay Phật Thừa.

Giáo nghĩa Bồ Tát Thừa ở trong Kinh đã được thể hiện ngay trong ba câu hỏi của Tôn giả Tu Bồ Đề với đức Thế Tôn đã được ghi ở trong Kinh Phạn bản như sau:

“Tat kathaṃ bhagavan bodhisattvayānasaṃ prasthitena kulaputreṇa vā kuladuhitrā vā sthātavyaṃ kathaṃ pratipattavyaṃ kathaṃ cittaṃ pragraḥītavyaṃ?”. = Bạch Thế Tôn! Có người con trai thông minh và người con gái thông minh nào, với sự phát khởi tâm tiến lên Bồ Tát Thừa, thì họ phải làm thế nào để điều phục tâm, làm thế nào để đạt được và an trú?

Ba câu hỏi nầy của Ngài Tu Bồ Đề đối với Đức Phật, các bản Hán dịch và ngay cả bản Anh dịch của Edward Conze đều có tương đương, chỉ có bản Hán dịch của Ngài Cưu Ma La Thập là lược bớt câu hỏi làm thế nào để đạt được. Bản dịch ấy như sau:

“Thế Tôn, Thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, ưng vân hà trú, vân hà hàng phục kỳ tâm?”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 748). = Bạch Thế Tôn, có người con trai thông minh và người con gái thông minh nào với sự phát khởi tâm Vô Thượng Bồ Đề, thì họ phải điều khiển và nhiếp phục tâm họ như thế nào? Và làm thế nào để an trú.

Trong nội dung các câu hỏi của Tôn giả Tu Bồ Đề đối với Đức Phật, ta hãy chú ý đến từ ngữ bodhisattvayānasaṃ prasthitena của Phạn ngữ, với từ ngữ nầy có nghĩa là, “với sự phát khởi tâm tiến lên Bồ Tát Thừa”, mà các bản Hán dịch là “Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm”, như bản dịch của Ngài La Thập. “Bồ Tát Đại Thừa trung phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”, như bản dịch của Ngài Bồ đề Lưu Chi. “Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm, hành Bồ Tát Thừa”, như bản dịch của Ngài Chân Đế. “Bồ Tát Thừa phát hành trú ưng”, như bản dịch của Ngài Cấp Đa. “Nhược hữu phát thú Bồ Tát Thừa giả”, như bản dịch của Ngài Nghĩa Tịnh. Và “Chư hữu phát thú Bồ Tát Thừa giả”, như bản dịch của Ngài Huyền Tráng.

Tuy, các bản Hán, có Ngài dịch sát theo nghĩa của Phạn ngữ, nhưng cũng có Ngài không dịch sát theo nghĩa mà dịch theo ý. Nhưng, dù các Ngài có dịch bằng cách nào đi nữa, thì ở Kinh Kim Cang Bát Nhã, câu hỏi của Ngài Tu Bồ Đề đặt ra và hỏi Đức Thế Tôn vẫn là câu hỏi nhắm tới sự thực hành giáo nghĩa Bồ Tát Thừa hay Đại Thừa mà điểm cao của giáo nghĩa nầy là Tối Thượng Thừa, là Nhất Thừa, hay là Phật Thừa. Và đó là đích điểm mà bất cứ người nào phát tâm tu tập cũng ngưỡng vọng hướng đến.

Kinh Kim Cang Bát Nhã, không những chỉ thuộc về giáo nghĩa Bồ Tát Thừa, Đại Thừa, Tối Thượng Thừa mà còn hàm chứa cả giáo pháp Nhất Thừa hay Phật Thừa nữa, điều nầy ta có thể thấy rõ như trong đoạn Kinh Đức Phật nói với Tôn giả Tu Bồ Đề sau đây:

“Tu Bồ Đề, dĩ yếu ngôn chi, thị Kinh hữu bất khả tư nghị, bất khả xứng lượng, vô biên công đức. Như Lai vị phát Đại Thừa giả thuyết, vị phát Tối Thượng Thừa giả thuyết. Nhược hữu nhân năng thọ trì đọc tụng quảng vị nhân thuyết. Như Lai tất tri thị nhân, tất kiến thị nhân, giai đắc thành tựu, bất khả lượng, bất khả xưng, vô hữu biên, bất khả tư nghị công đức. Như thị nhân đẳng, tắc vi hà đảm Như Lai A nậu đa la tam miệu tâm bồ đề”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 750c). = Hỡi Tu Bồ Đề! Chủ yếu mà nói, Kinh Kim Cang Bát Nhã có công đức không thể nghĩ bàn, không thể so sánh, không thể ước lượng, không có giới hạn. Như Lai nói cho người phát tâm Đại Thừa, cho người phát tâm Tối Thượng Thừa. Nếu có người nào có khả năng đọc tụng, vì người khác mà giảng nói một cách rộng rãi, thì Như Lai biết chắc chắn người ấy, thấy chắc chắn người ấy, đều đã thành tựu được công đức không thể nghĩ bàn, không có giới hạn, không thể so sánh, không thể ước lượng. Những người như vậy, có thể đảm nhận sự nghiệp Vô Thượng Bồ Đề của Như Lai.

Như vậy, qua đoạn Kinh, Đức Phật nói với Tôn Giả Tu Bồ Đề, ta thấy Kinh Kim Cang Bát Nhã nầy không những chỉ thuộc giáo pháp Bồ Tát Thừa mà còn thuộc về giáo pháp Tối Thượng Thừa hay Phật Thừa nữa.

Và giáo pháp nầy được gói trọn vẹn ở trong đề Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa.

Ø Lý Pháp:

Lý Pháp được trình bày ở trong Kinh Kim Cang Bát Nhã là thuộc về Vô Vi Không, Đệ Nhất Nghĩa Không hay Tất Cánh Không, ấy là Không lý của Niết Bàn tuyệt đối, không còn có sự đối đãi. Không lý ấy, chỉ có Kim Cang Bát Nhã mới có khả năng trực nhập. Niết Bàn là chân lý tuyệt đối. Bát Nhã là chân trí tối hậu. Chỉ có Chân trí tối hậu mới trực nhập chân lý tuyệt đối. Và khi chân trí đã hội nhập với chân lý, trí lý có mặt trong nhau, thì ngay nơi cảnh giới ấy trí lý bất nhị. Nghĩa là chân trí là chân lý; chân lý là chân trí. Nên, ở nơi thế giới ấy, Bát Nhã là Không lý và Không lý là Bát Nhã. Bát Nhã là Niết Bàn và Niết Bàn là Bát Nhã. Ở nơi cảnh giới ấy, không còn có người đắc và không còn có cái để đắc; không còn có người thuyết pháp và không còn có pháp để thuyết.

Với Không lý tuyệt đối ấy, ở Kinh Kim Cang Bát Nhã, Đức Phật đã hiển thị cho Tôn giả Tu Bồ Đề như sau:

“Tu Bồ Đề, ư ý vân hà? Như Lai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề da? Như Lai hữu sở thuyết pháp da? Tu Bồ Đề ngôn, như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, vô hữu định pháp danh A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, diệc vô hữu định pháp Như Lai khả thuyết. Hà dĩ cố? Như Lai sở thuyết pháp giai bất khả thủ, bất khả thuyết, phi pháp phi phi pháp. Sở dĩ giả hà? Nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 749b). = Hỡi Tu Bồ Đề! Ý Thầy nghĩ như thế nào? Có Vô Thượng Giác để Như Lai chứng đắc không? Có pháp được thuyết bởi Như Lai không? Tôn giả Tu Bồ Đề, thưa rằng: Theo con hiểu ý nghĩa của Như Lai nói, thì không có pháp nào được xác định gọi là Vô Thượng Giác; cũng không có pháp nào được xác định là Như Lai có thể nói. Tại sao? Vì pháp được Như Lai nói, pháp ấy không thể bám lấy, không thể diễn đạt, không thể gọi là pháp, không thể gọi là phi pháp. Vì sao? Vì hết thảy hiền thánh từ nơi pháp vô vi mà biện biệt.

Và ý nghĩa Không Lý tuyệt đối nầy, nếu ta nghiên cứu kỹ ở trong Kinh Kim Cang Bát Nhã, Đức Phật cũng đã nhấn đi, nhấn lại cho Tôn giả Tu Bồ Đề ít lắm là mười lần. Trong đó bốn lần, Đức Phật đã nói rõ không có pháp gì để đắc; ba lần không có pháp gì để thuyết và ba lần không có pháp gì để bám lấy.

Do đó, Lý pháp của Kinh Kim Cang Bát Nhã là Vô vi không, Tất cánh không hay Đệ nhất nghĩa không, nghĩa là Không một cách tuyệt đối.

Và Lý Pháp nầy đã được gói trọn vẹn ở trong hai chữ Bát Nhã của đề Kinh.

Ø Hạnh pháp:

Hạnh pháp của Kinh Kim Cang Bát Nhã không phải chỉ đơn thuần là Lục độ mà Lục độ đi kèm với Bồ đề tâm có nội dung vô trú. Hành Lục độ với Bồ đề tâm có nội dung vô trú, đó là hạnh pháp của Kinh Kim Cang Bát Nhã nầy. Ở Kinh nầy, Đức Phật đã nói với Tôn giả Tu Bồ Đề về pháp hành bố thí của Bồ Tát không bị mắc kẹt bởi tưởng hay tướng của tưởng như sau:

“Tu Bồ Đề, Bồ Tát ư pháp, ưng vô sở trú, hành ư bố thí. Sở vị, bất trú sắc bố thí, bất trú thanh, hương, vị, xúc, pháp bố thí. Tu Bồ Đề, Bồ Tát ưng như thị bố thí, bất trú ư tướng”. (Kim Cang Bát Nhã, La Thập, Đại Chính Tân Tu 8, tr 749a). = Nghĩa là: Hỡi Tu Bồ Đề! Bồ Tát ở nơi pháp, thực hiện bố thí, không nên mắc kẹt. Nghĩa là thực hiện bố thí không nên mắc kẹt ở nơi sắc; bố thí không nên mắc kẹt ở nơi thanh, hương, vị, xúc và pháp. Hỡi Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên bố thí như vậy, không mắc kẹt ở nơi tướng.

Tướng ở đây, trong Phạn bản là nimittasaṃjñā (Buddhist Sanskrit Text, No 17, P 76), có nghĩa là tướng của tưởng. Như vậy, Bồ Tát thực hành bố thí, không nên mắc kẹt vào cái tướng của Ngã, Nhân, Chúng sanh và Thọ giả do vô minh vọng tưởng vẽ vời ra. Không những vậy, mà Bồ Tát khi thực hành Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ cũng vậy, không nên bị mắc kẹt vào cái tướng Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả hay là tướng của pháp và phi pháp, do vô minh vọng tưởng vẽ vời ra. Bồ Tát thực hành Lục độ mà không bị mắc kẹt vào các tướng của tưởng như vậy, là Bồ Tát đang thực hiện đúng với Tuệ Giác Kim Cang.

Và như vậy, hạnh pháp của Kinh Kim Cang Bát Nhã được gói trọn ở trong ba chữ Ba La Mật của đề Kinh.

Ø Quả Pháp:

Quả pháp của Kinh Kim Cang Bát Nhã là Phật quả. Phật quả là do thực hành pháp Lục độ với Bồ đề tâm có nội dung vô trú đem lại. Hạnh vô trú của Kim Cang Bát Nhã là làm tất cả thiện sự một cách tích cực mà không vướng mắc bởi những ý niệm Ngã, Nhân, Chúng sanh và Thọ giả, thì sẽ dẫn đến Phật quả, hay là chứng nhập Phật quả, như Kinh nói: “Dĩ vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, tu nhất thiết thiện pháp, tức đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. (Kim Cang Bát Nhã, La Thập, Đại Chính Tân tu 8, tr 751c). = Nghĩa là: Sử dụng tinh thần vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, mà tu tập hết thảy pháp lành là chứng đắc Phật quả.

Phật quả mà Kinh Kim Cang Bát Nhã trình bày là Tuệ Giác Vô Tướng, Thực Tại Vô Tướng, Pháp Thân Vô Tướng hay là Tự Tánh Thanh Tịnh nơi hết thảy chúng sanh. Phật quả như vậy là không bị hoại diệt bởi thời gian và không bị biến thiên bởi không gian. Phật quả như vậy không thể gọi là “thường” theo nghĩa thường của thế gian; không thể gọi là “diệt” theo nghĩa đoạn diệt của thế gian; không thể gọi là “có” hay “không” theo nghĩa có, không của thế gian. Phật quả như vậy lúc nào và ở đâu cũng bất khả hoại. Như vậy, Kim Cang được Kinh nầy sử dụng để ví dụ cho Phật quả.

Do đó, quả pháp của Kinh Kim Cang Bát Nhã được gói trọn trong hai chữ Kim Cang của đề Kinh.

 

---o0o---

 

 Mục Lục|1|2|3|4|5|6|7

---o0o---

Trình bày: N.Tường
Cập nhật: 6-2005

 

Webmaster:quangduc@tpg.com.au

Trở về Trang Tập San Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au