Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


...... ... .

 

 

Tập san Pháp Luân

No.12

Mục Lục

 

  Tứ đế (tt) - TT. Thích Đức Thắng

  Thời niên thiếu của Tôn  giả Mục-kiền-liên - Thích Trí Lộc 

 ■ Đức Quán Âm với Ngày Hạnh của ngành Nữ GĐPTVN - Tâm Minh 

 ■ Tu hạnh Quán Âm - Chánh Niệm 

 ■ Kiến trúc Phật giáo qua các thời kỳ  - Trần Lan Chi 

 ■ Tháp Sanchi (Ấn Độ) biểu tượng của Phật giáo - Quang Đức 

 ■ Nhìn lại gốc rễ - TT. Thích Thái Hòa 

 ■ Tiến trình chết của con người - Nguyên Liên 

 ■ Đường về hạnh phúc - Nguyên Châu 

 ■ Mất vợ do tin sao tốt - xấu - Quang Sơn 

 ■ Nắng sẽ lên - Nguyên Đức 

 ■ Thơ: Hạnh Phương, Lê Ngọc, Mặc Không Tử, Hoa Hàm Tiếu, Ngư Ca Tử, Ngàn Thương

 ■ Nhà nghiên cứu Đức cho rằng đức Phật chào đời tại Orissa - Quảng Anh 

 ■ Cuộc triển lãm nghệ thuật tại Học Viện Phật giáo ở Honolulu - Thông Tánh 

 ■ Xá-lợi Phật được tôn trí vĩnh viễn tại trụ sở Liên Hiệp Quốc - Hương Mận

 ---o0o--- 

Tứ Đế ^

TT. Thích Đức Thắng

(tiếp theo)

IV. SỰ THẬT VỀ CON ĐƯỜNG (Marga-satya): Sự thật thứ tư là con đường trực tiếp đưa đến sự giải thoát chấm dứt khổ đau. Sự thật này là tác nhân giải thoát hiện tại đưa đến chấm dứt quả khổ gần hay xa trong tương lai theo luật tắc nhân quả biến dịch hay phân đoạn của xuất thế gian. Là con đường Trung Đạo (Madhyamā-Paratipad), tránh xa hai cực đoan tà chấp là chạy theo tìm kiếm hạnh phúc qua khoái lạc giác quan vật chất thấp hèn, thường nghiệm, không mang lại bất cứ lợi ích nào trong hiện tại cũng như tương lai sau đó, và tìm kiếm hạnh phúc qua hình thức khổ hạnh tự ép xác dưới nhiều hình thức khác nhau, vì sự tìm kiếm này cuối cùng cũng không thấy hạnh phúc đâu mà chỉ mang lại thân tàn ma dại, ảnh hưởng trực tiếp lên tinh thần buồn khổ chán chê mất tính tự chủ sáng suốt. Theo giáo thuyết A-hàm mà nói thì nhờ vào thực tiễn của con đường này mà chính đức Đạo sư đã xa lìa chủ nghĩa khoái lạc và khổ hạnh trong thực hành trước khi Ngài thành đạo. Đức Đạo sư với kinh nghiệm của chính mình, Ngài đã tìm ra Trung Đạo và nhờ vào chính nó mà hoàn thành trí tuệ giải thoát đưa đến Bồ-đề Niết-bàn. Đó chính là con đường trung đạo tám ngành, hay nói một cách chính xác hơn thì chân lý mười hai nhân duyên, nếu đem lý giải thì chính nhờ vào nó mà đức Phật đã xa lìa chủ trương thường kiến, chấp chặt vào ngã cho là một chủ thể sinh mệnh hữu tình chúng sanh luôn tồn tại; cùng xa lìa chủ trương đoạn kiến cho rằng sau khi chết hữu tình chúng sanh sẽ vĩnh viễn mất luôn không còn tồn tại nữa; hay xa lìa lập trường chủ trương tự nhiên trong những kiến giải của hữu kiến thế gian, cùng chủ trương chủ nghĩa hư vô cho rằng tất cả đều là không, không có gì hết của vô kiến mà tất cả mọi người vào lúc bấy giờ dùng bốn cách nhìn thiên kiến sai lệch này đối với nhân sinh và vũ trụ, trong lúc Ngài quán thuận và nghịch mười hai nhân duyên này. Đó gọi là chánh kiến của trung đạo quán. Trung Đạo này thường được diễn tả là Bát chánh đạo (āryāṣṭāgika-mārga): tám con đường chân chính, bởi vì nó gồm có tám ngành, cũng có thể gọi là tám phạm trù:

1. Chánh kiến (samyag-dṛṣṭi): sự thấy biết chân chính, tức là thấy khổ đau về vật chất cũng như tinh thần là khổ đau, thấy sự tập khởi của khổ đau là sự tập khởi khổ đau, thấy sự diệt tận của khổ đau là sự diệt tận khổ đau, thấy con đường đưa đến sự diệt tận là con đường đưa đến sự diệt tận khổ đau; có nghiệp thiện ác, có quả báo nghiệp thiện ác, có đời này đời kia, có cha có mẹ, có chân nhơn đi đến nơi thiện, hướng thiện; đối đời này đời kia có thể tự giác ngộ, tự thân tác chứng thành tựu đạo quả giải thoát.

2. Chánh tư duy (samyag-sankappa): suy nghĩ chân chính, tức là có ý chí đúng, phân biệt đâu đúng đâu sai, hiểu biết nhớ nghĩ chính xác, tức là không có tham dục giác, sân nhuế giác và hại giác.

3. Chánh ngữ (samyag-vāca): lời nói chân chính, tức là lời nói đúng đắn, chân thật. Tức là không còn sử dụng những lời nói dối, lời nói hai lưỡi đâm thọc gây chia rẽ, lời nói thô ác xấu xa, lời nói thêu dệt thêm bớt không chính xác.

4. Chánh nghiệp (samyag-kammanta): còn gọi là chánh hạnh, là việc làm chân chính, tức là những hành động trong tạo tác đúng với Chánh pháp, xa lìa sát sinh, không cho mà lấy, cho đến việc tà hạnh, những giới chúng ta đã phát nguyện thọ trì.

5. Chánh mạng (samyag-ājīva): sự sống chân chính, tức là chúng ta bỏ lối sống mê tín sử dụng chú thuật cầu đảo… theo tà mạng. Phải như pháp mà cầu y phục đồ ăn thức uống, giường nằm, thuốc men trị bệnh và tất cả những phương tiện tùy thân khác trong sinh hoạt hằng ngày.

6. Chánh tinh tiến (samyag-vāyāma): cố gắng chân chính, tức là luôn cố gắng nỗ lực trong việc chuyển ác thành thiện đối với cuộc sống: Nên phát nguyện đối với những điều ác đã phát sinh thì nên tìm cách tiêu diệt chúng, những điều ác chưa phát sinh thì không khiến chúng phát sinh, những điều thiện chưa phát sinh thì nên tìm cách khiến cho nó phát sinh ra, những điều thiện đã phát sinh rồi hãy tiếp tục làm cho nó tăng trưởng nhiều hơn nữa.

7. Chánh niệm (samyag-satti): nhớ tưởng chân chính, là ý nhớ nghĩ đến thân, thọ, tâm, pháp. Đó là bốn pháp mà chúng ta cần phải nhớ nghĩ đến, còn gọi là bốn niệm xứ.

8. Chánh định (sammā samādhi): tập trung chân chính, tức là xa lìa các pháp dục ác bất thiện để thành tựu bốn thiền từ sơ thiền đến tứ thiền.

Trong cuộc đời thuyết pháp độ sinh của đức Đạo sư qua bốn mươi lăm năm, Ngài luôn luôn tùy thuộc vào căn cơ trình độ hiểu biết của mọi chúng sinh hữu tình mà dùng con đường đưa đến sự diệt khổ đau tám ngành này mà theo đó giảng dạy cho đồ chúng của mình. Ngài giảng dạy chúng bằng những phương cách khác nhau và cách dùng dụng ngữ cũng khác nhau cho những người có trình độ hiểu biết cảm thụ khác nhau, tùy trình độ phát triển cho phù hợp với trình độ, mọi tầng lớp trong xã hội vào lúc bấy giờ. Nhưng tinh túy nội dung tư tưởng giải thoát của nó vẫn nhất quán trong thuyết giáo của mình, hàng trăm ngàn bài thuyết giáo rải rác trong ba tạng giáo điển của Ngài, được chúng ta tìm thấy đều nói lên nội dung tư tưởng giải thoát của Bát Chánh Đạo, qua sự hoàn thiện tam vô lậu học Giới-định-tuệ trong mục tiêu làm trong sạch ba độc tham-sân-si bằng vào thanh tịnh hóa ba nghiệp thân khẩu ý, qua tám phạm trù được thể hiện trong cuộc sống.

Qua tám phạm trù hay tám ngành này, được phân bố theo chức năng của ba học trong việc tu tập đối với kỷ luật tâm linh những lời dạy của đức Phật. Như vậy, không nhất thiết là phải theo thứ tự từ một cho đến tám trong việc áp dụng thực hành theo thứ tự như trên. Chúng phải được thực hành phát triển gần như cùng lúc với nhau, càng nhiều càng tốt tùy theo khả năng căn cơ từng người một. Tất cả tám phạm trù này, chúng liên kết nhau và mỗi phạm trù hỗ trợ cho sự đào luyện những phạm trù khác.

Tám phạm trù này chúng được phân nhóm vào ba học Giới (Sila), Định (Samādhi) và Huệ (Pannā) thì chúng sẽ tùy thuộc vào đó mà mang ý nghĩa và giá trị của từng nhóm một.

Giới (sila) một kỷ luật phổ quát dành cho việc xây dựng tình yêu và tình thương xót đối với tất cả mọi sinh vật hữu tình chúng sanh đang hiện hữu, theo ý nghĩa nền tảng căn bản của giáo lý đức Phật. Đức Phật ban bố giáo lý từ bi của Ngài trong tu tập tự lợi và lợi tha như kinh Đại Phương Đẳng 24, T. 13, p. 0170b dạy: “Bồ-tát Ma-ha-tát nào muốn thành tựu Chánh đẳng Chánh giác thì phải tu tập từ bi.” Hay vì muốn lợi ích cho nhiều người, hạnh phúc cho nhiều người, do từ bi đối với thế gian, trong kinh Ưu-bà-tắc giới 7, T. 24, p. 1074c, đức Phật dạy: “Này Thiện nam! Người trí nên phải quán sát như vầy: ‘Tất cả phiền não là oán lớn đối với ta. Vì sao vậy? Vì phiền não có khả năng tự phá mình và phá người. Vì nhân duyên này, nên ta phải tu tập tâm từ để vì lợi ích tất cả chúng sanh và vì muốn được hoàn thiện vô lượng pháp. Nếu có người nào bảo lìa từ bi mà có được thiện pháp thì việc này không nơi nào có!’”

Theo đức Đạo sư, mỗi người chúng ta muốn hoàn thiện cho chính mình thì phải phát triển cả hai đức tính bi (karuā) và trí (jñāna) song song với nhau. Ở đây, ‘Bi’ tượng trưng cho trái tim biểu thị cho tình cảm, có nghĩa là chỉ cho lòng thương xót, yêu mến người và vật, sự tử tế với nhau, khoan dung độ lượng, nói chung chỉ cho lòng trắc ẩn đối với cái khổ của người khác mà khởi tâm muốn cứu khổ, trong khi ‘Trí’ tượng trưng cho khối óc thuộc về khía cạnh tri thức hiểu biết, đối với đạo lý tất cả mọi sự vật có khả năng đoán định phân biệt chuyện thị phi, chánh tà mà lựa chọn lấy bỏ, nên gọi là trí. Nếu chúng ta chỉ phát triển phần tình cảm mà quên đi phần tri thức lý trí, thì chúng ta dễ trở thành những kẻ ngu si tốt bụng không biết phân biệt được đâu là tốt xấu, việc gì nên làm và việc gì không nên làm! Trong khi nếu chúng ta chỉ phát triển khía cạnh tri thức lý trí mà bỏ quên tình cảm thì, chúng ta sẽ dễ trở thành một người trí có tim sắt đá không biết cảm thông thương xót rung động trước mọi người ngoài ta ra. Vì vậy muốn hoàn thiện một con người, người ta phải phát triển về cả hai mặt tình cảm và lý trí đồng đều. Đó là mục đích thăng hoa của lối sống theo đức Phật qua luật tắc nhân quả thế gian; trong đó trí huệ và từ bi liên quan mật thiết với nhau như ta sẽ thấy sau này qua ba vô lậu học, trong tiến trình tu tập thực hành đưa đến giải thoát đau khổ tùy theo trình độ căn cơ lệ thuộc về nhân quả hay duyên khởi.

I - GIỚI: Trong Giới, theo chúng tôi thì bao gồm năm phạm trù chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Trong năm phạm trù này thì ba phạm trù đầu thuộc về điều thân nói chung, trong đó có thân và khẩu giới, nơi trực tiếp tạo ra nghiệp nhân để đưa đến kết quả báo nghiệp sau đó thuộc hệ nhân quả, thuộc hành vi đạo đức của lời nói và hành động, mà mọi người có thể nhận thấy được những hành vi cử chỉ cùng lời nói có đạo đức hay không đạo đức được thể hiện ra một cách rõ nét nhất, và cũng nhờ có những hành vi này mà chúng ta có thể đánh giá được ý hành của mỗi cá nhân được thể hiện qua chúng là thiện hay bất thiện, là đúng pháp hay không đúng pháp. Còn hai phạm trù sau tức là Chánh tinh tấn, Chánh niệm thuộc về điều tâm (ý giới), trước khi vào Định thật sự.

Theo ba học thì chánh ngữ của khẩu thuộc về Giới, nếu miệng chúng ta không phát ra những lời nói dối trá; không phát ra lời nói vu khống, hay nói những lời có thể gây thù hằn, ghét bỏ, bất hòa, hay gây gổ mạ lị giữa những cá nhân hay những nhóm người lẫn nhau; không nói lời thô lỗ, vô lễ, ác độc, thóa mạ; không nói lời mách lẻo, vô ích, xuẩn ngốc. Chúng ta cố gắng nhẫn nhịn, không nói những thứ ngôn ngữ sai quấy và độc hại ấy đối với những người chung quanh chúng ta khi giao tiếp qua lời nói của cửa miệng, mà chúng ta chỉ dùng những thứ ngôn ngữ chân thật từ hòa dịu dàng, những từ ngữ thân thiện, khoan hòa, êm ái và nhã nhặn mà thuật ngữ đức Phật gọi là ái ngữ, có ý nghĩa và lợi ích thì ngay lúc đó miệng chúng ta không những trở nên trong sạch mà còn tỏa ra hương vị của từ bi và giải thoát mà chính ý chúng ta cũng thể hiện được sự trong sạch và hương từ bi thơm mát nữa. Từ đó khi chúng ta giao tiếp với nhau, mọi người sẽ không còn nói năng bừa bãi, cẩn thận đúng lúc và đúng chỗ. Trường hợp nếu không thể nói được những lời nói lợi ích cho nhau thì, tốt hơn nên giữ sự im lặng. Đó chính là những thể hiện của chánh ngữ qua giới trong lúc hành giả tu tập.

Giới học này không chỉ được giới hạn qua miệng (khẩu) của lời nói mà còn được giới hạn qua mọi hành vi tạo tác của thân nữa. Ở đây Chánh nghiệp thuộc về thân nhằm thể hiện những hành vi tạo tác tương ưng với đạo đức, khả kính và hòa nhã. Trong đó, đức Đạo sư khuyên chúng ta nên từ bỏ sự sát hại sinh mạng, sự trộm cắp; có làm có ăn bình đẳng trong sự nghiệp của mỗi người, tránh xa mọi sự tà dâm không có lợi cho chính gia đình mình và gia đình người khác trong hạnh phúc, trong một cuộc sống hòa nhã tương kính lẫn nhau trong một cộng đồng xã hội nhân bản. Khi mà thân chúng ta không hành động tạo tác những hành vi có hại cho mình, cho người, cho xã hội thì chúng ta nên tránh xa và ngược lại phóng sanh, giúp đỡ mọi người cả về vật chất lẫn tinh thần cùng tạo mọi sự an lạc hạnh phúc cho chính mình và xã hội. Đó gọi là tu tập Chánh nghiệp qua những hành vi và mọi tạo tác do thân mang lại sự trong sạch hạnh phúc cho chính bản thân mình, mọi người cùng xã hội được thể hiện bên ngoài phát xuất từ ý chí thanh tịnh.

Ngoài những hành vi tạo tác do thân trực tiếp tạo ra như giết hại, trộm cắp, tà dâm của nghiệp, còn có những nghề nghiệp cũng từ tự thân mỗi người mang lại sự thiệt hại cho người khác, cho xã hội như sống bằng những nghề mê tín phù phép chú thuật, buôn bán khí giới, nước uống say sưa, độc dược, ma túy, giết hại súc vật, lừa dối, v.v… mà đức Đạo sư gọi là lối sống theo tà mạng cũng được Ngài nhắc đến trong tám phạm trù đó là Chánh mạng. Ở đây, chúng ta phải sinh sống bằng một nghề nghiệp chính đáng, không tạo ra tội cho chính mình và không có hại cho người, vật.

Ba phạm trù này (Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mạng) của Bát chánh đạo thiết lập hành vi đạo đức cho mọi chúng sanh hữu tình trong việc thể hiện trực tiếp thanh tịnh hóa hai nghiệp thân khẩu. Ở đây, nếu nói theo ý nghĩa của thiền định trong mọi lúc mọi nơi thì ba phạm trù này thuộc điều thân trong mọi sự sinh hoạt, hoạt động hằng ngày mà giới là hình thức để chúng ta thể hiện hành vi đạo đức và luân lý trong Phật học, cốt khiến cho cuộc sống cá nhân và xã hội đầy hạnh phúc an lạc. Vì vậy, không thể có sự phát triển tâm linh sâu xa nào, nếu không có căn bản đạo đức này. Đó gọi là ba phạm trù thể hiện đạo đức trong việc thanh tịnh hai nghiệp thân khẩu của luật học, mà trong thiền học thì gọi là điều thân.

Kế đến là Kỷ luật Tâm linh (luật học) tức là phương pháp điều tâm (ý) (thiền học), trong đó bao gồm hai phạm trù Chánh tinh tiến, và Chánh niệm. Trong hai phạm trù này thuộc phạm vi ý chí tạo ra nghiệp nhân để dẫn đến nghiệp quả của chúng ta, tức chỉ cho đầu mối trực tiếp cho mọi sự tái sinh trong ba cõi luân hồi. Ở đây nói đến phạm vi nỗ lực của ý chí trong cả hai lãnh vực chỉ ác hành thiện. Chính Chánh tinh tiến là ý chí mạnh mẽ để ngăn ngừa những điều xấu ác chưa phát sinh thì không cho chúng phát sinh; trừ bỏ những điều xấu ác đã phát sinh; làm phát sinh những điều thiện chưa được phát sinh và nuôi dưỡng làm tăng trưởng những điều thiện đã phát sinh chính ngay trong cuộc sống của mỗi người trong chúng ta (phần này sẽ trình bày trong phần Tứ chánh cần). Để rồi từ đó chúng ta không những chỉ kiểm soát điều tâm ý của mình thôi mà còn tiến xa hơn nữa trong việc kiểm soát mọi hoạt động của thân qua những cảm giác và cảm thọ trong việc để ý, chú ý đến từng ý niệm.

Ở đây, Chánh niệm luôn luôn làm việc này, là lúc nào cũng biết rõ, ý thức một cách đầy đủ và chú ý về những hoạt động của thân xác (kàya); những hoạt động tâm ý (citta);  những ý tưởng, tư tưởng, quan niệm về những sự vật (dhamma) và những cảm giác hay cảm thọ (vedanā) của chúng ta.

Đối với những hoạt động của thân xác, chúng ta phải nhận thức một cách rõ ràng về bất tịnh cùng sự hiện hữu và biến dịch của chúng theo nhân duyên trong cuộc sống của mỗi người.

Đối với những hoạt động của tâm thức, chúng ta phải ý thức và nhận thức rõ xem tâm mình có tham dục hay không, có thù hận hay không, có vọng tưởng si mê hay không, tâm ý chúng ta hiện đang phân tán hay tập trung v.v… phải biết rõ ràng và chính xác như chính nó. Với cách thức như vậy, chúng ta bất cứ lúc nào cũng phải luôn có ý thức về mọi động tác của tâm ý, xem sự sinh và diệt của chúng như thế nào.

Đối với những ý nghĩ hay tư tưởng, quan niệm và các pháp người ta cần phải biết tính chất của chúng, chúng sinh diệt ra sao, phát triển như thế nào và bị tiêu diệt ra làm sao v.v…

Đối với những cảm giác, cảm thọ, chúng ta phải ý thức rõ ràng về tất cả những hình thái của chúng, nào là vui, khổ, hoặc không vui không khổ, chúng đã hiện hữu và biến dịch như thế nào theo định luật vô thường chi phối ở trong mỗi chúng ta (phần này sẽ được trình bày trong Tứ niệm xứ).

Đó là hai phạm trù điều tâm của Bát chánh đạo được phối hợp với Giới trong ba vô lậu học, trước khi đưa đến Định của ba vô lậu học của phạm trù Chánh định trong Bát chánh đạo.

II - ĐỊNH: Phạm trù thứ tám của Bát chánh đạo là Chánh định, phạm trù này đưa đến bốn Thiền-na (dhyānā). Trong sơ thiền, tất cả những pháp ác bất thiện của dục giới tuy đã lìa bỏ được không còn hiện hữu nữa, nhưng những cảm thọ hoan hỷ (hỷ) hạnh phúc (lạc) của dục giới, có giác có quán (có tầm có từ) cùng với vài hoạt động tâm lý phân biệt thô tế vẫn còn được duy trì trong đối trị. Cho đến nhị thiền thì giác và quán đã được đoạn trừ, tín căn được hình thành và tất cả mọi hoạt động tri thức đều bị loại bỏ, bên trong sự trong sạch, sự an tĩnh và nhất tâm được phát triển, chỉ có những cảm giác hoan hỷ (hỷ) hạnh phúc (lạc) vẫn còn được giữ lại. Đến tam thiền thì cảm giác hoan hỷ hoạt động cùng hạnh phúc (lạc) ở nhị thiền biến mất, chỉ còn lại duy nhất có cảm giác hạnh phúc (lạc) vẫn tồn tại, trụ vào cảnh giới ‘hành xả’ không khổ không vui, cộng với sự khinh an thanh thoát của ý thức xuất hiện nhờ chánh niệm chánh tri. Cho đến tứ thiền thì cảm giác hạnh phúc khinh an không còn nữa, mọi cảm giác đều tan biến; chỉ còn lại ý niệm thuần tịnh.

Trong phạm trù này, tâm được huấn luyện, khép vào kỷ luật và phát triển nhờ bốn thiền-na của Chánh định mà có được tánh cảnh nhất tâm thuần tịnh.

III - TUỆ: Hai phạm trù còn lại Chánh tư duy và Chánh kiến biểu thị cho Trí huệ, sau khi đã nhờ điều hòa thanh lọc thân-tâm và nhờ bốn thiền-na đạt được tánh cảnh nhất như thanh tịnh như trên, chúng tôi đã trình bày theo phương pháp thanh lọc điều thân-tâm của hệ thống nhân quả, để rồi chúng sanh hữu tình chúng ta có được kết quả trí tuệ phát sinh nhờ vào những nhân tố tạo tác trước đó qua kỷ luật thanh lọc đào luyện tâm linh mà đức Đạo sư đã chỉ dạy. Ở đây Chánh kiến, chánh tư duy là hai phạm trù biểu thị cho lãnh vực trí tuệ.

Chánh kiến là sự thấy biết mọi sự đúng như thật, và chỉ có Tứ đế mới giải thích sự vật đúng như thật. Bởi vậy Chánh kiến là thấy, hiểu Tứ đế. Sự hiểu biết này phát xuất từ trí huệ cao cả nhất, thấy được thực tại tối hậu. Theo Phật giáo có hai thứ hiểu biết: Cái gì chúng ta thường hiểu biết thì cái hiểu biết đó gọi là tri thức, một trí nhớ nhờ vào tích trữ kinh nghiệm, một sự lãnh hội của tri thức về vấn đề nào đó tùy thuộc vào một vài chi tiết đã cho. Đấy gọi là “cái hiểu biết tùy thuộc” (anubodha). Nó chỉ là một cái hiểu biết cạn cợt trên mặt hiện tượng chứ không phải bản chất, không sâu sắc lắm. Sự hiểu biết sâu sắc thực sự đó chính là sự thâm nhập (pativedha), thấy biết sự vật ngay từ trong bản chất của nó mà không cần tên gọi hay nhãn hiệu, sự thâm nhập này chỉ có được khi tâm đã sạch mọi pháp ác bất thiện cấu bẩn và hoàn toàn phát triển nhờ thiền định mà có được.

Chánh tư duy chỉ những tư tưởng khước từ những vị kỷ xấu xa của chấp ngã chấp pháp ràng buộc, hay giải thoát tất cả những khổ đau từ thân miệng ý phát sinh, để hình thành bình đẳng tánh tướng trong ý tưởng về tình thương yêu vô ngã, và về bất bạo động, dàn trải ra khắp cả muôn loài. Những ý tưởng về sự giải thoát, tình yêu vô ngã và bất bạo động được nhóm họp và phát sinh về phía trí huệ. Điều đó chứng tỏ rằng trong trí huệ chân thật vốn có những đức tính cao cả này, và mọi tư tưởng về tham dục, sân hận, si mê, bạo động nói chung là các pháp ác bất thiện đều phát xuất và có mặt từ sự thiếu trí huệ trong mọi lãnh vực của đời sống như cá nhân và xã hội, nên từ đó cá nhân, xã hội trở thành bất an, khổ đau xuất hiện.

Từ sự miêu tả sơ lược về Bát chánh đạo, ta có thể thấy rằng đấy là một lối sống phải được mỗi người tuân theo, thực hành và phát triển trong sự phối hợp với ba vô lậu học. Nó là tự-kỷ-luật điều thân xác, điều lời nói và điều tâm (ý nghĩ), tự phát triển và tự thanh lọc để trở thành thanh tịnh. Sự phối hợp ở trên, chúng tôi căn cứ vào luật tắc nhân quả để hình thành nên có sự phối hợp sắp xếp có trước có sau như vậy; nhưng nếu đứng về mặt duyên khởi thì đúng là không có phạm trù nào hay ba vô lậu học có trước có sau, hay theo bất cứ một thứ tự sắp xếp nào hết, mà chúng tùy thuộc vào sự hiện hữu hiện quán mà trong cuộc sống và căn cơ của chúng ta mà hình thành và ở trong nhau. Ở đây, không dính líu gì đến đức tin, cầu nguyện, thờ phụng hay nghi lễ. Theo nghĩa này thì, không có gì có thể gọi là có tính cách tôn giáo thông thường mà nó là một phương pháp rèn luyện điều tiết thanh lọc thân tâm. Nó là con đường đưa chúng ta đến sự thực chứng chân lý rốt ráo tối hậu, dẫn đến mọi sự tự do hoàn toàn, hạnh phúc và bình an sau khi hoàn thiện tâm linh nhân bản về mặt đức và trí.

(còn tiếp)

Thời Niên Thiếu của Tôn giả Mục-kiền-liên ^

Thích Trí Lộc

 

Từ ngàn xưa đến nay, các triết gia và các học giả trên thế giới đều khẳng định rằng: Ấn Độ là một trong những chiếc nôi tâm linh, dung chứa những sức sống tâm linh vĩ đại nhất trên thế giới. Ấn Độ hàng ngàn năm trước so với Ấn Độ bây giờ vẫn có những sự tương đồng một cách kỳ lạ: nếu như hàng ngàn năm trước Ấn Độ có hàng trăm tôn giáo, tín ngưỡng, học thuyết bất đồng, đa dạng và phong phú, thì Ấn Độ ngày nay vẫn tồn tại những sự đa dạng và dị biệt ấy. Nếu như Ấn Độ cổ có nền văn minh vĩ đại (văn minh Indus), thì nền khoa học kĩ thuật Ấn bây giờ cũng phát triển đến đỉnh cao, ngang tầm với những quốc gia có nền khoa học phát triển nhất. Nếu như Ấn Độ ngày xưa có những ngôi làng cổ kính, những bộ tộc hùng mạnh, giàu sang, phồn thịnh tồn tại bên những ngôi làng nghèo đói, thấp hèn, thì ngày nay Ấn Độ cũng tồn tại những thành phố giàu sang bên cạnh những khu dân cư đói khổ v.v… Chính ngay những điều kiện đa dạng và dị biệt ấy, các học giả đã khẳng định rằng, đó là một trong những lý do mà đức Phật chọn Ấn Độ làm nơi giáng thế, để cứu khổ độ sanh.

Suốt cuộc đời hoằng pháp bất quyện trên xứ Ấn khắc nghiệt, đức Phật đã độ được hàng vạn người xuất gia tu học trong Chánh pháp, hàng triệu người qui y theo đức Phật, làm đệ tử tại gia, lấy Chánh pháp làm kim chỉ nam để tu tập hướng về chân-thiện-mỹ. Trong hàng vạn đệ tử xuất gia, sử liệu Phật giáo đã ghi nhận tiêu biểu mười vị đệ tử xuất sắc nhất, nổi bật nhất về những năng lực: trí tuệ, thần thông, trì giới, v.v... mà trong các kinh sách thường gọi mười vị Thánh này là mười vị đệ tử lớn, đứng đầu trong hàng vạn đệ tử xuất gia của đức Thế Tôn. Trong bài này, người viết xin giới thiệu đến độc giả về thời niên thiếu của một trong mười vị Đại đệ tử ấy, Tôn giả Mục-kiền-liên, bậc Thánh đứng hàng thứ hai trong mười vị Đại đệ tử của đức Phật. Ngài được đức Thế Tôn khen ngợi là vị có thần thông đệ nhất và hiếu tâm lớn nhất trong hàng đệ tử xuất gia của Phật.

1. Dòng tộc và sự đản sanh:

Tôn giả Mục-kiền-liên đản sanh tại làng Câu-ly-ca, một ngôi làng giàu sang và danh tiếng nằm gần thủ đô vương quốc Ma-kiệt-đà, thuộc tiểu ban Bihar, Ấn Độ ngày nay. Đây là một trong những ngôi làng phồn thịnh bậc nhất thời bấy giờ. Nơi đây hầu như chỉ dành cho những đại tộc Bà-la-môn cư ngụ.

Thân phụ Ngài không được các kinh sách và sử liệu ghi chép rõ (Ấn Độ cổ có một truyền thống tâm linh mạnh nhất thế giới, nhưng tiếc rằng Ấn Độ cổ không chú trọng về chữ viết, do đó các sử liệu về các bậc Thánh của Ấn Độ ngày xưa không được ghi chép rõ ràng, ngay cả kỳ kết tập kinh điển lần đầu tiên cũng chưa có chữ viết), chỉ biết rằng, thân phụ của Ngài là tộc trưởng của làng Câu-ly-ca, là một trưởng giáo Bà-la-môn giàu có và danh vọng đứng đầu cả làng. Thân mẫu Ngài thuộc dòng dõi Moggalli (có nghĩa là Thiên văn gia), theo ngữ căn thì danh từ Moggalli phát nguyên từ chữ Mudgala (một dòng dõi chuyên nghiên cứu về Thiên văn học cổ), thuộc giai cấp Bà-la-môn giàu sang và quyền quí, các kinh sách thường gọi tên bà là Thanh Đề.

Vốn là trưởng giáo Bà-la-môn của làng, thân phụ Ngài có hàng trăm đồ chúng, tài sản và danh vọng nổi tiếng cả một vùng, nhưng hai ông bà Thanh Đề vẫn mang trong lòng một nỗi u buồn sâu lắng, kết hôn đã lâu mà vẫn chưa có một mụn con để nối dõi. Vì thế đã chục năm trôi qua kể từ ngày lễ cưới, hai ông bà vẫn đêm ngày dâng lễ vật cầu nguyện đấng Phạm Thiên cao cả, cầu xin một người con để nối dõi tông đường, giữ gìn gia sản đồ sộ. Họ thường khấn rằng: “Kính lạy đức Phạm Thiên cao cả! Là đức Cha sinh của muôn loài. Bởi Ngài mà chúng sanh có trí tuệ, lạc phúc, vinh quang cùng bất tử. Bởi Ngài mà chúng sanh có thực phẩm, trái cây cùng những nghề nghiệp nuôi mạng… Kính lạy đức Brahman tối thượng tôn! Là linh hồn ngu si, nhỏ bé đầy đau khổ do Ngài sáng tạo ra, con kính ngưỡng Ngài ban phát cho chúng con niềm vui trần tục để thế hệ cháu con tiếp nối tuân phục Ngài, thờ kính Ngài, phủ phục dưới chân Ngài bằng đức tin thanh khiết và tuyệt đối… Xin Ngài ban cho con một mụn con thơ!”

Qua mười năm ròng rã nguyện cầu, cuối cùng nguyện vọng của hai vợ chồng cũng được cảm ứng. Buổi sáng nọ, sau một đêm chí thiết nguyện cầu, phu nhân Thanh Đề cảm thấy khắp phòng hương thơm ngào ngạt, toàn thân rúng động, một cảm giác kì lạ lan tỏa khắp châu thân, từ đó bà biết mình đã thọ thai, khi hay được tin mừng thân phụ Ngài vui mừng không diễn tả hết được. Ngày tháng dần trôi, đến ngày nở nhụy khai hoa, một hoàng nam đã chào đời đúng như lời khấn nguyện. Thân phụ Ngài vui mừng khôn xiết liền truyền mở đại tiệc thết đãi cả dân làng để vui mừng người con của dòng tộc cao quí, người con của dân làng Kolita đã xuất thế; đồng thời ông cho người thông báo tin mừng cho vị trưởng làng Upatissa và các vị trưởng làng bên cạnh đến chung vui.

Trong lúc cả làng Kolita đang vui mừng trong lễ hội, thì tại làng Upatissa cũng đang tổ chức tiệc hội vui mừng về sự chào đời của tôn giả Xá-lợi-phất. Hai gia đình của hai tôn giả đã có sự giao hảo tốt đẹp và kết thân với nhau đến bảy đời, hai niềm vui cùng một lúc và hai người báo tin lại gặp nhau giữa đường: “Có niềm vui, nỗi buồn nào mà hai gia đình này không san sẻ cho nhau? Họ thân thiết với nhau còn hơn ruột thịt. Họ gặp gỡ nhau không những ở tập cấp, dòng trưởng, trình độ kiến thức mà cùng với cả thú vui du sơn, ngoạn thủy nữa. Điều kỳ lạ là tuổi tác họ lại bằng nhau và sự hiếm muộn con cái cũng y như thế. Cũng đã mười năm ròng rã, họ cầu nguyện cúng tế đền thấp, miếu cao, đầu súc vật, mâm trái cây, bông hoa và trầm hương. họ sẵn sàng bỏ ra cả mấy trăm đồng tiền vàng để nhận một tin vui là sẽ có một người con trai để nối dõi tông đường, thừa kế di sản tinh thần và cả di sản vật chất nguy nga, đồ sộ. Họ đều là bậc đại phú, đại quí đứng đầu làng và có quyền lấy tên làng đặt tên cho con trai họ. Vốn là trưởng giáo tại ngôi làng Kolita nên môn sinh và bằng hữu đến thăm nhân ngày vui cũng rất đông. Bà Thanh Đề ở Kolita thế là cũng bắt đầu hoài thai một nhân cách siêu việt, một ngôi sao thực sự.”

Ngay trong ngày lễ hội vui mừng ấy, tên làng Kolita được dùng để đặt tên cho đứa bé, đồng thời theo luật Mã-nổ (Manou) thì người con phải theo họ mẹ. Do đó, tên của đứa bé được gọi đủ là Câu-li-ca Mục-kiền-liên.

2. Thời thơ ấu và lúc trưởng thành:

Là con trai của trưởng làng, trưởng giáo Bà-la-môn, lại là người con duy nhất của bộ tộc, thời thơ ấu của tôn giả Mục-kiền-liên được chăm sóc và giáo dục hết sức hoàn mỹ và chu đáo, lúc nào cũng có kẻ hầu người hạ. Không giống như tôn giả Xá-lợi-phất còn có đến sáu người em, tôn giả Mục-kiền-liên là con trai duy nhất của ông bà Thanh Đề, lại là người con của bộ tộc danh giá, cao quí nhất làng… Do đó, tất cả niềm tin yêu, kỳ vọng cũng như sự giàu sang danh tiếng của gia đình, dòng tộc đều dồn hết vào tôn giả Mục-kiền-liên. Năm lên ba, bốn tuổi, Chàng đã được cha dạy những mật chú vỡ lòng, những bài kinh khấn nguyện cũng như những phương pháp tế lễ, cúng thần… Lên sáu, bảy tuổi, cha chàng mời những vị thầy nổi danh trong làng và ở thành Vương-xá về truyền dạy những môn học về luận lý, số học, triết học… Năm lên tám tuổi, Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất ở làng bên cạnh đã nổi danh là thần đồng. Hai trẻ là hai ngôi sao sáng, là hai mẫu người lý tưởng, chuẩn mực cho hàng trăm trẻ cùng lứa tuổi noi gương. Tuy bản chất thông tuệ không bằng Xá-lợi-phất, nhưng Mục-kiền-liên lại nổi tiếng về dũng mãnh hơn, hai trẻ thường xuyên được gặp gỡ và chơi với nhau rất hợp ý qua sự tạo điều kiện của hai gia đình: “Hai gia đình thường tạo cơ hội cho hai trẻ gặp nhau. Và thật lạ lùng làm sao, những trò chơi của chúng bày ra lại rất nghiêm túc ngoài sức tưởng tượng của người lớn. Một trẻ đóng vai đạo sĩ khổ hạnh, một trẻ đóng vai du sĩ hành cước, chúng hỏi đạo nhau hoặc giả làm trò bố thí, cúng dường… Thỉnh thoảng trong những lời đối thoại, các bậc thầy cũng phải ngỡ ngàng về cái tâm mắc mỏ, có chiều sâu, chiều rộng của vấn đề. Tuy nhiên, trẻ con vẫn là tuổi vô tư lự. Chúng thích đi tắm sông, suối, thích chạy nhảy reo hò, thích ngoạn du đây đó. Giữa thiên nhiên chúng thả sức nô đùa, rượt đuổi chim thú, hái trái cây, hái hoa xâu thành tràng… Thỉnh thoảng chúng cũng vật lộn, đóng vai anh hùng, hiệp sĩ…”

Với bản chất thông tuệ, dũng mãnh cũng như địa vị và danh vọng của gia tộc, năm lên mười sáu, mười bảy tuổi, Mục-kiền-liên đã có cả trăm môn đệ trong làng vây quanh, cùng học tập, vui chơi cũng như thực tập các nghi thức tế lễ của làng. Ở làng bên cạnh, Xá-lợi-phất cũng có đầy đủ như vậy: “Hiện giờ, mỗi người đã có hơn một trăm môn sinh ở trong làng cùng các làng kế cận. Danh tiếng của hai môn đệ hy hữu này đã vượt qua những lũy tre xanh, vượt qua dòng sông lặng lẽ, vượt qua các thôn làng nhỏ bé để bay đến thành Vương-xá, kinh đô của văn hóa, kinh tế, tín ngưỡng và tâm linh của đạo học”.

Năm lên mười tám tuổi, Mục-kiền-liên đã trở nên một người thông tuệ, chàng bắt đầu gánh vác những trọng trách của làng do cha chàng dần dần giao phó. Tuổi thơ của Mục-kiền-liên không còn nữa, chàng đã bắt đầu làm một đạo sư khi tuổi vừa thành niên. Càng tiếp xúc với Thánh điển Vệ-đà, càng tiếp xúc với nhiều công việc tế lễ, thì sự trầm tư của chàng càng nhiều hơn.

 Điều làm cho chàng đau lòng nhất, bức xúc nhất là hình ảnh của những buổi đại lễ tế thần, hàng trăm chú cừu non vô tội bị chặt đầu, cắt cổ để lấy máu tươi tế thần, những tiếng kêu thét thảm thiết đầy máu me kinh khiếp, những chậu máu, tô máu ấy lại được dâng lên để cúng thần, làm vui lòng thần… Lòng chàng xúc động, hoang mang cực độ. Một sự hoài nghi về thượng đế bất công, lạnh lùng và độc ác đã bắt đầu nảy sinh trong lòng chàng: “Ôi! Nếu Thượng Đế, nếu Đấng ấy là Vô Ngã, là Thần Hóa, là Đại Ngã, là Nhất Nguyên, là Bản Thể Vũ Trụ hay Tuyệt Đối Vô Nhân… mà còn cần những máu me, xác chết sinh linh kia để cúng tế cho mình, cần những khổ đau thống thiết kia mới có niềm vui, thì trách gì cháu con Ngài đang sống trong nhầy nhụa, tanh hôi của chém giết và hận thù? Một thời đại kế tiếp một thời đại, một trang sử khép lại một trang sử, một vinh quang kế tục một nỗi nhục, một văn minh nối tiếp một suy tàn, là nơi diễn ra những đấu trường đẫm máu, những tàn sát khủng khiếp, những bạo hành vô nhân tính, những âm mưu ác độc tàn tệ… thì đấy cũng nằm trong những định luật của Ngài? Tất yếu của Ngài? Tự do tối thượng của Ngài?…

Đức Brahman không toàn thiện. Thượng đế không toàn thiện. Ở đấy cũng trống không, hoang vắng và đau khổ. Ngài còn kiếm tìm niềm vui và cầu mong sự ngưỡng mộ, cúng tế máu súc vật của cháu con Ngài! Sự toàn năng, đại bi và siêu việt của Ngài cần xét lại!”.

Những lúc như thế, những hoài nghi nan giải ấy chàng chỉ có thể thổ lộ cùng người bạn thân nhất của mình là Xá-lợi-phất. Cả hai đều có những đồng cảm, những thắc mắc, nghi ngờ như nhau về truyền thống cao quí, về Thượng Đế chí tôn… Trong tâm hai chàng đã bắt đầu xuất hiện ý niệm xuất ly, từ bỏ gia đình, tài vật, dòng tộc tôn quí lâu đời… để ra đi tìm chân lý.

Thời niên thiếu của tôn giả Mục-kiền-liên nói riêng hay của những bậc Thánh nói chung là như thế, luôn luôn thanh cao, thông minh và sáng suốt cộng với những tài năng xuất chúng, lúc nào cũng vượt lên những thường tình của thế nhân, với những khát vọng xuất trần, với ước mơ được xuất ly khỏi cuộc sống giả tạm, thấp kém của thế gian, để dấn thân đi tìm một chân lí đích thực cho bản thân, cho cuộc đời và cho tất cả con người trong vũ trụ bao la này.

 

Mùa Hạnh Đức Quán Thế Âm với ngày Hạnh của ngành Nữ GÐPTVN ^

 

Thưa Anh Chị Em Lam viên thân mến,

 

Mỗi ngành của GÐPT đều có ngày truyền thống của mình: Ngành Nam (Thiếu Nam và Nam Huynh trưởng) thì có ngày Dũng, là ngày vía Xuất gia - nhằm mồng 8 tháng 2 âm lịch, ngành Oanh Vũ thì có ngày Hiếu - nhằm ngày Vu Lan Rằm tháng Bảy, ngành Nữ (Thiếu Nữ và Nữ Huynh trưởng) thì có ngày Hạnh. Trong ngày đó, các ngành có những sinh hoạt đặc biệt như trại họp bạn, những khóa tu học, hội thảo, triển lãm, đi thăm các bệnh viện, nhà dưỡng lão, cô nhi viện, v.v... Ngoài ra còn để báo cáo, tổng kết sinh hoạt của Ðoàn, những thành quả của Ngành sau một năm, nói lên sức sống của đơn vị mình. Trong ngày đó, các em được thi đua về Phật pháp, hoạt động thanh niên; được biết, được làm quen với những điển hình xuất sắc của các đơn vị bạn... Riêng về ngành Nữ còn có triển lãm nữ công gia chánh. Ðó là chưa kể những sáng kiến của riêng từng đoàn, từng tỉnh, v.v… có thể đưa ra nhiều hình thức tổ chức ngày Hạnh sao cho các em vừa được gần nhau, gần các chị Trưởng của mình, để có cơ hội hàn huyên tâm sự…

Ðúng ra ngày Hạnh của ngành Nữ ngày xưa được tiến hành qua ba giai đoạn: 19/2 là tổng kết sơ khởi ở Ðoàn, 19/6 là báo cáo lên Ðơn vị, tổ chức trong đơn vị gia đình, và 19/9 mới là ngày tổng kết toàn tỉnh với các đơn vị bạn. Ở Ðoàn thì do Ban Huynh trưởng ngành Nữ tổ chức, ở tỉnh thì do BHD tổ chức… Bởi vì ở trong nước, số lượng GÐPT rất đông, mỗi tỉnh không thôi đã có gần cả trăm đơn vị rồi, còn ở hải ngoại thì ít hơn và thời gian đi lại khó khăn hơn nên thường chỉ được tổ chức ở các Miền, và có thể vài năm mới tổ chức một lần, chỉ có ở đơn vị mới tổ chức ngày Hạnh hằng năm thôi. Vì vậy, chỉ có một ngày chứ không phải ba ngày như ngày xưa mà các em thường chọn 19/6 nhằm mùa hè, các em ngành Thiếu được nghỉ hè.

Ngày Hạnh cũng như những ngày truyền thống trong GÐPT là dịp để các em ôn lại những việc đã làm, tự soi rọi lại mình, tiếp xúc với bạn bè ở các đơn vị khác, được thấy nghe những con người cụ thể, những điều hay đẹp, mới mẻ… của đơn vị bạn, để tự mình cố gắng tiến bộ trong tu học và tu tập. Riêng ngành Nữ, các em được các Chị trưởng nói về đức Quán Thế Âm, về ý nghĩa những hạnh nguyện cao cả rộng lớn của Ngài để các em thường chiêm ngưỡng, thực hành hạnh lắng nghe, lòng từ bi, trí tuệ, v.v... của Ngài nói riêng, của chư Phật và Bồ-tát nói chung, cũng như sự thống nhất tư tưởng Phật giáo mà các em đã được các anh chị trao truyền. Chúng ta hãy cùng với ngành Nữ ôn lại một chút. 

Thưa Anh Chị Em Lam viên kính mến, 

Hình tướng có nam có nữ còn trí tuệ thì không có phân biệt nam nữ, cho nên về khả năng giác ngộ thì nam nữ giống nhau. Đức Quán Thế Âm Bồ-tát chứng được tánh nghe nhiệm mầu nên tiếng của Ngài là tiếng nói nhiệm mầu, tiếng nói thanh tịnh, tiếng nói ứng hợp thời cơ, tiếng như âm thanh hải triều; cứu giúp chúng sanh được mọi sự an lành, thoát mọi nỗi khổ sợ hãi, v.v... nhưng Ngài vẫn không rời tự tánh thanh tịnh như trong kinh Pháp Hoa đã nói:

“Diệu âm Quán Thế Âm

  Phạm âm hải triều âm

  Thắng bỉ thế gian âm”.       

(tiếng mầu nhiệm Quán Thế Âm

 tiếng Phạm, tiếng hải triều

 tối thắng hơn tất cả âm thanh của thế gian).

Tại sao nói: “Đức Quán Thế Âm chứng được tánh nghe nhiệm mầu”? Ấy là tại vì Ngài tu phép nhĩ căn viên thông. “Chứng” là chỉ rõ được cái nhĩ căn hiện tiền, vẫn viên dung vô ngại, cùng khắp, hơn hẳn các căn khác - đây là lời đức Phật xác chứng trong kinh Lăng Nghiêm.

Trong đoạn “Viên thông về nhĩ căn”, đức Quán Thế Âm đã trình bày chỗ tu chứng của Ngài. Đó là do nghe, nghĩ và tu mà Ngài đã vào Tam-ma-đề (Samàdhi = đại định): Nghe là nghe Phật pháp, hiểu rõ đạo lý của Phật, do đó phát được Văn tuệ (trí tuệ do nghe). Nghĩ là suy nghĩ những điều đã học được, nhận rõ đạo lý ấy nơi tâm cảnh hiện tiền, do đó phát ra Tư tuệ (trí tuệ do tư duy). Sau khi nhận rõ đạo lý nơi tâm cảnh hiện tiền, Ngài luôn luôn đem cái đạo lý ấy mà huân tập tâm tính, nương theo đạo lý ấy mà tu tập, diệt trừ các mê lầm, do đó phát ra Tu tuệ (trí tuệ do tu tập). GĐPT chúng ta nói chung, ngành Nữ nói riêng, đã áp dụng Văn-Tư-Tu trong việc giáo dục đàn em và chính mình, thể hiện qua các bài học Phật pháp với ba phần rõ rệt: Em nghe, Em suy nghiệm, Em tu tập.

Thưa Anh Chị Em Áo Lam kính mến,

Noi theo gương Ngài ở mức độ cao hơn, hàng Huynh truởng chúng ta còn học tập đức Quán Thế Âm ở việc Ngài “quán cái tánh nghe không thêm bớt, không thay đổi, không sinh diệt, cùng khắp mười phương không ngăn ngại.” Ngài quán các tướng động, tĩnh hiện ra trong tánh nghe là như huyễn như hóa, không có tự tánh nên không còn phân biệt “Ta” và “Người”. Chúng ta đã diễn đạt ra đơn giản hơn, đó là “đức Quán Thế Âm Bồ-tát đã vượt qua biển lớn của lỗ tai (nhĩ căn)” và chúng ta cũng đã đặt câu hỏi để mình tự trả lời: Tại sao tai cũng là biển lớn phải vượt qua? Tại vì những lời qua tiếng lại, những lời khen tiếng chê v.v... cũng làm tâm dao động. Những lời khen chê, tự nó không xấu nhưng do ta chấp vào lời khen để sinh tâm ngã mạn, hay chấp vào lời chê để sinh tâm thù oán thì đó là sai. Quán sát âm thanh đơn thuần là âm thanh thì hiểu được Đạo. Khi ta điềm nhiên trước những lời chê bai, chửi mắng, nhục mạ, v.v… là ta đã độ được tâm mình, độ được tâm người kia.

Nhớ chuyện xưa, đức Phật im lặng lắng nghe người Bà-la-môn kia mắng chửi Ngài đến nỗi người ấy phải kinh ngạc hỏi: “Tại sao tôi nhục mạ Ngài cả buổi mà Ngài không giận dữ hay chưởi mắng lại?” Đức Phật hỏi: “Khi ông đem cho ai cái gì mà họ không nhận thì ông làm sao?” Người Bà-la-môn đáp: “Thì tôi đem về”. Đức Phật nói: “Cũng thế, những lời nhục mạ lúc nãy của ông cho, Như Lai không nhận, vậy ông hãy đem về đi”!☺☺!! Thật vậy, khen hay chê đều không thể biến ta thành ra người khác. Ta hãy cố gắng giữ gìn chánh niệm, tỉnh lặng để nghe tất cả âm thanh với tâm không phân biệt; nghe khen không ngã mạn, nghe chê không chán nản, oán thù. Được như thế thì tất cả mọi âm thanh đều là pháp, những lời chê là thử thách sự kiên định của tâm, là phương pháp rèn luyện tâm, điều phục tâm dao động. Được như thế là ta đã phần nào noi theo gương đức Quán Thế Âm - vượt qua biển lớn của tai rồi. 

Thưa Anh Chị Em Lam viên, 

Trong mùa vía Quán Thế Âm này, chúng ta hãy cùng với ngành Nữ tiến thêm một bước nữa, nguyện học theo hạnh Ngài “tự nghe cái nghe”, hay “xoay cái nghe vào bên trong” (Phản văn văn tự tánh hay phản quan tự kỷ). Đức Quán Thế Âm dạy rằng, xoay cái nghe vào bên trong tức là thoát ly thanh trần. Điều này được soi sáng bằng câu trả lời của ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ với đệ tử khi người này hỏi “mục đích tu thiền là gì?”:

“Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, có nghĩa là: Người tu phải soi rọi lại chính mình, đó là bổn phận; không phải từ bên ngoài mà được Đạo. Để giúp thêm tài liệu cho Anh Chị Em chúng ta vững tin rằng đây chính là tinh thần thống nhất được truyền từ trên xuống dưới của hệ thống kinh điển qua lịch đại tổ sư. Xin nhắc lại vài giai thoại Thiền,  trước hết là câu chuyện “niêm Hoa vi tiếu” trên đỉnh Linh Thứu: Trong Pháp hội, đức Phật cầm cành hoa sen đưa lên và đưa mắt nhìn mọi người, đến Ca-diếp, Tôn giả mỉm cười, đức Phật liền nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn diệu tâm, nay đem trao cho Ca-diếp”. Như vậy, tôn giả Ca-diếp được đức Thế Tôn truyền y bát làm vị tổ thứ nhất. Sau đó, khi đức Phật đã nhập Niết-bàn rồi, tôn giả A-nan hỏi Ngài Ca-diếp: Thế Tôn truyền y bát cho sư huynh, có truyền thêm gì nữa không?

Ca-diếp không trả lời mà cất tiếng gọi: A-nan!

A-nan đáp: Dạ!

Ca-diếp nói tiếp: Cây phướng trước Chùa ngã.

Ngay đó, tôn giả A-nan ngộ.

Chúng ta nghe vậy thì ngơ ngác, vì Tôn giả A-nan đã nhận biết cái chân thật của mình, còn chúng ta đang lăng xăng quá nên chưa nhận ra cái gì giả và cái gì thật nơi mình cả!☺☺!!

Tương tự như vậy, khi Thần Quang thưa với tổ Đạt-ma rằng:

Bạch hoà thượng, tâm con không an, xin hoà thượng dạy con pháp an tâm.

Tổ đáp: Hãy đem tâm ra ta an cho!

Thần Quang sửng sốt, xoay lại tìm cái tâm của mình mà không thấy tâm đâu hết! Ông bèn thưa lại với Tổ: Bạch hoà thượng, con tìm tâm con không ra.

Tổ bảo: Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó!

Ngay khi ấy, Thần Quang đại ngộ, được tổ Bồ-đề-đạt-ma thu nhận làm đệ tử và đổi tên là Huệ Khả.

Thưa Anh Chị Em, 

Như vậy chúng ta thấy rõ rằng từ “Chánh pháp nhãn Tạng” của đức Thế Tôn trên đỉnh Linh Thứu đến pháp tu “nhĩ căn viên thông” của đức Quán Thế Âm, qua cái “pháp an tâm” của tổ Bồ-đề-đạt-ma, quả thật không khác lời tuyên bố của tổ Bồ-đề Đạt-ma về tinh thần Thiền tông, cốt tủy của Đạo giải thoát, khi Ngài đến Trung Hoa. Đó là:

Bất lập văn tự,

Giáo ngoại biệt truyền,

Trực chỉ nhân tâm

Kiến tánh thành Phật.

(Không có văn từ chữ nghĩa,

 Truyền riêng ở ngoài giáo lý,

 Chỉ thẳng tâm người,

 Thấy tánh thành Phật).

Chúng ta tuy chưa đạt đến trình độ nghe một câu là trực ngộ nhưng chúng ta đã có phương pháp Văn-Tư-Tu, đã biết gốc ngọn của Đạo mình, đã biết được Đạo không phải là lý thuyết suông mà phải tu sau khi “Văn-Tư” rồi.

Vì vậy, để kỷ niệm ngày vía Quán Thế Âm, cũng là ngày Hạnh của ngành Nữ GÐPT, để tán thán và cảm niệm ân đức sâu dày của Ngài “bố thí pháp vô úy cho chúng sanh”, không gì quí hơn là anh chị em chúng ta quyết tâm vâng theo lời khuyên của Ngài, tu tập nghe cái tánh nghe; hãy xoay cái nghe vào bên trong như ngài Ca-diếp đã dạy ngài A-nan như vậy. Chúng ta hãy dừng lại, đừng chạy theo ngoại cảnh mà hãy tự nghe cái tánh nghe của mình. Khi một căn của chúng ta đã thực hành được thì các căn còn lại cũng đều sẽ được như vậy.

Thân kính chúc ngành Nữ GÐPT nói riêng, và tất cả Lam viên nói chung, một mùa vía Quán Thế Âm - Mùa Hạnh - an lạc, giải thoát để hoàn thành mọi Phật sự được giao phó.

Trân trọng,

Tâm Minh

Tu hạnh QUÁN ÂM ^

Chánh Niệm

 

Quán Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara”, dịch sang tiếng Hán là Quán Thế Âm hay Quán Tự Tại,… Danh hiệu Quán Thế Âm, nghĩa là Quán sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ. Theo kinh Bi Hoa, ở vào đời quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Thời đó có vua Chuyển Luân Thánh Vương hiệu là Vô Tránh Niệm. Trong triều có một vị đại thần tên là Bảo Hải, vị đại thần này hết sức lo cho dân cho nước, sống rất nhân từ, là phụ thân của đức Bảo Tạng khi chưa xuất gia. Vua Vô Tránh Niệm đối trước đức Bảo Tạng phát bốn mươi tám lời thệ nguyện và được Phật thọ ký tương lai sẽ làm Phật A-di-đà ở cõi thế giới cực lạc phương Tây. Vua Chuyển Luân có rất nhiều người con. Người con cả là thái tử Bất Tuấn, sau này cũng xin xuất gia theo cha và đối trước đức Bảo Tạng Như Lai phát ra bản nguyện đại bi thương xót, cứu độ tất cả các loài chúng sanh bị khổ não. Vì vậy, đức Bảo Tạng thụ ký cho thái tử thành Bồ-tát hiệu là Quán Thế Âm. Bồ-tát Quán Thế Âm là hiện thân của từ bi, Ngài phát đại nguyện thực hiện từ bi cùng tận trong đời vị lai vì chỉ có từ bi mới giải trừ đau khổ, cũng như chỉ có trí tuệ mới diệt được ngu si.

Từ bi nguyên nghĩa là “Từ năng dữ lạc, Bi năng bạt khổ”. Từ nghĩa là đem niềm vui đến cho kẻ khác. Bi là hành động cứu khổ, nhổ tận nguồn gốc đau khổ. Nói cách khác: Thương yêu chúng sinh, mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ. Đồng cảm nỗi khổ và thương xót chúng sinh, trừ bỏ nỗi khổ cho họ gọi là Bi.

Thuở xưa, ngài Quán Thế Âm đã thành Phật hiệu là “Chánh Pháp Minh Như Lai”. Vì lòng thương xót sự đau khổ của chúng sanh mãi trầm luân lặn hụp trong sáu nẻo luân hồi, Ngài đã thị hiện làm Bồ-tát đảm đương công tác cứu khổ ban vui cho chúng sanh. Ngài quán thấy Phật và chúng sanh có chung một bản thể, một giác tánh duy nhất, nhưng Phật đã giác ngộ nên không bị khổ đau chi phối, trong khi đó chúng sanh còn mê muội nên phải chịu vô số khổ đau. Tuy khổ đau đó chỉ là huyễn hóa, không thật nhưng vì si mê nên chúng sanh chấp chặt cho là thật có, từ đó bị chúng làm cho vô cùng đau khổ. Chính vì vậy mà Bồ-tát Quán Thế Âm phải ra tay cứu khổ, hầu mong  hướng dẫn chúng sanh quay về với bản tâm an vui thật sự của mình.

Bồ-tát Quán Thế Âm có lòng thương yêu chúng ta như thế, vậy chúng ta phải làm gì để khỏi phụ lòng từ ái của Ngài? Để khỏi phụ tấm lòng cao cả của Ngài, mỗi chúng ta cần phải thường xuyên trì niệm danh hiệu của Ngài và nhất là cần phải tu tập theo công hạnh và tâm nguyện của Quán Âm. Nếu ai thường xuyên trì niệm danh hiệu của Ngài thì sẽ được rất nhiều lợi ích như không bị quỷ dữ làm hại, không bị nước trôi, lửa cháy; không bị tham sân si làm hại, cầu mong điều gì chính đáng đều được thỏa mãn... Những lợi ích đó đã được nói rất rõ trong kinh Phổ Môn.

Mặc dù Ngài luôn luôn giúp đỡ mỗi khi chúng ta gặp khổ ách, nhưng Ngài vẫn luôn mong muốn chúng ta tự vượt qua khổ ách bằng nỗ lực của chính mình. Ngài luôn mong chúng ta cũng tu tập hạnh Quán Âm như Ngài đã từng tu tập, để giúp mình và người không còn khổ đau nữa. Vậy tu tập hạnh Quán Âm là tu như thế nào?

Muốn thành tựu hạnh Quán Âm, trước tiên chúng ta cần trở về với chính mình, “lắng nghe” lại chính bản thân chúng ta. “Nghe” ở đây không phải chỉ là lắng nghe đơn thuần mà chính là sự “Quán sát thân tâm” của chúng ta. Khi thân ta bất an, ta nhận biết thân ta đang bất an, ta nhìn thật sâu để thấy rõ lý do của sự bất an ấy. Chẳng hạn khi ta bị đau bao tử, ta phải quán sát xem vì sao ta lại bị đau bao tử. Hoặc là do ta ăn toàn những thức ăn khó tiêu, hoặc là do ta ăn uống không điều độ, hoặc là do ta hay lo lắng... Sau khi biết được nguyên nhân của khổ đau này, bên cạnh việc chữa trị, chúng ta cần phải loại bỏ nguyên nhân gây ra khổ đau ấy. Có như vậy, nỗi khổ ấy mới không còn trở lại với chúng ta. Khi tâm bất an cũng vậy, ta cần phải quán sát và tìm hiểu vì sao tâm bất an. Có thể do lòng tham quấy nhiễu khiến tâm ta bất an, cũng có thể do tâm sân hận bùng phát nên tâm ta bất an, cũng có thể là tâm ta đang lo lắng sợ hãi một điều gì đó. Chúng ta phải tìm ra nguyên nhân của sự bất an ấy và tìm cách loại trừ nó. Thông thường, muốn vượt qua sự bất an ấy, chúng ta chỉ cần kiên nhẫn ghi nhận sự bất an ấy một cách bình thản, không khởi tâm ghét bỏ hay xua đuổi nó thì không bao lâu nó sẽ tự biến mất. Tuy nhiên, có một số sự bất an sau khi ta ghi nhận nó vẫn không chịu tan biến. Trong trường hợp này bắt buộc ta phải tìm cho ra nguyên nhân sâu xa của nó để có cách điều trị thích hợp. Ví dụ như, do ban đêm chúng ta ngủ quá ít nên ban ngày chúng ta có cảm giác lừ đừ, buồn ngủ. Mặc dù chúng ta đã ghi nhận rất rõ ràng, nhưng cảm giác này cũng không chịu tan biến. Cách duy nhất để chấm dứt cảm giác buồn ngủ này là ta phải ngủ cho đủ thời gian mà cơ thể cần.

Người tu hạnh Quán Âm cần phải thấy rõ nhân quả, thấy rõ nguyên nhân của các khổ đau để mà tránh xa các nhân xấu, tránh xa những nhân sẽ đem lại quả báo xấu. Người ấy cần phải giữ gìn giới luật cho thật tinh nghiêm vì phạm giới là nhân dẫn chúng ta đi vào chốn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chịu khổ vô cùng.

Chẳng những tránh xa các hành động dẫn đến khổ đau, người tu hạnh Quán Âm còn cần phải chế tác hỷ lạc cho mình bằng cách thường xuyên làm những việc lành như phóng sanh, bố thí, tụng kinh, tọa thiền, nghe Pháp, lễ Phật, cúng dường Tam bảo...

Bên cạnh việc lắng nghe lại chính mình, người tu hạnh Quán Âm còn phải tập lắng nghe người khác để nhận ra những đau khổ của họ, thấy rõ nguyên nhân của những đau khổ ấy và giúp họ thoát khổ. Ví dụ như khi thấy một em bé đang khóc, chúng ta phải tìm hiểu xem vì sao nó khóc, có thể là nó đói bụng, cũng có thể là nó bị lạnh, cũng có thể nó bị kiến cắn..., chúng ta phải biết rõ lý do em bé khóc để giúp nó hết đau khổ. Nếu ta phát hiện ra đứa bé khóc vì bị lạnh thì ta chỉ cần mặc thêm áo hay đắp thêm tấm chăn cho nó thì nó sẽ hết khóc. Nếu em bé khóc vì đói bụng thì chỉ cần cho nó ăn nó sẽ hết khóc. Đối với những người lớn cũng vậy. Khi ta phát hiện ra họ đang đau khổ vì tâm bệnh, ta sẽ nói lại cho họ nghe những bài Pháp có tác dụng chữa trị tâm bệnh. Nếu họ đang đau khổ vì thân bệnh, ta phải tìm cách giúp cho họ chữa trị thân bệnh. Chẳng hạn khi ta phát hiện một người nọ đang đau khổ vì người thân của họ vừa qua đời, chúng ta cần nói cho họ nghe về sự vô thường của vạn vật trên thế gian này để họ bớt buồn khổ. Đối với người đang bị nỗi buồn bực, ray rứt cấu xé thì ta chỉ cho họ cách ghi nhận nỗi buồn đó và thực tập chánh niệm để vượt qua nỗi buồn đó. Đối với người đang bị đau khổ vì nhức răng, ta có thể khuyên họ đi nha sĩ để chữa trị; đồng thời chỉ cho họ cách ghi nhận cơn đau nhức với thái độ bình thản, đừng có tâm xua đuổi cơn đau nhức bởi vì càng xua đuổi nó càng bám chặt và chúng ta càng thêm đau khổ. Chỉ khi nào chúng ta bình thản quán sát thì chúng mới lắng dịu dần.

Ngoài ra, ta phải luôn luôn tìm cách thân cận với mọi người để khuyên họ làm lành lánh dữ, ăn chay, niệm Phật, trì trai, giữ giới, phóng sanh, bố thí, cúng dường Tam bảo, lạy Phật, tụng kinh, tọa thiền,... để giúp cho họ thoát khổ, được vui.

Tóm lại, mỗi chúng ta đều nên thường xuyên trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm và thực tập hạnh Quán Âm để đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi người cũng như chính bản thân mình.

 

Kiến trúc Phật giáo qua các thời kỳ^

Trần Lan Chi

 

Kiến trúc Phật giáo thời Trần - Hồ và Hậu Trần (1225 - 1413)

- Tình hình phát triển Phật giáo thời Trần

Sau khi Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của triều đại nhà Lý, bị Trần Thủ Độ lập kế ép nhường ngôi cho chồng, triều Lý chấm dứt, Trần Cảnh lên ngôi mở ra một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc với 3 lần đại thắng quân Nguyên Mông. Nhà Trần (1225-1400) trải qua các triều đại sau: 

Trần Thái Tông (1225-1258)

Trần Thánh Tông (1258-1278)

Trần Nhân Tông (1278-1293)

Trần Anh Tông (1293-1314)

Trần Minh Tông (1314-1329)

Trần Hiến Tông (1329-1341)

Trần Dụ Tông (1341-1369)

Trần Nghệ Tông (1370-1372)

Trần Duệ Tông (1372-1377)

Trần Phế Đế (1377-1388)

Trần Thuận Tông (1388-1398)

Trần Thiếu Đế (1398-1400).

Sau đó, Nhà Hồ (1400-1407) trải hai triều Hồ Quý Ly (1400), Hồ Hán Thương (1401-1407) và thời Hậu Trần kháng chiến chống quân Minh (1407-1413) gồm Giản Định Đế (1407-1409) và vua Trùng Quang (1409-1413), do thời gian cai trị quá ít và chiến tranh chống quân xâm lược phương Bắc xảy ra liên miên nên không có công trình Phật giáo nào được xây dựng trong giai đoạn này hoặc không còn dấu tích nào còn lại cho đến ngày nay. Do đó, ta nói đến kiến trúc Phật giáo thời Trần là nói đến kiến trúc chùa tháp được xây dựng hoặc trùng tu toàn phần thời kỳ 1225 đến 1440.

Thời Trần, Phật giáo có những trường phái riêng của Việt Nam với những giáo lý thực tế trên nền tảng căn bản của tôn giáo từ bi, bác ái và vị tha. Phật giáo cũng được truyền bá nhưng ảnh hưởng không sâu rộng bằng thời Lý. Ðạo Nho bắt đầu có ưu thế rõ rệt do nhu cầu của việc trị nước của chính quyền, nhưng Phật giáo vẫn lớn mạnh và là chỗ dựa cho cuộc sống tinh thần của quảng đại quần chúng. Nhiều nhà vua, vương hầu, khanh tướng cũng xuất gia quy y cửa Phật. Năm 1299, vua Trần Nhân Tông xuất gia lên núi Yên Tử, lập ra Thiền Phái Trúc Lâm - hệ thống Thiền phái đặc trưng đầu tiên của Việt Nam.

Nhà Trần trải qua ba cuộc chiến chống Nguyên Mông, tuy đạt được thắng lợi nhưng các công trình văn hóa của nước nhà đã bị tổn hại rất nhiều dưới sự dày xéo của quân giặc. Đến giai đoạn cuối, chiến tranh với Chiêm Thành xảy ra hơn mười lần khiến đất nước cũng bị điêu đứng một thời gian dài. Chiến tranh đã tàn phá nhiều công trình chùa tháp. Kiến trúc Phật giáo thời kỳ này chủ yếu là trùng tu hoặc xây dựng lại các công trình đã có từ thời trước. Một số trung tâm Phật giáo được mở mang xây dựng hoàn chỉnh như khu chùa tháp tại Yên Tử (Quảng Ninh). Các công trình khởi dựng thời kỳ này thường có quy mô nhỏ như chùa tháp Phổ Minh (Nam Định), chùa Thái Lạc (Hưng Yên), Bối Khê (Hà Tây)...

- Những công trình Phật giáo tiêu biểu trong thời Trần

Các ngôi chùa được xây dựng rải rác ở Đông Bắc và Tây Bắc Bắc Bộ nhưng tập trung nhất vẫn ở ven các triền sông vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày nay. So với nhà Lý, phạm vi xây dựng chùa tháp thời Trần đã được mở rộng vào hướng Nam đến Thanh Hóa, Nghệ An.

+ Chùa Phổ Minh (Nam Định) được xây dựng khoảng năm 1262, còn lưu giữ được cánh cửa gỗ bốn tấm bằng gỗ lim, cao 1,9m và mỗi cánh rộng 0,8 m với những trang trí hình rồng, hoa lá và sóng nước. Một số thành bậc cửa bằng đá chạm rồng và sấu. Tháp Phổ Minh bằng đá, dựng trước cửa chùa vào năm 1305.

+ Chùa Bối Khê (Hà Tây) dựng năm 1338, chùa giữ được một số đầu bẩy chạm hình đầu rồng ngậm ngọc, phía ngoài có một hình chim, lưu được bộ vì kèo tại gian giữa tòa Thượng Điện và một số chạm khắc chim thần Garuda ở góc bệ đá và tường gạch, bệ đá hoa sen ba tượng năm 1382.

+ Chùa Thái Lạc (Hưng Yên) còn giữ được một số mảng cốn, ván nong trang trí rất đẹp. Điêu khắc gỗ của chùa này và chùa Bối Khê tiêu biểu cho điêu khắc gỗ kiến trúc Phật giáo thời Trần.

+ Chùa Báo Ân (Gia Lâm, Hà Nội) còn lại những di vật cổ như mảng nền, kết cấu sáu hàng chân cột, một vì rộng 13m và một số hiện vật bằng đất nung mang phong cách trang trí thời Trần. Điêu khắc trang trí có bệ đá hình vũ nữ, một đầu rồng và một số trang trí lá đề là có giá trị.

+ Chùa Vĩnh Khánh và tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc) hiện nay, niên đại của tháp Bình Sơn còn gây nhiều tranh cãi, nhưng theo nhiều tư liệu đáng tin cậy thì tháp Bình Sơn khởi dựng trong thời Trần. Tháp Bình Sơn là ngôi tháp cổ sử dụng chất liệu đất nung có giá trị rất cao về mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo.

- Thiền phái Trúc Lâm hình thành với ý tưởng xây dựng một không gian Phật giáo thanh tịnh đã gắn liền tên tuổi với các danh sơn như Yên Tử (Quảng Ninh), Côn Sơn (Hải Dương), Quỳnh Lâm (Quảng Ninh)… Những ngôi chùa tại các nơi này được xây dựng từ thời kỳ trước và được xây dựng thành các trung tâm Phật giáo dưới thời Trần. Dấu vết thời Trần còn lại rất ít, ví dụ như ở Yên Tử, những viên gạch vuông trang trí hoa dây, nền tháp đá thời Trần có cạnh 3m15 với mặt bằng hình lục lăng.

- Các ngôi chùa khác được khởi dựng thời kỳ này như chùa Hương Tích ở núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), chùa Hào Xá (Hưng Yên), Chùa Dương Liễu (Hà Tây), chùa Hoa Long, chùa Thông (Thanh Hóa)… Một số ngôi chùa lưu giữ được một vài hiện vật như chùa Long Hoa (Nam Định) có lưu giữ bệ thờ hoa sen, tượng rồng đá. Chùa Dâu có bộ vì nóc thượng điện từ thời Trần. Chùa Thầy còn lưu giữ bộ lưng ngai năm 1346. Chùa Hương Trai (Hà Tây) lưu giữ được bệ đá năm 1358-1369. Chùa Xuân Lũng có tòa sen năm 1386. Chùa Đại Bi có tòa sen ghi năm 1374. Chùa Che (Hà Tây) hiện còn bia đá. Ngoài ra, một số nền tháp thời này đã được tìm thấy như Ghềnh Tháp (Nam Định), Dưỡng Phú (Hưng Yên), Linh Nga bảo tháp và Xuân Hồng (Nghệ Tĩnh).

- Đặc điểm kiến trúc

Nghiên cứu về kiến trúc thời Trần hiện nay có thể dựa vào hai nguồn: thư tịch cổ (chỉ còn ghi chép vắn tắt qua sử sách, bia ký) và thực địa. Trải qua hàng trăm năm biến động, dưới tác động của chiến tranh, ảnh hưởng khắc nghiệt của khí hậu, hay thậm chí những lần trùng tu, bao nhiêu công trình đã bị hủy hoại chỉ còn để lại dấu vết hoặc thay đổi hình dạng ban đầu hoàn toàn. Tuy nhiên vẫn còn một số công trình từ thời kỳ này còn tương đối nguyên vẹn cho đến tận hôm nay như tháp Phổ Minh, tháp Bình Sơn, vì nóc Thượng điện chùa Thái Lạc, Bối Khê...

+ Vị trí, thế đất

 Ở thời kỳ đầu, chùa tháp được xây dựng dưới sự chỉ đạo của hoàng cung. Thờ Phật được thờ trong một điện thờ riêng, cây tháp không còn chức năng thờ Phật nữa mà trở lại tính chất là mộ chí của các nhà tu hành đạo Phật hoặc tháp kỷ niệm. Thời Trần cũng như thời Lý, chùa tháp thường được lựa chọn những địa thế trên đồi lớn, núi cao để xây dựng. Vị trí những ngôi chùa xây dựng thời kỳ đó chẳng những xa lánh cuộc sống trần tục mà còn gợi nên không khí trầm mặc, thanh tịnh và u nhã phù hợp với sự thiêng liêng của Thần Phật mà nhu cầu tôn giáo đòi hỏi.

Với địa hình núi cao thì các kiến trúc được xây dựng theo các lớp nền tương tự như thời Lý với các cao độ khác nhau như chùa Yên Tử hay chùa Lấm (Quảng Ninh). Nhiều chùa được dựng trên địa thế rộng như chùa Lân (chân núi Yên Tử), chùa dựa vào chân núi, trước mặt hướng ra suối lớn, vườn chùa rộng rãi chạy dài từ cổng vào. Chùa Hoa Yên được dựng trên hai nền đất bạt ở sườn núi. Các ngôi chùa quay hướng Nam, lấy núi làm hậu chẩm, những dãy núi trùng điệp hai bên như tay long, tay hổ ôm lấy Thái cực. Trước mặt lấy suối Giải Oan làm minh đường.

Về sau, chùa làng phát triển mạnh. Theo văn bia chùa Thiên Phúc (Bắc Giang), nhà nho Lê Quát đã cảm thán rằng: “Việc họa phúc của nhà Phật rung động lòng người sao mà sâu và mạnh đến thế! Trên thì từ vương công, dưới thì đến thứ dân, phàm lo việc Phật thì tuy hết của cải cũng không tiếc gì. Ngày nay cúng tiền vào chùa tháp thì hớn hở như cầm tờ chứng khoán để được báo đáp ngày mai. Cho nên từ kinh thành ở trong cho đến châu phủ ở ngoài, khắp hang cùng ngõ hẻm, người ta không được lệnh mà cứ theo, không thề thốt mà cứ tin, nơi nào có dân cư là nơi đó có chùa Phật, phế rồi lại hưng, đổ rồi lại sửa, chuông trống lâu đài, gần nửa dân cư lao vào đó.” Từ văn bia này và nhiều văn bia khác cũng như thực địa, có thể thấy chùa quy mô nhỏ được xây dựng ở khắp nơi trong thời kỳ này.

Từ một số vị trí hiện nay của các công trình xây dựng vào thời Trần, ta thấy các công trình đều được xây dựng ở các vùng tách biệt với xóm làng, nhưng lại là trung tâm của nhiều vùng lân cận (ví dụ chùa Phổ Minh, chùa Vĩnh Khánh). Thứ hai, các công trình đều được xây dựng ở nơi phong quang thoáng đãng. Ví dụ, chùa Bối Khê nằm giữa vùng đất trù phú cửa ngõ phía Tây của kinh thành Thăng Long, thuộc tả ngạn sông Đáy, từng một thời là con đường giao thông huyết mạch trong vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trước chùa xưa kia có sông Đỗ Động làm nơi tụ thủy, rất đẹp và tạo nên những phong cảnh non nước hữu tình cho cả các công trình xây dựng trên đất bằng. Ngay cả những ngôi chùa đồng bằng cũng rất chú trọng đến lựa chọn vị trí phù hợp với cảnh quan chung. Ví dụ tháp chùa Phổ Minh được dựng trong phủ Thiên Trường xưa (hiện ở tỉnh Nam Định) hòa chung vào tổng thể xung quanh, xóm làng ở phía sau, đồng ruộng phía trước tạo nên điểm nhìn cho toàn bộ công trình.

+ Tổ hợp không gian

Các công trình chùa tháp liên hệ chặt chẽ với thiên nhiên, phù hợp với cảnh trí xung quanh tạo nên một kiến trúc tổng thể hoàn chỉnh. Công trình như mọc lên và hòa vào với đất, phù hợp với thiên nhiên và khung cảnh thiên nhiên chung quanh cũng làm tôn thêm vẻ đẹp của kiến trúc rất nhiều. Đối với các công trình không thuộc dạng danh sơn, trong toàn cảnh cũng như từng thành tố cấu thành kiến trúc công trình, sự đăng đối tiếp thu từ kiến trúc thời Lý vẫn được đưa lên vị trí quan trọng hàng đầu.

Tháp thời Trần được dựng khá nhiều trong các công trình kiến trúc Phật giáo với chức năng làm nơi thờ Phật, kỷ niệm hoặc tháp mộ. Ví dụ, tháp Bình Sơn, tháp Phổ Minh là loại tháp được dựng nên với tính chất kỷ niệm, tháp ở Yên Tử thì thuộc dạng tháp mộ. Kích thước của tháp thời Trần nhỏ nhưng giống kiểu dáng tháp thời Lý. Tháp thường gồm nhiều tầng, tiết diện vuông, đôi khi có hình lục giác (tháp mộ thờ Trần Nhân Tông ở Yên Tử), kích thước càng lên cao càng thu nhỏ dần. Tháp giờ không còn là kiến trúc chính nữa mà chỉ là những kiến trúc phụ trong tổng thể một ngôi chùa. Lòng tháp thường hẹp không đủ làm Phật điện nên phải có một điện thờ Phật ở phía sau. Do đó, khác với thời Lý, tháp thời Trần thường có vị trí trước sân chùa, ví dụ tháp Phổ Minh chùa Phổ Minh, tháp Bình Sơn chùa Vĩnh Khánh, tháp Trần Nhân Tông chùa Hoa Yên...  tháp thường được xây trước ngôi chùa.

Ðến cuối Trần, chùa làng phát triển mạnh. Chùa gồm điện thờ Phật, sư Tổ, các phòng Tăng, các tháp mộ ở hai bên và phía sau điện thờ. Từ thời Trần, kiến trúc gỗ đã có những bằng chứng khảo cổ tồn tại. Một số Phật điện và tháp thời Trần còn khá nguyên vẹn cho đến thời nay. Nền điện thờ Phật cao và hình vuông (phát triển từ tháp thờ Phật thời trước). Chùa chỉ còn chức năng tu hành, không còn là hành cung cho vua ngự. Các công trình khiêm nhường về kích thước, vừa phải về quy mô nên mang lại cảm giác ấm cúng và gần gũi với con người hơn nhiều so với các công trình đồ sộ thời Lý.

+ Kiến trúc Phật điện

Kiến trúc gỗ: Kiến trúc gỗ tại một số ngôi chùa như Thái Lạc, Bối Khê, kiến trúc mang dấu ấn thời Trần chỉ còn lưu lại qua Thượng điện, còn ngôi chùa hiện nay được mở rộng rất nhiều qua các thời sau.

Những tòa thượng điện còn lại của ba ngôi chùa là chùa Dâu, Thái Lạc, Bối Khê có chung một kiểu thức kiến trúc với kích thước tương đối tương đồng. Ðiện thờ Phật thời Trần thường có nền là hình vuông và thời Trần đã bắt đầu xuất hiện kiến trúc kiểu chuôi Vồ và chữ Tam. Các nền chùa thường được tôn cao hơn mặt đất bình thường và không lát gạch. Các chùa làng như Thái Lạc và Bối Khê có Phật điện xây trên nền cao trên dưới 1m, mỗi cạnh xấp xỉ 10m, tạo thành một nền đế hình vuông. Căn cứ vào khoảng cách giữa các cột cái với nhau thì kích thước chùa thời này thường nhỏ (ở chùa Bối Khê và Thái Lạc là 3m).

Kiến trúc Phật điện là kiến trúc một gian hai chái, không có tường vách bao. Các tòa thượng điện đều có bốn cột cái lớn ở giữa, 12 cột quân (đồng thời làm cột hiên vì chia gian chỉ có bốn hàng chân cột) xung quanh, do đó hai vì chia gian đều thuộc gian giữa. Kết cấu khung gỗ đỡ hai mái chính ở đằng trước và đằng sau, và hai mái bên, toàn bộ trọng lượng mái chuyển qua cột xuống nền nhà. Mái tỏa ra bốn phái, lan xuống thấp với các đầu đao vươn thành những đóa hoa ở bốn góc cong hất lên. Lối cấu trúc khung gỗ này được duy trì đến các thời sau như một mẫu mực của thức kiến trúc cổ Việt Nam.

Kết cấu kiến trúc điển hình là nền hình vuông, có bốn cột to ở giữa, tạo thành bộ vì theo kiểu giá chiêng gồm một câu đầu tỳ lực lên hai đầu cột cái. Các cột cái nối với nhau bằng những câu đầu to trên đỉnh, các cột quân nối với cột cái bằng xà nách. Bên trên câu đầu, có gắn một bộ phận gọi là giá chiêng thường thấp hơn so với các thời kỳ sau, bộ phận này gồm hai trụ chống đỡ một bộ phận nối gọi là bụng lợn. Các bộ khung giá chiêng có tác dụng giữ cho con chồng hai bên vững chắc và góp phần chống đỡ mái. Ở giữa khung giá chiêng, thời kỳ này người ta thường lắp thêm ván bưng trang trí thường chạm trổ hình lá đề với những phù điêu rồng, tiên nữ tạo thành một đặc điểm dễ nhận biết qua phong cách trang trí trên ván bưng đó. Từ cột cái nối với cột quân có xà nách nằm ngang, bên trên là các con rường chồng lên nhau qua các đấu kê. Từ cột quân ra ngoài hiên, đầu bẩy được chúc xuống theo độ dốc mái. Phái trên xà nách ngang và dọc có những bức cốn hình vuông là nơi hội tụ tinh hoa trang trí của toàn bộ ngôi chùa. Các thành phần gỗ thời kỳ này đều to mập, liên hệ với nhau bằng mộng (phần lồi lõm liên kết các bộ phận của kiến trúc với nhau) tạo ra các cấu kiện chặt chẽ, chắc chắn nhưng có thể tháo lắp và thay thế dễ dàng khi sửa chữa.

Kiến trúc tháp: Ta có thể thấy được hình ảnh kiến trúc tháp thời kỳ này qua hai ngôi tháp điển hình còn giữ được đến ngày nay, đó là tháp Phổ Minh và tháp Bình Sơn.

Tháp Phổ Minh là một công trình bằng đá và gạch gồm 14 tầng và cao 19,51m, mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh dài 5m21, tầng một cao 2m2. Tuy nhiên, có tư liệu cho rằng, 11 tầng dưới là của thời Trần, còn ba tầng trên không có nẹp đá ba góc và trang trí hoa văn là sản phẩm của thời gian gần đây. Mái các tầng nhô ra rất ít, càng lên cao càng thu hẹp lại, chiều cao các tầng càng thấp đi và kết thúc bằng một chóp búp tạo cho dáng tháp thêm thon thả, bốn mặt tháp đều trổ cửa tò vò. Tháp có dáng cao thanh mảnh do bề ngang hẹp, các rìa mái tầng tầng lớp lớp tạo một cảm giác siêu thoát và linh thiêng cho chốn cửa Phật.

Tháp Bình Sơn được xây dựng bằng đất nung già đỏ sẫm, giờ chỉ còn 11 tầng và cao 15m (theo ghi chú các viên gạch xây dựng tháp trong đợt trùng tu di tích cho thấy tháp có thể cao đến 14 tầng). Tháp Bình Sơn có cạnh đáy bệ tháp là 4,45m, cao 1,62m, cạnh tầng thứ 11 cạnh 1m55, dáng tháp chắc đậm. Tầng thứ nhất cao 2,72m, chiều mỗi cạnh rộng 3,3m, bốn mặt trổ cửa tò vò.

+ Vật liệu và kỹ thuật xây dựng

Vật liệu xây dựng:

Kỹ thuật xây dựng thời Trần phát triển rực rỡ do tiếp thu được tinh hoa của nền nghệ thuật thời Lý và được hun đúc trong quá trình lao động của ông cha. Chất liệu mỹ thuật thời Trần để lại phong phú hơn thời Lý, do đó kỹ thuật cũng có những riêng biệt ở một cấp độ cao hơn thời Lý. Đối với các nhà khung gỗ hiện còn như vì kèo thuần gỗ (gỗ mít, gỗ lim), như thượng điện chùa Thái Lạc, Bối Khê, Dâu đã giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quát hơn về kiến trúc khung gỗ sớm nhất còn tồn tại cho đến ngày nay.

Chất liệu xây tháp:

Các ngôi tháp thường là sự kết hợp giữa đá và gạch, hoặc làm bằng đất nung. Các chất liệu như đá xanh được sử dụng làm bệ dưới tháp Phổ Minh tạo vẻ đẹp, và tăng độ bền vững cho công trình. Vật liệu được sử dụng ở các tầng trên là gạch nung mỏng, nhẹ. Hồ lô trên đỉnh tháp bằng đồng (giờ đã mất), các dây đồng được sử dụng ràng buộc các kết cấu với nhau. Các loại gạch vuông (22cm x 22cm) và loại dài (45cm x 22cm) được sử dụng để xây lõi tháp Bình Sơn, gạch trang trí bên ngoài có kích thước 46cm x 46cm và những viên gạch hình Thước Thợ (L) để tăng sự chắc chắn cho lớp gạch bên ngoài.

Kỹ thuật xây dựng:

Kiến trúc thời Trần đã để lại kỹ thuật dựng chùa và xây tháp. Khung gỗ của chùa là những thành phần to lớn chồng lên nhau, lấy sức nặng bản thân để tạo nên sự vững chắc. Những vì kèo còn lại của thời kỳ này có những thành phần cấu trúc cơ bản định hình nên kỹ thuật xây dựng nhà khung gỗ của các thời kỳ sau. Thành phần chủ yếu là cột cái, cột quân, xà, con chồng, đấu kê. Các thành phần kết cấu gỗ được liên kết với nhau bằng mộng chốt có thể tháo lắp một cách dễ dàng.

Kỹ thuật xây tháp:

Sự cân bằng của các tháp dùng sức nặng tự thân là chính, các thành phần của tháp được gắn kết bởi các chất keo vữa và mộng. Mộng chốt nối gạch ốp ngoài với khối trụ bên trong và mộng cá chì được dùng để nối các viên gạch với nhau. Ở các tầng gạch phía dưới, người xưa còn  dùng các dây đồng xâu móc qua viên gạch để tăng độ liên kết kiến trúc (tháp Phổ Minh). Keo vữa xây tháp có hai loại, xây lõi gạch bên trong (tháp Bình Sơn) sử dụng keo bằng chất đất mịn vàng có độ kết dính cao và keo để xây ốp bên ngoài bằng hợp chất vôi, mật và giấy dó với độ kết dính rất cao.

Lòng tháp Bình Sơn được xây thành khối trụ vuông, càng lên cao càng thu hẹp tạo nên một cốt lõi hình trụ vững chắc cho công trình. Kết thúc mỗi tầng người ta xây nhô ra mấy hàng gạch để tạo diềm mái, vừa làm đẹp vừa tạo thế cân bằng cho tháp. Đặc biệt, các viên gạch trang trí mặt ngoài tháp được đánh dấu ghi rõ vị trí tầng thứ mấy và là viên thứ mấy trong tầng đó. Việc đánh dấu này phổ biến trong nhiều di tích phản ánh trình độ kỹ thuật và tư duy tổng hợp của thời kỳ này đã rất phát triển.

Ngoài ra, ta không thể không kể đến kỹ thuật làm móng của tháp Phổ Minh, với kinh nghiệm xây móng nền chịu lực. Để xây móng tháp, người ta đào sâu xuống 2,4m, móng được gia cố thành hai lớp, một bằng đá và một bằng sét trộn sỏi nện chặt. Lớp đất sét cũng được chia thành nhiều lớp, lớp sỏi trộn sét đen dưới cùng, các lớp trên là sỏi trộn sét nâu vàng (với độ dày 1,52) m tạo ra lớp móng đầu tiên vững chắc. Trên lớp này, người ta xây móng bằng đá khối kích thước trung bình 1,6m x 1,4m x 0,8m, tạo thành nền móng kiên cố hình vuông mỗi chiều 5,5m. Trên đó, người xưa bắt đầu xây dựng đế tháp và các tầng tháp. Nói chung, việc xây cất ở thời Trần đều sử dụng kỹ thuật cấu ráp các bộ phận kiến trúc với nhau trên căn bản vật lý rất logic.

+ Trang trí, điêu khắc

Trang trí trên gỗ của thời Trần không bay bướm như thời Lý nhưng sự khỏe khoắn hiện ra trong từng nét chạm khắc tinh xảo. Chất dân dã đã được thể hiện trong đường nét và bố cục hình khối tạo cho trang trí thời Trần mang một đặc điểm riêng dễ nhận diện. Đề tài trang trí thời Trần thường mang tính chất chính thống, quyền quý, như rồng, phượng, sấu, hoa mẫu đơn, quầng lửa, sóng nước, hoa sen, hoa dây… Một số yếu tố văn hóa Ấn có thể thấy trong hình tượng các vũ nữ múa, các nhạc công, các tượng chim kiểu Kinnari và chim thần kiểu Garuda...

Các vì kèo gỗ để lại từ đời Trần cho thấy sự phong phú trong nghệ thuật chạm khắc của ông cha ta. Những ván bưng giữa các giá chiêng chạm khắc quần lửa nhọn đầu với đề tài lưỡng long tranh châu. Ở chùa Thái Lạc, thì ván bưng đó chạm khắc hình hai tiên nữ đầu người mình chim, còn ở chùa Bối Khê là phượng hoàng chầu nguyệt. Những trụ đỡ cũng được trang trí với các hình tiên nữ dập dờn trên sóng nước, tay giơ lên đỡ bệ sen, hay hình phỗng (chùa Thái Lạc) và có khi là một đóa mẫu đơn (chùa Bối Khê). Hình tượng tiên nữ thường được chọn làm đề tài trang trí cho các bức ván nong, lúc thì thổi tiêu, kéo nhị hay thổi sáo đánh đàn. Có những bức chạm khác nhạc công thổi sáo và chơi các nhạc cụ dân tộc.

Bố cục cân xứng, đường nét mềm mại, đôi lúc gân guốc nhưng điêu luyện. Những mảng khối đầy đặn ẩn chứa sự chắc khỏe là đặc điểm nổi trội của trang trí thời kỳ này. Ví dụ như cảnh dâng hoa, tấu nhạc trong trang trí chạm khắc ván nong (giữa hai thành xà thượng và xà hạ) chùa Thái Lạc (Hưng Yên). Nhân vật trung tâm là vũ nữ, nhạc công hay có thể là chim thần Kinnari với những lối bố cục đăng đối và bút pháp giống nhau, làm bật lên sự lặp đi lặp lại trong không gian của hình tượng. Sự tương phản về khoảng đặc, khoảng rỗng, giữa sáng và tối đá được trải đều qua phần ván gỗ bằng phẳng với lớp hoa văn ken đặc.

Thứ đến, nét bình dị và hiện thực cũng là một đặc điểm không thể thiếu trong trang trí thời kỳ này. Thậm chí, những hình tượng nghệ thuật mang tính thần thoại như Kinnari vẫn mang những khuôn mặt hết sức thật đẹp, trầm tư của những con người thế tục. Những hình chạm nổ bẹt như hình cây cảnh và dê ngoạm nhánh lá ở hai đầu bệ, hình sư tử và con hổ chạm đá trên bệ thờ chùa Quế Dương (Hà Tây) tựa như những bức họa đơn giản với lối tả thực mạnh mẽ, hình phỗng trên trụ gỗ chùa Thái Lạc với mảng khối chắc khỏe… Nói chung, đề tài mỹ thuật thời Trần rộng hơn ở thời Lý, vì vừa tập hợp hết các đề tài chính thống lại còn có những đề tài gần gũi với dân gian hơn và có tính hiện thực hơn.

Trang trí tháp thời kỳ này đơn giản hơn rất nhiều so với trang trí thời Lý. Các thành bậc cửa vào (quanh tháp Phổ Minh) là hình tượng sấu và rồng quen thuộc. Cửa tháp và các mặt tường trang trí các hình hoa dây. Các tầng trên của tháp Phổ Minh thường thấy trang trí chủ yếu trên mặt gạch với những hình rồng cuộn mây. Trang trí tháp Bình Sơn cũng rất phong phú, ở lớp đế tháp chạm các hình phù điêu sư tử hí cầu, cửa tầng 1 trang trí hình rồng, trên có hình đấu ba chạc xen kẽ giữa các hình sừng tê và hoa lá, nằm gọn trong hình lá đề. Tầng 2 và 3 trang trí hoa dây, đấu ba chạc, cánh sen. Các tầng trên tháp Bình Sơn thì trang trí chủ yếu hình cánh hoa cúc, từ tầng 8 trở lên là hình tháp 5, 6 tầng đang tỏa hào quang tương đối đơn giản xen kẽ hoa chanh, các diềm mái trang trí hoa dây.