Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


...... ... .

 

 

Đặc san Xuân Ất Dậu -2005

Giác Ngộ

Số 261 (27 .1.2005.)

 

 

Mục Lục

 

 

Mùa Xuân đi tìm dấu chân Đức Phật ^

HT Thích Trí Quảng

Nhớ nghĩ đến cuộc đời giáo hóa độ sinh của Đức Phật, chúng ta hình dung ra những phong cảnh từng lưu dấu ấn của Ngài, quả thật là trong lành, tuyệt đẹp vô cùng.

Thật vậy, xuất hiện trên thế gian này, Đức Phật đã chọn một cảnh thiên nhiên đơn giản, nhưng tràn đầy sức sống. Đó là khu vườn Lâm Tỳ Ni, Ngài đản sanh dưới cây Vô ưu trong vườn này. Khi phát tâm đi tìm chân lý, Ngài đã trải qua 11 năm thiết thân thể nghiệm ở núi rừng. Và phút giây mà Đức Phật chứng quả Vô thượng Chánh đẳng giác, sự thành đạo huy hoàng của Ngài cũng đã ghi dấu ở cảnh hùng vĩ của núi rừng, dưới cội cây Bồ đề.

Sau khi thành đạo, từ cảnh núi rừng bao la, Đức Phật khởi đầu bước chân cứu độ chúng sinh; Ngài đã đến vườn Lộc Uyển thuyết pháp. Bước chân du hóa của Đức Phật đã trải qua khắp vùng Ngũ hà Ấn Độ, soi sáng tâm trí cho mọi người, ban rải tình thương khắp mọi nơi.

Và khi mọi việc cần làm cho cuộc đời đã hoàn tất tốt đẹp, Đức Phật đi đến Câu Thi Na, thanh thản rời bỏ thế gian. Ngài nhập diệt trong khu rừng, trên chiếc võng giăng dưới tàng lọng của hai cây Sa la. Hầu như cả cuộc đời của Đức Phật, Ngài sống đơn giản với thiên nhiên, cỏ cây, núi rừng nhiều hơn.

Về Tổ đình Linh Sơn Bửu Thiền, sống trong cảnh núi rừng hùng vĩ, thở không khí trong lành và thanh tịnh kỳ diệu của đất trời bao la, tự nhiên gợi cho tôi liên tưởng đến cuộc sống trầm mặc của Đức Phật thuở nào. Ngài đã tham thiền nhập định và giảng pháp ở núi rừng thanh khiết.

Và nhất là trong cảnh núi rừng vắng lặng êm đềm vô cùng, sáng tinh sương thơm mùi cây cỏ hiền hòa vừa thức giấc, hay vào buổi chiều tà, ánh dương nhè nhẹ len qua cây lá, cũng thoang thoảng hương dịu dàng của đất trời, hoa lá. Từng bước chân hành Thiền trên con đường mộc mạc hoang sơ, trong không khí nhẹ nhàng tinh khiết, càng làm cho tôi thanh thản kỳ diệu, bắt gặp cái bản tâm mộc mạc, trong sạch như hiển hiện trước mặt một cách dễ thương.

Đức Phật cũng từ cõi thanh tịnh tuyệt vời của cái tâm trong sáng vô ngần ấy mà Ngài đã đến với chúng ta. Trong mối giao cảm sâu sắc tột cùng như thế ở núi rừng, trong tôi hiện hữu sáng ngời hình ảnh Đức Phật với từng bước chân đi trong tỉnh thức một cách thật nhẹ nhàng, thanh thoát.

Như đóa sen tinh khiết tỏa hương làm dịu lòng người, bước chân giác ngộ của Đức Phật đi mãi, đi mãi, không hề mỏi mệt. Ngài đi qua biết bao núi rừng, qua bao vườn cây, qua bao phố phường, làng mạc, đến tận hang cùng ngõ hẻm. Ngài đến nơi nào cũng chỉ để mang lại sự an vui, hạnh phúc, yên bình cho thế nhân, cho mọi người thăng hoa trí tuệ, đạo đức, phước báo. Chẳng những Đức Phật mang lợi ích đến cho mọi người sống đồng thời với Ngài, mà đến tận ngày nay, cả nhân loại vẫn còn hưởng thụ được sự lợi lạc vô cùng khi bước theo dấu chân Phật, sống trong giáo pháp của Ngài.

Hành Thiền trong núi rừng tĩnh lặng bao la diệu vợi, từng bước, từng bước, cảm nhận đang đi theo dấu chân Phật thuở nào; một cuộc hành trình về tâm linh khai mở cho hành giả. Mỗi bước chân trên cuộc hành trình tâm linh đưa hành giả đến gần với Tịnh độ của Phật hơn và thâm nhập vào thế giới tâm linh vượt ngoài tính toan, mới nhận được ý nghĩa chân thật của Tịnh độ như thế nào.

Đọc kinh Duy Ma, nghe Phật dạy rằng Ngài chỉ dùng chân ấn đất là cảnh Tịnh độ hiện ra. Hay trong kinh Pháp Hoa nhắc lại lời Phật nói rằng "Tịnh độ của ta chẳng hư, mà chúng thấy cháy rã". Nghe Phật nói sao mà đơn giản quá vậy. Chẳng lẽ Tịnh độ dễ có như thế hay sao và còn nhiều thắc mắc khác nữa.

Giờ đây, từng bước chân hành Thiền ở núi rừng tĩnh lặng trên Linh Sơn Bửu Thiền tự, một lần nữa đã mở ra cho tôi cảnh Tịnh độ mà Đức Phật đã dạy trong kinh.

Vâng, hành Thiền trong tỉnh thức, cảm nhận sự an lành kỳ diệu. Từng hơi thở, từng nhịp đập của trái tim, từng dòng máu luân chuyển trong thân, từng bước chân đi, tất cả đều bao phủ tràn ngập niềm an lành kỳ diệu. An lành trong ta, an lành trong núi rừng bao la hiền hòa, an lành trong cỏ cây hoa lá vô tư, an lành trong không khí thuần khiết, dịu dàng, an lành trong mọi pháp lữ đồng hành xung quanh ta, an lành trong ánh mắt ngây thơ của chú chim bé nhỏ hay chú sóc đang mở to mắt nhìn ta.

Sự an lành kỳ diệu của hành giả an trụ trong tỉnh thức, an trụ trong sự hài hòa với đất trời bao la, với những người cùng hạnh nguyện, với mọi sinh vật của núi rừng. Mùa Xuân của chúng ta đó, mùa Xuân của những hành giả đang đi theo dấu chân Phật, đang sống trong tỉnh thức.

Hãy cùng an trụ mùa Xuân ấy, hãy sống với Tịnh độ ấy, như hai câu thơ mà Hòa thượng Nhất Hạnh đã viết tặng tôi, khi tôi sang Pháp thăm ngài vào cuối năm qua :

Chẳng biết rong chơi miền Tịnh độ

Làm người một kiếp cũng như không.

 

Cơ hội của một nụ hoa ^

Thiền sư Nhất Hạnh

 

Em là một bé gái 13 tuổi bị cha mẹ "bắt" lên tu viện Lộc Uyển tham dự khóa tu của người trẻ, sau đó em về Làng... Dưới đây là câu chuyện của Sư cô Đẳng Nghiêm kể lại:

Sư cô có nhớ, trước khi Sư cô đi Trung Quốc với Sư ông và Tăng đoàn, Sư cô đã dặn con rằng: "Con ở nhà ráng giúp cô bé này giùm Sư cô. Đây là social work đó con". Thú thật thì con cũng ngán lắm. Nhìn em, đôi chân mày mỏng như hai chiếc lá, mắt liếc sắc như lá Nettles, miệng chu lên khi nói, đôi giày cao mấy tấc, áo quần bó sát người, con thầm nghĩ: "Ái dà, cô bé này không dễ đâu! Em có nhiều vấn đề lắm".

Nhưng chính em đã đến với con và hỏi: "Can I talk to you?" (Em có thể nói chuyện với Sư cô được không?). Trong buổi nói chuyện đầu tiên, em kể cho con nghe về những xung đột bạo động giữa em và bố của em, về những người trong băng đảng mà em đã bắt đầu có quan hệ từ lúc em 9 tuổi, về nếp sống tự do, không kỷ luật mà em đeo đuổi. Trong cái sành đời của em, con thấy sự ngây thơ, khờ dại. Trong cái thù hận của em đối với bố, con cảm thấy cái đau của một đứa trẻ từng bị thất vọng, và bị phản bội. Trong cái bất cần của em, con hiểu rằng em cần tình thương, sự vỗ về hơn ai hết. Trong em, lại cũng có một cái gì đó rất thu hút, khiến tất cả mọi người, từ già đến trẻ, từ quý sư cô, đến quý thầy, đến quý vị thiền sinh, ngay cả những vị thường ngày rất lặng lẽ, ai cũng đến với em, chơi với em, lắng nghe em, dạy em học tiếng Việt, tiếng Pháp, khuyên răn em. Con cũng ngạc nhiên khi nghe chính mình xung phong đến ngủ chung phòng với em mỗi tối, thay vì rút lui để được yên thân.

Từ giờ phút đó, cuộc phiêu lưu thám hiểm của chị em con bắt đầu. Đêm đầu tiên con vào phòng ở với em, em nói thao thao bất tuyệt như những cô chú chim trong bụi tre ở Xóm Mới lúc về chiều. Con chỉ biết ngẩn người ra nghe. Chín giờ tối, khi chuông vang báo hiệu giờ im lặng hùng tráng, con lấy tay ra hiệu, em ngừng lại đủ để nín thở, và khi hồi chuông vừa dứt, thì em tiếp tục nói. Thường thì con thực tập giờ im lặng hùng tráng rất nghiêm chỉnh, nhưng em thèm được có người lắng nghe, nên con không nỡ bắt em im lặng. Đến 11 giờ khuya rồi mà em vẫn nói một cách hăng say. Con phải năn nỉ em mấy lần: "Thôi mình ngủ nha, sư chị cần thức dậy sớm" thì cuối cùng em mới chịu im lặng, nằm xuống, nhưng cứ trăn qua trở lại. Con nảy ra ý kiến làm thiền buông thư để giúp em đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn. Thở vào em biết em thở vào. Thở ra em biết em thở ra. Em buông thư những cơ bắp trên trán, trên mặt của em. Em mỉm cười... Em đã có một ngày thật vui, gặp nhiều người tốt, ai cũng lắng nghe em, vui cười với em... Em nuôi dưỡng tình thương trong em, để hiểu và tha thứ cho bố, cho meå... Sau hai ba câu nói, thì em đã thở đều và đi vào giấc ngủ, nhưng con tiếp tục ru em bằng những ý nghĩ tốt đẹp. Suốt đêm đèn để sáng, vì em sợ bóng tối. Mỗi khi có tiếng động, em ngồi chồm dậy, hốt hoảng: "What’s that? Who’ that?" (Cái gì đó? Ai đó?). Con lại phải trấn an em: "Chỉ là con mèo, con chuột đi ăn đêm, không sao đâu em". Trong lúc ngủ em đập đầu vào tường thình thịch, hoặc đá con ngang hông. Con dùng 4, 5 cái gối tấn sát tường để bảo vệ đầu của em nhưng vẫn không hiệu nghiệm, nên sau vài đêm thì con lấy luôn một tấm nệm chặn giữa em và bức tường. Con thường thức dậy mỗi khi em nói lớn, có vẻ sợ hãi hoặc giận dữ trong giấc ngủ. Cũng có những khi con thức dậy bất chợt, bắt gặp em đang nhìn con chăm chăm. Em hỏi con: "Do you always smile in your sleep?" (Sư chị lúc nào cũng mỉm cười trong khi ngủ hay sao?). Một đêm con nằm mơ thấy mình khóc thì nghe tiếng em vỗ về: "It’s O.K sister!". Sáng dậy, em hãnh diện lắm, vì chính em là người đã an ủi con. Có một đêm con rất mệt, Sư cô Đoan Nghiêm biết được, bảo em: "Con làm thiền buông thư cho Sư cô Đẳng Nghiêm đi, tối nào sư cô cũng làm cho con, thì bây giờ con cũng làm để chăm sóc cho sư cô". Em rất do dự, ngượng nghịu vì em đâu biết làm, nhưng rồi cuối cùng em cũng bắt đầu:

Thở dzô, tui biết tui thở dzô. Thở dza, tui biết tui thở dza.

Thở dzô, tui biết tui đang đội cái nón màu xanh.

Thở dza, tui biết tui đang mặc áo tràng màu xanh.

Thở dzô, I’m gonna be Miss America (tui sẽ trở thành hoa hậu của nước Mỹ).

Thở dza, I’m gonna win (tui sẽ đoạt giải hoa hậu).

Em nói với giọng Bắc, pha với giọng Nam và tiếng trẻ con, nghe thật dễ thương. Con cũng ráng "thở dzô, thở dza", muốn cười mà không dám vì sợ em phật lòng. Có lẽ đây là bài tập "thiền hướng dẫn" độc đáo nhất con từng nghe. Em khoe rằng em đang tập đọc tiếng Việt với sư chị Hỷ Nghiêm, nên thấy bút pháp nào của Sư ông, em cũng đọc. Nhân tiện hai chị em đang chải răng, con chỉ vào cái bảng gỗ nhỏ với dòng chữ: "Bây giờ và ở đây", bảo em đọc. Em đọc một cách trịnh trọng: "Bể dzồi, ở đây". Con bật cười. Em kiên nhẫn giải thích: "There was a mirror here, but it’s broken, so they put up this sign" (Chỗ này trước kia có cái gương, nhưng nó bể dzồi, nên họ để cái bảng này để mình biết). Sư cô có thấy lý luận của con nít dễ thương chưa?

Nhìn bề ngoài chắc ai cũng nghĩ rằng em cứng đầu, nhưng thật ra em nghe lời và chịu khó lắm. Em đi ngồi thiền hầu như mỗi sáng và mỗi chiều. Con thức dậy sớm. Chuẩn bị phần con xong rồi, thì đánh thức em dậy. Những ngày đầu, con rắc nước, xoa đầu, xoa mặt, dựng em ngồi dậy, xoa lưng, xoa chân để giúp em tỉnh dậy. Em năn nỉ để em ngủ thêm, nhưng con không cho, nên cuối cùng em cũng phải lồm cồm ngồi dậy. Nhưng từ khi em nghe quý sư cô nói về hungry ghosts (cô hồn- ma đói) thì em rất sợ. Sáng đó con vừa đứng dậy để chuẩn bị cho phần con, thì em cũng lật đật đi theo. Em hỏi con và những sư cô khác rất nhiều về ma đói. Rồi một đêm tự nhiên em nói với con: "I think I am also a hungry ghost, or I am going to become one" (con nghĩ rằng con cũng là một con ma đói, hay là con sẽ trở thành một con ma đói). "I don’t want to become a hungry ghost" (con không muốn trở thành một con ma đói).

Con nói: "Hầu như tất cả chúng ta ai cũng là những con ma đói, có người đói ít, có người đói nhiều. Bố của em cũng là một con ma đói. Em có thể tu tập để giúp cho bố của em".

"Never!" (không bao giờ) em quát lên. Mặt em đanh lại. Con biết những khổ đau trong em về bố vẫn chưa nguôi.

Con tiếp tục: "Nếu em không giúp bố bây giờ, thì khi bố chết, em cũng sẽ phải đối diện với bố trong em".

Em lắc đầu: "I don’t want him to haunt me!" (Con không muốn ông ta ám ảnh con).

Con thấy tội nghiệp em quá. Con nói: "Vậy thì em nên giúp bố. Hòa giải với người sống dễ hơn với người chết nhiều".

Trong tháng đầu tiên ở Làng Mai, sắc thái và thái độ của em hoàn toàn thay đổi mỗi khi tiếng bố được nhắc đến. Khi nghe tin bố em muốn qua Làng gặp em, em phản đối mạnh mẽ: "I’ll leave if he gets here. I’ll kill myself. You’ll see the ugliest side of me" (con sẽ rời Làng nếu ông ta đến đây. Con sẽ tự tử. Sư chị sẽ thấy cái bộ mặt xấu xa nhất của con). Rồi một tối em nói chuyện với mẹ trên điện thoại, và mẹ nói rằng bố mẹ sẽ gởi em vào một trường kỷ luật bên Mễ Tây Cơ. Khi em mới đến Làng, em khăng khăng nói rằng thà đi qua trường đó, hoặc ở với người bảo trợ, hoặc vào nơi dành cho những người trẻ phạm pháp, chứ nhất định không chịu về ở với bố nữa. Nhưng những ngày ở Làng đã làm thay đổi cái nhìn của em. Đêm đó khi con vào phòng, em ngồi trên giường, đầu gối co lên. Em cúi đầu, lặng thinh, chỉ có nước mắt là không ngừng rơi. Nước mắt lăn xuống má em từng hạt lớn. Con chưa từng thấy em khóc như vậy. Con nhẹ nhàng leo lên giường ngồi sát bên em, chậm những giọt nước mắt với cuộn giấy toilet, hết xấp này đến xấp khác. Con ôm em, chải tóc, em cũng không động đậy. Khi con mỏi chân, mỏi tay, chuyền em qua phía bên tay kia, em cũng không tự mình nhúc nhích. Con đặt em nằm xuống, em cũng vẫn lặng thinh. Chỉ có những giọt nước mắt cứ không ngừng rơi, em ngủ thiếp đi, và sáng dậy, một giọt nước mắt vẫn còn đọng trên hàng mi của em.

Ở Làng, em cũng đã học quay về với tổ tiên huyết thống của mình. Em nói em thấy ma trong phòng hai lần, sau khi em thực tập thiền lạy. Em sợ lắm, nhưng rồi em nghĩ, có thể đó là bà nội của em. Con nói: "Nếu đó là bà nội của em, thì không có gì phải sợ, vì bà nội đã có sẵn trong mỗi tế bào của em. Sợ bà nội, nghĩa là sợ chính mình sao? Chắc tổ tiên muốn em biết nhiều hơn về họ, và có thể họ đang rất khổ, và họ muốn em giúp họ được giải thoát, qua sự tu tập và chuyển hóa của chính em". Nghe vậy, tuy vẫn còn sợ, nhưng em không mất một buổi thiền lạy nào. Em cầu nguyện rằng nếu tổ tiên muốn dạy em điều gì, thì đến với em qua những tuệ giác, chứ xin đừng hiện ra làm em sợ lắm. Trong một buổi thiền lạy, em đã nói: "I’m sorry, ancestors, that I cannot help you liberate right now" (con xin lỗi là con không giúp tổ tiên giải thoát được ngay bây giờ).

Ở Làng, em học nói lời ái ngữ. Thay vì nói: "I hate..." (con ghét...), thì em nói: "It does not please me that..." (con không vui...). Thay vì nói: "He pisses me off" (bố làm con nổi khùng) thì em học nói: "He waters the seed of anger in me" (bố tưới tẩm hạt giống giận trong con), hoặc "He makes my seed of anger sprout into a tree" (bố làm cái hạt giống giận dữ của con nảy mầm thành một cái cây). Con hỏi: "Còn cái hạt giống tỉnh thức của em có lớn hơn chưa?". Em cười tươi: "You make it sprout into a tree" (quý sư cô đã làm hạt giống đó nảy mầm thành cây rồi).

Em tập đi lên xuống cầu thang chậm và nhẹ hơn được phần nào. Thay vì vất dép mỗi chiếc mỗi nơi, em xếp chúng lên kệ. Em tự động quét phòng, và lau phòng. Quần áo thì em vẫn còn quăng bừa bãi trên giường, nhưng mỗi khi con xếp lại thì em ý thức được, và cảm ơn. Một hôm nghe Sư cô Đoan Nghiêm nói sẽ lên phòng thăm, em hốt hoảng la lên: "Oh, no! Give us at least 10’ to clean up" (ồ không, cho chúng con ít nhất 10 phút để dọn dẹp). Em chạy lên phòng, và hai chị em xếp quần áo, nhận vào bao ni-lông những đồ không dùng, quăng rác v.v... Em thì thật sự lo, con thì giả bộ lo. Hai chị em vừa làm vừa cười rất vui.

Khi con nghe tin bố em sẽ đến trong vòng hai ngày, con nói với em: "Sáng nay sư chị ngồi thiền, tự nhiên sư chị thấy bố em ở Xóm Mới, đang đứng ở chỗ rửa ly thì em từ từ đi đến. Em biết em đã làm gì không?". "What?" (làm gì?). Em hỏi với mắt mở tròn. Con cười: "Em đến ôm bố, và trong vòng tay bố em trở thành một đứa trẻ khoảng chừng 4, 5 tuổi". "Oh, no, he’s coming for real? I have to leave!" (bố tới thật sao? Con phải đi thôi!). Em nói, nhưng giọng em không lớn và nặng như những tuần đầu em vừa về Làng. "Em nên tập thiền ôm với quý sư cô đi". Con vừa nói với em, vừa cười, bụng mừng thầm rằng ít nhất bây giờ em biết cái tin bố sẽ đến thật sự.

Cuối cùng thì cũng đến ngày bố em đến Làng, với em trai và vợ của chú. Hôm đó em tự động mặc bộ đồ nâu mà Sư cô Trúc Nghiêm đã cho em mượn. Em chạy trốn trong phòng, nhưng Sư cô Đoan Nghiêm gọi em xuống. Em chào chú và cô, nhưng không chịu đến gần bố, chỉ nhìn xuống đất. Sư cô Đoan Nghiêm nói với con: "Em vẫn không chịu ôm bố". Riêng con thì quá mừng là ít nhất, em chịu đứng cùng phòng với bố chứ không quyết liệt tránh mặt như em nói. Lúc ăn tối, con ngồi đối diện với bố của em, và em chịu ngồi kế bên con. Em nhất định không ăn, không nhìn lên, nhưng cũng không bỏ đi. Con ra hiệu em rót nước cho bố và cô chú. Ngoan ngoãn, em chịu đứng lên đi lấy nước, và lặng lẽ đặt ly nước cạnh bố. Em lại nghe lời đi tìm Sư cô Liễu Nghiêm để nhờ sư cô chuẩn bị phòng để bố và chú có thể cùng ở lại Xóm Mới đêm đó, thay vì đi qua Xóm Thượng. Phải nói là con không những mừng thầm, mà là rất ngạc nhiên bởi những hành động dễ thương này của em. Trái tim em lớn quá!

Sư cô có nhớ buổi họp đầu tiên mình với em và bố của em không? Sư cô đã nói về đức tính liêm khiết của ông nội của em, là một luật sư nổi tiếng từ Nam ra Bắc, nhưng nghèo vì ông không bao giờ chịu nhận tiền hối lộ. Nhờ đức của ông nội, mà bố và em hưởng được những phước lành. Con đã hỏi em rất nhiều câu hỏi, để giúp em có cơ hội nói ra trước bố những tri giác của em về những gì đã xảy ra giữa bố em và em. Bố em được dặn chỉ nên ngồi lắng nghe, dù ông có đồng ý hay không đồng ý với tri giác của em và những sự kiện em thuật lại. Bố em thực tập giỏi lắm, ngồi im lặng suốt hơn hai tiếng chỉ thỉnh thoảng đổi tư thế ngồi mà thôi. Sau đó, bố em hứa sẽ không bao giờ uống rượu và hút thuốc nữa. Bố em sẽ làm tất cả những gì em muốn. Con mừng lắm, nhưng em thuật với con rằng bố đã từng hứa như thế bao nhiêu năm rồi, với mẹ trước khi cưới, rồi với em. Và em đã mất niềm tin ở bố. Ngay hôm sau bữa họp đó, bố em bỏ đi suốt ngày với một thiền sinh nam khác. Em khóc, nói chắc bố đi ăn mặn rồi, vì bố không ăn chay nổi đâu. Sư cô có nhớ sư cô qua để nói chuyện với ông ta, nhưng đợi mãi không thấy về? Đến lúc về thì mặt đỏ gay, hơi thở nồng nặc mùi rượu. Con đến giáp mặt bố em ngay tức khắc, và bố em chịu trận, chỉ năn nỉ đừng để Sư cô Chân Không biết. Con nói đùa: "Bây giờ thì mình có thể hiểu bé đã nhận được hạt giống thiếu kỷ luật từ ai!". Bố em cười bẽn lẽn.

Sư cô dạy bố em nên vào ngồi thiền với đại chúng chiều đó. Nghe tin, em không muốn vào thiền đường, nhưng con nhắc em rằng quý sư cô đã nhờ em đọc giùm lời nguyện của Đức Bồ tát Địa Tạng bằng tiếng Anh trong giờ tụng kinh nên em không thể không vào. Con khuyến khích em: "Em đang giúp phá tan địa ngục trong em và bố như Đức Bồ tát đó". Em mỉm cười. Con đã ngồi giữa em và bố của em. Hơi thở của bố em ngắn và mệt nhọc. Mùi rượu vẫn nồng nặc. Bố em không quen ngồi dưới đất nên chuyển lên ghế, rồi lại ngồi bệt xuống, rồi lại dùng ghế. Còn hơi thở em thật nhẹ và đều. Mỗi khi bố em cử động thì em cũng xoay đầu nhìn. Lúc đi kinh hành thì bố em đi trước, rồi đến con, rồi đến em. Pháp Bụt mầu nhiệm quá! Tăng thân của mình thật sự là nơi nương tựa, để bố em và em – ngỡ rằng không nhìn được mặt nhau – mà lại được đi chung với nhau những bước chân thật chậm, thật lành!

Ngày hôm sau bố em cũng lại đi suốt ngày, và khi về phòng lăn ra ngủ ngay tức khắc. Cũng lại gần đến giờ ngồi thiền. Em chạy đến thiền đường tìm con, vừa nói vừa khóc: "He’s done it again! I am so stupid to believe him. He’s done it right in the monastery, twice now. That’s it. That’s it. Now I can do anything I want. I can drink, I can smoke, and he cannot say anything to me. He’s blown it". (Ông ta lại uống nữa! Con thật ngốc khi tin ông ta. Ông ta uống ngay trong tu viện, giờ là lần thứ 2. Vậy đó. Vậy đó. Bây giờ con có thể làm tất cả những gì con muốn. Con có thể uống rượu, có thể hút thuốc và ông ta đừng hòng nói với con bất cứ điều gì. Ông ta đã bị sa vào đó rồi - G.N) Con ôm em thật chặt: "Bố cần sự giúp đỡ của em. Sự thật là bố không thể tự thay đổi. Hãy tội nghiệp cho bố mà giúp bố đi em. Nếu không, bố sẽ trở thành một ông già nghiện ngập, cô đơn vì các con đều bỏ bố, và rồi em cũng sẽ trở thành như bố, nghiện ngập, cô đơn, tràn đầy những oán thù". Em vẫn khóc, tuy nhiên dần dần em trở nên bình tĩnh hơn nhưng em nhất quyết không chịu đi ngồi thiền. Con nhìn em: "Đây mới là lúc em cần ngồi thiền nhất. Em gọi ông bà nội và tổ tiên, xin họ giúp cho em có đủ kiên nhẫn và tuệ giác để giúp cho em, cho bố, và cũng là cho tổ tiên của em. Đây là một cơ hội tốt để tất cả có thể được giải thoát". Nghe chữ giải thoát thì em lặng thinh, và chịu đi ngồi thiền. Sau đó em đồng ý đi qua Đức thăm cô chú với bố em. Trước khi đi, em thức gần trắng đêm để viết thư cho từng sư cô. Không rành viết tiếng Việt, em đã dùng tự điển trong máy vi tính để viết tiếng Việt cho Sư cô Cơ Nghiêm.

Từ Đức, em đã gọi điện về Làng báo tin tới nơi và giọng em thật vui. Bây giờ thì em đã về ở với bố mẹ và ba đứa em nhỏ. Em cũng gọi thăm quý sư cô, xin lỗi rằng em bận học để theo kịp chương trình, nên chưa có dịp viết thư cho quý sư cô. Em báo tin rằng bố thực tập giỏi, không hút thuốc trong nhà hay trước mặt em nữa. Bố em cũng đã e-mail qua Làng hai lần, hứa rằng sẽ dẫn em và cả nhà đến Lộc Uyển để cùng tu tập chung với nhau.

Ngày tới, em già giặn như một cô gái hai mươi tuổi với son phấn, với áo quần bó sát người. Ngày đi, em tươi mát và xinh xắn như một đóa hoa mới nở. Sự chuyển hóa như một phép mầu. Cuộc hành trình chỉ mới bắt đầu. Em là điển hình của vô số người trẻ sinh ra và lớn lên ở Mỹ hoặc các nước Tây phương, không biết gì về gốc rễ huyết thống, thiếu sự truyền thông với cha mẹ, đi tìm một chỗ tựa trong băng đảng, bị lạm dụng, chỉ thấy lối ra trong những cuộc vui và trong cái chết.

Đóa hoa mai vừa hé nở, rất mong manh. Cầu mong cho gia đình và em tiếp tục nương tựa Tăng thân để cùng nhau chuyển hóa thì mới mong đóa hoa có đủ không khí trong lành mà cho hoa trái. Đóa hoa sẽ héo lại nếu lại tiếp tục đưa em ra gió bão cuộc đời. Con cầu mong Bụt, tổ tiên tâm linh và huyết thống độ trì cho em và gia đình của em, để mọi người được tiếp tục chuyển hóa, sống hạnh phúc với nhau, và giúp cho bao nhiêu gia đình khác cùng quay về nương tựa nơi đất lành của tâm.

 

 

Tinh thần giải thoát trong giáo lý Phật Đà ^

HT. Thích Thanh Từ

Nhân ngày đầu năm, chúng tôi xin nhắc lại mục đích tối thượng của người tu Phật. Nếu chúng ta không biết rõ và không nắm vững ý nghĩa thì trên đường tu khó đạt được mục đích.

Vậy mục đích tối hậu của Tăng Ni Phật tử là gì? - Là giải thoát khổ đau.

Nói đến giải thoát, chúng ta phải biết nghĩa trái của nó là triền phược, là trói buộc. Vì bị trói buộc nên mới cầu giải thoát. Giải thoát là mở trói, là tự do. Khi ở trong hoàn cảnh bị trói buộc mới khát khao được mở trói. Khi ở trong hoàn cảnh bức ngặt mới cầu giải thoát. Vậy ý nghĩa giải thoát là ra khỏi khổ đau. Có nhiều người nghĩ giải thoát là chuyện của những bậc Thánh, người thường không bao giờ với tới được. Muốn giải thoát mọi khổ đau phải nhờ Phật lực gia bị, chớ tự mình không thể thực hiện được. Đó là hiểu sai lầm về ý nghĩa giải thoát.

Xưa ngài Phú Lâu Na xin Phật dạy cho pháp yếu để đến chỗ vắng vẻ tu hành. Phật dạy mắt thấy sắc không chạy theo sắc, tai nghe tiếng không chạy theo tiếng là Niết bàn. Mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Ngược lại, mắt thấy sắc chạy theo sắc, tai nghe tiếng chạy theo tiếng rồi chấp chặt là xa Niết bàn. Mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Ngài Phú Lâu Na nhận được pháp yếu đến chỗ vắng vẻ tu trong vòng ba tháng chứng A la hán. Pháp yếu Phật dạy: Sáu căn tiếp xúc với sáu trần không chạy theo, không dính mắc là Niết bàn giải thoát. Nếu đuổi theo chấp chặt là sanh tử trầm luân. Trầm luân hay giải thoát không đợi kiếp nào khác mà ngay trong thực tại đời này. Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý duyên pháp trần không đuổi theo, không dính mắc, ngay đây được giải thoát, chớ không có xa vời không với tới được. Chúng ta ai cũng có khả năng giải thoát cho chính mình. Ngược lại, trầm luân đau khổ cũng do chính mình.

Trong kinh A Hàm, Phật kể câu chuyện: Bầy khỉ đi ăn, khỉ chúa dạy các khỉ nhỏ không được tách đoàn đi ăn một mình e bị bẫy rập mất mạng. Trong đoàn có một con khỉ ngạo mạn lại tham ăn, tách đoàn đi ăn một mình để được no đủ. Một hôm, khỉ đến chỗ có bẫy rập, bên cái bẫy có miếng mồi ngon, khỉ mừng quá nhảy tới chụp mồi. Tay mặt vừa đụng miếng mồi thì bị dính nhựa. Tay trái đưa ra để gỡ, cũng bị dính nhựa. Nó đưa chân mặt quào bị dính chân mặt, đưa chân trái quào bị dính chân trái. Hai tay hai chân đã bị dính nhựa, nó cúi đầu xuống cạp cũng bị dính. Chỉ còn cái đuôi ngoắc ngoắc cố vùng vẫy để quật cái bẫy ra cũng bị dính luôn. Như vậy hai tay, hai chân, đầu, đuôi khỉ đều bị dính nhựa, khỉ không thoát thân được. Bấy giờ thợ săn bắt khỉ bỏ vô giỏ dễ dàng. Câu chuyên này ngụ ý Phật dạy người tu không thích sống trong khuôn khổ của Tăng đoàn, muốn được tự do thụ hưởng riêng, làm theo ý riêng, dù thiếu kinh nghiệm mà vẫn tách đoàn sống riêng. Khi ra ngoài, mắt thấy sắc liền nhiễm sắc, tai nghe tiếng liền nhiễm tiếng, sáu căn bị sáu trần cột trói. Lúc đó ma vương bắt đi dễ dàng như thợ săn bắt khỉ bỏ vào giỏ.

Khi sáu căn dính với sáu trần, là chúng ta đã lọt vào tay của ma vương, khó được giải thoát. Vì vậy người tu muốn được giải thoát phải gan dạ không để sáu căn dính mắc sáu trần. Dính mắc nhiễm trước là tham cầu, lúc ấy có vùng vẫy cũng không thoát được.

Tu giải thoát không phải chuyện mơ hồ xa xôi mà là chuyện thực tế ngay trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Tu không đợi phải có hào quang, hoặc biết quá khứ, vị lai mới giải thoát mà ngay trong sinh hoạt hàng ngày, sáu căn tiếp xúc với sáu trần không đuổi theo, không chấp chặt là giải thoát. Tại gia hay xuất gia đều tu giải thoát được. Sáu trần không quyến rũ, không cột trói ai cả. Do chúng ta mê lầm, mắt thấy sắc liền khởi phân biệt, sắc vừa ý thì thích, tham dấy khởi, chấp chặt, không vừa ý thì sân dấy khởi, chấp chặt. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị ... phân biệt, tham sân dấy khởi chấp chặt nên khổ đau. Phật dạy chúng ta phải dừng phân biệt buông xả mọi tham chấp thì hết khổ, giải thoát ngay trong hiện tại. Nhưng vì chúng ta cứ phân biệt, chấp chặt nên khổ rồi cầu Phật cứu. Làm sao Phật cứu? Phật dạy phải buông xả mọi chấp thủ thì giải thoát hết khổ, nhưng chúng ta không chịu buông, nên khổ hoài, giống như đứa bé thò tay vào hũ kẹo nắm đầy kẹo rút tay ra khỏi hũ không được, khóc kêu mẹ cứu. Mẹ dạy buông nắm kẹo là rút tay ra dễ dàng, nhưng đứa bé có chịu buông nắm kẹo đâu!

Phật dạy chúng ta đừng dính với sáu trần, các thiền sư cũng dạy chúng ta buông đi, hiện nay chúng tôi cũng nhắc quí vị đừng chạy theo sáu trần. Việc làm hết sức đơn giản mà kết quả rất thiết thực, giải thoát ngay trong hiện tại. Lý giải thoát của đạo Phật vừa cụ thể vừa thực tế mà cũng rất dễ thực hành, chỉ cần buông xả phân biệt chấp trước khi căn tiếp xúc với trần thôi. Đó là giải thoát theo tinh thần Phật giáo nguyên thủy.

Kế đến là giải thoát theo tinh thần Thiền tông. Có một thiền khách đến hỏi Thiền sư Huệ Hải: "Thế nào là giải thoát?". Ngài đáp: "Căn trần không dính nhau là giải thoát". Mới nghe qua thấy khó hiểu, nhưng thực tế thì quá đơn giản. Vì đa số người lầm tưởng phải có thần thông đến các cõi trời, ra khỏi trần gian ô trọc này mới giải thoát, nào ngờ sáu căn không dính với sáu trần là giải thoát.

Ngài Đạo Tín khi còn là Sa di đến thưa Tổ Tăng Xán: Xin Hòa thượng ban cho con pháp môn giải thoát.

Tổ hỏi: Ai trói buộc ngươi?

Ngài Đạo Tín thưa: Không ai trói buộc.

Tổ bảo: Đã không trói buộc, cầu giải thoát làm gì?

Ngài Đạo Tín liền nhận được ý chỉ. Ngài Đạo Tín lầm tưởng những tâm niệm xấu xa phiền não đang trói buộc mình nên mới cầu giải thoát. Nhưng khi Tổ bảo nhìn thẳng xem những tâm niệm xấu xa thật sự có trói buộc không. Khi nhìn thẳng chúng lặng mất, đâu có gì trói buộc mà cầu giải thoát. Ngay đó liền giải thoát.

Ngày nay chúng tôi hướng dẫn các vị tu bằng cách nào? Chúng tôi bảo các vị nhìn thẳng cái mà quí vị cho là phiền não trói buộc, nhìn thấy mặt thật của nó thì hết phiền não, hết khổ đau. Tinh thần giải thoát nằm ngay chỗ nhìn thẳng thấy mặt thật của phiền não. Nói buông là một lối nói, khi nhìn thẳng mặt thật của nó thì nó tiêu mất đâu có gì để buông. Đây là trọng tâm của thiền tông mà chúng tôi đã chỉ dạy quí vị.

Trong kinh Phật nói: Tất cả nước biển chỉ có một vị mặn, tất cả giáo pháp của Phật chỉ có một vị là giải thoát. Đoạn đầu Phật dạy sáu căn tiếp xúc với sáu trần không dính mắc là giải thoát, tu ngay nơi căn trần ở bên ngoài. Đoạn kế Tổ dạy nhìn thẳng tâm niệm chạy theo sáu trần biết chúng không thật là giải thoát. Tu ngay tâm niệm vừa móng khởi không đợi nó dính mắc với trần cảnh mới tháo gỡ. Như vậy giải thoát theo tinh thần nguyên thủy thì sáu căn không dính mắc với sáu trần. Giải thoát theo tinh thần nhà Thiền là nhìn ngay tâm niệm vừa móng khởi thì tâm đâu có đuổi theo trần cảnh; mắt thấy sắc không dính với sắc, tai nghe tiếng không dính với tiếng… vọng niệm sạch rồi, lo gì sáu căn chạy theo sáu trần! Đó là chủ yếu của pháp tu giải thoát.

Mỗi năm qua là chúng ta đi dần đến cái chết. Đời này chúng ta có chút duyên phước được gặp Phật pháp và được hướng dẫn tu hành để thoát khỏi khổ đau. Mong tất cả làm tròn bổn phận của mình là xoay lại sống với mình để không uổng một đời tu mà không tỉnh giác, cứ chạy theo cái giả dối tạm bợ bên ngoài, quên mất tâm chơn thật của chính mình. Được như vậy mới xứng đàng là đệ tử Phật, đã quyết chí đi theo con đường Phật Tổ đã đi.

Hôm nay là ngày đầu năm, chúng tôi chúc tất cả quí vị có sức tỉnh giác mạnh hơn nhận ra tâm chơn thật của chính mình để không chạy theo ngoại trần bị trầm luân, được giải thoát viên mãn.

 

 

Về một môi trường thích hợp cho sự tu tập ^

HT. Thích Minh Châu

Trong hơn 40 năm qua, chúng tôi đã nỗ lực để xây dựng một đường hướng giáo dục cho chư Tăng Ni và Phật tử Việt Nam dựa trên những lời dạy của Đức Phật. Con đường đã được mở ra và đã được vận dụng ít nhiều, tạo nên những hiệu quả thiết thực trong bối cảnh lịch sử văn hóa dân tộc. Chúng tôi cũng nương vào lời dạy của Đức Phật, kết hợp với truyền thống văn hóa nước nhà trong việc nỗ lực xây dựng các môi trường tu học cho Tăng Ni Phật tử, vừa đúng với tôn chỉ giác ngộ của Bậc Đạo sư, vừa hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc.

Trong sự nghiệp thuyết pháp độ sinh của Ngài, Đức Phật rất quan tâm môi trường tu học thích hợp, không những cho các đệ tử của mình mà còn cho hết thảy mọi người. Trong bản kinh "Khu Rừng" thuộc Trung Bộ, Ngài nêu ra nhiều môi trường với các điều kiện khác nhau để nhấn mạnh tầm quan trọng của một môi trường thích hợp nhất cho sự tu học của các học trò mình. Theo Ngài, một môi trường thích hợp cho sự tu tập và phát triển hài hòa, toàn diện của con người phải hội đủ hai điều kiện thiết yếu, vật chất và tinh thần. Về phương diện vật chất, Ngài nói đến các điều kiện vật chất cần thiết hỗ trợ cho sự tu học của các cá nhân ở trong môi trường đó. Về phương diện tinh thần, Ngài nhấn mạnh các nội dung tu học dựa trên Giới, Định, Tuệ hướng đến giải thoát, giác ngộ. Đức Phật cho rằng khi người nào tìm thấy một môi trường tu học hội đủ hai tiêu chuẩn trên, thời người ấy cần phải bám trụ môi trường đó để tu tập trọn đời, không được bỏ đi, dầu cho có bị xua đuổi. Ngài dạy:

"Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo sống tại một nơi nào hay sống gần một người nào, các niệm chưa được an trú được an trú, tâm không định tĩnh được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt; và những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị người bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách không khó khăn, vị Tỷ kheo ấy cần phải suy nghĩ như sau: ‘Ta sống ở nơi này hay sống gần người này, các niệm chưa được an trú được an trú, tâm chưa được định tĩnh được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi ách phược chưa được thành đạt được thành đạt; và những vật dụng cần thiết cho đời sống của xuất gia như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách dễ dàng’. Này các Tỷ kheo, sau khi suy nghĩ như vậy, vị Tỷ kheo ấy phải trọn đời sống ở nơi ấy hay theo sát người ấy, không được bỏ đi, dầu cho có bị xua đuổi".

Đường hướng giáo dục của Đức Phật nhấn mạnh sự hoàn thiện hay giải thoát của con người trên cơ sở đánh thức, nuôi dưỡng và phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức của mỗi cá nhân. Do đó một môi trường tu học đáp ứng được mục tiêu trên cần phải có đủ Giới, Định, Tuệ và các điều kiện hỗ trợ cho việc phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức. Đạo Phật chú ý kiến tạo các môi trường giáo dục, khuyến khích sự phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức của cá nhân dẫn đến sự phát triển hài hòa của cộng đồng, và trong lịch sử các ngôi chùa Phật đã đáp ứng vai trò ấy.

Suy ngẫm nhiều về lời dạy của Đức Phật kết hợp với việc xem xét lịch sử văn hóa dân tộc, chúng tôi nhận ra rằng, ngôi chùa luôn luôn là một môi trường tốt và thích hợp nhất cho sự phát triển hài hòa của con người, đồng thời là nơi gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc, bởi cứ theo lời dạy của Đức Phật ở trên, thì ngôi chùa chính là nơi ươm mầm và nuôi lớn truyền thống đạo đức và trí tuệ của dân tộc.

Người Việt Nam chúng ta tiếp thu đạo Phật từ rất sớm và ngôi chùa đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng. "Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt" là hình ảnh rất gần gũi thân quen với người Việt. Làng là đơn vị hành chính nhỏ nhất của hệ thống quản lý nhà nước ở xứ sở ta từ xưa đến nay. Làng nào cũng có chùa. Chùa là của chung, mang tính cộng đồng, nên mọi người đều có thể đến chùa, không phải để tìm kiếm danh lợi mà để tìm lại chính mình, bởi ở đấy có đầy đủ các yếu tố cần thiết và thích hợp cho mỗi con người muốn tìm thấy chính mình thông qua việc học tập và phát triển hài hòa các phẩm chất giới đức, tâm đức, tuệ đức của bản thân. Chúng tôi cho rằng chư vị Tổ sư của chúng ta đã kế thừa đầy đủ lời Phật dạy trong việc xây dựng nên các thiền môn hội đủ hai tiêu chuẩn căn bản trên khiến trở thành các môi trường thích hợp cho sự phát triển hài hòa của cá nhân dẫn đến sự phát triển hài hòa của cộng đồng. Chính sự phát triển hài hòa, đồng bộ và thống nhất ấy của mỗi cá nhân và cộng đồng trong cùng một môi trường giáo dục đã tạo nên sắc thái văn hóa độc lập của dân tộc.

Đạo Phật đến Việt Nam, giúp soi sáng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Việt, che chắn cho người Việt đứng vững và vượt qua mọi thử thách lớn của lịch sử. Có lẽ do hiểu rõ sự đóng góp thầm lặng nhưng hết sức thiêng liêng của đạo Phật đối với vận mệnh của dân tộc mà một thi sĩ đã thốt lên:

"Mái chùa che chở hồn dân tộc,

Nếp sống muôn đời của tổ tông".

Xã hội Việt Nam đang trải qua giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa; điều này đồng nghĩa với việc chúng ta thừa nhận nền văn minh khoa học kỹ thuật phương Tây trong điều kiện xây dựng và phát triển đất nước. Phát triển là bước tiến của lịch sử nhưng cần được xem xét và cân nhắc kỹ để có những bước đi hài hòa ổn định cho quê hương xứ sở. Chúng tôi nghĩ rằng càng theo đuổi sự phát triển mang tính hiện đại bao nhiêu, chúng ta cần ra sức gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống bấy nhiêu. Có như thế cuộc sống con người mới phát triển hài hòa, xã hội mới tiến bộ ổn định, văn hóa dân tộc mới không bị mai một.

 

(*) Tựa đề của Báo Giác Ngộ. Trích Diễn từ của HT. Thích Minh Châu đọc trong lễ khánh thành bảo điện TV Vạn Hạnh, ngày 24-10-2004.

 

 

Đôi điều về vai trò của người cư sĩ ^

Minh Chi

(Học viện Phật giáo Việt Nam)

 

Cư sĩ là ngoại hộ thiện tri thức, cho nên nếu cư sĩ có một nhận định đúng đắn về vai trò của mình, tu học và sống theo đúng vai trò đó thì chắc chắn Giáo hội PG sẽ có một bước tiến bộ vượt bậc.

1. Từ cư sĩ xuất hiện đầu tiên ở kinh nào?

Theo Hòa thượng Thánh Nghiêm, tác giả cuốn Phật giáo chánh tín thì từ cư sĩ xuất hiện lần đầu tiên trong kinh Duy Ma Cật. Trong kinh, ngài Duy Ma Cật được gọi bằng ba danh hiệu: một là Trưởng giả trong phẩm "Phương tiện", hai là Thượng nhân hay Đại sĩ trong phẩm "Văn Thù thăm bệnh", ba là Cư sĩ trong phẩm "Bồ tát".

Theo các ngài Cưu Ma La Thập, Huyền Trang, Trí Khải thì ngài Duy Ma Cật nguyên là một vị Bổ xứ Bồ tát (vị Bồ tát sắp chứng quả Phật) trên cõi Phật A Thiềm ở phương Đông. Để hỗ trợ cho sự nghiệp giáo hóa của Phật Thích Ca ở cõi Ta bà, ngài Duy Ma đã thị hiện thành một vị tại gia mà trình độ giác ngộ, giải thoát của ngài khiến cho một vị Bồ tát trí tuệ hàng đầu như Bồ tát Văn Thù cũng phải kiêng nể. Như vậy trong kinh Duy Ma, từ cư sĩ đồng nghĩa với từ đại Bồ tát.

Từ cư sĩ trong các kinh A hàm:

Trong kinh Trường A Hàm có từ cư sĩ báu, chỉ cho vị quan đại thần trông coi kho vàng bạc của vua Chuyển luân vương. Rõ ràng từ cư sĩ ở đây chỉ cho nhà quản lý được vua trọng dụng. Ở Ấn Độ ngày xưa đẳng cấp thứ ba sau hai đẳng cấp Bà la môn và Sát đế lỵ là đẳng cấp Vệ xá (Vaisyas) bao gồm các công thương gia, các nhà doanh nghiệp. Từ cư sĩ báu nói trên chỉ các công thương gia, các nhà doanh nghiệp thuộc đẳng cấp Vệ xá này.

Vào thời Phật Thích Ca, từ cư sĩ được dùng rộng rãi để chỉ các gia chủ có thể là Phật tử hay không phải là Phật tử. Trong kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt (Trường A Hàm, từ Ca La Việt chỉ cho Cư sĩ. Kinh này ở tạng Pali, có tên là Singalovada, dịch ra chữ Hán là kinh Thiện Sanh). Như vậy, từ cư sĩ trong kinh Singalovada đồng nghĩa với từ gia chủ.

Sau này, trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, phạm vi từ cư sĩ thu hẹp lại để chỉ riêng cho những người Phật tử tu tại gia. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đời Lý - Trần có những ông vua Phật tử tuy không xuất gia nhưng vẫn là những thiền sư lỗi lạc, nổi tiếng, những nhà Phật học uyên bác như Lý Thái Tôn, vua thứ hai đời Lý, đệ tử đắc đạo của Thiền sư Thiền Lão. Theo Thiền uyển tập anh, ngài được xếp là một vị Tổ thuộc thế hệ thứ 9 của phái thiền Vô Ngôn Thông. Vua Lý Thánh Tông, vua thứ 3 đời Lý, được công nhận là Tổ thứ 2 của phái thiền Thảo Đường (phái thiền thứ 3 của Việt Nam). Vợ vua là thứ phi Ỷ Lan được nhân dân tôn xưng là Quan Âm nữ cũng là một cư sĩ xuất sắc, có một bài thơ thiền được lưu lại trong sách Thiền uyển. Đời Trần, vua Trần Thái Tông, tác giả cuốn Khóa hư lục và Tuệ Trung Thượng sĩ đều là những cư sĩ nổi tiếng mà ngay các tu sĩ cũng đều tôn xưng họ là những bậc thầy trong đạo. Vua Trần Nhân Tông sau này xuất gia lập ra phái thiền Yên Tử cũng tôn xưng Tuệ Trung Thượng sĩ là đạo sư của mình.

2. Người cư sĩ với thân phận tại gia, có thể giác ngộ và giải thoát được hay không?

Theo tôi, người cư sĩ Phật tử Việt Nam ngày nay một mặt tiếp tục duy trì thái độ khiêm tốn truyền thống, tôn trọng Tam bảo, thân cận học hỏi nam nữ tu sĩ như là những bậc thầy tâm linh trong đạo. Nhưng mặt khác – và đây là điều quan trọng hơn – không có mặc cảm tự ti, phát tâm dũng mãnh tu học, mong cầu cũng được giải thoát và giác ngộ như các Tổ cư sĩ ngày xưa trong lịch sử Phật giáo nước nhà.

Trên bước đường tu học, cư sĩ Việt Nam ngày nay được động viên bởi lời khuyên của các vị Tổ như Trần Thái Tông:

"Mặc vấn đại ẩn tiển ẩn, bất câu tăng tục, hưu biệt xuất gia tại gia, nhi chủ yếu biện tâm, bổn vô nam nữ, hà tu trước tướng" – (Khóa hư lục)

Dịch nghĩa:

"Không phân biệt là sống ở đời hay sống trong rừng, không phân biệt tại gia hay xuất gia, chỉ cốt yếu là biện tâm, vốn không nam nữ, sao lại chấp tướng".

Tổ Trần Nhân Tông trong bài phú Cư trần lạc đạo hồi III lại còn khẳng định hơn nữa:

"Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc

Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật cả đồ công"

Giải nghĩa:

"Là người tại gia mà tu học thành công được giác ngộ và giải thoát thì phúc đức ấy thật là đáng quý hết sức, còn tu ở núi rừng (xuất gia tu ẩn) mà vẫn không giác ngộ (cốc từ nôm nghĩa là giác) thì thật là uổng công".

Chúng ta thấy rõ qua lời dạy của ngài Trần Thái Tông, người cư sĩ (tất nhiên người xuất gia cũng thế) phải biết tu tập tâm. Trần Thái Tông nói biện tâm tức là tìm hiểu tâm mình, tu tập tâm mình.

Muốn tu tập tâm tất nhiên phải luôn luôn tỉnh giác quan sát tâm mình; trong tâm mình nảy sinh ra cảm thọ gì, ý nghĩ gì, quyết định gì chúng ta đều phải biết rõ. Đó là cảm thọ ý nghĩ quyết định đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực, có lợi hay có hại cho mình hay cho người để kịp thời điều chỉnh uốn nắn.

Trong kinh Pháp Cú, phẩm "Tâm", Phật dạy nhiều về vấn đề tu tập tâm mà cư sĩ ngày nay nên luôn luôn suy ngẫm:

Kệ 33:

"Người trí làm tâm thẳng

Như thợ tên làm tên..."

Kệ 35:

"Lành thay, điều phục tâm

Tâm điều an lạc đến..."

Kệ 36:

"Người trí phòng hộ tâm,

Tâm hộ an lạc đến..."

Như chúng ta thấy, Đức Phật khuyên chúng ta luôn luôn tỉnh giác để uốn nắn tâm như thợ làm tên uốn nắn tên vậy, phòng hộ tâm, điều phục tâm khi chúng ta gặp phải các nghịch cảnh có thể làm chúng ta nảy sinh ra phiền não tham, sân, si v.v... Có thể nói đời sống người tại gia tạo ra cho họ nhiều cơ hội để hiểu biết tâm mình, rèn luyện tâm mình, bồi dưỡng những đức tính đáng quý như nhẫn nhục, kiên trì, tinh tấn.

 

Muà Xuân và niềm vui học pháp hành pháp ^

Thích Phước Đạt 

Không phải ngẫu nhiên, Thiền sư Mãn Giác đời Lý mỉm cười nhiệm mầu khi Xuân về hoa mai nở: "Đình tiền tạc dạ nhất chi mai" (Đêm qua sân trước một cành mai), còn Thiền sư Chân Nguyên, người có công chấn hưng Thiền học Việt Nam cuối thế kỷ XVII trong "Yên Tử sơn Trần triều Thiền tông bản hạnh" thì giãi bày:

"Hoa là vốn tính trạm viên

Bao hàm thiên địa dưới trên

cùng bằng"

Trong ý nghĩa đó, mùa Xuân là mùa muôn hoa đua nở, mùa kết tinh sự tinh anh trời đất, mùa biểu tượng của sự an vui, hạnh phúc qua một quá trình nỗ lực tự thân tu học, tự thân hành trì, tự thân giác ngộ của người con Phật.

Thế nên, trong niềm hỷ lạc vô biên của người con Phật, thấm nhuần Phật pháp, bạn sẽ thấy mùa Xuân ngập tràn cõi lòng bởi muôn hoa đua nở từ trong cõi lòng thanh tịnh của chính mình. Tại đây, bạn thật sự sống với tự tánh mùa Xuân Phật giáo thường trú, chứ không còn vui buồn theo mùa Xuân thời tiết biến chuyển. Bởi vì hơn ai hết, bạn là người thật sự an trú vào niềm vui Chánh pháp, khi tự mình đi theo Phật, đi theo Pháp, đi theo Tăng.

Đi theo Phật là đi theo tự tánh thanh tịnh thành Phật vốn có sẵn trong tự thân của bạn, nghĩa là đi theo con đường Đức Phật đã đi qua và giảng dạy cho đời. Chính Ngài đã trải nghiệm thực thi cuộc hành trình tâm linh này để nhận chân niềm hạnh phúc hỷ lạc bất tận này của một Bậc Giác ngộ. Đi theo Pháp là đi theo con đường thực nghiệm đời sống tâm linh của việc hành trì các pháp thiện, thực hành giáo lý Tứ đế, Duyên khởi, Giới định tuệ… cho đến khi thấy rõ sự thật các pháp, như Phật từng dạy: "Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp, ai thấy pháp là thấy Như Lai". Đi theo Tăng là đi vào đời sống hướng tâm theo cộng đồng Tăng già với bản chất hòa hợp, thanh tịnh, thực thi nếp sống lục hòa: Thân hòa đồng trú, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt, lợi hòa đồng quân, giới hòa đồng tu, kiến hòa đồng giải, trên hết là tích cực thực hành pháp ly dục để giải thoát tự thân, chứng đạt Niết bàn.

Trong đời sống thường nhật, bạn là người Phật tử tại gia, có biết bao nhiêu vấn đề cần giáp mặt và giải quyết. Con người luôn đối diện với các vấn đề sinh tồn và các nhu cầu nảy sinh xảy ra trong hiện thực cuộc sống. Quanh năm suốt tháng, bạn luôn khát vọng mong muốn được sống bình an, được giàu có, được nắm giữ tài sản do mình làm ra, không bị nợ nần, không bị ai chê cười hay vi phạm pháp luật. Nhất là, trong thời buổi kinh tế thị trường, nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của con người không ngừng phát sinh và nâng cao để đem lại các giá trị thiết thực, hữu ích. Dưới ánh sáng của chánh tri kiến của mình, ắt hẳn bạn là người thực thi các hạnh lành, từ bỏ các điều ác, an trú trong Chánh pháp thì sẽ được hưởng được phước báu của bốn niềm vui mà Đức Phật từng dạy trong kinh Tăng Chi III:

"Thế nào là niềm vui có của? Ở đây, gia chủ có của cải nhờ phấn đấu tích cực, gom góp được bằng sức bàn tay, bằng mồ hôi, đúng pháp và tích lũy đúng pháp, có suy nghĩ như sau: Của cải này của tôi có được nhờ phấn đấu tích cực, tích lũy đúng pháp, cho nên niềm vui và thỏa mãn đến với tôi. Đó là niềm vui có của cải".

"Thế nào là niềm vui được giàu có? Ở đây, vị gia chủ được giàu có nhờ phấn đấu tích cực, vui vẻ, nhờ giàu có mới làm được nhiều việc lành. Vị ấy có suy nghĩ nhờ giàu có mới làm được nhiều việc lành, cho nên niềm vui và sự thỏa mãn đến với vị ấy. Đó là niềm vui được giàu có".

"Thế nào là niềm vui không có nợ nần? Ở đây, vị gia chủ không có nợ nần nhiều hay ít đối với bất cứ ai. Vì vị ấy có suy nghĩ, do không có mắc nợ dù nhiều hay ít đối với bất cứ ai, cho nên niềm vui và sự thỏa mãn đến với vị ấy. Đó là niềm vui không có nợ nần".

"Thế nào là niềm vui không bị chê trách, không có lỗi lầm? Ở đây, vị gia chủ Thánh đệ tử có niềm vui vì các hành động ở nơi thân, lời nói và ý nghĩ của mình đều không có gì đáng chê trách, đáng lỗi lầm. Với ý nghĩ: Tôi không có gì đáng chê trách, đáng lỗi lầm ở nơi thân, miệng và ý, niềm vui và thỏa mãn đến với tôi. Đó là niềm vui không bị chê trách, không có lỗi lầm".

Rõ ràng, bạn là người hạnh phúc nhất khi có niềm vui an lạc từ kết quả thực hành pháp học và pháp hành ngay giữa hiện thực cuộc đời đầy biến động. Chưa hết, bạn sẽ có bốn niềm vui (hỷ lạc) bất tận khi tự thân thực hành đời sống phạm hạnh, ngang qua bốn cấp độ thăng chứng từ sơ thiền đến tứ thiền:

Đó là niềm vui giải thoát đầu tiên khi bạn loại bỏ năm triền cái (tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử, nghi), thành tựu năm thiền chi, chứng đạt sơ thiền. Một trạng thái hỷ lạc khởi lên do ly dục, ly bất thiện pháp, có tầm có tứ.

Một niềm vui giải thoát cao hơn, khi bạn diệt được tầm tứ, chứng và trú thiền thứ hai. Đó là trạng thái hỷ lạc có được do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm. Xem ra, niềm vui giải thoát đầu tiên có được là do đoạn tận dục vọng và các pháp bất thiện thì niềm vui chứng đạt ở cấp độ thiền thứ hai là do định tâm sanh khởi với sự tinh tấn, tập trung vào một điểm.

Bạn còn an trú một niềm vui giải thoát sâu hơn nữa khi tâm chứng đạt thiền thứ ba. Một niềm vui do tự thân ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú. Xả ở chỉ một tâm trạng giải thoát không còn gắn bó gì hết, kể cả hỷ. Bởi vì, ở cấp độ này khi tâm đã trú xả thì không còn dao động bất cứ điều gì nữa.

Cuối cùng là niềm vui giải thoát khi bạn chứng đạt thiền thứ tư được giãi bày khi bạn thực sự xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh do thiền thứ tư đem lại. Tại đây, tâm trở nên thanh tịnh hoàn toàn, bạn an trú niềm vui của xả, của giải thoát.

Rõ ràng, mùa Xuân trở thành mùa hạnh phúc, ngập tràn niềm vui bất tận của giải thoát khổ đau. Từ "Cõi trường xuân" như hiện ra không phải từ trong tâm tưởng, hay trong tiếng kinh cầu mà ngay hiện thực giữa cuộc đời này nếu bạn thực sự hành trì đời sống hướng nội với tâm tỉnh thức dưới ánh sáng Tuệ giác bừng khởi:

"Pháp thí thắng mọi thí

Pháp vị thắng mọi vị

Pháp hỷ thắng mọi hỷ

Ái diệt, thắng mọi khổ"

(Pháp Cú 354)

 

Đêm viếng Lương Vũ Đế ^

Hạnh Huệ trích dịch

Trời đông năm 548 TL, là một ngày đông đích đáng. Nước Nam cũng thấy muôn dặm tuyết bay, dòng Trường Giang trôi qua thành Kiến Khang kinh đô nhà Lương, dường như đông cứng. Loạn binh do phản tướng phản phúc vô chừng Hầu Cảnh thống suất, đang ở ngay thành đô mà y từng quy thuận này, tiến hành cuộc vây quét đẫm máu cuối cùng. Tại Đài Thành (tương đương Tử Cấm Thành), cứ điểm cuối cùng của quân Lương, Lương Vũ Đế - vị chúa oai hùng ngày xưa từng thống trị Nam Trung Quốc đã nửa thế kỷ, một mình cô độc ngồi dưới thềm điện hoàng hôn, lặng lẽ chăm chú nhìn Hành Phương đang từ xa tiến đến gần.

Hành Phương vòng tay vái chào:

- Bệ hạ! Xin lượng thứ sự mạo muội của thần, thần thái của Ngài lúc này khiến người nhớ đến câu:

Tịch điện đom đóm bay lặng

như tờ

Đèn côi khêu hết giấc ngủ

chưa thành.

(Tịch điện huỳnh phi tư tiễu nhiên

Cô đăng thiêu tận vị thành miên.)

- Đương nhiên, không có thì giờ nào thích hợp hơn giờ khắc này để nhìn lại và phản tỉnh một đời của mình - Lương Vũ Đế bình tĩnh dị thường nói.

(Ngoài cung thành, tiếng trống dồn và tiếng giết truyền đến dồn dập).

- Nhưng ánh mắt của Ngài lại lộ vẻ Ngài đang "làm như có nhớ nhung quyến luyến". Ngài rốt cuộc mong đợi cái gì? Có thể cho thần hay được không?

Lương Vũ Đế nhìn Hành Phương, im lặng không nói, cuối cùng mở miệng:

- Chàng trẻ tuổi! Lịch sử Trung Quốc, từ quá khứ hiện tại và tương lai có các loại các kiểu đế vương: có người buông thả làm nô lệ cho thinh sắc; có người cố gắng mưu đồ thành tựu nghiệp bá; có người siêng việc triều chính, khéo việc giữ thành; lại có người mê tín đạo thuật thần tiên, chìm đắm vô độ. Các thứ mô hình đều có bao nhiêu tên dẫn chứng, nhiều cách phân tích có thể cung cấp cho người sau tường tận rõ ràng hơn. Nhưng, chỉ riêng mình ta ngoại lệ. Ta không thuộc bất cứ mô hình nào kể trên, ta không có bất cứ một cái chứng cớ phụ nào có thể tham chiếu so sánh, ta chỉ thuộc một mô hình riêng của chính ta, trước không cổ nhân, sau không người đến. Ta sẽ ở trong dòng thời gian trôi mãi trăm kiếp ngàn đời không người hiểu được, hoặc giả đau đớn nhất là sẽ bị lý giải phiến diện một cách triệt để…

- Thần nghĩ, Ngài muốn chỉ chính mình thuộc "Hoàng đế Phật giáo" chứ gì? - Hành Phương nói.

- Không! Chàng trẻ tuổi, đây chính là nguyên do ta kiên trì chờ đợi ngươi đến, nhất định trịnh trọng nói với ngươi. Ngươi sẽ hội ngộ bao nhiêu đế vương có thân phận là Phật giáo đồ, nhưng đế vương văn hóa Phật giáo, Trung Quốc chỉ có một người là Vũ Đế Tiêu Diễn mà thôi!

Hành Phương ngước nhìn Lương Vũ Đế, định đòi ông nói thêm một lần câu: "Đế vương văn hóa Phật giáo…"

- Đúng thế! Sự quang vinh và mộng tưởng một đời này của ta, sự nhục vinh khen chê sau ngàn thu muôn tuổi, hoàn toàn hệ thuộc sáu chữ này, nhất là trên hai chữ "văn hóa".

Hành Phương vừa nghe xong, không nín cười được:

- Văn hóa? Hai chữ này ở chỗ của thần có thể nói là bày đầy chợ…

Lương Vũ Đế cười nhẹ:

- Chàng trẻ tuổi, để ta nói cho ngươi hay, ta với các ngươi khác biệt: Các ngươi đang nhúng dấm "văn hóa" mà ăn, còn ta chế tạo một loại văn hóa chân chính.

- Sáng tạo văn hóa?

Lương Vũ Đế phát hiện Hành Phương hoàn toàn không hiểu nổi ý của lời mình một cách đúng đắn, không khỏi có chút cảm thán. Ông thấp giọng lẩm bẩm:

- Ta biết, ta chủ định sẽ làm một người ngu, một tên điên, thậm chí một tên dối trá, bị ghi vào sử sách, tạo ra một hài kịch náo nhiệt. Trên lịch sử đường đường hoàng hoàng, nhất định sẽ viết thế này: Lương Vũ Đế tại vị hơn bốn mươi năm, xả thân vào chùa làm nô dịch Phật bốn lần, đến nỗi khiến mỗi lần quần thần phải bỏ tiền chuộc cả ức vạn, lại sửa sang chùa lớn hào hoa tráng lệ vô số, lập Vô già đại hội hơn mười lần… Nhân đây vua mà không ra vua, nước không ra nước, rất là mê muội hoang đản, không xấu hổ.

- Chẳng lẽ điều này có giá trị gì mà khoe khoang? Đây là sáng tạo văn hóa sao? - Hành Phương hỏi.

Lương Vũ Đế nghe nói đột nhiên nổi giận:

- Chàng trẻ tuổi, không được ở đây nói lời hư vọng! Tiêu Diễn là nhân vật thế nào, há lại cho phép kẻ giả nhân giả nghĩa tầm thường đời sau bôi xóa sửa đổi! Những tên giả đạo đức tầm thường đời sau vô số người chửi ta, cười ta, khinh bỉ ta. Công danh tài tình, vinh hoa phú quý, nô lệ thanh sắc, phong lưu hào phóng mà họ ngày đêm mơ tưởng trọn một đời, mười phần không được một hai, thậm chí hoàn toàn chưa hề nếm qua; mà ta ngay lúc trẻ trung đã nếm no nê mọi thứ, chưa đến bốn mươi tuổi đã lên ngôi trị vì thiên hạ, trị nước gần năm mươi năm mà thần dân vui mừng tuân phục, có gì ngu đần dốt nát?

Hành Phương tranh biện:

- Đây với Phật giáo có can hệ gì?

Lương Vũ Đế đổi giận làm vui:

- Muốn khiến nhập vào trí Phật, trước lấy dục câu dắt, chỉ có ta từng trải và tài tình như thế, mới chân chính làm được "buông dao đồ tể, ngay đó thành Phật".

(Lúc này, dưới cung thành, tiếng chém giết lại nổi lên).

Lương Vũ Đế sầm nét mặt, tâm tình dần dần khôi phục bình tĩnh:

- Hai chữ thành Phật, đừng bao giờ vọng tưởng. Phật là giác ngộ, ta chẳng qua là sau khi giác ngộ, quả quyết buông bỏ hẳn nửa đời trước tung hoành mở đóng, quyền trá cơ biến, bắt đầu nửa đời sau sáng tạo mô thức thao tác văn hóa Phật giáo.

Hành Phương:

- Mô thức?

Lương Vũ Đế:

- Đúng! Thời trước ta, Phật giáo truyền vào Trung Quốc gần năm trăm năm, thành tích to lớn rất nhiều, nhưng rốt cuộc đã thiếu sự liên kết mật thiết với văn hóa cố hữu của Trung Quốc, và có thể độc lập thao tác mô thức văn hóa Phật giáo được Trung Quốc hóa.

Hành Phương:

- Thế rồi, Ngài bắt đầu sáng tạo?

Lương Vũ Đế lấp loáng ánh mắt, thần sắc dường như biểu lộ tình cảm của năm tháng tài hoa ngày trước:

- Từ khi mở đầu, ta bèn ý thức rằng ta đã khiêu chiến và mạo phạm nghiêm trọng đối với lịch sử. Thân làm một vị Quốc chủ, tợ hồ không lưu tâm đến chứng tích chính trị an dân, thậm chí ngay cả việc hưởng thụ ngũ dục bình thường ta cũng bỏ hết không đoái hoài, mà dốc lòng vào việc mà hoàn toàn cùng thế vụ chẳng tương quan. Nhiều lần tự lên pháp tòa giảng kinh Phật, thường thường hạ chiếu chỉnh đốn giới luật Tăng già, lập hội Vu lan bồn, Vô già đại hội, chế định nhạc Phật, cấm đoán rượu thịt, xác lập một hệ thống về chế độ Phật giáo mà người Trung Quốc nên có… Như thế vừa đưa ra, ta đã biết rõ ta sẽ bị hạng đồ Nho đời sau chẳng dung. Vì ở chỗ bọn họ nhìn đến thì nghiệp lớn tu tề trị bình cùng với việc lớn giải thoát sanh tử như nước lửa chẳng dung nhau. Nên làm một đế vương văn hóa Phật giáo, ta sẽ để lại danh xấu là kẻ điên rồ, ngu ngốc mà di xú vạn niên! Nội tâm ta đầy dẫy sợ hãi và thống khổ, đối với văn hóa Phật giáo Trung Quốc lập được càng nhiều, càng gần tuổi già, cái nghi sợ này cũng càng sâu nặng, do đó ta chọn sự xuất gia, cũng chính là ly khai ngôi báu, xả thân vào chùa chiền, chạy về con đường giải thoát vĩnh cửu mà ta để tâm duy nhất…

Hành Phương lặng lẽ nhìn Lương Vũ Đế, đáy lòng buồn rầu dâng lên một luồng cảm động:

- Bất kể thế nào, mô thức văn hóa Phật giáo do Ngài sáng tạo đã phong phú và viên mãn như thế, Ngài là người thành công.

(Ngoài cung thành, tiếng trống trận và tiếng hô giết càng lúc càng cấp bách...).

Lương Vũ Đế ngưng thần lắng nghe, sau đó cười nhạt nói:

- Chàng trẻ tuổi, ngươi lầm rồi! Ta đương nhiên thành công, nhưng thời khắc ta giao đứt giá trị một đời này cũng đến rồi!

Hành Phương:

- Giá trị?

Lương Vũ Đế tâm tình bình tĩnh như trước, ông ta nói:

- Ta lập văn hóa Phật giáo, chưa từng gây họa cho con dân của ta, năm mươi năm qua giang sơn an bình, quốc thái dân an, tức đã chứng minh. Hôm nay cái giá trị dùng để giao đền, chẳng qua chỉ là địa vị của ta, tánh mạng của ta thôi!

Hành Phương giật mình kinh hãi:

- Chẳng lẽ Ngài không có cách nào để đối phó với Hầu Cảnh ư?

Lương Vũ Đế nghe nói cười ha hả:

- Tên giặc nhỏ mọn, đâu đủ để lo! Ta ở đời đã 85 xuân thu, công nghiệp văn võ chẳng qua như khói mây, ngôi vua nghiệp bá sớm thành phẩn đất, cái hồn vướng mộng víu, chẳng qua để trợ giúp cho việc lớn giải thoát sanh tử của người Trung Quốc ngàn thu muôn đời. Công lớn ngày nay đã xong, chẳng về còn đợi chờ gì nữa!

Hành Phương cấp thiết nói:

- Thần vừa đi qua thành phố Kiến Khang bị tàn phá, thấy nhiều dân chúng cột diều một cách tự phát, chuẩn bị sớm ngày mai thả bay ra thành, tập hợp viện binh…

Lương Vũ Đế ngăn Hành Phương lại:

- Chàng trẻ tuổi, thế của ngày nay, ta nếu vãng sanh sớm một khắc, chúng sanh liền giải thoát sớm một khắc, việc thả diều, đừng nên nêu lên nữa. Ngược lại (chỉ về hướng Đông Bắc), ta phái sứ thần, cùng đi với học tăng Tân La là Giác Đức, hộ tống xá-lợi đến Tân La, tính đến ngày nay có lẽ cũng đến nơi rồi!

Lương Vũ Đế ngừng lại một chút, đứng lên sửa áo mão ngay ngắn:

- Người trẻ tuổi! Ta có một việc dặn dò ngươi cuối cùng: Vị lai, quan sửa chữa sử ắt sẽ nói ta bị giặc vây khốn, "tức mà chết" cũng xong, "chết đói" cũng xong! Đều chẳng ngại gì, chỉ cần có mấy chữ: "Một khắc cuối cùng không bỏ trai giới", xin chuyển đến sử gia, là ta mãn nguyện rồi - Mong mau về đi, chàng tuổi trẻ! Quay đầu là bờ, chớ lầm đường về.

Hành Phương nửa đêm tỉnh giấc, chẳng biết đêm nay là đêm gì, chỉ thấy ngoài cửa sổ, ngọn đèn tàn lụi, tuyết rơi khắp kinh thành lặng lẽ không một tiếng…

(Tạp chí Phổ Môn số 245)

 

Thiền Sư và Mùa Xuân ^

Như Đức

Đối diện mùa Xuân, các thiền sư cũng thường làm thơ. Thiền sư Thanh Viễn Phật Nhãn có tám câu:

Ngày xuân xuân trong núi

Việc xuân thảy đều xuân

Hồ xuân ánh xuân chiếu

Khí xuân kết mây xuân

Khách xuân lòng xuân động

Thơ xuân xuân càng tươi

Chỉ có người biết xuân

Muôn kiếp một mùa xuân.

Dàn trải nét hân hoan tươi mới khắp tận núi khe sông hồ, đâu đâu cũng thấy một màu xuân. Nếu để lòng buồn vui theo cảnh, đó gọi là khách của mùa Xuân, mãi mãi không tự dừng, nên bị gọi là xuân khách. Như giới trẻ chúng ta ăn mặc theo mùa gọi là thời trang, không biết trong cuộc chơi này mình là chủ thời trang hay bị thời trang làm chủ. Trước mắt là thấy mình luôn làm khách hàng vào mấy shop. Cần có một lời nhắc ở đây: Phải là người biết xuân. Người này nắm được nguyên lý tột cùng chi phối vũ trụ, người cùng vận hành với muôn vật, cùng tang thương biến đổi nhưng không bao giờ mất nét xuân xưa, nên gọi "Muôn kiếp một mùa Xuân".

Một năm trôi qua thật nhanh, mới thấy ngày mồng một Tết rộn rịp chúc tụng, người người nói những lời tốt đẹp, hy vọng một năm toàn là phát tài, hỷ sự. Ngày đầu năm mới, người ta thích tất cả đều mới. Nhà thơ Lâm Xuân Thi nói:

Nếu không phải ngày mồng một

Anh mặc chi áo mới may này.

...

Nếu không phải là ngày mồng một

Chưa chắc em nở nụ cười này.

Thiệt cũng có những nụ cười phải để dành cho ngày đầu năm, cũng như ngày đó đừng nói những chuyện xúi quẩy sợ "dông" cả năm, hay là đừng quét nhà sợ tiền tài bay hết. Bao nhiêu là chuyện cho ngày mồng một. Vậy mà, qua mồng hai mồng ba, cái mới tinh khôi đã phai nhạt, cái trang trọng bớt trang trọng, cái cũ dần dần chiếm chỗ. Thoắt cái đến rằm tháng Giêng đi chùa Bà Bình Dương; rồi xúm nhau đi Dinh Cô Long Hải, tháng Hai; núi Tà Cú Phan Thiết tháng Tư. Giới xe khách bận rộn vào vụ mùa. Sẽ thấy mùng năm tháng Năm, rồi rằm tháng Bảy, rằm tháng Tám trung thu trăng tròn. Khi rằm tháng Mười xuất hiện là người ta lo chạy tiền ăn Tết. Không thể đi, phải chạy mới kịp, dù biết chạy là thời gian cũng qua mau.

Hòa thượng Quản Giám nói kệ:

Năm trước gặp thanh xuân

Mặt hồng khoe đào lý

Năm nay gặp thanh xuân

Tóc bạc đầy cả mái

Người đời tuổi bảy mươi

Nhanh như dòng nước chảy

Chẳng ngộ tâm xưa nay

Sanh tử nào thoát khỏi.

(Thiền sư Trung Hoa,

HT.Thanh Từ dịch)

Những khứ niên (năm đã qua) kéo nhau đi mất, tuổi trẻ một thời trôi qua, mấy đứa trẻ hàng xóm ngày nào còn cỡi trâu, chăn bò đen nhẻm, thoắt một cái đã thành thanh niên thiếu nữ. Nhìn thấy nó lớn là biết mình đã già. Xuân năm nay rồi cũng thành khứ niên, tóc bạc không từng xanh lại - trừ khi nhuộm. Thiền sư nhìn một đời người chảy nhanh như nước cuốn ra biển, một đời như thế, trăm ngàn đời cũng thoáng nhanh. Có một người xưa nay y như vậy, không đổi khác, người đó rất gần với chúng ta.

Với năm mới, chúng ta nói là mình thêm một tuổi, Thiền sư Thiên Tùng nói là tuổi ta giảm một năm:

Sáng nay đều nói thêm một tuổi

Tôi bảo ngày này bớt một năm

Thêm bớt lại qua số khôn tính

Chỉ cần dứt sạch duyên thế gian

Cốt là biết được trong duyên chủ

Trăm ngàn ức kiếp thường

an nhiên.

Bốn mùa thay đổi là duyên của vạn vật. Tuổi trẻ sắc tươi, tuổi già khô héo là duyên của thân người, biết được người chủ trong muôn duyên biến đổi mới không bị biến đổi.

Thiền sư Pháp Diễn một hôm nói:

- Hôm qua sơn tăng vào thành thấy một đám múa rối, bèn đến gần xem. Thấy b