Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


...... ... .

 

 

TỈNH HỘI PHẬT GIÁO KHÁNH HÒA

BAN HOÀNG PHÁP

 

PL 2548 - 2005

Nội san
 PHẬT THÀNH ĐẠO

1

Mục Lục

 

- Lời giới thiệu. HT  Thích Thiện Bình

- Lời nói đầu

- Một kiếp bềnh bồng.  Thích Trí Viên

- Người chiến thắng. Thích Thông Huệ

- Thành Đạo (Thơ).  Như Minh

- Kinh Cứu La Đàn Đầu. Thích Thiện Tấn

- Sự khác nhau giữa giới luật và luật pháp. Thích Tâm Hạnh

- Ý nghĩa Đức Phật Thành đạo. Thích Tâm Minh

- Theo bước chân Phật. Thích Nhật Hiếu

- Ánh trăng với ý nghĩa chân lý trong đêm Thành đạo. Thích Tâm Tôn

- Đức Phật - Bậc Giác ngộ với hạnh Bồ Tát.Thích Tâm Tri

- Ngày Thành đạo và con đường của Đức Phật. Giác Nghiêm

- Sóng vô thường .Nguyên Chơn 

- Tìm hiểu ý nghĩa Thành đạo của Đức Phật. Thích Thánh Minh

- Giấc mơ ngày Thành đạo. Phúc Châu

- Thâm tín chư Phật giai sung mãn. Thích Nữ Diệu Vân

- 32 tướng tốt của bậc Đại nhân . Thích Thông Huệ

- Phật giáo thời hiện đại. Nguyên Chơn dịch

- Lá Thư không gửi . Nguyên Tịnh

- Nếp sống của người Phật tử đúng chánh pháp. Thích Tâm Minh

- Cảm ơn tứ đại (Thơ) .Thiện Năng

- Tìm hiểu ý nghĩa Tam chuyển pháp luân thập nhị hành. Thích Thánh Minh

- Pháp dược (Thơ) .Thiện Năng

- Đường lầy, Một tách trà (sưu tầm).Diệu Vân

- Ngẫm…! (Thơ).Huyền Chi Hựu Huyền

- Như một thông điệp (sưu tầm).Nguyên Tịnh

 

Lời giới thiệu ^

 

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT 

Cùng với các Ban Ngành trong Giáo Hội, Ban Hoằng Pháp tuy nhân sự không nhiều, nhưng với trách nhiệm và sự cố gắng của mình, quý vị trong Ban đã đóng góp công tác Phật sự thật đáng tán dương.

- Ban đã phân công các vị giảng viên đến thuyết giảng các cơ sở trong thành phố vào những ngày sóc vọng và các Đại lễ: Phật đản, Vu lan, Thành đạo, khánh thành Tự, Viện… các Đạo tràng Pháp Hoa, thọ Bát…

- Giảng dạy cho lớp học Phật pháp Cư sĩ Áo lam TP Nha Trang liên tục trong nhiều năm qua.

- Đã hoàn thành bốn tập Giáo trình, làm tài liệu giảng dạy cho Ban Hoằng Pháp.

- Mỗi năm thực hiện “Nội san Vu lan” vào rằm tháng bảy.

- Năm nay cho ra mắt số đầu tiên “Nội san Phật Thành đạo” nhân kỷ niệm ngày Đức Từ phụ Thành đạo PL 2548.

Đây là những việc làm đáng tán thán. Tôi xin có mấy lời giới thiệu đến Chư Tôn Đức Tăng, Ni cùng toàn thể Phật tử.

Rất mong được sự quan tâm giúp đỡ của Chư Tôn Tôn Đức và Tăng, Ni, Phật tử để Ban Hoằng Pháp hoàn thành được trọng trách của mình, pháp âm được đến với mọi người.

 

TM. THƯỜNG TRỰC BTS TỈNH GHPG KHÁNH HÒA

TRƯỞNG BAN

HT. THÍCH THIỆN BÌNH

 

Lời nói đầu ^

“Chiến thắng vạn quân không bằng chiến thắng chính mình. Chiến thắng chính mình là chiến công oanh liệt nhất”. Trong Đêm Huyền Diệu, một người bình thường vừa lập nên chiến công oanh liệt, trở thành bậc Tôn sư được Trời người kính ngưỡng. Đêm đánh dấu bước chuyển mình vĩ đại ấy được gọi là Đêm Thành đạo, khởi đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của trí tuệ và từ bi, của Giác ngộ và Giải thoát.

Đã hai mươi lăm thế kỷ trôi qua, ánh sáng giác ngộ của Đức Bổn Sư vẫn còn rạng ngời trong lòng những người con Phật, pháp âm vi diệu của Ngài vẫn còn vang vọng khắp cõi Diêm-phù-đề. Biết bao cuộc đời đau khổ nhờ lời dạy của Ngài đã được bình an, biết bao tập thể tu hành theo giáo pháp của Ngài đã tự xây dựng Tịnh độ ngay trong trần thế. Và trên tất cả, đã có biết bao vị chân tu thực học, theo đúng con đường Ngài đi, đã vượt thoát nỗi khổ triền miên của luân hồi sinh tử. Nếu không có thời điểm sao Mai vừa mọc trong Đêm Huyền Diệu ấy, Sa-môn Cồ-Đàm đã không trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, không có giáo pháp lưu truyền và không có Tăng đoàn hoằng dương chánh pháp. Cho nên có thể nói, Đêm Thành đạo là đêm khai sinh của Tam Bảo trên thế gian này.

Hàng tứ chúng con Phật chúng ta hôm nay, cùng lắng sâu tâm thức, hướng về thời khắc thiêng liêng ấy, nhớ nghĩ về nhân cách vĩ đại của Đức Bổn Sư, nguyện đời đời tu hành theo lời Ngài chỉ dạy. Để rồi, một ngày nào đó đủ duyên lành, khi hoa tâm khai mở, ta chợt nhận ra rằng Bồ đề Đạo tràng - nơi Đức Phật thành đạo ngày xưa, cũng là vườn tâm của chính ta hôm nay. Và thời khắc trọng đại khi sao Mai vừa mọc ngày nào, cũng chính là thời điểm hiện tại - một sát na mà vĩnh cửu!

Để kỷ niệm và tôn vinh Đêm Thành đạo của Đức Bổn Sư, Ban Hoằng Pháp Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Khánh Hòa xin gửi đến quý vị tập san này. Do những ngòi bút không chuyên viết ra, nhưng tất cả đều muốn thể hiện tấm lòng thành kính của những người con dâng lên Đấng Cha lành. Những bài viết như là những đóa hoa, những cọng cỏ nhỏ nhoi, nhưng cũng xin góp phần tô điểm cho khu vườn Đạo pháp thêm đậm đà hương sắc. Lực bất tòng tâm, kính mong chư tôn thiền đức, chư vị độc giả hoan hỷ chỉ bảo những thiếu sót trong tập san này, để những tập san tiếp theo có thể được hoàn thiện hơn. 

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật

-Ban Biên Tập-

 

 

Một kiếp bềnh bồng. ^

-Thích Trí Viên- 

 

Lăn lóc mãi nơi thế giới ngũ trược nầy, mỗi chúng sanh, mỗi con người đèo bồng một hành trang khá nặng nề, nhiêu khê và khá âu lo.

Rồi: “Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua”.

Sông ái hà, đèo khổ ải, mỗi chúng sanh tự gắng sức vượt dốc lội rừng. Đường trường ai hay, quên cả thời gian và thân phận, đôi lúc ngất lịm nơi chốn tha ma cũng phải gắng dậy mà đi. Kiếp nhân sinh là thế đấy! Một chặng đường phải qua. Biết bao giờ vượt khỏi lằn vết tử sanh, sanh tử. Thân phận chúng sanh cứ:

“Xuất thử một bỉ,

Thăng trầm bì cực

Vị miễn tam luân

Hà thời hưu tức?”

(Ra đây đến kia, xuống lên cực nhọc, ba cõi chưa thoát, bao giờ mới thôi?)

Ôi! đau thương, áo não nào bằng! Làm sao kể xiết!

Ba cõi là bản địa, là quê hương của chúng sanh luôn luôn bị thiêu đốt, bị khuấy động bởi nhiều loại phiền não và tham luyến. Đã tham luyến là đau khổ. Người tu Phật nên quán chiếu các pháp để nhận định rõ: khổ đau đang có, sẽ có do sự tiếp xúc của tham luyến. Vì vậy, người tu theo Đức Phật, nghĩa là không chấp nhận quanh quẩn ba cõi sáu đường, hãy thực tập tích cực những lời Đức Phật dạy:

“Chư ác mạc tác

Chúng thiện phụng hành”.

(Điều ác không làm,

Vâng làm điều lành.)

Điều ác là vô minh tham ái, là lực cuồng loạn tạo dựng sự sống tối tăm nơi ba cõi, là kẻ xây nhà sanh tử. Cho nên, trong giờ phút thiêng liêng nhất, trọng đại nhất, sau khi đoạn tận mọi hoặc lậu, tâm Đức Phật sáng ngời như gương, Ngài đã tuyên bố với muôn loài chúng sanh: “Ta lang thang mãi trong vòng luân hồi sanh tử, qua bao kiếp sống tìm mãi mà chẳng gặp kẻ làm nhà (vô minh tham ái). Khổ thay! Kiếp sống cứ tiếp diễn mãi. Ôi! kẻ làm nhà kia, nay Ta đã nhận rõ ngươi rồi. Ngươi không còn cơ hội xây nhà mà bấy lâu nay ngươi mong ước. Tất cả rui mè, đòn tay, kèo cột ngôi nhà của ngươi đều mục nát. Tâm ta đã vắng lặng, mọi ái nhiễm đoạn tận.” (PC 153-154). Bậc Thiện Thệ (bước qua) đã tuyên bố cho đội quân vô minh ngay trong giờ phút chứng quả. Cho nên, tham luyến ái nhiễm là cội nguồn sanh tử, kéo chúng sanh rơi rớt mãi ba cõi sáu đường, chịu bao nhiêu cực hình đau khổ bềnh bồng một kiếp. Do vậy ngài Linh Hựu khuyên nhắc chúng ta sớm ý thức: “Tảo phỏng minh sư, thân cận cao đức” (gấp gấp cầu học Thầy giỏi, gần gũi bậc đạo đức cao) mới dẫn dắt chúng ta xa lìa biển ái sông mê. Nếu không nương nhờ như vậy thì:

Kim sanh không quá,

Lai thế thất tắc

Tùng mê chí mê

Gian nhân lục tặc.

(Đời này luống qua, kiếp sau bế tắc, mê rồi lại mê, đều do sáu giặc)

Tự cứu lấy mình là yêu cầu cấp bách ngay trong đời nầy, như “cứu gấp đầu mình đang bị lửa cháy.” Ấy là giác trong mê. Đức Phật cũng thế, Ngài giác ngộ trong thế giới mê mờ, nên ngày Thành Đạo của Ngài là ngày Đại Giác. Đây là sự giác ngộ trong quá trình tư duy tu tập. Ngoài quá trình tư duy tu tập, không thể có giác ngộ. Mà tu tập tư duy phải có nghệ thuật. Giống như chúng ta chăm sóc (tu tập) cái mụt lở lói nơi thân ta. Chúng ta dùng phương tiện y khoa chăm sóc đúng nghệ thuật, tức đúng phương pháp thì mụt sẽ lành, hết đau. Cho nên, sự sống tu tập có nghệ thuật thì cuộc sống có tư cách, có an bình, lợi lạc. Nếu tu tập không có nghệ thuật thì không chuyển hóa được nghiệp lực mà bị nghiệp lực đồng hóa người tu. Ngài Pháp Đạt bị tổ Huệ Năng quở cũng vì chưa chuyển hóa được tánh ngã mạn, dù ngài Pháp Đạt đã tụng 3.000 bộ kinh Pháp Hoa. Tổ Huệ Năng đã quở Ngài Pháp Đạt: “Dù ông đã tụng 3.000 bộ kinh Pháp Hoa mà ông chưa thực hành tinh thần Pháp Hoa cũng không ích lợi gì”. Vì vậy, chúng ta là những người học Phật, tu lâu mà chưa chuyển hóa nghiệp lực thì chưa gọi là Phật tử chân chánh, chưa gọi là Trưởng tử Như Lai.

Muốn chuyển hóa được nghiệp lực phải có quá trình tu học mọi pháp lành. Như chuyện kể rằng:

Một người ăn xin nhặt được giấy rơi bên vệ đường. Trong tờ giấy có ghi 2 hàng chữ ngoằn ngoèo. Người ăn xin không đọc được. Chiều xuống, người ăn xin đang lang thang những lối mòn dẫn về thôn xóm để kiếm xin bữa ăn cuối trong ngày. Bỗng gặp một đạo sĩ đang trên đường về núi. Người ăn xin mừng quá. Ông ta đến thưa chào đạo sĩ, rồi nhờ đạo sĩ đọc và giải thích những câu ấy trong mãnh giấy đã nhặt được. Sau khi đọc xong, đạo sĩ nói:

“Tích thiện chư gia, tất hữu dư khánh.

Tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương”.

- Như vậy, nghĩa là thế nào, thưa đạo sĩ, người ăn xin thưa.

Đạo sĩ: Người nào, nhà nào tích lũy điều lành, pháp lành sẽ được phước báo vinh hoa, sang giàu.

Người nào, nhà nào tích lũy điều ác, pháp ác thì nghèo đói, tai ương sẽ đến (Minh Tâm Bảo Giám).

Qua câu chuyện nhỏ ở trên, Phật tử chúng ta cần tư duy để tu tập.

Nhân ngày Thành Đạo của Đức Từ phụ Thích Ca, tôi xin góp một vài ý niệm tâm thành khuyến khích nhau trên đường tu học. Mong được sự cảm thông cùng đón nhận hoan hỷ của chư huynh đệ và quý Phật tử như sự vui mừng của chúng ta đón chào ngày Thành Đạo của Đức Thế Tôn.


 

Người chiến thắng.^

-Thích Thông Huệ-

Một. Hai. Ba… Mười! Trọng tài đã dứt tiếng đếm mà người võ sĩ đang nằm trên sàn đấu vẫn chưa gượng dậy được. Không khí sau phút lặng yên nín thở, bỗng vỡ òa những tiếng vỗ tay, la hét, hoan nghênh người võ sĩ vừa hạ gục đối thủ bằng cú nốc-ao (knock-out) sấm sét. Người chiến thắng vui cười hỉ hả với đám đông cuồng nhiệt vây quanh, kẻ bại trận thất thểu lê từng bước rời khỏi đấu trường!

. . . Tiếng còi của trọng tài chính vang lên chấm dứt hiệp hai. Cả khán đài như rung chuyển vì sự phấn khích của hơn bốn vạn khán giả. Lá cờ của nước chiến thắng phần phật tung bay. Cả đội bóng và huấn luyện viên đang công kênh chân sút chủ lực, người vừa mang về bàn thắng vàng làm nên chiến thắng chung cuộc. Ống kính camera đưa nhanh một vòng và dừng lại ở góc sân: hình ảnh cận cảnh của khuôn mặt thủ môn đội bạn, người bắt hụt trái bóng quyết định. Những giọt nước mắt hiếm hoi lăn trên đôi má dạn dày sương gió, làm người xem cảm thấy thắt lòng!

. . .  Những thước phim đang kể lại một trận thắng lẫy lừng của Đại Hãn Mông Cổ. Trên chiến trường, thây người ngựa ngổn ngang. Có những xác người chồng lên nhau, tựa đầu vào nhau trong giấc ngủ ngàn năm thân ái, dường như hận thù không còn tồn tại ở thế giới bên kia. Một ngọn cờ gãy cán cắm chơ vơ cạnh một bánh xe gỗ dính máu nằm lăn lóc trên đất, lá cờ phất phơ trước làn gió lạnh lùng. Đại Hãn cưỡi con ngựa chiến lông đen mượt, đầu ngẫng cao, mặt rạng rỡ. Người chiến thắng bằng vó ngựa trường chinh, đang nuôi mộng bá chủ thiên hạ, xây dựng “sự nghiệp thiên thu” trên những xác người.

 

Trong thế giới nhị nguyên chúng ta đang sống, có thành tất nhiên có bại, có người chiến thắng phải có kẻ thất trận. Bên cạnh bài ca khải hoàn của người nầy, cũng có những giọt lệ chiến bại của người kia. Niềm vui chiến thắng nào cũng được xây dựng trên sự đau khổ, thậm chí trên tính mạng tài sản của kẻ khác. “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Một viên tướng sau trận công thành, hàng vạn bộ xương khô sẽ là chứng nhân lịch sử.

Nhưng niềm vui chiến thắng có bền vững mãi không? Người thắng trận có thật sự là người hạnh phúc?

Trong những cuộc so tài trên sàn đấu, trong vận động trường và cả trong chiến trường, sự chiến thắng cũng chỉ có tính nhất thời. Danh tiếng của người thắng trận chỉ tồn tại trong thời gian họ còn duy trì được ngôi vị. Sau thời gian ấy, họ sẽ bị chìm vào quên lãng, vì thay vào đó đã có những tên tuổi khác sáng chói hơn. Trên trường chính trị càng khắc nghiệt hơn, chạy đua giành chiếc ghế cao nhất nước là một cuộc thi vô cùng gian khổ. Bao nhiêu công sức, tiền bạc, mưu trí đổ ra lúc vận động tranh cử; đến khi đắc cử rồi, đâu phải được an hưởng vinh hoa phú quí, trái lại còn phải làm việc cật lực, chịu bao điều tiếng khen chê của công luận. Để rồi sau nhiệm kỳ ngắn ngủi 4-5 năm, nhìn lại chỉ còn le lói một dấu vết của hào quang đang tàn lụi!

Như vậy, những chiến công theo ý nghĩa thế tục đều được xây dựng trên sự khổ đau - khổ đau cho người thua cuộc và cả cho người chiến thắng. Bởi vì, mọi sự đấu tranh trên đời đều phát xuất từ lòng tham: tham danh, tham lợi, tham sắc… Tham cho cá nhân mình, cho người mình thương và cho tập thể mình đang sinh sống. Vì tham nên không từ một thủ đoạn nào để dành phần thắng về mình, vì tham nên khi đạt được điều mong muốn, lại ước muốn nhiều hơn. Ước vọng dần dần được nuôi lớn nhờ những lần thành công, trở thành cao vọng, và cuối cùng là cuồng vọng điên rồ. Thành-Cát-Tư-Hãn ở phương Đông, Napoléon và Hitler ở phương Tây là những nhân vật một thời lừng lẫy, vì cuồng vọng bá chủ thiên hạ nên đành chịu chết thảm, lại còn lưu xú vạn niên. Chưa nói đến những người chẳng hề bại trận trước đối phương, lại không thể giữ mình trước ánh mắt mỹ nhân, để đến nỗi thân bại danh liệt. “Nhất tiếu khuynh nhân thành, Tái tiếu khuynh nhân quốc”. Nụ cười của người đẹp có thể làm nghiêng thành đổ nước. Những thiên tình sử Trụ Vương - Đắc Kỷ, Lữ Bố - Điêu thuyền, César - Cléopâtre như những bài học về kẻ chiến thắng người khác mà không tự thắng lòng tham của chính mình.

Cách đây hai mươi lăm thế kỷ, có một vị Thái tử đang độ tuổi thanh xuân, sống trong hạnh phúc cao sang, trong sự quý kính của triều thần, đột nhiên vượt thành bỏ trốn. Dân chúng bàng hoàng, phụ vương tuyệt vọng, người vợ trẻ biếng ăn bỏ ngủ, ôm con thơ làm kiếp vọng phu. Có lẽ nào như thế? Thái tử là người tài đức vẹn toàn, phong thái siêu tuyệt, văn võ hơn người. Ngay lần thi đấu tại nước láng giềng, Ngài đã vượt qua bao nhiêu anh tài, trở thành người xuất sắc nhất, được quốc vương ban gả cô công chúa cưng quý của mình. Ngài đã thành công trên mọi lĩnh vực, đã hưởng thụ mọi lạc thú trên đời; vậy Ngài còn mong cầu điều gì mà hy sinh tất cả, một mình sống đời tu sĩ nơi rừng núi thâm u?

Chỉ có Thái tử tự biết, mình chưa đúng nghĩa là Người chiến thắng. Ngài không hiểu từ đâu mình sinh ra, lúc chết đi về đâu, tại sao phải chịu cảnh sinh già bệnh chết, và có cách nào thoát khỏi vòng sinh tử? Đó là những câu hỏi lớn mà chỉ có Ngài mới biết đặt ra và tự tìm lời giải đáp, vì trong sách vở, trong kiến thức Ngài thu thập được từ những vị thầy lỗi lạc, không đâu có thể trả lời.

Trong những năm ròng rã tìm thầy học đạo, Thái tử - giờ thành Sa-môn, đã nhiều phen chiến đấu với những chướng ngại bên ngoài và bên trong thân tâm. Có lẽ nhiều phen Ngài nhìn lại đời mình, tự hỏi việc làm của mình có đúng đắn không? Có lẽ một lúc nào đó, nỗi đau khổ chưa tìm được hướng đi, đồng thời ùa đến, nhận chìm Ngài trong cùng cực của tuyệt vọng. Sự đấu tranh nội tâm thật là mãnh liệt, nhưng rồi Ngài vẫn vượt qua được, cố gắng vươn lên, tiếp tục thực hiện chí nguyện lớn nhất của đời mình. Ngài đã chiến thắng tất cả, để cuối cùng hát lên khúc ca khải hoàn: “Ta đã được giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, đã đặt gánh nặng xuống, không còn trở lui trạng thái nầy nữa!.” Đó là cuộc đời tu hành của Thái tử Sĩ-Đạt-Ta ngày xưa và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni của ngàn đời sau.

 

Chúng ta có thể đúc kết những chiến công của Đức Bổn Sư như sau, để làm bài học cho đời tu của chính mình:

Một là, sự dằn vặt trong tâm Ngài khi còn ở cung son. Một bên là cuộc sống tột đỉnh quyền uy với hạnh phúc gia đình hoàn hảo, một bên là lý tưởng cầu đạo vô thượng. Trong nhiều ngày đêm, nội tâm Ngài là một trường tranh đấu, nhất là khi nghĩ đến phụ vương già yếu và người vợ trẻ hiền thục, sẽ cô đơn đau khổ biết chừng nào nếu Ngài ra đi? Chữ hiếu chữ tình đều không trọn, có thể hi sinh tình riêng mà hoàn thành đạo nghiệp được chăng? Câu trả lời xin hẹn ở tương lai, nay nhất quyết quay lưng với ngũ dục. Như thế, Ngài đã chiến thắng trận đầu, một trận tuyến vô hình với những viên đạn bọc đường, sức cám dỗ mãnh liệt mà không mấy ai thoát nổi.

Hai là, sự khó khổ về vật chất và nỗi cô đơn hiu quạnh trong rừng sâu. Từ mức độ cao tột về vật chất và lừng lẫy về danh vọng, không qua một giai đoạn chuyển tiếp nào, đột nhiên Ngài tự nguyện rơi xuống mức tận cùng của cuộc sống: làm một Sa-môn không tên tuổi, sống qua ngày bằng những bát cơm tín thí. Đường đi thì gian nan diệu vợi, hướng đi chưa phân định rõ ràng, Ngài như người trong bóng tối mò mẫn từng bước độc hành độc bộ. Có lúc nào Ngài thấy lòng chùng xuống, nhớ những ngày êm ấm thuở xưa mà hối tiếc về sự phiêu lưu táo bạo của mình? Chúng ta chỉ biết, Ngài vẫn tiếp tục con đường đã chọn, đi không mệt mỏi dù không rõ bao giờ mới đến nơi. Một lần nữa, Ngài lại chiến thắng.

Ba là, khi đến cầu đạo với Tiên nhân Uất-Đầu Lam-Phất (Uddaka Ramaputta), chỉ một thời gian ngắn Ngài đã học xong tất cả tinh hoa của thầy. Giá như người khác, đã có thể tại đây an thân lập mệnh, cùng thầy “chia nửa tòa ngồi” để được người đời tôn kính. Nhưng riêng Ngài, tự thấy quả vị Phi tưởng Phi phi tưởng xứ chưa phải là cứu cánh giải thoát, vì còn trong vòng kềm tỏa của luân hồi. Ngã phàm đã dứt, ngã Thánh cũng phải xa lìa. Ngài mạnh dạn dứt áo ra đi sau khi từ biệt vị thầy khả kính. Sự xả ly những quả vị đạt được không phải là điều dễ dàng trong tâm thức hành giả, cho nên lần chiến thắng nầy thật vô cùng vẻ vang.

Bốn là, lúc nhận thấy pháp tu khổ hạnh không đưa đến giác ngộ giải thoát, Ngài quyết định theo con đường trung đạo. Sự khinh chê từ bỏ của những người từng tôn kính Ngài hết mực, đối với người đời hẳn là vết thương lòng đau đớn không gì sánh nổi. Chỉ riêng Ngài tự biết sự lựa chọn của mình là đúng đắn, nhưng không nên biện bạch mà chỉ nên trả lời bằng kết quả tu hành. Ngã chấp đã buông nên không động tâm đối với tình cảm của người khác, pháp chấp cũng buông nên không dính mắc với một pháp nào. Ngài chiến thắng trên cả hai mặt trận ngã & pháp, hiểu rằng chính mình là vị Thầy thực sự của mình. Từ đó mới có lời thề sấm sét dưới cội Tất-bát-la: “Dù thịt nát xương tan, nếu chưa tìm được đạo vô thượng, ta quyết không rời khỏi chỗ này!”

Trận chiến thứ năm, trận cuối cùng, cũng là trận chiến quyết định của Người chiến sĩ Vĩ đại. Bốn mươi chín ngày đêm thiền định, một mình đối diện với chính mình, tâm Ngài chuyển biến ra sao, đấu tranh với những cám dỗ Ma Vương thế nào, chỉ có Ngài hiểu thấu. Chúng ta chỉ biết rằng, khi sao Mai vừa mọc vào đêm 49, Ngài hoàn thành đạo nghiệp. Đối thủ lần nầy của Ngài - và của tất cả chúng sanh - là Quỷ vô thường, là vòng xóay luân hồi, là ma trận sinh tử. Chỉ có Ngài là người duy nhất chiến thắng, nên đây là chiến công oanh liệt nhất. Và cũng vì thế, Ngài trở thành Bậc Đại Giác Ngộ, Bậc Thầy của ba cõi Trời người. Cũng vì thế, đêm cuối cùng nầy được gọi là Đêm Thành đạo, đêm khai sinh của Phật Bảo, tiền đề cho Tam Bảo sau nầy.

Câu chuyện đời của Đức Bổn Sư như một trường thiên tiểu thuyết, mà người văn sĩ, dù tài hoa đến bậc nào cũng không thể tưởng tượng được hết. Vậy mà, đó lại là sự thật, vì Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni là một nhân vật lịch sử. Ngài cũng là con người bằng xương bằng thịt như mọi người, nhưng Ngài phi thường ở ý chí nghị lực, ở lòng thương bình đẳng vô bờ đối với chúng sanh. Bằng nghị lực phi thường và tâm từ bi cao tột ấy, Ngài đã chiến thắng mọi cám dỗ của ngũ dục bên ngoài và phiền não tham sân si bên trong tự thân, cuối cùng vĩnh thoát sinh tử. Chiến công nầy không làm ai đau khổ, không gây tổn hại tính mạng tài sản của ai; mà trái lại, mang đến an lạc hạnh phúc cho con người, mang tình thương vô ngã vị tha chan rải khắp cùng pháp giới. Chiến công nầy không chỉ có giá trị trong một thời gian nhất định, mà vĩnh viễn làm lợi ích cho chính mình và cho chúng sanh vạn loại. Trên tất cả, trận thắng cuối cùng của Đức Bổn Sư chỉ rõ cho con người thấy rằng, mỗi chúng sanh đều có mầm mống giác ngộ, đều có khả năng giải thoát. Chỉ có Đức Phật mới tuyên bố tất cả chúng sanh đều có đức tướng Như Lai, chỉ có đạo Phật mới đặt mọi loài ngang hàng với vị Giáo Chủ. Bởi vì, bằng trí tuệ vô sư xuất thế, Ngài thấy chúng sanh bình đẳng nhau ở Tánh giác. Đây là cái thấy như thị, cái thấy không còn kẹt vào tứ tướng ngã nhân chúng sanh thọ giả, cái thấy thấu suốt tột cùng bản chất của muôn sự muôn vật.

Những người con Phật chúng ta, theo gương sáng của Đấng Từ phụ, không cầu hơn thua phải quấy, không màng sự đấu tranh để gây đau khổ cho mình và cho người. Chúng ta chỉ nguyện, luôn xoay lại soi sáng chính mình, luôn chiến đấu với lũ giặc phiền não tự tâm, biết chế ngự ngũ dục thế gian, thắp sáng trí tuệ nhận rõ thân-tâm-cảnh đều do duyên hợp giả có. Biết tất cả các pháp đều vô thường hư dối, nhưng trong đó vẫn có một điểm linh quang thường hằng bất biến, luôn tĩnh lặng mà chiếu soi, luôn tịch tịnh mà sáng ngời. Đó là Phật tri kiến, là Bản lai diện mục, là Đức A-Di-Đà Vô lượng quang Vô lượng thọ Vô lượng công đức. Nhận ra Tánh giác sẵn đủ và hằng sống với Tánh giác, hành giả chiến thắng được kẻ thù Tam độc ngay chính bản thân, chiến thắng cả Quỷ Vô thường, chặt đứt mắc xích của vòng luân hồi sinh tử. Đó mới thật là chiến thắng tuyệt đối, vĩnh cửu, mới thật sự đem lại lợi ích cho mình và cho tất cả chúng sanh. Người chiến thắng ấy mới thật sự là Bậc đáng được Trời người cúng dường tán thán, mới không cô phụ bản hoài của chư Phật và tánh linh của chính mình!


 

Thành Đạo ^

 

-Như Minh-

 

Thành đạo về đây giữa tháng đông

Giữa cơn giông tố vạn cõi lòng

Ánh sáng từ bi xin chiếu diệu

Cho đời sưởi ấm chút tình trong

 

Ngày xưa Bồ-tát Tất Đạt Đa

Bảy thất tham thiền hàng phục ma

Cái đêm lịch sử vô cùng ấy

Khắc đậm tâm con chửa xóa nhòa

 

Mồng tám (tháng) mười hai lại trở về

Cho lòng nhân loại bớt tái tê

Đêm dài ma quỷ thôi không nhát

Mở mắt nhìn nhau một lối về

 

Pháp luân chuyển bánh mấy ngàn năm

Văng vẳng bên tai tiếng thì thầm

Khổ đế muôn đời chân lý ấy

Lộc Uyển diễn bày đạo thậm thâm

 

Hình ảnh người xưa chưa xóa mờ

Vẫn còn hiện rõ đến ngày nay

Kiều Trần năm vị tỳ kheo ấy

La Hán quả đầu chứng từ đây

 

Rồi mỗi đông sang nhớ lại ngày

Ôi ngày thành đạo vẻ vang thay

Chiến thắng ma quân thành chánh giác

Thức tỉnh bao người khỏi cơn say.

 

Bồ đề ươm giống sẵn nơi đây

Hội đủ cơ duyên đủ tháng ngày

Hoa trái nẩy mầm trên tâm địa

Xanh tốt muôn đời hoa quả sai

 

Theo dấu người xưa con thề nguyền

Cho dù khổ não có triền miên

Cũng xin giữ vững cây đạo thọ

Ươm trái nẩy mầm vạn vạn niên


 

- Kinh Cứu La Đàn Đầu. ^

 

-Thích Thiện Tấn-

A- Giới thiệu:

Đạo Bà-la-môn ở Ấn Độ rất coi trọng việc cúng tế, coi đây là một pháp tu, cho nên họ thường xuyên tổ chức các cuộc tế đàn rất lớn, giết hại nhiều trâu dê để tế lễ mà cho là có công đức lớn. Đức Phật không bài bác việc tế lễ nhưng hướng dẫn một lối tế lễ không có sát hại sinh vật, với từ tâm bình đẳng. Kinh Cứu La Đàn Đầu sau đây là kinh số 23 trong kinh Trường A Hàm sẽ đề cập vấn đề trên đây.

B- Tóm lược nội dung:

Một thời Đức Phật tại nước Câu-tát-la cùng với 1.250 vị đại Tỳ-kheo đi du hành khắp nơi, đến trú tại rừng Thi-xá-bà phía bắc thôn Khư-nậu-bà-đề. Đại danh của Phật đồn khắp thiên hạ. Có nhiều Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ cùng đi đến thăm hỏi Sa-môn Cù-Đàm. Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu là người thông tuệ có 500 đệ tử, biết được tin này cùng với Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ rũ nhau đến yết kiến Đức Phật vì Ngài thành tựu các công đức sau đây:

1- Cha mẹ bảy đời của Sa-môn Cù-Đàm đều chân chính, không bị người khác khinh hủy.

2. Sa-môn Cù-Đàm xuất thân từ dòng Sát-đế-lợi, dung mạo đoan chính.

3. Sa-môn Cù-Đàm sinh trong nhà giàu sang phú quý lại đi xuất gia.

4. Sa-môn Cù-Đàm đầy đủ trí tuệ, dòng họ chân chính.

5. Sa-môn Cù-Đàm sinh trong nhà giàu sang, có oai lực lớn, lại xuất gia tu đạo.

6. Sa-môn Cù-Đàm đầy đủ giới hạnh hiền thánh, đạt được trí tuệ.

7. Sa-môn Cù-Đàm khéo léo trong lời nói, dịu dàng hòa nhã.

8. Sa-môn Cù-Đàm là bậc Đạo sư của đại chúng, chúng đệ tử rất đông.

9. Sa-môn Cù-Đàm vĩnh viễn diệt trừ ái dục, không còn dao động, lo sợ… khéo giảng về nghiệp báo, không hủy báng Đạo khác.

10. Được vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa lễ kính, cúng dường, được các đại danh Bà-la-môn cung kính cúng dường.

11. Sa-môn Cù-Đàm được các đệ tử Thanh văn tôn kính cúng dường. Lại được chư Thiên, quỷ thần, các dòng họ tôn phụng Ngài.

12. 13. 14. Sa-môn Cù-Đàm truyền Tam quy ngũ giới cho vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa, cho Bà-la-môn Phất già La-sa-la, cho đệ tử, cho chư Thiên, dòng họ Thích, cho Mạt-lê v.v…

15. Sa-môn Cù-Đàm đi đến đâu cũng được hết thảy mọi người cung kính cúng dường.

16. Sa-môn Cù-Đàm đến các thành quách thôn ấp nào thì mọi người nô nức cung kính cúng dường.

17. Sa-môn Cù-Đàm đi đến đâu thì các loại phi nhân, quỷ thần không dám quấy phá.

18. Sa-môn Cù-Đàm đi đến đâu thì người dân nơi đó thấy ánh quang minh, nghe được thiên nhạc.

19. Sa-môn Cù-Đàm đi đến đâu, hễ Ngài rời nơi ấy thì mọi người mến mộ, khóc lóc tiễn đưa.

20. Sa-môn Cù-Đàm lúc mới xuất gia, cha mẹ thân quyến khóc lóc thương tiếc.

21. Sa-môn Cù-Đàm xuất gia khi còn trẻ, xả bỏ các thứ trang sức, ngũ dục, anh lạc v.v…

22 Sa-môn Cù-Đàm xả bỏ ngôi vị của bậc Chuyển Luân Thánh Vương mà xuất gia tu đạo.

23. Sa-môn Cù-Đàm hiểu rõ pháp của Phạm Thiên, có thể giảng dạy cho người, cũng có thể cùng Phạm Thiên lui tới đàm luận.

24. Sa-môn Cù-Đàm hiểu rõ 3 cách tế tự và 16 thứ lễ vật mà các vị kỳ túc của Bà-la-môn không thể biết được.

25. Sa-môn Cù-Đàm đầy đủ 32 tướng tốt.

26. Sa-môn Cù-Đàm có trí tuệ thông đạt, không có khiếp nhược.

Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu thưa hỏi Đức Phật về 3 cách tế tự và 16 loại tế vật, được Đức Phật giảng như sau:

“Về thuở quá khứ có một vị vua có đất nước hùng mạnh, dân chúng giàu có, muốn lập lễ tế đàn để được quả báo lớn nên triệu tập Đại thần để hỏi về cách thức tế lễ.

Vị Đại thần thưa rằng: “Nhà Vua không nên dùng quyền lực để giết chóc trừng phạt mà nên chu cấp cung phụng thức ăn cho các quan lại để họ khỏi tham nhũng. Cung cấp tài sản cho những người buôn bán, cấp trâu bò, hạt giống cho người nông dân để họ doanh, sinh sống, không làm tổn hại lẫn nhau.

I/- 3 Tế pháp và 16 tế vật:

Vua hỏi các vị Đại thần về cách thức tế lễ. Các vị Đại thần cố vấn tế lễ tâu với vua rằng: Cần nên phải thực hành 3 tế pháp và 16 tế vật.

1/ Tế pháp thứ nhất: Vua muốn tế lễ cần phải báo cho nội cung biết, báo cho Thái tử, Hoàng tử, Đại thần, Tướng sĩ biết để 4 chúng này tán thành và cung cấp vật tế.

2/ Tế pháp thứ hai: Gồm 8 đức tánh của Vua và 4 đức tánh của Bà-la-môn chủ tế.

* 8 Đức tánh của Vua:

1- Bảy đời cha mẹ của Vua đều chân chính, không bị người khác khinh hủy.

2- Có dung mạo đoan chính, thuộc dòng Sát-đế-lợi.

3- Có giới đức tăng thịnh, trí tuệ đầy đủ.

4- Thành thạo các khoa kỹ thuật, các pháp cưỡi voi, dùng đao, cung, tên…

5- Có đại oai lực, nhiếp phục các Tiểu vương.

6- Thiện xảo về ngôn ngữ, lời nói nhu nhuyến.

7- Có nhiều tiền bạc của báu, nhiều kho lẫm.

8- Có mưu trí dũng cảm, không yếu kém sợ hãi.

* 4 Đức tánh của Bà-la-môn chủ tế:

1- Bảy đời cha mẹ của Bà-la-môn đại thần đều chân chính.

2- Đọc tụng thông thuộc ba bộ Phệ Đà, hiểu rõ các thứ kinh thư.

3- Thiện xảo về ngôn ngữ.

4- Có mưu trí dũng lược, không yếu kém sợ hãi.

3/. Tế pháp thứ 3: Không hối tiếc khi làm lễ tế đàn.

Nhà Vua không nên hối tiếc nói rằng vì ta đã lập tế lễ lớn, đang lập tế lễ lớn và sẽ lập tế lễ lớn mà hao tốn tài sản báu vật. Vị Đại thần chỉ bày hướng dẫn cho nhà Vua hoan hỷ không khởi tâm hối tiếc.

4/- Mười sáu loại tế vật:

Các vị Bà-la-môn đại thần nói rõ 16 điều cao quý mà nhà Vua và Đại thần đã đạt được, không bị khinh hủy, không bị ô danh để cho vua không còn nghi ngại. 16 loại tế vật đó là 8 đức tánh cao quý của vua Sát-đế-lợi; sự chấp thuận của 4 thành phần: nội cung, Thái tử, Hoàng tử, Đại thần,Tướng sĩ và 4 đức tánh cao quý của các Đại thần.

II/- Bố thí từ tâm bình đẳng:

Bố thí bình đẳng đối với 10 hạng người như người sát sanh, không sát sanh, người trộm cắp, người không trộm cắp v.v…

Khi vua Sát-đế-lợi làm lễ bố thí thì có các phu nhơn, thể nữ, Thái tử, Hoàng tử, Đại thần, Tướng sĩ đều mang các báu vật đến xin trợ giúp cho vua tế lễ. Khi tế lễ nhà vua không giết trâu dê và các sanh vật… mà chỉ dùng bơ sữa, dầu mè, mật, đường. Trong lúc tế lễ và sau khi tế lễ, mọi người đều hoan hỷ nên gọi là thành tựu pháp tế.

Vị vua Sát-đế-lợi làm lễ tế đàn chính là tiền thân của Đức Phật.

III/-Những tế đàn khác có lợi ích lớn hơn:

Đức Phật dạy rằng ngoài 3 pháp tế tự và 16 thứ tế vật ấy còn có việc làm sau đây đem lại công đức nhiều hơn, như thường xuyên cúng dường chư Tăng, xây cất Tăng phòng, Tăng đường, quy y Tam bảo, từ tâm đối với chúng sanh, xuất gia tu hành.

IV/- Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu quy y Tam bảo:

Qua câu chuyện tế đàn đã được Đức Phật khéo thuyết giảng làm cho Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu tỏ niềm tịnh tín, trọn đời quy y Tam bảo.

C- Kết luận:

Đạo Bà-la-môn ở Ấn Độ xem việc tế lễ là một pháp tu quan trọng, họ giết hại nhiều sanh vật để cúng tế.Đức Phật không phủ nhận hẳn việc tế lễ nhưng hướng dẫn họ tổ chức một tế đàn chay thanh tịnh, không có sát sanh, các tế vật là các đức tánh cao quý của những người tổ chức tế lễ. Đức Phật cũng hướng dẫn cho họ làm các việc công đức, quy y Tam bảo, xuất gia, tu giải thoát. Nhân dịp này, Đức Phật cũng gián tiếp trình bày quan niệm về cách trị nước an dân để đất nước được thanh bình.

 

Sự khác nhau giữa giới luật và luật pháp.^

 

Thích Tâm Hạnh

 

 

Để trở thành một Phật tử, tất cả chúng ta đều phải phát nguyện thọ trì ba quy y và năm giới cấm, học tập về nhân quả, luân hồi, mười nghiệp đạo v.v… và vv… Quy y Tam bảo và sự chấp thuận gia nhập đoàn thể nào đó, giữa giới luật và luật pháp thế gian, giữa năm giới và mười nghiệp đạo, giữa định luật nhân quả và nghiệp báo, khác nhau như thế nào về nội dung, hình thức, sự vi phạm, sám hối, kết quả là những điều mà chúng ta phảI hiểu rõ.Nếu không hiểu rõ sự khác nhau đó, chính chúng ta sẽ không thấy được sự khác nhau giữa hạnh phúc tinh thần của người Phật tử và hạnh phúc dung tục của người bên ngoài, không thấy được mục đích tu học theo Phật giáo.

Có khi ta đã từng suy nghĩ hay nghe: “đạo nào cũng tốt, cũng dạy làm lành bỏ dữ”. Nếu chỉ dừng ở chổ làm lành lánh dữ thì chỉ cần luật pháp của quốc gia, chẳng cần sự có mặt của tôn giáo. Nếu chỉ cần làm điều thiện để được hưởng khoái lạc ở cõi trời thì giáo pháp của Đức Phật không xuất hiện ở đời. Đây là những điều mà người Phật tử chúng ta cần ghi nhận.

Sống giữa thế giới này, có biết bao hiện tượng mà ta không thể giải đáp, biết bao sự lo sợ, đau khổ mà ta không thể vượt qua, biết bao điều ta ưa thích, hạnh phúc mà không thể giữ được. Để mưu cầu hạnh phúc bằng cách bảo vệ hay phát triển quyền lợi và địa vị của mình hay do những thế lực khác bắt buộc, chúng ta gia nhập vào những đoàn thể nào đó. Sự gia nhập những tôn giáo khác, cũng với mục đích như trên nhưng lại cầu mong sự che chở, hay chấp nhận sự phán quyết của các thần linh, Thượng đế theo tôn giáo ấy để an tâm lập mệnh.

Khác hẳn với hai trường hợp trên, người Phật tử tự nguyện quy y Tam bảo với ý nghĩa:

Quy y Tam bảo: là trở về (gacchati) nương tựa (Saranà) nơi ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng. Lấy ba ngôi báu hay ba điều quý báu (Ratanataya) làm tôn chỉ, làm mục đích, làm kim chỉ nam cho nếp sống tinh thần của mình.

Mục đích tối hậu của con người là hạnh phúc, nhưng hạnh phúc không thể có được khi con người làm nô lệ cho vô minh, ái dục, vọng nghiệp. Muốn thoát khỏi ba trói buộc đó, con người cần phải trở về sống sáng suốt, định tỉnh, trong lành, nghĩa là trở về nương tựa nơi Phật (sáng suốt), Pháp (định tỉnh), Tăng (trong lành), vì đó là ba điều kiện quý báu và đầy đủ hơn cả cho hạnh phúc đích thực của con người. Đức Phật dạy trong kinh Pháp cú: “Ta là nơi nương nhờ của ta, không ai khác là nơi nương nhờ của ta được, khi ta đã thuần tịnh thì đó là nơi nương nhờ hy hữu” -PC 160- Như vậy, Đức Phật đã khẳng định quy y Tam bảo chính là tự quy y vậy.

Quy y Phật có 2 phương diện:

- Quy y Bậc đã hoàn toàn giác ngộ nghĩa là nhận Đức Phật là bậc Thầy hướng đạo.

- Quy y đức tính giác ngộ nơi chính mình, nghĩa là luôn sống sáng suốt, tỉnh thức trong hành động, lời nói và ý nghĩ, không mê muội buông lung theo vô minh, ái dục.

Quy y Pháp có 2 phương diện:

- Quy y giáo pháp đức Phật. Giáo pháp được đức Phật khéo thuyết giảng. Pháp ấy có đặc tính: thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, hãy trở lại mà thấy, hướng thượng, bậc trí tự mình chứng ngộ.

- Quy y thực tại chân lý ở chính mình.

Quy y Tăng có 2 phương diện:

- Quy y chúng tăng là noi theo gương các bậc có 4 đức tính thiện hạnh, trực hạnh, ứng lý hạnh, chánh hạnh, đang hành trì theo chánh pháp.

- Quy y những đức tính trong lành quý báu nơi chính mình như chúng tăng đã đạt được.

Như vậy: quy y Tam bảo không phải là nương nhờ vào sự ban ơn giáng phúc hay cứu rỗi của Phật, pháp, tăng.

Quy y Tam bảo không phải là quy y với một vị thầy hay với một ngôi chùa nào cả. Một vị thầy xứng đáng, một ngôi chùa quy củ có thể sách tấn chúng ta luôn tự quy y Tam bảo. Một vị thầy có thể sai, một ngôi chùa có thể sụp đổ, còn quy y Tam bảo là sự hành trì từng giây từng phút không thể nào thiếu được.

Chứng điệp quy y chỉ có giá trị tượng trưng, không thể thay thế được chính tự quy y, không thể để thờ hay để đốt theo khi chết hầu Diêm vương xá tội.

Không phải sau khi được làm lễ truyền thọ quy giói là đã trở thành người Phật tử, chỉ khi nào quy giới được hành trì nghiêm chỉnh thì mới xứng đáng là người Phật tử.

Quy y xong mà vẫn sống theo mê tín, tin theo tà giáo, sống buông lung, phóng dật, thất niệm, hành động nói năng bất chính thì gọi là mất Tam quy.

Nếu có chuyên cần thọ trì quy giới, nhưng có khi được, khi mất thì gọi là Tam quy nhơ đục, phải thường tự ăn năn sám hối, thọ trì quy giới lại. Theo truyền thống Phật giáo Nam tông, mỗi nửa tháng Phật tử phải đến chùa để sám hối, thọ trì quy giới lại và nghe pháp để tự nhắc mình hành trì quy giới nghiêm túc hơn. Nếu không có chùa thì tự sám hối và đọc quy giới trước bàn thờ Phật trong nhà. Người căn cơ cao có thể luôn tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác thì khi thất niệm, chỉ cần tỉnh thức trở lại là đầy đủ Tam quy.

Tóm lại, Tam quy là luôn luôn tự mình tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác, để giữ thân khẩu ý của mình sáng suốt (quy y Phật), định tỉnh (quy y Pháp), trong lành (quy y tăng).

Một người đã vững bước trong sáng suốt, tỉnh giác, định tỉnh, chánh niệm và trong lành tinh tấn, người ấy được gọi là “Tịnh tín bất động nơi Tam bảo”, đã thấy đó là lẽ sống đích thực của mình, đã nhận ra nguồn chân hạnh phúc, Đức Phật gọi đó là ngườI đã nhập dòng Thánh, đã thấy rõ Tam bảo nơi chính mình. Đó là ý nghĩa đích thực của quy y. (lược trích Quy y Tam bảo của Thầy Viên Minh)

Luật pháp thế gian được xây dựng theo luân lý, đạo đức, truyền thống, phong tục tập quán và quan điểm chính trị của chính quyền đại diện cho nhân dân ở đất nước đó. Hay nói cách khác, luật pháp nhằm khống chế, quản lý những đối tượng phản động, nguy hiểm, bất chính theo nhận thức, chủ trương, khái niệm của nhân dân và chính quyền ở địa phương đó. Luật pháp như vậy mang tính cách địa phương, chỉ có giá trị ở nước này, nhưng vô giá trị ở nước khác. Có khi, ngay trong một nước, tỉnh này, làng này, luật lệ cũng khác với tỉnh khác, làng khác. Luât pháp được xây dựng trên quyền của số đông, nhất là số đông có quyền lực chi phối xã hội đó. Do tiêu chí đó, luật pháp có khi rất công bằng với số người này, nhưng bất công với số người khác theo quan điểm xã hội. Mục đích của Luật pháp là đem lại sự cân bằng ổn định, đồng thời bảo vệ đời sống hạnh phúc theo quan niệm của xã hội đó. Nếu ai làm ngược lại vi phạm thì có chiếc còng và nhà tù dành cho họ.

Khác với luật pháp thế gian, Giới luật của Phật giáo, được xây dựng trên từ bi và trí tuệ hiểu biết về nhân quả, nghiệp báo nên có cả quy định xã hội nhưng chú trọng về mặt Thánh đạo. Do đó, muốn hiểu giới luật của Phật giáo thì phải biết rõ về định luật nhân quả, nghiệp báo.

Nhân quả và nghiệp báo khác nhau. Có khi có nhân quả mà không có nghiệp báo. Định luật nhân quả là tất yếu, không thể chấm dứt nó được nhưng nghiệp báo thì ta có thể chấm dứt, giải thoát nó được. Muốn hiểu rõ về nhân quả nghiệp báo, chúng ta cần phải biết về những kiến thức giáo pháp cơ bản sau:

Những định luật của vũ trụ: có những định luật, những quy luật vận hành vũ trụ, chúng tương quan mật thiết với nhau và chi phối toàn bộ đời sống con người cùng vạn hữu. Những định luật, quy luật này mâu thuẫn nhau, tương tác nhau đã sinh ra vô vàn hiện tượng khác nhau như hữu tình, vô tình, trời đất, vũ trụ v.v và v.v…

Những quy luật ấy được Đức Phật giới thiệu phổ quát bằng năm định luật (niyàma):

1. Thế giới vật lý vô cơ (utu-niyàma): quy luật vận hành trong thế giới tự nhiên, tạo ra những hiện tượng nắng mưa, ngày đêm, nóng lạnh, bốn mùa do ảnh hưởng của mặt trời, mặt trăng, tinh tú đến sông biển ao hồ, tác động đến con người, cây cối, vạn vật.

Trong định luật thuộc vật lý vô cơ này cũng xảy ra theo tiến trình nhân quả nhưng không có nghiệp báo. Như do hiện tượng Elhino mà bão lụt động đất, hạn hán xảy ra khắp nơi. Nguyên nhân là do nạn phá rừng, khí thải công nghiệp mà nhiệt độ trái đất tăng lên, phá vỡ tầng ozon, môi trường sinh thái bị nhiễm độc… Gần hơn có những nhân quả rất cụ thể như trời nóng thì đổ mồ hôi, lạnh thì rét, mưa nhiều sinh lụt, không khí giãn nở tạo ra gió….

2. Thế giới sinh vật lý hữu cơ (bija-niyàma): quy luật tác động trong thế giới tế bào của những động vật và thực vật, có cả con người. Do những định luật này, các nhà khoa học đã tìm ra luật bảo toàn giống loại, AND, di truyền, gène… kể cả những công nghệ sinh học. Do quy luật này mà giống nào sinh giống ấy, hạt cam sinh cây cam, hạt lúa có từ cây lúa. Gène di truyền trong việc thụ thai 2 trẻ sinh đôi giống nhau nhưng khác tính tình v.v…

Trong thế giới này, tiến trình nhân quả xảy ra rất đa dạng và phức tạp. Nền công nghệ sinh học muốn biến đổi gène động vật, thực vật là dựa vào quy luật này…do sự lai tạo, mướp đắng không đắng nữa mà lớn như quả bầu,... các loại lúa chịu hạn, bắp cho nhiều hạt… một loài người thông minh hơn… nhân quả này cũng máy móc, lạnh lùng khách quan.

Cả hai loại định luật này tương tác, ảnh hưởng qua lại nhau… để xảy ra tiến trình nhân quả khác. Ví dụ: chết vì rét, vì đói, vì bị nhiễm độc, vì bội thực..thế giới vật lý tác động lên thế giới sinh lý (cơ thể) nên xảy ra như vậy.

3. Pháp (Dhamma-niyama): quy luật chi phối vạn pháp như âm dương, ngũ hành, luật hấp dẫn, ly tâm, điện từ, phản ứng sinh lý hoá, luật bảo toàn năng lượng, trường sinh học; kể cả những hiện tượng siêu hình như lúc Bồ-tát giáng phàm, thành đạo, khi Đức Phật Niết bàn.

Lãnh vực này rất bao la, khoa học cũng chưa tìm kiếm ra hết, có chăng chỉ mới là những bước khám phá ban đầu. Định luật này xảy ra trong tiến trình nhân quả trong pháp giới…Luật này dễ kiểm chứng như trong phản ứng hoá học. Cho chất này vào thì nước sôi lên, nhưng là chất khác thì nước đổi màu v.v… âm dương hút nhau, dương dương hay âm âm thì đẩy nhau…Nam châm hút sắt… ngũ hành tương sinh, tương khắc… đều là nhân quả. Tuy nhiên, trong pháp giới còn có những định luật nhân quả rất huyền nhiệm như khi Bồ tát đản sinh thì địa cầu chuyển động… người bị thôi miên, mộng du di chuyển trong thế giới 4 chiều…

4. Tâm (citta-niyama): định luật về tâm, tâm lý như ý niệm, ý tưởng, tưởng tượng, hồi ức, trí nhớ, tư tưởng, trực giác…Những trạng thái tâm lý, những yếu tố nội tâm diễn tiến theo trình tự nhân quả tương quan đưa đến phán đoán, nhận thức, suy luận, chi phối sinh hoạt hữu thức hay vô thức của con người đều thuộc lĩnh vực của định luật này. Những hiện tượng thần giao cách cảm, biết quá khứ vị lai, thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm .. đều từ định luật này.

Nhân quả trong các định luật về nhân quả cũng không phải là nghiệp báo. Khoa tâm lý học phương Tây có cả một môn học chuyên sâu để nghiên cứu, đào xới mảnh đất bí hiểm này. Tất cả những cái gọi là ký ức, phán đoán, tưởng tượng, tình cảm, nhận thức… đều nằm trong quy luật nhân quả. Chính giấc mộng, sinh hoạt vô thức, bệnh tâm thần, stress, họ cũng tìm ra quy luật và giải mã nó để tìm phương pháp chữa trị… Những hiện tượng như thuật thôi miên, thần giao cách cảm, truyền đạt tư tưởng, tìm ra mộ người thân, chữa bệnh bằng tư tưởng… đều là nhân quả của tâm. Điều này, các tôn giáo Đông phương đã thực đi trước bằng các khả năng thiên nhĩ thông, thiên nhãn, tha tâm thông… Có những ví dụ gần gủi và thực tế như:

- Khi tâm định thì phát sinh hỷ lạc.

- Khi các tâm sở thiện có mặt thì thân tâm thư thái nhẹ nhàng, an vui….

- Khi các tâm sở bất thiện có mặt thì thân tâm ta nặng nề, bất an, nóng nảy, trì trệ, bộp chộp, bất an….

- Khi thấy người thân qua đời thì buồn chảy nước mắt.

- Thấy rắn thì sợ.

- Trúng số thì vui.

- Bị phỉ báng, nhục mạ thì buồn khổ.

- Nếu thường làm các việc ác thì thường thấy cảnh chiến tranh hay mộng dữ… Tâm và pháp tương tác nhau để sinh ra các tâm lý chủ quan “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

5. Định luật về nghiệp (kamma-niyàma): định luật về nghiệp báo, nói đủ là nhân quả nghiệp báo. Khi nói đến nghiệp báo thì phải có tác nhân của nghiệp và kết quả của nghiệp.

 Chính ở đây mới nói đến nghiệp báo, sự chi phối của nghiệp báo và thoát khỏi nghiệp báo. Ta có thể dẫn nhiều ví dụ:

- Ta làm một việc xấu ác bị người khinh ghét và bị tù tội….

Phân tích: làm việc xấu ác là nhân, bị người khinh ghét, bị tội tù là quả. Do biết lẽ nhân quả nên ông A nhẫn chịu sự đau khổ xảy ra mà tâm không hề oán trách, than van sầu muộn hay sinh tâm ác, hay hận thù với ai. Đây là trường hợp có nhân có quả nhưng không có nghiệp báo. Ông B thì trái lại, cho nên cái quả khinh ghét hoặc tội tù ấy càng gia tăng, có thể dẫn đến những hành động hoặc ý nghĩ sai lầm khác nữa. Ông B bị nghiệp báo chi phối.

Qua ví dụ trên, ta biết rõ, quyết định về nhân hay về quả của nghiệp báo chính là tâm niệm, ý tưởng, ý chí (cetanà - tư tâm sở) là tâm sở chủ động các trạng thái tâm lý

Trong 5 định luật trên, 4 định luật đầu là định luật tự nhiên, chúng xảy ra theo tiến trình nhân quả nhưng không theo nghiệp báo. Định luật thứ 5 này mới xảy ra theo nhân quả nghiệp báo. Những hành động và phản ứng tâm lý có ý thức, mang tính đạo đức, luân lý (thiện, bất thiện, bất động) mới tạo ra báo ứng của nghiệp. Đây là những quyết định, những chủ đích, những hành động có đầu tư ý chí của mỗi cá nhân. Tuy là nghiệp riêng biệt (biệt nghiệp) của cá nhân nhưng nó có ảnh hưởng đến toàn bộ xã hội và nhân loại (cộng nghiệp).

Như vậy, chúng ta phải biết rõ đâu là nhân quả khách quan, đâu là nghiệp báo chủ quan. Cả 4 định luật đầu đều xảy ra theo tiến trình nhân quả. Phạm vi của chúng rất rộng lớn. Nếu chúng ta không thấu triệt dễ sinh ra ngộ nhận, cái gì cũng đổ thừa cho nghiệp thì oan cho ba đời chư Phật.

Dù đức Phật có ra đời hay không thì 4 định luật trên đều chi phối vạn vật. Đức Phật không hề dạy tu tập để chấm dứt các định luật ấy. Giáo pháp và giới luật do Đức Phật dạy để giúp ta không tạo nghiệp ác và giải thoát nghiệp báo ở định luật thứ năm. Nhưng ta cần phải thấu rõ các định luật ấy để không bị đau khổ, sợ hãi vì không hiểu biết chúng.

Nếu là nhân quả tự nhiên thì nó máy móc, khách quan, nhưng nhân quả nghiệp báo thì còn do tâm quyết định. Chính ở nơi tâm mới nói đến tâm nhân và tâm quả. Còn có cả triệu định luật khác không được gọi là nhân mà chỉ là duyên, thuận hay nghịch tác động, ảnh hưởng lên nhân ấy.

(lược trích Học Phật căn bản II - chùa Huyền Không)

Nghiệp là gì ? Nghiệp là hành động bằng thân và miệng do tác động của ý chí (cetanà). Hành động với sự cố ý như thế là tạo ra nghiệp, thành tựu nghiệp đạo và tất nhiên sẽ đưa đến quả báo tương xứng. Đức Phật dạy: “Này các tỳ kheo! Như lai nói tư chính là nghiệp” (Cetan ‘aham bhikkhave kammam vadàmi - Anguttara Nìkàya). Tư chỉ cho ý chí của các hành động thiện ác thuộc dục giới và tâm bất động của sắc và vô sắc giới.

Khi ý chí đã đạt được mục đích mà nó mong muốn thì nghiệp đạo căn bản được thành tựu. Nghiệp đạo là con đường đưa nghiệp nhân đến nghiệp quả. Quá trình thành tựu nghiệp đạo dù thuộc thân hay ngữ cũng phải đi qua 3 giai đoạn. Một là gia hành của nghiệp đạo là giai đoạn chuẩn bị cho hành động. Hai là căn bản nghiệp đạo lúc hành vi đạt được mục đích mong muốn. Ba là hậu khởi của nghiệp đạo, sự tiếp diễn của hành động sau khi căn bản nghiệp đạo đã thành tựu. (tham khảo Yết ma yếu chỉ - trích Câu xá - của HT Trí Thủ)

Nghiệp đạo có nhiều loại nhưng được biểu hiện bằng ba loại là nghiệp thân, miệng và ý. Về mặt tính chất thì chia làm 3 là thiện nghiệp, ác nghiệp và nghiệp bất động (thiền định).

Nghiệp ác (akusala kamma) có mười:

Về thân có 3 là sát sinh, trộm cắp, tà dâm.

Về miệng có 4 là nói dối, nói chia rẽ, nói thô ác, nói phù phiếm nhảm nhí.

Về ý có 3 là tham, sân, si.

Nghiệp thiện (Kusala kamma) có mười; ngược lại mười nghiệp ác trên.

Nghiệp bất động (ànanja kamma) là các tầng định thuộc sắc và vô sắc giới do Tư tâm sở làm phát sinh các thiền chỉ.

Như vậy, ở dục giới, hành động thân, miệng và ý của chúng ta thường xuyên tương ứng với mười nghiệp ác do vô minh và ái dục làm nhân duyên. Khi nào chúng ta còn vô minh, ái dục thì vẫn còn hành động theo mười nghiệp ác. Do đó, tuy chúng ta có đặt ra luật pháp, đạo đức, luân lý để ngăn chận các nghiệp ác nhưng chúng vẫn bị hạn chế bởi không gian và thời gian, bởi những tiêu chuẩn thiện ác, đúng sai, tốt xấu dựa trên khái niệm chủ quan mà đặt ra, như đã nêu ở trên.

Khác nhau giữa nghiệp đạo và giới luật:

Một người hành động theo mười nghiệp ác, xét ra họ không thể sám hối mà hết. Họ cũng không bị Thượng đế nào trừng phạt cả mà chính luật nhân quả với sự tác động của nghiệp đạo làm cho họ phải chịu quả báo tương xứng với nghiệp mà họ đã làm. Như thế, muôn tiêu diệt hay vô hiệu hoá nghiệp đạo đã làm thì phải bằng cách làm nhiều thiện nghiệp để hóa giải. Ví dụ ta nấu một nồi canh lỡ cho muối nhiều, bị mặn, thì phải xử lý bằng cách cho thêm nước, bột ngọt, đường vào thì vị mặn sẽ giảm đi và có thể ăn được. Nếu cũng lượng muối ấy, nếu cho vào một khối nước thì sẽ bị tiêu mất.

Để ngăn chận các hành vi của thân, miệng, ý không tạo các nghiệp đạo ác, người Phật tử phải thọ giới. Khi đã thọ giới, chúng ta nhờ năng lực hộ trì, ngăn chận của giới làm cho chúng ta không làm các nghiệp ác.

Giới luật là gì? Giới luật (sìla, vinaya) có nghĩa là hộ trì, bảo vệ, là những điều cần phải học (sikkhà pada - học xứ - như học xứ không sát sinh) bằng tự nguyện. Giới không hề có ý nghĩa bị bắt buộc phải thọ, phải giữ như luật pháp hay nội quy. Ngoài ý nghĩa xã hội, giới chú trọng đến mặt Thánh đạo nên còn gọi là luật nghi (Samvara). Khác với luật pháp bị hạn chế bởi không gian, thời gian, đối tượng, trường hợp, luật nghi bao trùm cả năm chi phần: đối với bất cứ hữu tình (động vật); đối với bất cứ thời gian nào; đối với bất cứ nơi đâu; đối với bất cứ trường hợp nào; đối với bất cứ phương tiện nào để làm ác (xem Câu xá 15 - Đại chính 29, tr 78b). Chính luật nghi là cơ sở phòng hộ người có thọ giới được sống an ổn và đi vững vàng trong Thánh đạo, nền tảng cho chánh niêm, tỉnh giác để đi vào định và tuệ tiến đến giác ngộ giải thoát.Giới luật còn có chức năng rất qu