Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


...... ... .

 

 

TẬP SAN PHÁP LUÂN

PHỤ BẢN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC

Số 1 - Mùa Đông - PL 2548

 

Mục Lục

 

Lời giới thiệu - BBT.

Công án Thiền là một đối tượng nhận thức? - Đại Lãn.

Học thuyết vô ngã trong Phật Giáo - Trí Nguyệt.

Khung cảnh lịch sử quanh bộ kinh “Milinda vấn đạo” (Milinda-panhà) của Phật Giáo - Trần Trúc Lâm.

Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi lưỡi gươm vàng trí tuệ - Tâm Hà.

Sơ lược vài nét về Thiền thời Trần - Thông Nhã.

Lòng thành tưởng niệm Quán Âm - Thích Đồng Thành.

Nguồn gốc văn bản của kinh Quán vô lượng thọ: Kinh văn của Tịnh độ tông - Nhuận Châu.

Phật Đài Dhammakaya một kỳ quan của Phật giáo thế giới trong thời hiện đại - Thích Nguyên Tạng.

Khúc ngâm Tỳ Bà Hành - Quảng Anh.

Quê Tôi - Quang Tuệ.

Tình yêu Nhật Nguyệt - Mộng Yên Sinh.

 

 

 

Lòng thành tưởng niệm Quán Âm

 

Thích Đồng Thành 

Tắc thứ tám mươi chín của Bích Nham Lục có kể lại cuộc đối thoại giữa hai môn đồ của Thiền sư Dược Sơn là Vân Nham và Đạo Ngô như sau: Vân Nham hỏi Đạo Ngô: “Bồ-tát Đại bi dùng nhiều tai mắt để làm gì?” Đạo Ngô đáp: “Ví như một người với tay ra sau mò được chiếc gối lúc giữa đêm.” Vân Nham nói: “Tôi hiểu rồi.” Đạo Ngô hỏi: “Ông hiểu gì?” Vân Nham đáp: “Toàn thân là tay mắt.” Đạo Ngô nói: “Dù nói đến tột cùng cũng chỉ được tám phần.” Vân Nham bèn hỏi: “Huynh thì thế nào?” Đạo Ngô đáp: “Khắp thân là tay mắt.”… Đây là một trong vô số mẫu chuyện nói đến hạnh nguyện và oai lực của đức Quán Thế Âm, vị Bồ-tát nổi tiếng về lòng từ bi và công hạnh độ sanh trong đời ngũ trược của cõi Ta-bà suốt bao thiên niên kỷ qua. Xưa cũng như nay, hình ảnh của Ngài vẫn mãi tỏa sáng giữa thế giới mộng tưởng đam mê, siêu việt cả thời gian tương tục sanh diệt và không gian biến hoại chập chùng, tỏa khắp mọi phương trời Á Đông, từ thung lũng Kashmir của Ấn Độ đến đỉnh Potala của Tây Tạng, từ Phổ Đà Sơn của Trung Quốc đến hải đảo Fudaraku của xứ Phù Tang xa xôi. Theo dòng thời gian, Quán Thế Âm đã trở thành một biểu tượng cứu khổ, độ sanh cao đẹp và ý nghĩa nhất trong Phật giáo.

Thiền sư Đạo Nguyên (1200-1253), Sơ tổ dòng Tào Động của Nhật Bản, khi bình giải về công án trên đã cho rằng “toàn thân” hay “khắp thân” đều đúng đắn, đều toàn hảo, và nó ám chỉ đến trái tim và cơ thể thấm nhuần lòng từ bi của đức Quán Thế Âm. Ngàn tay là một biểu tượng cho tám vạn bốn ngàn hay chỉ cho vô số cánh tay khác của một vị Bồ-tát đang lắng nghe, cảm thấu và hòa nhập vào những âm thanh thống thiết của thế nhân để rồi từ đó mang đến cho đời một niềm tin và ước vọng hướng thượng, thanh cao và trong sáng.

Thử nhìn vào đời sống của một người phàm tục, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy rằng tâm thức của người ấy luôn bị vây hãm bởi những vọng tưởng, xao động, khao khát và lo âu. Những cảm xúc ấy như một dòng chảy êm đềm hay ồ ạt, cuộn theo mình những hợp chất của tiếc nuối, u hoài, sung sướng, sợ hãi… trước những thăng trầm, thành hoại của cuộc tồn sinh. Tâm thức như thế thường làm cho cuộc sống con người trở nên hoang mang, vô định hướng và hình như họ không bao giờ cảm thấy thỏa mãn với những gì mình đang có trong tầm tay. Cảm thông với nỗi niềm bi thương đó, dù đã thành tựu Phật quả trong đời quá khứ với danh hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai (kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đà La Ni), đức Quán Thế Âm đã phát đại nguyện hành Bồ-tát hạnh để xoa dịu đi những nỗi đau thương, lo âu trong trái tim của muôn loài chúng sanh trong lục thú. Theo phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, Ngài thường thị hiện trong ba mươi hai hóa thân, hoặc nam hay nữ, giàu hay nghèo, tại gia hay xuất gia, trú ngụ giữa chốn núi non vắng vẻ hay nơi biển cả mênh mông, giữa phố thị huyên náo hay đồng quê êm ả để mang tinh chất từ bi và tuệ giác đến cho những tâm hồn đang chơi vơi, sầu khổ, đang khát khao một niềm an tịnh, tự tại trong cuộc sống thường nhật của mình.

Danh từ Quán Thế Âm được dịch từ chữ Avaloki-
tesvara trong Phạn ngữ. Thuật ngữ Avalokitesvara được dùng phổ biến hơn hai từ khác cũng chỉ cho đức Quán Thế Âm là Avalokita và Avalokitasvara. Các dịch giả Trung Hoa thường phiên dịch từ Avalokitesvara ra nhiều nghĩa khác nhau, như là: Quán Thế Âm, Quán Thế Tự Tại, Quán Tự Tại, Hiện Âm Thanh… và trong số này, Quán Thế Âm là danh hiệu phổ biến nhất.

Tín ngưỡng Quán Âm xuất hiện đầu tiên tại miền biên giới Tây Bắc Ấn Độ với sự phổ biến trên phương diện học thuật và hành trì của ba bộ kinh nổi tiếng là: Diệu Pháp Liên Hoa kinh, Tịnh Độ kinhQuán Vô Lượng Thọ kinh. Niềm tin về đức Quán Thế Âm càng trở nên sâu đậm và mạnh mẽ trong trái tim người Phật tử Ấn Độ vào những kỷ nguyên đầu của Tây lịch. Những hình thái điêu khắc đa dạng cùng những thi kệ tán thán những công hạnh của đức Quán Thế Âm còn lưu lại cho đến ngày nay tại các thánh tích Phật giáo ở Ấn Độ đã phần nào nói lên được vai trò của tín ngưỡng này trong văn hóa Phật giáo tại xứ sở này. Bên cạnh đó, những ghi chép của ngài Pháp Hiển và những linh cảm nhiệm mầu mà pháp sư Huyền Trang đã tự thân thể nghiệm trong hành trình cầu pháp được ghi lại trong cuốn Đại Đường Tây Vức Ký đã cho thấy sự phổ biến của tín ngưỡng này khi Phật giáo Đại thừa hưng thịnh tại Ấn Độ.

Quán Thế Âm cũng là vị Bồ-tát được tôn thờ nhiều nhất tại Trung Hoa. Việc tôn thờ này có lẽ được bắt đầu vào cuối thế kỷ I AD. Nhờ vào sự phiên dịch, in ấn, truyền bá của kinh Pháp Hoa và những bộ kinh khác liên quan đến đức Quán Thế Âm kéo dài từ thế kỷ III đến thế kỷ VII, và từ đó tín ngưỡng Quán Thế Âm đã được truyền bá sâu rộng trong nhân gian. Từ cuối thế kỷ IV, một số nhà sư và tín đồ Phật giáo đã để công trước tác, sưu tầm những mẫu chuyện về sự linh diệu của đức Quán Thế Âm mà họ đã nghe hoặc đọc được. Một trong những bằng chứng cho thấy sự phổ biến của tín ngưỡng này trong văn hóa Trung Hoa là trong số 42.000 văn bản Phật học được tìm thấy tại động Đôn Hoàng có đến 1.048 bản kinh Pháp Hoa và 200 bản Phổ Môn như những bản kinh riêng biệt.

Trong suốt thế kỷ IV đến thế kỷ VI, người Trung Hoa chứng kiến một sự xáo trộn, biến thiên lớn trong xã hội. Những bộ tộc được xem là thuộc vùng man di ở phía Bắc tràn xuống và xâm lược Trung Nguyên. Họ nắm giữ quyền lực tại cái nôi văn minh Trung Hoa và sau đó buộc những người trí thức và nông dân di cư đến lưu vực sông Dương Tử để rồi lập nên một kinh đô mới tại nơi ấy. Riêng những ai còn bám trụ lại phía Bắc phải chịu sự cai trị của một chế độ hà khắc. Thêm vào đó, những thiên tai như lũ lụt, dịch bệnh, đói kém xảy ra khắp nơi, những cuộc nổi loạn chống lại triều đình nổ ra, đất nước thì bị chia cắt bởi những tập đoàn thống trị đối kháng nhau. Sự biến động đó trầm trọng đến nỗi một số nhà văn đương thời hoảng sợ và liên tưởng đến ngày tận thế của nhân loại. Chính trong bối cảnh như thế, niềm tin về sự hộ trì của đức Quán Thế Âm đã được thắp sáng trong những trái tim đầy dẫy những tuyệt vọng, hãi hùng, hướng cuộc đời họ đến một chân trời xán lạn hơn, và như thế việc tôn thờ đức Quán Thế Âm đã nhanh chóng phổ biến trong mọi tầng lớp của xã hội đương thời.

Vào cuối đời Đường (618-907) và trải dài đền đời Tống (960-1279), hầu hết hình tượng đức Quán Thế Âm được khắc họa trong dáng người nữ, một biểu tượng thâm thúy nhất về tình thương trong cuộc sống. Đây có lẽ là giai đoạn mà tín ngưỡng Quán Thế Âm được phổ biến và phát triển mạnh mẽ nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Đối với người Trung Hoa, Phổ Đà sơn là một trong những thánh tích thiêng liêng vì nó được xem là trú xứ của Bồ-tát Quán Thế Âm. Rải rác trong Đại tạng kinh và trong các hang động Phật giáo, có gần năm trăm mẫu chuyện nói về sự vi diệu của đức Quán Thế Âm. Một trong những mẫu chuyện ấy như sau:

Vào thời nhà Tấn có một nhà sư tên là Trúc Pháp Nghĩa trú tại núi Bảo sơn thuộc vùng Thỉ Ninh. Sư đã vân du khắp nơi và học được giáo nghĩa của nhiều bộ kinh nổi tiếng, đặc biệt là kinh Pháp Hoa, môn đồ theo học với Sư có đến hàng trăm người. Vào năm 372, Sư đột nhiên ngã bịnh, nghe tim mình đau nhức lạ lùng. Sau một thời gian chữa trị bằng nhiều cách khác nhau, thấy bệnh tình không thuyên giảm, Sư bèn dốc lòng thành tâm qui ngưỡng và trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm. Vài ngày sau đó, trong một giấc mộng, Sư thấy có một vị Tăng đến trị bệnh cho mình. Để trị bệnh cho Sư, vị Tăng kia đã mổ ruột và bao tử của Sư. Sư thấy trong đó có nhiều vật bất tịnh. Sau khi dọn sạch những cấu uế trong ruột và bao tử của Sư, vị Tăng ấy bảo: “Bệnh của ông đã dứt.” Lúc tỉnh dậy, Sư thấy mình đã được bình phục, vết mổ cũng đã lành lặn từ khi nào. Khi ấy, Sư bỗng nhớ đến lời kinh Phổ Môn: Người đáng dùng thân Tỳ-kheo, Sa-môn để hóa độ thời Bồ-tát Quán Thế Âm liền hiện thân ấy mà thuyết pháp giáo hóa.

Trong tiếng Nhật, những danh từ Kwannon, Kannon, Kanzeon hay Kanjizai được dùng để chỉ cho Bồ-tát Quán Thế Âm. Tín ngưỡng Quán Thế Âm có lẽ đã được truyền đến Nhật ngay sau khi Phật giáo du nhập vào đảo quốc này. Pho tượng Quán Âm tại chùa Pháp Long, nơi Thánh Đức Thái tử thường chiêm bái đã được tạc theo lệnh của chính Thái tử. Một số sử gia cho rằng tín ngưỡng này xuất hiện ở Nhật vào thời hoàng thái hậu Sui Ko (593-628), khoảng bốn mươi năm sau khi Phật giáo được truyền đến Nhật. Vào năm 686, triều đình Nhật đã cho tạc một trăm pho tượng Bồ-tát Quán Thế Âm, thỉnh chư Tăng tụng hai trăm biến kinh Phổ Môn để kỳ an cho hoàng đế Temmu. Sang thế kỷ VIII, tín ngưỡng Quán Thế Âm đã nhanh chóng được truyền khắp xã hội Nhật và hầu hết người dân đều tôn thờ Ngài, ngoại trừ tín đồ Thần Đạo. Năm 728 Shomitenno, triều đình đã cho tạc 177 pho tượng Quán Âm và cho in 177 bản kinh Phổ Môn để cầu nguyện cho hoàng thái tử đang bị trọng bệnh. Đến năm 740, theo lệnh của triều đình mỗi tỉnh trong nước đều phải tạc một pho tượng Quán Âm để cầu quốc thái dân an. Một trong những bức tượng Quán Âm nổi tiếng thời bấy giờ là tượng đức Quán Thế Âm thập nhất diện được khắc từ một loại gỗ quý tại tỉnh Omi. Trong số ba mươi hai loại hình đức Quán Thế Âm trong những tư thế khác nhau trong văn hóa Nhật, các hình tượng Bạch Y Quán Âm, Quán Âm Tống Tử, Quán Âm Thập Nhất Diện, Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn là những mẫu tượng phổ biến nhất. Nếu Phổ Đà Sơn là thánh tích của đức Quán Thế Âm ở Trung Hoa thì Fudaraku là trú xứ của Ngài tại Nhật Bản. Có thể nói mục đích của việc tạo tượng, thờ tự đức Quán Thế Âm, việc in ấn và trì tụng kinh Phổ Môn là để gây tạo phước lành, nhất là để cầu nguyện cho những ai đang gặp phải những tai ương hiểm nạn và cầu nguyện cho sự thanh bình của quốc gia. Tín ngưỡng như thế không chỉ giới hạn trong các tu viện Tịnh độ tông, mà hầu như các thiền sư và thiền viện đều qui ngưỡng. Ta có thể hiểu được điều này qua một giai thoại về ngài Đạo Nguyên như sau:

Năm 23 tuổi, Đạo Nguyên lên đường sang Trung Hoa mong tìm được những giải đáp thỏa đáng cho những nghi vấn trong tâm mình. Bốn năm sau đó, khi đã lãnh hội được diệu nghĩa của dòng thiền Tào Động, Ngài lên tàu về lại cố hương. Khi thuyền đang lênh đênh giữa trùng dương, một cơn bão lớn nổi lên, mọi hành khách và thủy thủ đều lo sợ những cơn sóng dữ sẽ nhấn chìm cả thuyền, mọi cặp mắt đều đổ dồn vào nhà sư như cầu cứu. Liền khi ấy, ngài Đạo Nguyên liền tĩnh tọa và trì tụng Phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, một lát sau Ngài bỗng thấy đức Quán Thế Âm hóa hiện trên những cơn sóng dữ, Ngài tiếp tục trì niệm và lạ lùng thay liền sau đó biển lại dịu yên như trước. Lúc ấy, ngài Đạo Nguyên vội khắc lên mạn thuyền hình đức Quán Thế Âm mà Ngài đã thấy. Khi thuyền cập bến tại Kyushu, một vị Tăng địa phương bèn thỉnh bức họa đó về chùa để thờ phụng.

Niềm tin về đức Quán Thế Âm cũng được phổ biến trong nhiều quốc gia Phật giáo khác như Tây Tạng, Tích Lan. Người Tây Tạng gọi Ngài là Chenrezigs, nữ thần Từ Dung. Tín ngưỡng này xuất hiện ở Tây tạng vào cuối thế kỷ VI AD khi vua Srong tsansgam Po và sau đó là đức Dalai Lama được xem là hóa thân của Bồ-tát Quán Thế Âm. Cuốn Mam bkha-hbum, một tác phẩm lịch sử Tây Tạng có diễn tả rằng đức Quán Thế Âm được sinh ra từ ánh sáng màu trắng trong ánh hào quang tỏa ra từ mắt phải của đức Phật A Di Đà trong khi đang nhập định. Người Tây Tạng tin rằng Ngài là vị hộ trì cho dân tộc và Phật giáo Tây Tạng cho đến khi đức Di Lặc thành Phật tại cõi Ta-bà. Lời chú Ngọc báu trong hoa sen (Án-ma-ni-bát-di-hồng) là câu chú mà người Tây Tạng vẫn trì niệm hàng ngày. Điện Potala, nơi cư trú của đức Dalai Lama cũng là danh từ được phiên âm từ chữ Potalaka, trú xứ của đức Quán Thế Âm mà kinh Hoa Nghiêm đã đề cập.

Sự phổ biến của tín ngưỡng Quán Thế Âm trong các quốc gia Đông Á đã cho thấy giá trị của bức thông điệp cứu khổ cũng như công hạnh của vị Bồ-tát này đã cảm hóa được vô lượng tâm hồn đang khát khao một niềm an lạc thật sự trước những đổi thay của cuộc sống.

Có thể nói phẩm tính siêu việt nhất của đức Quán Thế Âm là hạnh từ bi, một suối nguồn tình thương vô tận tỏa khắp đến mọi loài hữu tình. Tất nhiên tình thương đó không phải là năng lực khát ái mù quáng, một trong mười hai mắc xích của vòng luân hồi, mà là niềm mong ước cho chúng sanh được vơi đi những khổ đau và được sống trong an lành, hạnh phúc. Trong Phật giáo Nguyên thủy, từ và bi là hai tâm vô lượng để hướng tâm hồn hành giả đến trạng thái cao thượng nhất. Đó cũng là những phẩm chất cao đẹp trong nếp sống thuần thiện và đạo đức của mỗi người. Đại Trí Độ luận đã giải thích ý nghĩa của hai thuật ngữ này như sau: “Từ là tâm niệm thương yêu chúng sanh, luôn mong cầu việc an ổn, lợi lạc để nhiêu ích loài hữu tình. Bi là lòng lân mẫn đối với những chúng sanh đang chịu vô lượng khổ đau về thể xác lẫn tinh thần trong năm nẻo luân hồi.” Quyển thứ 27 của bộ luận này cũng giải thích rằng hạnh từ bi của chư Phật và Bồ-tát được gọi là đại từ và đại bi thuộc mười tám pháp bất cộng của Phật quả, còn hạnh từ bi của hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật được gọi là tiểu từ và tiểu bi thuộc bốn tâm vô lượng. Điểm khác biệt ở đây là hàng Thanh Văn và Bích Chi với lòng từ bi luôn mong muốn chúng sanh thoát khổ, được vui, nhưng chưa đủ khả năng để thực hiện việc ấy, trong khi đó cũng với ước vọng ấy chư Phật và Bồ-tát còn giúp chúng sanh thoát mọi khổ đau và an trú vào niềm vui chân thật. Chư Phật và các bậc Bồ-tát cùng thi thiết nhiều phương tiện độ sanh thâm diệu, nhưng chư Bồ-tát chưa thành tựu được Phật nhãn nên diệu dụng không thể sánh với Chư Phật. Bồ-tát Quán Thế Âm vốn là vị cổ Phật, vì thương tưởng chúng sanh nên thị hiện là Bồ-tát. Tuy hành Bồ-tát hạnh nhưng Ngài luôn an trú vào tâm đại từ bi của chư Phật mà thi thiết vô số phương tiện độ sanh.

Hạnh từ bi của đức Quán Thế Âm được diễn tả trong kinh Pháp Hoa và kinh Quán Vô Lượng Thọ như là một nguồn năng lượng chói sáng, siêu việt những đối đãi để lắng nghe và hóa giải những dư âm thống thiết của dòng đời. Dù cảnh giới của Ngài chính là cõi Ta bà nhưng tùy theo tâm nguyện của hành giả mà Ngài có thể tiếp dẫn những chúng sanh nào muốn sanh về cõi Tây Phương.

Có nhiều người thường hay ôm ấp những nỗi ray rứt thầm kín trong lòng và cũng chẳng buồn chia sẻ, thổ lộ cùng ai. Nỗi đau vì bệnh tật của thể xác là thường tình, nhưng nỗi đau của tâm hồn mới đáng lo hơn vì nó bào mòn nghị lực và niềm tin, đưa con người vào hố sâu của tuyệt vọng và bất lực. Một chúng sanh với nhục nhãn và tri kiến thế tục xem những ai rơi vào cảnh ngộ đó thì chẳng khác chi lạc vào một con đường cùng không lối thoát, nhưng với tri kiến siêu thế và tuệ nhãn của mình, Bồ-tát Quán Thế Âm nhận ra rằng trong đống tro tàn nguội lạnh của sự tuyệt vọng kia vẫn còn le lói những tia sáng của những hòn than tự tánh vẫn hằng âm ỉ lâu nay. Lúc ấy, Người như một bà mẹ hiền bình dị, nhẫn nại và bao dung mở rộng vòng tay, ôm ấp và sưởi ấm những tâm hồn cô quạnh ấy, để rồi khơi dậy niềm tin và sức sống vẫn hằng tiềm ẩn trong họ.

Kinh Pháp Hoa còn nói rằng những ai cầu bình an giữa muôn trùng sóng dữ, cầu sự an ổn giữa muôn ngàn binh đao, cầu sự thanh cao giữa vô vàn dục lạc… với tâm niệm thành kính đều có thể cảm ứng được với đức Quán Thế Âm. Tâm niệm thành kính đó chính là tâm hướng thượng, nhiếp phục các căn, an trú trong chánh niệm thuần thiện. Cũng ví như một tấm gương trong cõi trần, nếu là tấm gương sáng nó mới có khả năng soi bóng của vạn vật xung quanh, như mặt hồ yên tịnh trong suốt mới in được ánh trăng rằm sáng soi giữa thâu đêm cô tịch. Sự hội ngộ hay cảm ứng ấy không đơn thuần chỉ là sự gặp gỡ bình thường giữa hai cá thể mà đó là sự hòa điệu của diệu dụng thánh thiện trong thể tánh vô biên.

Một trong những danh hiệu khá phổ biến của đức Quán Thế Âm là Quán Tự Tại. Cách dịch này của ngài Huyền Tráng rất sát nghĩa với chữ Avalokitesvara trong khi chữ Quán Thế Âm (theo cách dịch của Ngài Cưu ma La Thập) lại gần với chữ Avalokitasvara trong Phạn ngữ. Theo ý nghĩa thông thường, chữ “tự tại” ở đây có nghĩa là tự do, an nhiên, không còn chướng ngại, chỉ cho người đã giải thoát mọi triền phược xung quanh. Trên một phương diện khác, chữ “tự tại” này còn có nghĩa là sự hiện hữu (tại) của tự thân (tự). Như vậy “tự tại” ở đây không phải chỉ cho sự an nhiên của một thế giới xa xôi nào khác mà là chỉ cho sự hiện hữu của chính mình. Trong ý nghĩa đó, Quán Tự Tại có nghĩa là quán chiếu, xem xét sự hiện hữu của chính mình. Điều này được thể hiện qua lời đầu tiên trong Tâm kinh Bát nhã: “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách.” Bằng sự quán chiếu về bản chất của tự ngã cũng như sự hoạt hiện, vận hành của nó, Bồ-tát đã nhận ra được tính không (Sunyata) tối hậu đằng sau sự giả hợp của năm uẩn, của danh và sắc và đó chính là sự trực nhận thực tại với trí tuệ viên mãn. Với trí tuệ đó, Bồ-tát không thấy sự tách biệt giữa mình với chúng sanh, không một pháp nào có thể tồn tại độc lập, và qua đó Bồ-tát thấu hiểu được những tâm tư chân thành của mọi chúng sanh. Bằng sự quán chiếu tự ngã, sự trực ngộ tánh không của các pháp, với phương tiện từ bi và trí tuệ thâm sâu ấy, Bồ-tát đã tự thân và dẫn dắt chúng sanh vượt qua những khổ đau, tai ách trong dòng đời. Đây chính là năng lực tự tại trong tâm vô quái ngại của đức Quán Thế Âm.

Những lo âu, sợ hãi, đau khổ của con người bình thường thường phát sinh từ những nhận thức sai lầm về tự ngã của mình. Ý niệm về một bản ngã trường cửu thường đưa lối cho người ta tìm đến hạnh phúc của cá nhân mà quên đi vòng tay yêu thương của đồng loại. Hạnh nguyện của đức Quán Thế Âm không chỉ là cứu độ chúng sanh ra khỏi những khổ đau hiểm nạn tạm thời mà qua đó Ngài còn giúp họ nhận chân được những tâm niệm luyến ái, vô minh và chấp thủ của bản ngã. Thiền sư Đạo Nguyên có một câu nói rất nổi tiếng như sau: “Học đạo là học tự ngã, học tự ngã là để quên đi cái tự ngã ấy…” Có quên đi tự ngã như thế chúng ta mới có thể học theo hạnh lắng nghe, quán chiếu của đức Quán Thế Âm, và lúc đó ta có thể lắng nghe âm thanh vô thường từ tiếng thát đổ ào ạt, nghe bài học vô ngã trong tiếng gió vi vu bên đồi thông, nghe bài học khổ đau qua cảnh sanh, lão, bệnh, tử đang diễn ra trong từng sát na ở xung quanh ta và trong chính ta.

Kinh Lăng Nghiêm có nói đến pháp môn tu trì của đức Quán Thế Âm là pháp môn Nhĩ căn viên thông, một pháp môn mà Ngài đã học được với một vị cổ Phật trong nhiều đời trước. Mục đích của pháp môn này là an trú trong tam muội để chuyển dụng khả năng nghe những thinh trần bên ngoài và trở lại nghe tự tánh của mình. Khi những hình tướng sanh diệt đã biến mất thì tánh vắng lặng rỗng không hiển hiện, đến lúc đó những đối đãi của năng sở, người nghe và âm thanh cũng không còn hiện khởi. Chính trong trạng thái nhất như ấy mà tâm hành giả trở nên linh hoạt, trên thì dung thông với oai lực mười phương chư Phật, dưới thì thấu cảm những mong cầu tha thiết của chúng sanh.

Thông điệp mà đức Quán Thế Âm đã mang đến cho đời chính là thông điệp thương yêu, nhẫn nại và sự tỉnh thức tự nội để quay về với con người thật của chính mình. Nếu cuộc đời không có những chúng sanh đau khổ, không còn những tâm hồn chơ vơ thì có lẽ Bồ-tát cũng không dùng đến một tay hay một mắt, huống chi là nghìn tay, nghìn mắt. Tâm từ bi, hạnh kiên nhẫn, khả năng lắng nghe, trái tim đồng cảm…không chỉ có trong đức Quán Thế Âm mà nó còn tiềm ẩn trong con tim của mỗi người. Nếu một người nào luôn thọ trì danh hiệu hay qui ngưỡng về vị Bồ-tát từ bi ấy mà không biết nuôi lớn những hạt giống thuần thiện đó thì ước nguyện về sự giao cảm đó khó có thể thành tựu. Do vậy nếu hành giả biết quay về với thế giới nội tâm, quán chiếu về tự ngã để thành tựu tri kiến như thật về các pháp thì lúc đó vị ấy sẽ hiểu được “vì sao Bồ-tát từ bi lại dùng nhiều tay mắt” và vì sao “khắp thân là tay mắt” như cuộc đối thoại giữa Vân Nham và Đạo Ngô ngày xưa vậy.

 

Tài liệu tham khảo:

Bích Nham Lục, T48n 2003

Chandra, Lokesh. The Thousand-armed Avalokitesvara, New Delhi: Abhinav, 1988

Đại Trí Độ Luận, Quyển 20, 27, 40,T25n1509

Eliade, Mircea. The Encyclopedia of Religion, Vol. II, New York: Collier Macmillan Publishers, 1987

Leighton,T.D. Faces of Compassion, Boston: Wisdom Publications, 2003

Lopez, Donald, Jr.Religion of China in Practice, New Jersey: Princeton University Press, 1966

Malalasekera,M.P.Encyclopadia of Buddhism, Vol. II, Ceylon: The Government Press, 1966

Visser, M.W. Ancient Buddhism in Japan, Leiden: E.J. Brill, 1935

 

---o0o---

Mục Lục

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 1-1-2005

 

Webmaster:quangduc@tpg.com.au

Trở về Trang Tập San Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au