Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


...... ... .

 

Tập san Pháp Luân
Đùa Chơi Với Khổ
Số 7- Năm Giáp Thân (11/2004)

Mục Lục

Tứ Đế (tt). - TT. Thích Đức Thắng

Cuộc đời và ánh đạo của Tôn giả Sàriputta (tt) - Trí Lộc

Đùa chơi với khổ  - TT. Thích Thái Hòa

Tìm hiểu về nghiệp  - Hướng Thiên

Một và suy nghĩ về luật nghiệp báo  - Hoàng Nguyên

Hương Sen  - Nguyễn Tường Bách

Đường Tăng trong tâm ta  - TT. Thích Hạnh Thiền

Tương quan giữa Du-già hành tông và Hoa Nghiêm tông (hết)  - Thích Nhuận Châu

Đối mặt với quỷ thần ở trong bạn: Một bức tranh kỳ ảo - Nguyên Châu

■ Thơ: Ngọc Hân, Tuệ Giác, Vĩnh Thi , Quang Tuệ, Mặc Không Tử 

Nói với anh cùng tử - Kim Hoa

Chiếc áo mẹ may - Trí Nguyệt

Trung tâm Phật giáo Luy Lâu, sự hình thành và phát triển   - Tâm Phương

Đào giếng giữa sa mạc - Quang Sơn

Sa di đuổi quạ (tt) - Nguyễn Phước

Tụng kinh, trì chú, niệm Phật - Tâm Minh

Thư gởi Duy Ma Hoàng Anh - Liên Sơn Trung Nhân

Hollywood chuẩn bị thực hiện bộ phim về cuộc đời đức Phật, để kỷ niệm Phật lịch 2550 năm

Toàn thân xá-lợi - Kết quả quá trình tu chứng của các Thiền sư Việt nam

Lòng tri ân của tuổi thơ dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma

 

Tứ Đế

 TT. Thích Đức Thắng

 (tiếp theo)

  DƯỚI ĐÂY LÀ NĂM UẨN:

1/ Sắc uẩn

2/ Thọ uẩn

3/ Tưởng uẩn

4/ Hành uẩn

5/ Thức uẩn.

Sắc uẩn (Skrt: rūpa-skandha, Pāli: rūpakkhandha). Uẩn thứ nhất là chỉ cho thế giới vật thể có thể thấy được, rờ mó động chạm được thuộc về ngoại giới hay có thể hình dung được qua ký ức những hình ảnh còn tồn đọng rơi rớt lại trong nội tâm, và còn có một vài quan điểm ý nghĩ hay tư tưởng ở trong phạm vi là những đối tượng của ý. Chúng bao gồm bốn đại là: đất, nước, lửa, gió, (địa, thủy, hỏa, phong) và những chất do từ bốn đại tạo ra. Trong những sắc chất do từ bốn đại tạo ra nầy gồm có năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) khi tiếp xúc với những đối tượng ngoại giới tương đương với năm căn chính là năm cảnh (hình sắc, âm thinh, mùi, vị), những vật có thể động chạm khi tiếp xúc (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Tất cả thế giới vật thể, thuộc nội tâm cũng như ngoại giới như vậy, chúng đều được xếp vào trong sắc uẩn.

Sắc uẩn được quan niệm như vậy, không những chỉ cho thế giới vật chất, chúng ta có thể nhận thấy qua những hình ảnh bằng mắt, bằng xúc chạm đối với thế giới bên ngoài, mà còn mang những hình ảnh biểu tượng cho đối tượng của tâm thức qua ký ức nữa. Những hình sắc biểu tượng này theo đức Phật dạy trong Kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 1, Tương ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đến kinh 7, đức Phật dạy các Tỳ-kheo là hãy quán sát và tư duy chân chánh về sắc uẩn một cách rõ ràng là vô thường. Tỳ-kheo nào đối với sắc không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục thì không thể đoạn trừ khổ não; tâm không giải thoát, thì không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào đối với sắc mà yêu thích, thì đối với khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào đối với sắc, không biết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát thì sẽ không vượt qua khỏi - sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào yêu thích sắc, thì cũng yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ thì đối với khổ không được giải thoát. Và cũng trong kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 2, Tương ưng I, phần Ngũ uẩn, từ kinh 8 – 12, đức Phật cũng dạy các Tỳ-kheo, sắc quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là sắc hiện tại. Sắc là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hay sắc là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hoặc sắc là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các sắc, chúng cũng vô thường. Vậy, các sắc được sanh ra từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Hay sắc là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các sắc chúng cũng vô thường. Vậy, các sắc được sanh từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Đó chính là những lời dạy của đức Phật cho các Tỳ-kheo về sắc uẩn, qua đây sắc uẩn chính là đối tượng của quan sát và xúc chạm khi năm giác quan tiếp xúc với năm trần cảnh bên ngoài như là chính nó, chưa mang lại cho chúng ta tác ý hay phân biệt nào thì những hình ảnh biểu tượng này, chúng chỉ là những huyễn tướng, chúng mang tính chất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải được chúng ta quan sát và tư duy một cách chân chánh về chúng như vậy, và sau khi chúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậy rồi thì buộc chúng ta phải xa lìa chúng, vì bản thân chúng chính là vô thường, khổ, vô ngã, không có sở hữu. Chúng chính là khổ trói buộc, nên chúng ta muốn giải thoát khổ trói buộc thì phải xa lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa lìa sinh-già-bệnh-chết trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Thọ uẩn (Skt: vedanā-skandha, Pāli: vedanàkkhandha). Uẩn thứ hai là chỉ cho cảm giác. Trong uẩn này bao gồm tất cả những cảm giác vui, khổ, hoặc không vui không khổ, cảm giác được sinh ra từ cảm nhận do sự tiếp xúc giữa những cảm quan vật lý (6 căn) với thế giới bên ngoài (6 cảnh). Những cảm giác này có 6 loại: những cảm giác phát sinh khi mắt xúc tiếp với những hình sắc, tai với âm thanh, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân thể với những vật cứng mềm, và ý (mà trong triết học Phật giáo được xem là quan năng thứ sáu) với những đối tượng của ý thức như tư tưởng, ý nghĩ. Tất cả mọi cảm giác vật lý và tâm lý của ta đều bao hàm trong uẩn này.

Thọ uẩn được quan niệm như vậy, không những chỉ cho cảm giác có được về thế giới vật chất, chúng ta có thể nhận biết qua những trung gian bằng mắt ... bằng xúc chạm đối với thế giới bên ngoài nhờ có tác ý, mà còn mang lại những cảm giác đó trở thành đối tượng của tâm thức qua ký ức nữa. Và những cảm giác này theo đức Phật dạy trong kinh Tạp A-hàm q.1, Đ. 1, phẩm I, Tương ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đến kinh 7, đức Phật dạy các Tỳ-kheo là hãy quán sát và tư duy chân chánh về cảm giác (thọ uẩn) một cách rõ ràng là vô thường. Tỳ-kheo nào đối với cảm giác không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục thì không thể đoạn trừ khổ não; tâm không giải thoát, thì không vượt qua khởi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào đối với cảm giác mà yêu thích, thì đối với khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào đối với cảm giác, không biết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát thì sẽ không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào yêu thích cảm giác, thì cũng yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ thì đối với khổ không được giải thoát. Và cũng trong Kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 2, Tương ưng I, phần Ngũ uẩn, từ kinh 8 – 12 đức Phật cũng dạy các Tỳ-kheo, cảm giác quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là cảm giác hiện tại. Cảm giác là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hay cảm giác là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hoặc cảm giác là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các cảm giác, chúng cũng vô thường. Vậy, các cảm giác được sanh ra từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Hay cảm giác là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các cảm giác chúng cũng vô thường. Vậy, các cảm giác được sanh từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Đó chính là những lời dạy của đức Phật cho các Tỳ-kheo về thọ uẩn, qua đây, thọ uẩn chính là những cảm giác vui, khổ, hoặc không vui không khổ, cảm giác được sinh ra từ cảm nhận do sự tiếp xúc giữa những cảm quan vật lý (6 căn) với thế giới bên ngoài (6 cảnh), sinh ra bởi sự tác ý của ý thức mà có được. Những cảm giác này chúng cũng mang tính chất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải được chúng ta quan sát và tư duy một cách chân chánh về chúng như vậy, và sau khi chúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậy rồi thì buộc chúng ta phải xa lìa chúng, vì bản thân chúng chính là vô thường, khổ, vô ngã, không có sở hữu. Chúng chính là khổ trói buộc, nên chúng ta muốn giải thoát khổ trói buộc thì phải xa lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa lìa sinh-già-bệnh-chết trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

3. Tưởng uẩn (Skt: sajñā-skandha, Pāli: sannàkkhandha). Chỉ cho tri giác, cũng như “thọ uẩn”, “tưởng uẩn” (tri giác) cũng bao gồm sáu căn bên trong và sáu cảnh bên ngoài. Cũng như những cảm giác (thọ), “tri giác” được phát sinh do sự tiếp xúc giữa sáu căn nội giới với sáu trần (cảnh) ngoại giới. Chính những tri giác nầy, nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linh. Tưởng uẩn được quan niệm như vậy, cũng như cảm giác, tri giác có được về thế giới vật chất, chúng ta có thể nhận biết qua những trung gian bằng mắt... bằng xúc chạm đối với thế giới bên ngoài, không những chỉ có tác ý thôi mà cộng thêm vào phân biệt nữa và còn mang những tri giác đó trở thành đối tượng của tâm thức qua ký ức nữa như thọ uẩn. Và những tri giác này theo đức Phật dạy trong Kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 1, Tương ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đến kinh 7, đức Phật dạy các Tỳ-kheo là hãy quán sát và tư duy chân chánh về tri giác (tưởng uẩn) một cách rõ ràng là vô thường. Tỳ-kheo nào đối với tri giác không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục thì không thể đoạn trừ khổ não; tâm không giải thoát, thì không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào đối với tri giác mà yêu thích, thì đối với khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào đối với tri giác, không biết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát thì sẽ không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào yêu thích tri giác, thì cũng yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ thì đối với khổ không được giải thoát. Và cũng trong kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 2, Tương ưng I, phần Ngũ uẩn, từ kinh 8 – 12, đức Phật cũng dạy các Tỳ-kheo, tri giác quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là tri giác hiện tại. Tri giác là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hay tri giác là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hoặc tri giác là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các tri giác, chúng cũng vô thường. Vậy, các tri giác được sanh ra từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Hay tri giác là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các tri giác chúng cũng vô thường. Vậy, các tri giác được sanh từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Đó chính là những lời dạy của đức Phật cho các Tỳ-kheo về tưởng uẩn, qua đây tưởng uẩn chính là những tri giác biết phân biệt đối với nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linh vui hay, khổ, hoặc không vui không khổ đối với mọi sự vật chung quanh chúng ta: nào tốt xấu, đúng sai, thành bại v.v... tri giác được sinh ra từ cảm nhận do sự tiếp xúc giữa những cảm quan vật lý (6 căn) với thế giới bên ngoài (6 cảnh) sinh ra bởi sự tác ý và phân biệt của ý thức mà có được. Những tri giác này chúng cũng mang tính chất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải được chúng ta quan sát và tư duy một cách chân chánh về chúng như vậy, và sau khi chúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậy rồi thì buộc chúng ta phải xa lìa chúng, vì bản thân chúng chính là vô thường, khổ, vô ngã, không có sở hữu. Chúng chính là khổ trói buộc, nên chúng ta muốn giải thoát khổ trói buộc thì phải xa lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa lìa sinh-già-bệnh-chết trong quá khứ, hiện tại và tương lai. (Còn tiếp)

 

CUỘC ĐỜI và ÁNH ĐẠO  của TÔN GIẢ SÀRIPUTTA ^

(Xá-lợi-phất)

Trí Lộc 

(Tiếp theo)

 

6. Bậc tướng quân Chánh pháp:

Sau khi đảm nhận trọng trách “Đại đệ tử của đức Thế Tôn”, lúc nào đức Phật cũng bảo tôn giả Sàriputta đứng hầu bên phải của mình (lúc này chưa có tôn giả Ananda), do vậy mọi thời pháp của đức Thế Tôn đều được tôn giả Sàriputta lãnh hội một cách trọn vẹn, sự đa văn thông tuệ của tôn giả ngày càng siêu việt hơn. Có những lúc, đức Thế Tôn vừa thuyết pháp cho nhóm Tỳ-kheo này xong, thì những đoàn Tỳ-kheo khác đến. Những lúc như vậy, đức Thế Tôn thường bảo tôn giả Sàriputta thuyết lại thời pháp của Ngài cho những vị Tỳ-kheo mới đến, để Ngài đi kinh hành một lát. Hay có những khi vì sự bất hòa của thân tứ đại, những lúc như vậy Ngài liền bảo tôn giả Sàriputta thuyết hết bài pháp còn lại mà Ngài chưa hoàn tất, hay thuyết toàn bộ những thời pháp để giáo giới, khuyến khích sự tu tập của hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, hàng Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di… Những thời pháp của tôn giả Sàriputta vừa dứt thì cả đại chúng bao giờ cũng vang lên tiếng “Sàdhu” (lành thay) để ngợi khen tôn giả. Những lúc ấy, đức Thế Tôn cũng đã có mặt trên pháp tòa và tán thán tôn giả Sàriputta trước hội chúng:

“Này các thầy Tỳ-kheo! Xá-lợi-phất trước đây là trưởng giáo Bà-la-môn lỗi lạc lúc vừa 18 tuổi, là một học giả Vệ-đà hữu danh, đa văn, bác học, quảng kiến. Ông thông hiểu rành rẽ, uyên bác tất cả mọi loại triết học trong và ngoài truyền thống. Ông cũng là nhà ngôn ngữ siêu việt hai loại diễn ngôn: Bác học và bình dân, thường ngữ và pháp ngữ. Lại nữa, Xá-lợi-phất còn là một nhà thông thiên văn, địa lý, thuật số, vật lý, tự nhiên học… Với kho tàng kiến thức mênh mông ấy, thế nhưng không bao giờ ông ấy thuyết ra một câu thừa, một chữ thừa. Tất cả chỉ cần vừa đủ, trọn ý; vừa văn chương quí tộc, vừa giản dị bình dân, lúc nghiêm túc, lúc dí dỏm. Ai đã từng nghe Xá-lợi-phất thuyết pháp một lần rồi thì dường như đối với họ, trên đời này không có một pháp sư, một giảng sư nào nữa cả.

Này các thầy Tỳ-kheo! Tiếng sóng của trăm con sông, ngàn con sông đổ dồn về biển. Cũng vậy, giáo pháp Như Lai thuyết là hải triều âm. Giáo pháp mà Xá-lợi-phất thuyết lại, cũng là hải triều âm, không hai, không khác”.

Tìm trong Kinh tạng, chúng ta thấy những thời pháp của tôn giả Sàriputta thuyết giảng rất nhiều và đều có sự ngợi khen và ấn chứng của đức Thế Tôn. Do vậy, những thời pháp ấy được xem là những kinh điển mà tôn giả Sàriputta đã thuyết giảng. Những kinh ấy bao gồm nhiều đề tài khác nhau có liên hệ đến đời sống phạm hạnh. Chuyển tải những giáo lý từ đơn sơ, giản dị cho đến những tư tưởng sâu xa, uyên thâm trong Phật Pháp.

Ví dụ như các kinh:

Những kẻ thừa hưởng pháp bảo (Pháp số 3)

Sự chấm dứt tội lỗi (Pháp số 5)

Sammàdhitthi Sutta (Nói về chánh kiến-pháp số 9) v.v…

Quả thật, những kinh như vậy được tìm thấy rất nhiều trong các kinh: Trường Bộ, Trung Bộ, Trường A Hàm, Tạp A Hàm v.v…

Ngoài sự đảm nhận thuyết giảng Chánh pháp, tôn giả Sàriputta còn thay mặt đức Thế Tôn để giải quyết những vấn đề của chư Tăng, tiếp xúc với vua quan, đại thần, hàng cư sĩ, thí chủ v.v… Có lúc, tinh xá Kỳ Viên lên đến 5000 thầy Tỳ-kheo, bên cạnh những tôn giả đức hạnh cao cả, còn có hàng ngàn Tỳ-kheo mới xuất gia, giới hạnh còn yếu kém… Biết bao nhiêu chuyện quan trọng trong Tăng đoàn từ ẩm thực, y phục, phòng thất… cho đến sự phân công mọi công việc, tu tập… nhiệm vụ mà tôn giả Sàriputta đảm nhận rất to lớn và nặng nề. Ấy vậy mà mọi công việc Ngài đều hoàn thành vô cùng tốt đẹp, thời này được gọi là thời “hoàng kim của Chánh pháp”.

Đặc biệt, tôn giả Sàriputta có công rất lớn trong việc truyền bá Chánh pháp về phương Bắc của xứ Ấn. Tôn giả là người tiên phong trong việc hoằng dương Phật pháp đến xứ này, qua lần đảm trách xứ mệnh kiến thiết đại tinh xá Kỳ Hoàn.

Chính những sự việc to lớn mà tôn giả Sàriputta đã đảm trách và thể hiện, đức Thế Tôn và toàn thể chư Tăng đã ban tặng cho Tôn giả mỹ hiệu là: “Bậc tướng quân của Chánh pháp”

7. Truyền bá Phật pháp về Bắc Ấn hay công cuộc kiến thiết đại tinh xá Kỳ Hoàn:

Nếu tại Nam Ấn có tinh xá Trúc Lâm, thì tại Bắc Ấn có tinh xá Kỳ Hoàn. Đây là tinh xá tuyệt đẹp và rất có công trong việc hoằng dương Chánh pháp. Trong thời đức Phật, tinh xá này do trưởng giả Sudatta (Tu-đạt) dâng cúng.

Ở thành Sàvatthi (Xá-vệ), có vị trưởng giả triệu phú tên là Sudatta. Ông là người rất mực giàu có, lại có lòng thương yêu những người nghèo khổ, cô đơn và thường cung cấp thức ăn, y phục hay những vật dụng cần thiết cho họ, do đó ông được mọi người ban tặng một mỹ danh là: Cấp-cô-độc. Trưởng giả Sudatta có đại thiện duyên hội ngộ với đức Thế Tôn và được đức Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp. Sau khi nghe Pháp, ông chứng được quả vị Tu-đà-hoàn, cảm nhận được pháp lạc vô biên của đạo giải thoát. Với niềm hân hoan sung sướng chưa từng có trong đời, Ông cũng muốn chia sẻ Chánh pháp an lạc giải thoát đến với những người thân của mình và cho cả quê hương mình. Do đó, ông đã cung kính, thỉnh cầu đức Phật cùng đại chúng đến vương thành Sàvatthi, quê hương của ông để hoằng dương Chánh pháp, ban pháp lạc cho chúng sanh.

Được sự đồng ý của đức Phật, trưởng giả Sudatta liền vội vã trở về quê hương tìm một vùng đất như ý để thiết lập tinh xá làm nơi trú ngụ cho đức Phật và chư Tăng. Trải qua mấy ngày tìm kiếm, ông vẫn không tìm được nơi vừa ý, ngoại trừ khu rừng xinh đẹp của thái tử Kỳ-đà. Đây là khu rừng nhỏ rất đẹp, tọa lạc không gần cũng không xa vương thành Sàvatthi, là nơi lý tưởng cho chư Tăng an trú tu tập: “Ở đây có đồi núi nhấp nhô, nước suối ngọt ngào, mát lạnh, tỏa nức mùi hương. Từng khoảng rừng suốt ngày im bóng bởi những tàng cổ thụ xanh um; cây lá phong phú sắc màu, kỳ hoa dị thảo đua nở khắp nơi. Xuyên trong rừng là những khoảng trống lớn nhỏ có thể làm nơi tụ họp hoặc hành thiền cho cả hàng trăm người. Lại có những tảng đá bằng phẳng, nối dài khoảng hai ba chục đòn gánh chạy trong một thung lũng im mát. Suốt ngày gió hát chim ca, mù sương khi đậm khi nhạt, mây trắng vắt ngang đầu núi. Ôi! Quả thật là sơn thủy hữu tình, khí linh thiêng hội tụ từ ngàn năm để chào đón bước chân của đấng vĩ nhân xuất thế!”.

Vẫn biết rằng đây là khu rừng quí giá của thái tử Kỳ-đà, không dễ gì mua được, nhưng vì sự an lạc và hạnh phúc của muôn người, trưởng giả Sudatta cũng quyết định đến gặp thái tử Kỳ-đà để trình bày ước vọng quan trọng nhất trong đời mình và xin thái tử Kỳ-đà bán lại khu rừng ấy cho mình. Trước sự thỉnh cầu tha thiết của trưởng giả Sudatta, thái tử Kỳ-đà rất cảm động, nhưng cũng không muốn mất khu rừng xinh đẹp của mình, do vậy thái tử đã nói một câu đùa vui, để cho Sudatta từ bỏ ý định mua khu rừng: “Nếu ông có khả năng thì cứ lấy vàng mà đổi đất, ta sẽ bán cho.”

Trưởng giả Sudatta vui mừng liền hỏi: “Thưa Thái tử đổi như thế nào ạ!”. Thái tử Kỳ-đà nói: “Suối không kể, đá không kể, chỉ tính đất thôi, Ngài lấy vàng lát cho đầy mặt đất, vàng lát đến đâu là ta bán cho Ngài tới đó.”

Trưởng giả Sudatta liền theo lời nói ấy mà làm. Không ngờ một câu nói đùa mà thành hiện thực, thái tử Kỳ-đà vì trọng tín nghĩa nên không thể rút lại lời hứa. Trong lúc lấy vàng lát đất, còn những gốc cây chưa trải được, trưởng giả Sudatta dừng lại suy nghĩ. Thấy vậy, tưởng Sudatta đã thối tâm, thái tử Kỳ-đà liền hỏi lý do. Sau khi hiểu được lý do và nghe danh về bậc Thánh vĩ đại, thái tử Kỳ-đà đã phát tâm cúng phần gốc cây mà Sudatta không lát vàng được. Từ đó về sau, tinh xá này thường được gọi là: “Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên” (Cây của thái tử Kỳ-đà, khu vườn (đất) của trưởng giả Cấp-cô-độc).

Có được khu rừng như ý, trưởng giả Sudatta liền trở lại tinh xá Trúc Lâm để thỉnh ý đức Thế Tôn chỉ đạo phương pháp xây dựng đại tinh xá, đồng thời ông cũng thưa rằng: “Vương thành Sàvatthi là nơi chưa từng có Phật Pháp, lại là nơi có nhiều bàng môn tả đạo đang lộng hành, mê hoặc quần chúng. Kính thỉnh đức Thế Tôn quang lâm đặt viên đá đầu tiên và hàng phục các tà phái ngoại đạo ở đấy”.

Trước sự việc vô cùng quan trọng ấy, đức Thế Tôn đã cử tôn giả Sàriputta sang Bắc Ấn để kiến thiết đại tinh xá, đồng thời hàng phục hàng ngoại đạo tà giáo ở đấy. Vâng lời đức Thế Tôn, tôn giả Sàriputta cùng với trưởng giả Sudatta lên đường sang Bắc Ấn. Đúng như lời thưa thỉnh của Sudatta, những ngoại đạo ở đây khi biết được việc Sudatta dâng cúng khu rừng và ủng hộ một tôn giáo xa lạ nào ấy ở Nam Ấn, họ vô cùng ganh tị, tức giận tìm mọi cách để quấy phá. Họ sử dụng những năng lực thần thông và giáo lý của họ để tranh biện, xô dẹp không cho tôn giáo mới tồn tại, phát triển làm lu mờ, mất uy tín tôn giáo của họ… Chính vì thế mà tôn giả Sàriputta đã gặp rất nhiều khó khăn ở xứ này. Tuy nhiên, bằng tất cả tài năng, đức hạnh của mình, Tôn giả đã dần cảm hóa mọi tầng lớp thần dân ở đây. Với năng lực thần thông đã chứng đắc, với trí tuệ tuyệt vời, sự uyên thâm về giáo điển cũng như sự thông tuệ mọi tư tưởng, triết lý… Tôn giả Sàriputta đã hàng phục các ngoại đạo, học phái ở đây. Một số lượng rất đông ngoại đạo vô cùng kính phục, đã trở về qui y với Chánh pháp.

Ngay từ thuở còn tại gia, Tôn giả đã thông tuệ về thiên văn, địa lý… với năng lực này, Tôn giả đã kiến thiết đại tinh xá một cách hoàn hảo, từ cách thiết kế hương phòng của đức Tôn sư, các đại giảng đường để thuyết pháp, hành thiền v.v… cho đến những am cốc nhỏ của chư tăng, nhà khám bệnh, suối tắm… Không bao lâu, một tinh xá kỳ vĩ và huy hoàng đã được hoàn thành. Ngày khánh thành tinh xá cũng chính là ngày vương thành Sàvatthi đón tiếp đức Thế Tôn và hàng ngàn vị Tỳ-kheo từ Nam Ấn, tinh xá Trúc Lâm quang lâm đến xứ này. Trong Kinh tạng, tinh xá này mang nhiều tên gọi như: tinh xá Kỳ Hoàn, tinh xá Kỳ Viên, Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên… Tinh xá này được đánh giá là một trong những tinh xá đẹp nhất, lớn nhất và là nơi đức Thế Tôn thuyết pháp nhiều nhất. Kinh điển của Phật giáo được hình thành nhiều nhất. Cũng chính vì thế mà trong Kinh tạng, chúng ta thường bắt gặp câu mở đầu: “Như thị ngã văn… Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên…”.

(còn tiếp)

 


 

 Đùa Chơi Với Khổ  ^

TT. Thích Thái Hòa

 

Khổ là một sự thực của cuộc sống con người, nếu bạn không biết đùa chơi với nó là bạn đã mất đi rất nhiều cơ hội để tiếp xúc và nhận diện sự thực, đồng thời bạn cũng đã mất đi rất nhiều cơ hội để trưởng thành và hiểu được ý nghĩa đích thực của hạnh phúc.

Một nhạc sĩ nào đó đã viết: “Đường thương đau đầy ải nhân gian, ai chưa qua chưa phải là người”. Như vậy, theo nhạc sĩ, con người đích thực phải là con người đã từng trải khổ đau và phải trưởng thành ngay trong khổ đau. Nhưng sự khổ đau của con người dưới cách nhìn của các nhà tôn giáo là những thiên thần bị đọa.

Các thiên thần vốn sống thênh thang nơi cõi trời thơ mộng, bỗng theo hương, nên bị gió ngàn cuốn vào đồng nội, chạm thanh sắc và xúc nếm vị trần, thoáng chốc gãy cánh và bị sà xuống nơi cõi đời lận đận, đi giữa đường trần với những tháng ngày cát bụi gió bay, nên sống và chết chỉ cách nhau trong một hơi thở; khổ và vui chập chùng theo nhau trong từng ý niệm; rủi và may cùng gợn lên trong một dòng chảy đục trong, nụ cười và tiếng khóc ẩn hiện thay nhau trên một vẻ mặt con người và thành công hay thất bại của một đời người đã có ngay nơi dấu hiệu co duỗi của một bàn tay hay nó có ngay nơi khởi điểm và sự chuyển động của mỗi bước chân đi!

Sống trong những sự thế thiên diễn và bị động như vậy, con người làm sao có hạnh phúc, không có hạnh phúc tất nhiên khổ đau có mặt, nên khổ đau là một sự thực của cuộc sống con người, bạn làm sao mà có thể chối từ chúng. Bạn không chạm trán với khổ đau, bạn sẽ không bao giờ hiểu được giá trị đích thực của hạnh phúc là gì?

Bạn hãy thực tập đùa chơi với khổ đau như ngày xưa đức Phật đã từng đùa chơi với chúng. Tại Vườn Nai, đức Phật đã nói với năm anh em Kiều Trần Như rằng: “Đây là khổ. Đây là tập. Đây là diệt. Đây là đạo. Đây là khổ nên biết. Đây là tập nên đoạn. Đây là diệt nên chứng. Đây là đạo nên tu. Đây là khổ ta đã biết. Đây là tập ta đã đoạn. Đây là diệt ta đã chứng. Đây là đạo ta đã tu”.

Đức Phật dạy: “Đây là khổ”. Như vậy, Ngài đã nắm trọn vẹn cái khổ như nắm trọn vẹn một trái cam trong lòng bàn tay và thanh thản nhẹ nhàng đưa nó lên và xoay nó mọi chiều cho mọi người cùng thấy. Không những Ngài chỉ nắm trọn vẹn mọi hình thái biểu hiện của khổ đau mà còn nắm trọn vẹn bản chất và mọi đặc tính của nó nữa, để chỉ rõ cho những ai có mắt thì có thể thấy, và những ai có trí thì ngay đó, có thể nhận ra mọi sự thực của vấn đề.

Đức Phật dạy: “Đây là khổ”, nghĩa là Ngài muốn ta mở to đôi mắt ra để trực diện và đùa chơi với khổ đau như đùa chơi với những trẻ thơ, hoặc đùa chơi với trái cam trong lòng bàn tay, hay đùa chơi với một chiếc bong bóng mà không phải nhắm đôi mắt lại, hay tránh né và quay lưng với nó.

Đức Phật dạy: “Đây là khổ”, nghĩa là Ngài muốn ta mở to đôi mắt để nhìn và trực diện với nó như trực diện với người yêu. Bởi lẽ trong mỗi chúng ta không bao giờ có cái yêu đơn thuần mà yêu là do liên hệ. Liên hệ giữa bên nầy và bên kia; liên hệ giữa người nầy và người kia; liên hệ giữa chủ thể và đối tượng; liên hệ giữa khát ái với âm thanh, sắc tướng, mùi vị và xúc chạm; liên hệ đến những khát khao, tìm kiếm và đuổi bắt, liên hệ với những ảnh tượng tồn đọng trong tâm thức đã biến thái để trở thành chủng tử nhân duyên không phải chỉ một đời, hai đời mà nhiều đời và sự liên hệ ấy không phải chỉ ở cõi nầy mà còn ở cõi kia; không phải chỉ ở thế giới nầy mà còn ngay cả ở thế giới của bên kia nữa.

Khi tình yêu trào dậy, ta mở to đôi mắt để trực diện với người yêu như thế nào, thì khi khổ đau trổi dậy trong ta, ta phải mở to đôi mắt để trực diện với những khổ đau trong ta, cũng đúng như thế ấy. Ta mở to đôi mắt thấy rõ khổ đau không phải là để sợ hãi, không phải là để tránh né mà để thương và để đùa chơi với nó, và giúp nó cùng ta sánh vai đi lên.

Ta hãy nhìn sâu vào sự hiện hữu của những nỗi khổ đau trong ta, để thấy rõ nó vốn không có tự tính, nó hiện hữu cũng cần phải có điều kiện, hễ có điều kiện thích hợp với nó thì nó phát sinh và tồn tại; nếu không có điều kiện thích hợp với nó thì tự nó ẩn diệt và tiêu vong. Khổ đau là vô thường như bất cứ sự vô thường nào của mọi sự hiện hữu, vì biết chắc như vậy nên ta nhìn nó để mỉm cười và thương yêu.

Ta hãy nhìn sâu vào những nỗi khổ đau ở trong ta, để ta có thể đồng cảm với những nỗi khổ đau của người khác, của đồng loại và ngay cả mọi loài mà đừng bao giờ có những lời nói, có những hành động hay có những ý nghĩ khiếm nhã đối với tất cả họ. Và ta mong rằng, trong thế giới con người đừng ai khiếm nhã với ai, và trong thế giới của muôn loài đừng có loài nào đối xử khiếm nhã với loài nào. Loài mạnh thì biết bảo vệ loài yếu, người giàu thì biết giúp đỡ người nghèo, người trí thì biết tìm đủ mọi cách để nâng đỡ kẻ ngu.

Bởi vậy, ta hãy mở to đôi mắt để nhìn sâu vào trong lòng của mọi sự khổ để biết một cách chắc chắn rằng, khổ đau là ở đây mà không phải ở nơi kia, biết vậy là ta đã có khả năng để đùa chơi với nó mà chẳng có chút gì là sợ hãi.

Đức Phật dạy: “Đây là tập”, tức là những tập khởi của khổ đau. Như vậy, đức Phật đã thấy, biết và nắm trọn vẹn tất cả sự huân tập và lưu hiện của những chủng tử khổ đau. Ngài muốn ta không phải chỉ nhìn những hình thái biểu hiện của khổ đau mà hãy mở to đôi mắt nhìn sâu, nhìn xuyên suốt vào trong lòng của những khổ đau, để thấy rõ và ôm lấy những hạt giống khổ đau đang huân tập và vận hành ở trong ta, để soi sáng, thương yêu và chuyển hóa. Nếu ta không mở to đôi mắt nhìn sâu vào trong lòng của khổ đau, thì làm sao ta có thể thấy rõ và ôm lấy những hạt giống khổ đau để soi sáng, thương yêu và chuyển hóa, và nếu ta không chuyển hóa được những hạt giống khổ đau trong lòng ta, thì làm sao ta có thể thoát ly được những tính chất và mọi hình thái biểu hiện của nó, và thử hỏi ta chạy đường nào cho thoát khỏi ?

Đức Phật dạy: Đây là tập khởi của những khổ đau, chứ không phải những tập khởi của khổ đau có từ nơi nào. Như vậy là Ngài muốn chỉ cho ta thấy rằng, tập khởi của những khổ đau, nếu có mặt thì chúng đang có mặt ở trong thân tâm nầy, chứ không phải ở nơi thân tâm nào khác. Nghĩa là ở nơi thân tâm nầy có vô minh, có tham ái, có sân hận, có si mê, thì ở nơi thân tâm nầy có những tập khởi của khổ đau, chứ không phải tập khởi của những khổ đau nằm ở nơi thân tâm nào khác.

Ta hãy nhìn sâu vào tập khởi của những khổ đau ở trong thân tâm ta, để ta ôm ấp, soi sáng và chuyển hóa. Ta có khổ đau, vì trong ta có vô minh. Ta có khổ đau, vì trong ta có tham dục. Ta có khổ đau, vì trong ta có những hạt giống giận hờn và trách móc. Ta có khổ đau và thất vọng, vì trong ta có những tri giác sai lầm về một bản ngã cố hữu ở nơi sắc thân, về một bản ngã cố hữu ở nơi mọi cảm giác, về một bản ngã cố hữu ở nơi tri giác, về một bản ngã cố hữu ở nơi những chủng tử tâm hành và về một bản ngã cố hữu ở tận chiều sâu của tâm thức. Và ta có khổ đau là do ta có những tri giác sai lầm về một bản ngã cố hữu ở nơi tự thân, ở nơi con người, ở nơi mọi chúng sanh và ở nơi mọi sinh mệnh. Ta có khổ đau và thất vọng, vì do vô minh và tri giác trong ta đã vẽ ra cho ta một cái ta hư ảo. Không những hư ảo trong hiện tại mà còn hư ảo ngay cả quá khứ và tương lai; không những vẽ ra sự hư ảo ở nơi thế giới nầy mà còn vẽ ra cho ta những sự hư ảo ở tận nơi thế giới bên kia. Ta khổ đau và thất vọng, vì tri giác sai lầm của ta đã tách ta ra khỏi thế giới hòa điệu nhất như tuyệt đối, để khiến ta đuổi bắt một bản ngã ở trong thế giới ảo tưởng, phù hư.

Ta hãy nhìn sâu vào những tập khởi của những khổ đau trong ta, để thấy rõ chúng vốn không có tự tính, chúng tập khởi cũng cần phải có những điều kiện thích ứng, nếu không có những điều kiện thì chúng cũng không thể nào huân tập và khởi hiện. Chúng là vô thường như bất cứ sự vô thường nào của mọi sự hiện hữu, vì biết chắc như vậy, nên ta ôm ấp nó để mỉm cười và chuyển hóa.

Ta không những chỉ nhìn sâu vào những tập khởi của khổ đau, mà còn nhìn sâu vào mọi hình thức huân tập và biểu hiện của chúng, cũng như những cá tính và bản chất của chúng để thay chốt. Ta thay chốt vô minh bằng tỉnh giác, tham ái bằng buông xả là tức khắc những tập khởi của mọi khổ đau đều được chuyển hóa.

Mỗi khi vô minh và tham ái trong tâm ta đã được thay chốt, thì vô biên phiền não trong ta cũng tùy theo đó mà được tảo trừ.

Vậy, đức Phật dạy: “Đây là tập” là Ngài muốn ta mở to đôi mắt không phải chỉ để nhìn trực diện mà nhìn sâu, nhìn xuyên suốt mọi hình thái huân tập và biểu hiện của những chủng tử tạo nên khổ đau, cũng như những cá tính và bản chất của chúng, để ôm ấp, mỉm cười, đùa chơi và chuyển hóa.

Đức Phật dạy: “Đây là diệt” là Ngài muốn cho ta thấy rõ hạnh phúc và an lạc là ở đây, ở ngay nơi thân tâm nầy, ở ngay nơi hiện thế và ở ngay nơi cuộc đời nầy. Ở ngay nơi thân tâm ta vắng bặt hoàn toàn những tập khởi của khổ đau, thì hạnh phúc và an lạc đích thực có mặt. Hạnh phúc và sự an lạc đích thực không phải là mọi hình sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm bên ngoài hay những ảnh tượng tồn đọng trong tâm thức ta, mà ta phải biết đình chỉ những chủng tử vô minh và khát ái ở trong ta, vì chúng là tác nhân, khiến ta đang bị vướng mắc vào những cái đó. Ta hạnh phúc là ta sống giữa lục trần mà tâm ta không bị điều động bởi vô minh và không hề bị vướng mắc bởi tham ái.

Đức Phật dạy: “Đây là diệt” là Ngài muốn ta mở to đôi mắt để thấy rõ, tập khởi của những khổ đau có mặt ở chỗ nào thì ta phải dập tắt chúng ở chỗ đó. Chủng tử khổ đau đã bị diệt tận, thì mọi hình thái khổ đau không còn biểu hiện, nên tự tính của diệt là vô sinh hay Niết-bàn.

Như vậy, đức Phật dạy: “Đây là diệt” là Ngài muốn ta mở to đôi mắt để nhìn sâu vào những tập khởi của khổ đau, để thấy rõ bản thể của chúng xưa nay vốn là tịch diệt, để ta mỉm cười và thong dong vui chơi trước muôn ngàn hiện tượng diệt sinh của vạn hữu.

Đức Phật dạy: “Đây là đạo” là Ngài muốn ta mở to đôi mắt để nhìn thấy đạo chính là đây, chính ngay ở nơi thân tâm này, chính ngay ở nơi mỗi phút giây của sự sống trong ta, quanh ta và chính ở ngay nơi cuộc đời này đây, chứ không phải ở bất cứ nơi nào xa lạ.

Chính ngay ở nơi mọi hình sắc, mọi cảm giác, mọi tri giác, mọi chủng tử tâm hành, và mọi nhận thức mà thấy đạo, thực nghiệm đạo và chứng nghiệm đạo và cũng chính từ đó mà giải thoát. Chính ngay ở nơi sáu quan năng của nhận thức, sáu đối tượng của nhận thức và ngay nơi sự biểu hiện của các nhận thức mà thấy đạo, thực nghiệm đạo, chứng nghiệm đạo và thành tựu đạo giải thoát. Nói rõ hơn là ngay ở trong lòng của những khổ đau, của những tập khởi của khổ đau mà thấy đạo, thực nghiệm đạo, chứng đạo và thành tựu đạo giải thoát.

Đức Phật dạy: “Đây là đạo” là Ngài muốn ta mở to đôi mắt để thấy rõ “đạo” ngay trong lòng của các pháp duyên khởi, và cũng thấy rõ “diệt” ngay từ nơi các pháp duyên khởi ấy. Và Ngài nói “đây là đạo” là Ngài muốn ta mở to đôi mắt nhìn sâu vào tâm ta, để thấy rõ ngay “đạo là Bồ-đề”. Tu đạo là hành Bồ-đề. Chứng đạo là chứng nhập Bồ-đề. Hành đạo là chuyển tải hạt giống trí tuệ và từ bi đi vào cuộc đời, nhằm tạo mọi cơ duyên để cho mọi người và mọi loài phát triển tâm Bồ-đề và chứng nhập tâm ấy một cách toàn vẹn.

Như vậy, đức Phật dạy “Đây là đạo” là Ngài muốn ta mở to đôi mắt để thấy, để biết khổ đau ở đâu thì những tập khởi của những khổ đau ở đó; khổ đau và những tập khởi của khổ đau ở đâu, thì đạo ở đó. Và đạo ở đâu thì chứng nghiệm tịch diệt và thể nhập Niết-bàn, hạnh phúc và an lạc ở đó.

Bởi vậy, bấy giờ tại Vườn Nai, đức Phật đã dạy cho năm anh em Kiều Trần Như rằng: Đây là khổ; đây là tập; đây là diệt; đây là đạo, là đã bao hàm trọn vẹn mọi ý nghĩa của cuộc sống con người và đã giải quyết mọi vấn đề của con người một cách tích cực để thăng hoa.

Do đó, thăng hay trầm, khổ đau hay hạnh phúc của cuộc sống con người, khi mà ta chưa biết rõ gốc rễ và ngọn ngành của nó, thì nó khiến cho ta có nhiều nỗi băn khoăn và kinh hãi, nhưng khi ta đã biết rõ mọi gốc rễ và ngọn ngành của chúng, thì những nỗi băn khoăn và kinh hãi ngày ấy, sẽ biến làm mây lành che mát và tưới tẩm trần gian. Những giận hờn và trách móc ngày hôm qua, nay đã trở thành nụ cười an lạc ngay trong từng phút giây của sự sống.

Vậy, ta xin chắp đôi tay búp sen an trú hoàn toàn trong chánh niệm để cám ơn đức Phật, cám ơn đời và cám ơn những nỗi khổ đau một cách sâu xa!

 


 

TÌM HIỂU VỀ NGHIỆP ^

Hướng Thiên

 

Chúng sanh vì nghiệp lực dẫn dắt mà trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, nhận lấy kiếp sống không sao tính kể. Dù sinh vào cảnh giới nào, cao hay thấp, tốt hay xấu, vui vẻ hay khổ đau thì đó cũng là quả báo do nghiệp của họ chiêu cảm tạo thành. Cho đến, muôn sai ngàn biệt của thế gian đều là sự thể hiện của nghiệp, như luận Câu-xá nói: “Thế gian do nghiệp sanh”[1]. Kinh cũng nói: “Chúng sanh chính là kẻ thừa tự những hành vi (nghiệp) nó đã làm trong quá khứ”. Nghiệp, như thế, rõ ràng là không đơn giản và hơn thế nữa, nó còn được tam tạng Kinh điển nhận diện dưới nhiều góc độ khác nhau. Chính vì lí do ấy cho nên việc học tập giáo lý về nghiệp là rất cần thiết để ý thức và kiểm soát các hành vi của chúng ta, ngõ hầu sống đúng với đạo giải thoát.

Nghiệp, tiếng Phạn là karma, người Trung Hoa phiên âm là yết-ma, là năng lực dẫn sinh quả báo được hình thành do những hành động có ý thức; ở một chừng mực nào đó, nghiệp được đồng nhất với hành vi. Trong truyền thống tư tưởng của Trung Hoa và nước ta, khái niệm Nghiệp này vốn không có, mãi đến khi Phật giáo được truyền vào thì các nhà học Phật mới mượn chữ “nghiệp” trong khái niệm “nghiệp vụ, sự nghiệp” để dịch chữ “karma” mà hình thành. Karma (Pali: kamma) là một khái niệm rất thịnh hành của tư tưởng Ấn Độ và xuất hiện rất sớm trong các Thánh thư Vệ-đà và phi Vệ-đà,[2] nó gắn liền với một ngã thể (atman), tuy nhiên ý nghĩa của nó không giống nhau. Đến khi đức Phật xuất hiện, với giáo lý vô ngã, Ngài đã sử dụng khái niệm này với một nội dung hoàn toàn khác và đó là cái mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng.

Trong kinh luận, nghiệp thường được nói đến với nhiều hình thái khác nhau. Để làm rõ khái niệm này, dưới đây xin trình bày một số cách phân loại, mà chủ yếu là của Luận tạng.

Theo luận Câu-xá, xét về thể tánh của nghiệp thì có tư nghiệptư dĩ nghiệp. Mọi hành động của chúng ta đều bắt đầu bởi hoạt động của tư tâm sở. Khi hành động mới được suy tư tính toán, chỉ tồn tại ở dạng xung động thì gọi là tư nghiệp; một khi xung động ấy được thể hiện ra bên ngoài thành cử chỉ, lời nói qua trung gian của thân, miệng thì gọi là tư dĩ nghiệp. Đại thừa Phật giáo chia hoạt động của thành ba giai đoạn: thẩm lự tư: giai đoạn tính toán, quyết định tư: giai đoạn quyết tâm làm hay không, và phát động thắng tư: giai đoạn suy tư chuyển thành hành động (cử chỉ, lời nói). Thẩm lự tư và quyết định tư thuộc về tư nghiệp, phát động tư thuộc về tư dĩ nghiệp.[3]

Tùy theo cơ quan tạo tác mà có thân nghiệp, khẩu nghiệpý nghiệp. Ý nghiệp là hoạt động của tâm, mà cụ thể là tâm sở tư ở giai đoạn thẩm lự và quyết định, cũng chính là tư nghiệp. Tâm sở tư vào giai đoạn phát động (tư dĩ nghiệp) sẽ dẫn khởi hoạt động của thân và miệng tạo thành thân nghiệp và khẩu nghiệp. Thành thật luận, phẩm Nghiệp Tướng nói: “Nghiệp có ba loại: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Những gì do thân tạo tác gọi là thân nghiệp...; tích tập thiện ác do lời nói gọi là khẩu nghiệp...; tâm quyết định giết hại chúng sanh lúc ấy tích tập thiện ác gọi là ý nghiệp”.[4] Xét theo khía cạnh biểu hiện ra bên ngoài hay không biểu hiện ra bên ngoài mà chia thành biểu nghiệpvô biểu nghiệp. Xung động của tâm biểu hiện ra bên ngoài tạo thành thân nghiệp, có lúc biểu thị rõ ràng, có lúc không biểu thị rõ ràng. Biểu thị ra bên ngoài rõ ràng khiến người khác nhận thấy được gọi là thân biểu nghiệp; không biểu thị rõ ràng ra bên ngoài thì gọi là thân vô biểu nghiệp. Ngữ nghiệp cũng có hai loại ngữ biểu nghiệpngữ vô biểu nghiệp như vậy. Ý nghiệp thuộc tâm pháp, không thuộc sắc nên không có biểu và vô biểu. Tuy nhiên, Thành thật luận, phẩm Vô Tác nói rằng ý nghiệp có vô biểu (vô tác).[5]

Xét về tính chất, hành vi được chia thành ba tính: thiện, ác, vô ký (không thiện không ác) do đó mà có thiện nghiệp, ác nghiệp, và vô ký nghiệp. Trong đó, chỉ có thiện, ác mới có năng lực dẫn sanh quả báo trong các cõi.

Lại nữa, thiện ác tuy nhiều nhưng đều phát sanh từ ba nghiệp thân, khẩu, ý. Kết hợp thân, khẩu, ý với hai tính thiện, ác tạo thành mười thiện nghiệp đạo và vô ái nhiễm đạo, gọi chung là mười nghiệp đạo. Trong đó ba chi đầu thuộc về thân, bốn chi tiếp theo thuộc về khẩu, ba chi còn lại thuộc về ý. Trước nói 10 ác nghiệp đạo, đó là: 1-sát sanh; 2-trộm cắp; 3-tà hạnh; 4-nói dối; 5-nói hai lưỡi; 6-nói thô ác; 7-nói thêu dệt; 8-tham dục; 9-sân hận; 10-tà kiến. Mười thiện nghiệp đạo là từ bỏ mười ác nghiệp đạo trên.[6]

Như trên đã nói về biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, vô biểu nghiệp chính là năng lực tiềm tại khiến cho biểu nghiệp được hình thành. Vô biểu nghiệp phối hợp với tính thiện, ác, vô ký tạo thành 3 môn vô biểu như sau:

Luật nghi vô biểu: là vô biểu thuộc thiện. Gồm có ba: 1- Biệt giải thoát luật nghi vô biểu: là vô biểu thiện có được do thọ trì giới. 2- Tịnh lự luật nghi vô biểu: là vô biểu thiện có được trong khi nhập định. 3- Vô lậu luật nghi vô biểu: là vô biểu thiện phát sinh khi có tâm vô lậu (tâm không nhiễm ô). Ba loại vô biểu này chính là năng lực hộ trì giới, bảo vệ đời sống thanh tịnh.

Bất luật nghi vô biểu: là khả năng làm ác tiềm tại trong tâm, khả năng này hình thành do bởi huân tập hành vi ác hoặc lời thề làm ác.

Phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu: tức là loại vô biểu thuộc về vô ký, không thiện không ác.

Ở trong ba cõi, tùy theo tính khả ái và không khả ái của quả lãnh thọ mà chia làm 3 loại nghiệp: phước nghiệp, phi phước nghiệp, và bất động nghiệp. Ở cõi Dục, thiện nghiệp chiêu cảm quả báo khả ái ở loài hữu tình gọi là phước nghiệp; ác nghiệp chiêu cảm quả báo xấu (không khả ái) gọi là phi phước nghiệp. Thiện nghiệp chiêu cảm quả báo ở hai cõi sắc và vô sắc gọi là bất động nghiệp.

Căn cứ trên ba thọ lạc, khổ và xả, nghiệp được chia thành thuận lạc thọ nghiệp: nghiệp dẫn tới quả báo lạc ở dục giới, sơ thiền, nhị thiền và tam thiền; thuận khổ thọ nghiệp: nghiệp ác dẫn tới quả báo khổ ở cõi dục; và thuận bất khổ bất lạc thọ nghiệp: nghiệp thiện dẫn tới quả báo bất lạc bất khổ ở cõi Tứ thiền trở lên trời Hữu Đảnh.

Theo thời gian thọ lãnh quả báo, ba loại thuận thọ trên mỗi loại đều có định và bất định. Câu-xá luận nói: “Thuận lạc thọ... được nói ở trên, mỗi loại đều có định và bất định sai khác. Thời gian thọ báo không nhất định nên gọi là bất định nghiệp. Định lại có 3: 1-Thuận hiện pháp thọ nghiệp, 2- Thuận thứ sanh thọ nghiệp, 3- Thuận hậu thứ thọ nghiệp. Ba loại định nghiệp này cùng với bất định nói trên tổng cộng thành 4 loại[7]. Hình tướng 3 loại định nghiệp này như thế nào? Luận Tỳ-bà-sa, quyển 114 nói: “Nếu nghiệp tạo tác trong đời này tăng trưởng, ngay đời này thọ quả dị thục, gọi là thuận hiện pháp thọ nghiệp... Nếu nghiệp tạo tác trong đời này tăng trưởng, đời kế tiếp thọ quả dị thục, gọi là thuận thứ sanh thọ nghiệp... Nếu nghiệp tạo tác trong đời này tăng trưởng, đến đời thứ ba, đời thứ tư, hoặc những đời sau nữa mới lãnh thọ quả dị thục, gọi là thuận hậu thứ thọ nghiệp”.[8] Ba loại định nghiệp này dẫn sinh 3 loại quả báo tương đương: hiện báo, sanh báo và hậu báo.

Tùy theo nghiệp tương ưng với thân thọ hay tâm thọ mà phân thành thân thọ nghiệp tâm thọ nghiệp. Tâm thọ nghiệp là nghiệp chiêu cảm quả dị thục do tâm lãnh thọ, đó là nghiệp thiện không có tâm sở tầm của loài hữu tình từ định Trung gian (giữa Sơ thiền và Nhị thiền) lên đến trời Hữu đảnh (Sắc Cứu Cánh Thiên). Thân thọ nghiệp chiêu cảm quả dị thục do thân lãnh thọ chứ không do tâm lãnh thọ, là nghiệp ác ở Dục giới.

Luận Câu-xá lại nói rằng thân khẩu ý mỗi cái đều có 3 pháp chướng đạo là khúc, uế và trược do 3 phiền não siểm, sân và tham gây nên. Do nơi tâm siểm mà khởi lên thân, khẩu, ý nghiệp gọi là khúc nghiệp; do sân khởi lên thân, khẩu, ý nghiệp gọi là uế nghiệp; do nơi tham khởi lên thân, khẩu, ý nghiệp gọi là trược nghiệp.

Dựa theo các loại tính chất khác nhau của nghiệp và quả, Kinh luận nói có 4 loại nghiệp: hắc hắc nghiệp, bạch bạch nghiệp, hắc bạch hắc bạch nghiệpphi hắc phi bạch nghiệp. Các loại ác nghiệp vì tính chất nhiễm ô nên gọi là hắc, quả dị thục của nó cũng gọi là hắc bởi vì nó gây ra sự không ưng ý, nghiệp đó gọi là hắc hắc nghiệp và chỉ giới hạn ở dục giới. Nghiệp thiện ở Sắc giới vì không tạp lẫn ác nên gọi là bạch, quả của nó cũng được gọi là bạch vì tính chất dễ chịu, đó là bạch bạch nghiệp. Ở Dục giới, thiện nghiệp thường bị ác xen tạp nên gọi là hắc bạch, quả của nó cũng xen tạp quả xấu nên cũng gọi là hắc bạch, đó gọi là hắc bạch hắc bạch nghiệp. Các nghiệp vô lậu có năng lực đoạn trừ vĩnh viễn 3 loại nghiệp đã kể, vì tính chất không nhiễm ô nên gọi là phi hắc; hơn nữa, nó không chiêu cảm quả bạch (quả thiện hữu lậu) nên cũng gọi là phi bạch; do đó gọi là phi hắc phi bạch nghiệp.[9]

Ba nghiệp mâu-ni: Bậc Vô học vì ý (tâm) xa lìa phiền não; mọi hoạt động của thân, khẩu, ý đều tịch tĩnh cho nên gọi là thân, ngữ, ý mâu-ni. Mâu-ni nghĩa là tịch mặc, không dấy động phiền não. Hoạt động của các loại chúng sanh thấp kém cho đến hàng Hữu học luôn luôn bị phiền não chi phối, móng tâm động niệm đều là tạo nghiệp sanh tử cho nên gọi là thân, khẩu, ý nghiệp. Bậc Thánh Vô học thì không như vậy, mọi hoạt động đều hợp với pháp tánh, tịch tĩnh không nhiễm trước cho nên thân hoạt động thì gọi là thân mâu-ni, miệng hoạt động thì gọi là ngữ mâu-ni, ý hoạt động thì gọi là ý mâu-ni. Lại nữa, do tạm thời và vĩnh viễn xa lìa các pháp ô nhiễm cho nên mọi hoạt động của bậc Thánh vô học đều trở thành diệu hạnh; ba diệu hạnh thân, ngữ, ý được gọi là ba thanh tịnh: thân thanh tịnh, ngữ thanh tịnhý thanh tịnh. Mâu-ni là thể, thanh tịnh là tướng, diệu hạnh là dụng.

 Ba diệu hạnhba ác hạnh: Ba diệu hạnh là tất cả các thiện hạnh (thiện nghiệp) thuộc về thân, khẩu, ý của phàm phu và thánh giả. Câu-xá-luận-ký, quyển 16 nói: “Chánh cảm quả báo tốt đẹp, được người trí khen ngợi cho nên gọi là diệu; vận động chuyển đổi liền đem lại lợi ích nên gọi là hạnh”.[10] Trái với ba diệu hạnh là ba ác hạnh. Mọi ác nghiệp của thân, khẩu, ý được gọi là ba ác hạnh: thân ác hạnh, ngữ ác hạnh, và ý ác hạnh. Riêng ý ác hạnh bao gồm cả 3 phiền não tham, sân và tà kiến chứ không phải chỉ có ý nghiệp, vì ba phiền não này có tự thể riêng biệt đối với tâm sở (ý nghiệp).[11] Tuy nhiên, có chỗ nói rằng tham, sân và tà kiến chính là ý ác hạnh như các luận sư thuộc Thí dụ bộ (Kinh lượng bộ).

Tùy theo nghiệp lực chiêu cảm quả báo dưới dạng tổng thể hay chi tiết mà kinh luận nói đến 2 loại nghiệp: dẫn nghiệpmãn nghiệp. Nghiệp có năng lực dẫn sinh các loài chúng sinh trong các nẻo luân hồi gọi là dẫn nghiệp, còn gọi là tổng báo nghiệp bởi nó dẫn sinh quả báo tổng thể của bộ loại. Nghiệp có năng lực hoàn thiện các chi tiết của tổng báo, tạo thành sự khác biệt như xấu đẹp, cao thấp... trong mỗi bộ loại gọi là mãn nghiệp, còn gọi là biệt báo nghiệp. Như nghệ nhân, trước tiên tạo lập kiểu dáng của cái cần vẽ sau đó mới đi vào các họa tiết; dẫn nghiệp chiêu cảm quả báo ở dạng bộ loại chung chung, như loài người thì có dáng vẻ hai tay, hai chân, đầu, mặt, mắt, mũi...; căn cứ trên tổng báo căn bản đó, mãn nghiệp tạo nên những nét riêng biệt giữa những con người với nhau, như có người thì cao, có người thì thấp...

Ngoài ra, phái Tân thượng tọa bộ, đại diện là ngài Phật Âm (Buddhaghosa), còn căn cứ trên 3 bình diện: thời gian, hành tướng và quả báo nặng nhẹ mà chia thành 12 loại nghiệp như sau:

Chia theo thời gian: có 4 loại nghiệp: 1- Cấp hiệu nghiệp: là loại nghiệp chiêu cảm quả báo trong đời này nhưng nếu bị tha lực cản trở thì không còn hiệu lực nữa. 2- Hoãn hiệu nghiệp: là loại nghiệp chiêu cảm quả báo trong đời kế tiếp nhưng nếu gặp trở duyên mà không hiện hành thì vĩnh viễn không còn hiệu lực. 3- Vô định kỳ hiệu nghiệp: là loại nghiệp nhất định sẽ chiêu cảm quả báo vào thời điểm bất kỳ trong tương lai, trừ phi người tạo nghiệp chứng đắc Niết-bàn trước thời điểm thọ báo. 4- Bất hiệu nghiệp: còn gọi là dĩ hữu nghiệp, là nghiệp bị tiêu do bản thân nó yếu hoặc bị nghiệp khác mạnh hơn lấn át.

Theo tướng trạng hoạt động, nghiệp được chia thành 4 loại như sau: 1- Năng sanh nghiệp: là năng lực tiềm ẩn khiến cho “tưởng” phát khởi, đó cũng chính là hoạt động của “Hữu” trong 12 chi phần duyên khởi. Nghiệp này tiềm ẩn, chờ trợ lực bên ngoài mà phát thành hiện hành hoặc không. 2- Năng trì nghiệp: là nghiệp lực duy trì sự tồn tại của năng sanh nghiệp nói trên. 3- Năng tiêu nghiệp: là nghiệp có năng lực khiến cho 2 loại nghiệp trên không hiện hành. 4- Năng hủy nghiệp: nghiệp này mạnh hơn cả năng tiêu nghiệp, nó có khả năng nhổ tận gốc rễ của các loại nghiệp đang hiện hành hoặc sẽ hiện hành.

Căn cứ trên quả báo, có 4 loại: 1- Cực trọng nghiệp: là nghiệp có năng lực rất mạnh, có khả năng lấn át các nghiệp khác, bao gồm cả thiện hoặc ác. Nhưng bất luận là thiện hay ác, nó có thể hoặc là năng sanh nghiệp, hoặc là năng trì nghiệp, hoặc là năng tiêu nghiệp, hoặc là năng hủy nghiệp. 2- Cận tử nghiệp: là chỉ nghiệp lực được hình thành ngay trước lúc một chúng sanh nào đó chết. Nếu chúng sanh ấy không có cực trọng nghiệp để quyết định con đường tái sanh thì cận tử nghiệp sẽ làm nhiệm vụ như dẫn nghiệp để chiêu cảm quả báo đời sau. Tư tưởng niệm Phật vãng sanh chủ yếu dựa trên quan niệm này. 3- Tập quán nghiệp: là nghiệp được hình thành do tập quán hành động, suy tư; lúc gần chết, nghiệp này có thể chuyển thành cận tử nghiệp để tái sanh. 4- Tích lũy nghiệp: là nghiệp được tích lũy trong nhiều đời nhiều kiếp, chỉ chờ hội đủ duyên là biểu hiện, nó có thể trở thành tập quán nghiệp hoặc cận tử nghiệp. Du-già-tông nói nghiệp là dị thục thức (thức a-lại-da) là vì vậy, bởi vì thức a-lại-da huân tập chủng tử từ vô thủy trở lại, chỉ chờ cơ hội để phát thành hiện hành (phát triển thành quả).

Ngoài ra, Du-già-tông còn dựa trên năng lực biến tợ của tâm (năng lực biến thành cảnh tượng tương tợ, tức là căn thân và thế giới) mà chia thành cộng nghiệpbiệt nghiệp (bất cộng nghiệp). Cộng nghiệp là nghiệp dẫn đến quả báo chung mà mọi người cùng nhận lãnh, nó tương đương với cộng biến, như mọi người cùng sinh ra trên cùng một lãnh thổ thì phải nhận lãnh những điều kiện xã hội, tự nhiên như nhau. Tuy vậy, trong cùng một môi trường như nhau ấy vẫn có những sự khác biệt, như trong làng chài lại có người không làm nghề đánh bắt cá mà đi buôn, đó gọi là biệt nghiệp, tương đương với tự biến. Luận nói: “Thế nào là cộng nghiệp? Nếu nghiệp tạo ra khí thế gian với các thứ sai biệt gọi là cộng nghiệp. Bất cộng nghiệp là gì? Nếu nghiệp khiến tạo ra hữu tình thế gian với các loại sai biệt gọi là bất cộng nghiệp”.[12] Như thế, y báo (thế giới vật chất) được hình thành do cộng nghiệp của các loài hữu tình, còn thế giới chánh báo (nói rộng là mỗi cá nhân, nói hẹp là tâm thức của mỗi cá nhân trong thế giới này) là do biệt nghiệp chiêu cảm thành. Tuy phân chia thành 2 loại như vậy nhưng thực chất cộng nghiệp và biệt nghiệp vẫn thường đan xen với nhau tạo thành sự phồn tạp của thế giới.

Trên là những loại nghiệp mà kinh luận đề cập đến, tùy theo cách nhìn mà có nhiều cách phân loại khác nhau. Nghiệp tuy nhiều nhưng có thể nói gọn không ngoài nghiệp thiện ác của thân, miệng và ý, cụ thể là sự thực hành 10 nghiệp đạo như đã nói.

Nghiệp là năng lực tiềm tại được hình thành do hành vi của mỗi cá nhân và chính là năng lực dẫn thần thức đi tái sanh. Với giáo lý nghiệp ấy, đức Phật đã thật sự đưa con người ra khỏi vòng kiềm tỏa của thế giới vong thân mà ở đấy chỉ có quyền năng của đấng sáng tạo hoặc dòng chảy thác loạn của ngẫu nhiên tính. Giờ đây, con người làm chủ lấy bản thân họ, làm chủ vị thần sáng tạo của tự thân và chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình. ☸


 

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ LUẬT NGHIỆP BÁO ^

Hoàng Nguyên

Khái niệm về nghiệp

Nghiệp gọi đủ là: Nhân quả nghiệp báo, là kết quả của ý nghĩ, lời nói và hành động. Mỗi ý nghĩ, lời nói hay hành động đều mang lại kết quả cho chủ nhân của nó. Trên đại thể mà nói, ta trao cho người cái gì thì cái đó sẽ trở lại cho ta, ta gieo rắc niềm bất hạnh, nỗi đau thương cho tha nhân thì ta sẽ gặp phải hoàn cảnh bất hạnh, đau thương tương xứng; ta ban phát niềm vui, tạo dựng hạnh phúc cho người thì ta sẽ gặt hái được niềm vui, niềm hạnh phúc gấp bội. Nói lời nói hay hành động đều mang lại kết quả thì dễ hiểu, vì tác dụng của nó ta có thể thấy ngay trong hiện thực. Ví dụ, anh Ba hành hung anh Hai, làm anh Hai bị thương tật, kết quả anh Ba phải vào tù, còn bị mất một số tài sản để bồi thường cho anh Hai nữa. Ví dụ này chỉ có tính cách ước lệ, chứ nó không thể diễn tả được tính chất sâu thẳm của qui luật nghiệp báo. Vì dù pháp luật có phát hiện để trừng trị hay không thì trong môi trường của nghiệp, hành động của anh Ba đã tác thành nghiệp quả rồi, vấn đề anh Ba chuốc lấy sự báo ứng chỉ còn là vấn đề thời gian, nhân duyên, hoặc là kiếp này hoặc là kiếp sau. Nhưng ý nghĩ thì sao? Đối với luật pháp xã hội, chỉ có ý nghĩ không thôi thì không thể cấu thành tội phạm, chỉ khi nào ý nghĩ được thể hiện ra bằng hành động hoặc lời nói thì khi đó luật pháp mới vào cuộc. Song đối với luật nghiệp báo, khi khởi lên một ý nghĩ thiện hoặc bất thiện thì ngay lúc đó đã hình thành thiện nghiệp hoặc ác nghiệp. Nghiệp nhân này tiềm ẩn dưới dạng chủng tử, nó nằm trong sâu thẳm của vô thức hay nói đúng hơn nó hiện diện trong thức A-lại-da, chỉ chờ thời gian nhân duyên hội đủ để dẫn khởi thành kết quả. Quả báo của ý nghĩ chỉ tác thành nhân cách, chưa thể tác thành hoàn cảnh sống của cá thể, nhưng khi nó dẫn khởi thành hành động thì khi đó mới tác thành hoàn cảnh sống của cá thể. Ví dụ, anh Ba vì một lý do, điều kiện hoàn cảnh nào đó không thể hành hung được anh Hai, chỉ nuôi ý nghĩ hành hung anh Hai thôi, thì chính ý nghĩ bất thiện, ác độc này sẽ tác thành nhân cách của anh Ba và chính nhân cách này là những xung động dẫn khởi thành hành động về sau của anh, hoặc là kiếp này, hoặc là các kiếp về sau.

Nhân cách của cá thể phần lớn được kết thành từ những ý nghĩ trong kiếp quá khứ. Những xu hướng hành động của cá thể phần lớn cũng được thai nghén từ trong kiếp quá khứ. Ý nghĩ thì tác thành nhân cách. Lời nói, hành động thì tạo thành hoàn cảnh sống của cá thể. Ý nghĩ, lời nói và hành động, ba thành tố này duyên hợp với nhau sẽ sinh thành nhân cách và tạo dựng nên hoàn cảnh sống của cá thể.

Luật nghiệp báo dẫn khởi từ ý nghĩ, do đó, ý nghĩ đóng vai trò quyết định trong việc tác thành nghiệp hay không. Một hành động nếu không xuất phát từ ý thức thì hành động đó được xem là không tác thành nghiệp, giống như trường hợp cành cây khô gãy đè người chết, cành cây không tác nghiệp. Thấy được vai trò trọng yếu của ý thức đối với luật nghiệp báo, chúng ta kỷ luật phòng hộ ngay trong những ý nghĩ của mình.

Hoài nghi về nghiệp.

Trong cuộc sống, không ai (ngoại trừ những người có niềm tin sâu sắc về nghiệp báo) không khỏi có sự hoài nghi về luật nghiệp báo. Chúng ta thường phân vân là thực có nghiệp báo, thực có những người làm ác sẽ bị trừng trị đích đáng, những người làm thiện sẽ hưởng được phước báo tốt đẹp hay không? Sự hoài nghi của chúng ta không phải không có cơ sở, bởi lẽ, nhìn vào hiện thực cuộc sống, chúng ta thấy nhan nhản những kẻ có tâm địa nham hiểm, độc ác, thủ đoạn mà vẫn sống giàu có phây phẩy ra đó, còn những người hiền lương thuần thiện thì phải chịu những bất trắc, oan trái, cơ cực nghèo khó. Một tên cướp giết người cướp của, lẫn trốn pháp luật, thời gian phôi pha, vụ án không phá được; thế có chắc y sẽ chịu một quả báo tương xứng trong tương lai hay không? Rồi một đứa bé sanh ra trong một gia đình giàu có, thông minh đỉnh ngộ; thế có chắc là kiếp trước chú bé đã tạo được những phước lành hay không? Ngược lại, một đứa trẻ khác sinh ra trong một gia đình nghèo túng, tâm trí đần độn, tật nguyền; thế có chắc kiếp trước đứa trẻ đó đã tạo ra những tội lỗi tày trời hay không? Rồi một anh thương gia toàn gặp may mắn, thuận lợi trong việc kinh doanh, nhiều lúc đi chơi nghỉ mát thôi cũng gặp được những hợp đồng béo bở; thế có chắc y đã từng bố thí, ban ân rộng rãi trong kiếp trước hay không? Trái lại, cũng là một thương gia, nhưng anh này toàn gặp chuyện rắc rối, rủi ro, làm ăn thua lỗ, tan gia bại sản; thế có chắc kiếp trước y không chịu bố thí và cũng không ca ngợi hạnh bố thí hay không? Rồi có trường hợp ta giúp đỡ ai, họ mang ơn, sau này tìm đến ta để trả ơn. Nhân quả ở trường hợp này dễ hiểu nhưng nếu gặp kẻ vô ơn, không nhớ nghĩ gì đến chúng ta thì sao? Rồi có trường hợp ta hại người, họ tìm cách hại lại ta, nhân quả này dễ hiểu nhưng nếu gặp người từ tâm rất lớn, họ tha thứ không tìm cách mưu hại lại thì sao? Rất nhiều những điều hoài nghi vây bủa tâm tư của chúng ta. Chính sự hoài nghi này tạo nên tường thành ngăn cách niềm tin của chúng ta về luật nghiệp báo, và một khi chúng ta đánh mất niềm tin về luật nghiệp báo thì chúng ta dễ dàng đánh mất luôn nền tảng đạo đức của con người. Vậy làm thế nào để chúng ta tin hiểu được luật nghiệp báo?

Niềm tin về nghiệp.

Ngày nay, khoa học đã tiến đến ngưỡng cửa rất tinh vi, ngưỡng cửa đó là ngưỡng cửa giữa cái không và cái có hay nói cách khác cái ngưỡng cửa giữa vật chất và không phải vật chất. Mấy nghìn năm qua, các nhà khoa học đã quen chứng kiến và chứng minh những qui luật khách quan nằm trong không gian vật chất, vậy mà thuật ngữ khoa học ngày nay có cái gọi là không gian phi vật chất, họ đâm ra bối rối. Khi mà khoa học còn mù mờ về không gian phi vật chất (ta cũng có thể gọi đây là không gian tâm linh) thì việc đòi hỏi tin nhận nhân quả nghiệp báo phải có tính khoa học là một đòi hỏi thiếu tính khôn ngoan, nếu không muốn nói là quá vụng về; vì quy luật nhân quả nghiệp báo không thuộc lĩnh vực thế giới quan vật lý, nó nằm trong không gian tâm linh, tận sâu thẳm trong bản thể. Chỉ có đức Phật và các bậc thánh A-la-hán đã chứng ngộ thể nhập vào bản thể mới thấy rõ được đường đi lối về của luật nghiệp báo. Chúng ta, những người phàm phu, với tâm tánh loạn động, khó mà thấy được luật nghiệp báo vốn sâu thẳm và bao trùm tất cả. Chúng ta tin vào luật nghiệp báo vì chúng ta tin vào Phật và các vị A-la-hán, tin vào các bậc Thánh đạt đạo. Và hơn hết, chúng ta tin vào lương tâm thánh thiện của mình. Trong sâu thẳm lương tâm của mình, chúng ta ai ai cũng có lúc trực nhận rằng kẻ hiền lương sẽ gặp được những điều may mắn, tốt đẹp, còn kẻ độc ác sẽ gặp phải tai ương, hoạn nạn. Chính trong giây phút tâm tư tĩnh lặng, lương tâm soi sáng, chúng ta nhận ra được luật nghiệp báo, dù còn mơ hồ, chưa rõ lắm.

Cái khó của việc tin nhận nhân quả nghiệp báo chính là khoảng thời gian và khoảng không gian ngăn cách. Có khi một hành động bất thiện được anh A tạo ra ở kiếp này, ở đây nhưng mãi đến năm bảy kiếp sau anh mới thọ quả báo ở một chỗ khác. Ví dụ như trường hợp quốc sư Ngộ Đạt chẳng hạn, Ngài đã giết oan một mạng người mà mãi đến kiếp thứ mười Ngài mới chịu quả báo. Luật nghiệp báo không đóng khung trong một không gian, thời gian nhất định nào. Nó bao trùm cả tâm, vật, không gian vô biên và thời gian vô tận; hơn nữa, nó cũng không bị chi phối bởi tâm lý vô ơn hay từ tâm của hai trường hợp vừa nêu ở phần hoài nghi về nghiệp, vì dù gặp kẻ vô ơn hay người có từ tâm thì hành động của mình tạo ra mình sẽ gặt lấy. Luật nghiệp báo cũng giống như tấm gương bí mật ở trên cao. Người không thấy, không biết sẽ rất ngạc nhiên tại sao một ngọn đèn ở đây, bị ngăn cách bởi rất nhiều bức tường lại có thể xuất hiện một vầng sáng ở bên kia. Ngọn đèn chính là nghiệp nhân và vầng sáng bên kia chính là nghiệp quả. Chúng ta hiện không hay không biết gì về tấm gương, về luật nghiệp báo nhiều nhưng không hiểu không biết không có nghĩa là không có. Vậy điều khôn ngoan nhất hiện giờ là phải tin nhân quả nghiệp báo để làm lợi ích cho mình và cho xã hội.

Lợi ích thiết thực từ việc tin nhận luật nghiệp báo.

Người tin luật nghiệp báo tức tin rằng thiện ác sẽ có báo ứng phân minh. Một tên trộm giết người cướp của ma quái quỷ quyệt có thể lẩn tránh pháp luật nhưng gã ta không thể lẩn tránh được luật nghiệp báo, trong tương lai gã sẽ chịu quả báo tương xứng. Ngoài hai quả báo chính là cướp của giết người, gã phải chịu thêm những quả báo phụ kéo theo nữa. Chẳng hạn gã giết anh xe ôm rồi cướp xe tẩu thoát. Hậu quả đau thương để lại cho gia đình anh xe ôm là không kể xiết. Người vợ đau đớn mất chồng, những đứa con thơ dại mất cha, lạc lõng, bơ vơ côi cút. Anh xe ôm lại là người trụ cột, người lao động chính trong gia đình, mọi chi tiêu trong gia đình, ăn học của con cái chỉ trông chờ vào đồng tiền kiếm được của anh. Anh mất đi, kinh tế gia đình túng quẩn, nghèo khó, con cái không đủ cái ăn cái mặc, không còn điều kiện để tiếp tục học hành được nữa. Người vợ buồn khổ có khi dẫn đến bệnh tật rồi chết. Tất cả những nỗi đau khổ này, gã giết người kia phải gánh chịu, chắc chắn trong tương lai, những kiếp về sau, gã này phải chịu sự báo ứng vô cùng đau khổ. Tin vào sự báo ứng khốc liệt trong tương lai, những kẻ manh tâm làm ác sẽ chùng bước, sẽ quy thiện.

Chúng ta sanh ra đời không ai muốn mình bị xấu xí, tật nguyền, bất hạnh, nghèo khổ cơ cực; ai ai cũng muốn mình bảnh bao, thông minh đĩnh ngộ, giàu có, được nhiều người quí mến ủng hộ. Thế nhưng sống hiện đời, chúng ta toàn sống với tâm hồn nham hiểm, độc ác, hẹp hòi, ghanh ghét, đố kỵ, nhỏ mọn thì làm sao chúng ta có cuộc sống như ý được. Để niềm mong ước của chúng ta trở thành hiện thực, cách duy nhất là phải tin nhận luật nghiệp báo, phải thực hành ban phát tình thương, chia sẻ tài vật, cố gắng giúp đỡ mọi người, tạo dựng niềm vui, niềm hạnh phúc cho tha nhân, kính trọng và quy ngưỡng các bậc đạo đức Thánh hiền. Làm được điều này, phước báu tốt đẹp sẽ kết tinh trong chính bạn, hiện tại được nhiều người quý mến, kính phục và chắc chắn trong tương lại, bạn sẽ sinh ra làm người được như ý.

Một khi tin hiểu sâu sắc về luật nghiệp báo, tự nhiên lòng chúng ta trở nên rộng rãi bao dung, độ lượng hẳn ra. Trong gia đình, đoàn thể cho đến trong cộng đồng xã hội, nếu mọi người ai cũng có niềm tin sâu sắc về nhân quả nghiệp báo thì tự dưng, không ai bảo ai, họ đều đối xử rất chân tình, thánh thiện với nhau, thấy người này khó khăn, họ tìm đến giúp đỡ, thấy người khác gặp hoạn nạn họ tìm đến sẻ chia. Có thể nói người tin hiểu sâu sắc về nghiệp báo là người đạt đến sự tự giác thánh thiện cao độ. Họ không cần ai khuyến khích, kêu gọi. Họ thấy hễ có người nghèo khổ, hoạn nạn, bất hạnh là họ tự tìm đến giúp đỡ, sẻ chia với khả năng của họ. Tâm hồn của những người tin hiểu luật nghiệp báo là tâm hồn của những vị Bồ-tát. Họ rất thận trọng trong ý nghĩ, lời nói hay hành động của mình. Họ rất sợ tạo ra niềm đau cho người khác và quả báo bất hảo cho chính mình. Do đó, tin hiểu luật nghiệp báo trước hết là mang lại ích lợi cho tự thân và kế đến là tha nhân và xã hội.

Kết luận.

Ngày nay, xã hội trở nên mất cân đối, khoa học vật chất thì phát triển mạnh mẽ, khoa học đạo đức tâm linh thì thụt lùi; điều này, chỉ cần chúng ta nhìn vào thực trạng xã hội thì sẽ rõ. Bình tâm mà xét lại, chúng ta thấy mình đều có phần trách nhiệm trong việc đạo đức tâm linh đang đi xuống. Những người tạo nhiều ác nghiệp tày trời là những người không được giáo dục đạo đức hoặc có giáo dục, nhưng giáo dục lấy lệ, không gợi được cảm xúc thánh thiện sâu thẳm trong tâm khảm họ. Vấn đề giáo dục đạo đức tâm linh không đơn giản như việc giáo dục kiến thức khoa học. Việc giáo dục kiến thức khoa học, ta chỉ cần hiểu và trình bày lại những kiến thức đã có sẵn trong sách vở, còn việc giáo dục đạo đức tâm linh đòi hỏi nhà giáo dục ngoài việc có kiến thức chuyên môn cần phải có tâm hồn đạo đức thánh thiện trong sáng, phải biết khai thác triệt để khía cạnh cảm xúc thánh thiện ẩn sâu bên trong thính chúng. Sự thành công ít nhiều của nhà giáo dục đạo đức tùy thuộc vào việc gợi mở ít nhiều cảm xúc thánh thiện thẳm sâu bên trong những tâm hồn ấy, tùy thuộc vào việc phát khởi niềm tin mạnh yếu vào học thuyết, giáo lý của nhà giáo dục nêu ra (có thể là học thuyết của Phật giáo, Thiên chúa giáo…), tùy thuộc vào sự chuyển biến tâm hồn nông sâu của thính chúng. Đối với các nhà giáo dục theo học thuyết Phật giáo, điều trước hết và quan trọng nhất là nêu cao tinh thần nhân quả nghiệp báo. Một khi có ý thức về nghiệp báo thì họ có ý thức về đạo đức. Một khi có ý thức về đạo đức, họ biết tôn trọng cuộc sống. Một khi biết tôn trọng cuộc sống, họ biết mưu cầu hạnh phúc cho mình xuyên qua việc làm lợi ích cho tha nhân, cho tập thể, chứ họ không mưu cầu hạnh phúc cho mình bằng việc tước đoạt lợi ích của tha nhân, của đoàn thể. Xã hội nếu có nhiều người tin hiểu luật nghiệp báo thì xã hội sẽ có được nhiều tiếng cười, nhiều niềm vui hơn và nếu ai ai cũng tin hiểu luật nghiệp báo thì cuộc đời này đầy ắp tiếng cười, đầy ắp niềm vui. Bóng tối nham hiểm, độc ác, vị kỷ, hẹp hòi lụi dần; ánh sáng tình thương lan tỏa muôn nơi. ☸

 


 

HƯƠNG SEN ^

Nguyễn Tường Bách

Hoa sen “tròn mà nhọn”. Đó là một câu của thời xa xưa, khi tôi mới vỡ lòng tập đọc. Mới nghe câu này người ta dễ thấy có gì vô lý. Thế nhưng nếu từng ngắm hoa sen, người ta thấy quả thật nó “tròn mà nhọn”. Hoa sen lúc còn “búp” cũng thế mà mỗi cánh hoa lúc đã nở cũng “tròn mà nhọn” như thế. Hình dáng giản đơn đó của hoa sen - ngờ đâu - là cách tôi dùng để phân biệt hoa sen với các thứ hoa cùng loại, ngày sau khi lớn lên.

Hoa sen không phải chỉ mọc ở châu Á như nhiều người vẫn tưởng. Ở các nước khác như tại Bắc Phi, châu Âu và châu Mỹ, hoa sen vẫn nở đầy trong sông hồ. Thế nhưng, chúng không phải là sen, nếu nói một cách chính xác. Các loại “sen” đó mà tiếng Anh gọi là Water Lilies thuộc về một họ thực vật tên gọi là “Nymphaea”. Loại hoa này dĩ nhiên cũng có tại Việt Nam mà tên của nó bị gọi một cách rẻ rúng là “hoa súng”. Hoa súng chỉ là một trong khoảng 50 loại của họ “Nymphaea”, chúng rất khác nhau về màu sắc và hình dáng. Các loại “Nymphaea” thật ra cũng rất được người trồng cây quí trọng, màu sắc của chúng rất đáng yêu, từ trắng tinh đến hồng nhạt, đỏ thắm và cả màu thiên thanh. Có thứ “Nymphaea” sinh hoa và lá cực lớn, hoa có thể có đường kính đến 40cm, lá lớn cả mét. Nhưng cái “đáng trách” của loài hoa nước này là hoa lá của chúng thường chỉ nổi trên mặt nước, không mấy thứ vươn cao lên khỏi nước, ta cứ nhìn hoa súng thì biết. Ngoài ra hoa và cánh hoa của chúng dù có thể to nhỏ và đủ màu sắc, hình dáng khác nhau, nhưng thường hình thuôn dài, không thể “tròn mà nhọn”. Và đó là tiêu chuẩn giản đơn của tôi khi phân biệt đâu là hoa sen, đâu là hoa súng.

Hoa sen “tròn mà nhọn” của tôi thuộc về một họ khác, đó là họ “Nelumbo”. Phần lớn người phương Tây không biết phân biệt hai họ đó, cứ gọi chung là “Lotus”. Người biết rõ loại hoa này gọi nó là “Padma”, tiếng Sanskrit, chỉ một loài hoa độc nhất vô nhị trên thế giới. Hoa, cánh hoa và lá của nó hình tròn. Chúng nằm trên một thân thẳng đứng có gai nhỏ, vượt cao lên mặt nước khoảng từ 20 đến 40cm. Và từ nhiều ngàn năm nay, con người phương Đông ngắm hoa sen, trong lòng nẩy sinh bao điều cảm khái.

Hoa sen là một loài hoa mọc từ ao hồ, đầm lầy. Từ lòng đất ẩn mật và dường như “dơ bẩn” đó, loài sen đã thu nhận cát bùn và chuyển hóa thành một cánh hoa đều đặn, hài hòa, tinh khiết và đầy hương thơm cao quí. Gốc của nó thì trong bùn đất, nhưng ngọn của nó đón nắng và gió, tỏa hương sắc cho đời. Vì những lẽ đó mà từ nhiều ngàn năm nay, hoa sen là biểu tượng của sự chuyển hóa, của sự thành tựu. Và Đạo là gì nếu không phải là con đường của sự chuyển hóa. Vì thế nên hoa sen là biểu tượng của Đạo. Nhiều bậc trí giả còn đi xa hơn, họ nghiệm rằng hoa sen là thứ mọc trong đất, lớn lên trong nước, thở cùng với gió và đón lửa của mặt trời để cho rằng trong hoa sen cả bốn yếu tố đất nước gió lửa đều hội tụ, cho nên hoa sen là thành tựu cụ thể và bé nhỏ của vũ trụ. Và hành giả Đại thừa Phật giáo, nếu không quên được câu “Sinh tử là Niết bàn”, thì có lẽ các vị đều thấy hoa sen chính là biểu tượng của sự nhất thể đó vì gốc và ngọn của hoa tuy khác nhau một trời một vực nhưng chúng không thể lìa nhau, cái này là điều kiện tồn tại của cái kia.

Hoa sen lại còn một điều bất ngờ khác mà con người mới phát hiện gần đây. Khoảng trong những năm 90, một giáo sư ngành thực vật người Đức tên là W.Barthlott khám phá ra một điều mà ông gọi là “hiệu ứng Lotus”. Ông thấy một điều mà ai cũng biết là những hạt nước nằm trên lá sen đều cuốn tròn lại như những hạt ngọc trai và lăn đi rất nhanh, chúng cuốn theo cát bụi và không để lại chút dấu vết trên lá. Thế nhưng Barthlott giỏi hơn người thường ở chỗ, ông xác định được cấu trúc của mặt lá sen và thấy chúng không hề bằng phẳng mà gồm những hạt rất tròn và đều. Thế là nhà khoa học đó bắt chước thiên nhiên để đưa ra một nguyên lý nhằm chế tạo bề mặt các sản phẩm có khả năng “tự làm sạch”. Nguyên lý đó ngày nay được áp dụng khắp nơi, nhất là trong ngành vật liệu xây dựng và Barthlott được lãnh giải thưởng bảo vệ môi trường năm 1999. Điều đ