Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tản Mạn


...... ... .

 

Về thăm nhà

Viên Trí Mai Nhơn

---o0o---

26/2/2003 

Huế

Những mãnh đời của lũ trẻ sống trên đò, bên bờ Sông Hương cứ mỗi khi nghĩ đến lại làm tôi  nao nao… Trẻ bụi đời hoặc trẻ bán vé số, đánh giầy, lượm lon, móc bọc… tôi tiếp xúc, nói chuyện và trao đổi khá nhiều… song khi đối diện với lũ trẻ ngoài ấy là tôi không tài nào ngủ được…

Một lần ghé Huế, tôi tình cờ làm quen được lũ trẻ. Từ tờ mờ sáng, chúng kéo nhau lên bờ để đi làm thuê, thu nhập trong một ngày cho khoảng mười-hai giờ làm việc được

6 000 đến 7 000 đồng Việt nam (khoảng 50-60cent Úc). Con gái thì bán hàng rong, con trai thì đi theo đò mò sông, đãi cát sạn… mãi đến 6-7 giờ chiều chúng mới tụ tập lại góc chợ, nơi có hai vị thầy đón chúng tan việc về học. Em nào học hết lớp 5, là được “tốt nghiệp” ra trường. Vì hai vị Thầy giáo bất đắc dĩ này, mỗi thầy chỉ kiêm dạy được trình độ cho hai hoặc ba lớp (từ lớp một đến lớp năm). “Thư viện” là một chiếc tủ đã mục nát đựng đâu khoảng tám đến mười quyển truyện tranh.

Vội vã rời Huế với những vết chùng đâu đó trong tâm tư, tôi tự hứa lần sau về, nhất định sẽ dành nhiều thời gian hơn nữa, để trò chuyện và đến thăm cơ ngơi các em.

 15/06/2003

 Ba tôi đột ngột ngã bệnh, thời kỳ cuối của căn bệnh nan y, ung-thư. Cả nhà tôi phải tức tốc đưa Ông về bên ấy để thăm thân nhân lần cuối.

 Tôi vẫn không sao quên được những ánh mắt ngây thơ vì cuộc sống mà phải sớm lăn lộn với đời, đánh rơi cả những chuỗi cười trong trẻo mà các em đáng được hưởng ở lứa tuổi cắp sách. Ừ, các em đang chờ tôi.

 Sắp xếp chuyện gia đình xong, ba chân bốn cẳng, tôi chạy ra ngoài ấy. 

 Đặt 50 phần bánh bột lọc ở Cung An Định, tôi đột ngột đến thăm lớp học. Những nụ cười và những ánh mắt rạng rỡ của các em ấm áp đến lạ lùng, chưa bao giờ tôi cảm nhận sự hạnh phúc như lúc này.  

Ăn uống và sinh hoạt với lũ trẻ xong, lần này tôi không bỏ lỡ cơ hội, phải quính một vòng đi thăm “cơ ngơi” của chúng. Cứ như là tay săn tin sành điệu, tôi mở sổ lấy bút hỏi địa chỉ “nhà” vài em học khá và có hoàn cảnh đặc biệt… lũ trẻ chỉ cười cười.

 “Thôi, Chị không cần lấy địa chỉ, vì người Sì-gòn, đi hông tới nhà tụi em được đâu”

 Cha chả, con bé này “sốc” quá, tui thầm bụng nói. Ở Sài gòn hay ba-mươi-sáu phố phường (Hà-Nội) hay nói chung là ở trên bờ thì chẳng có ngõ ngách hay xó xỉn nào mà làm khó được tôi. Thấy tôi cương quyết, lũ trẻ cũng gượng ghi vài dòng nguệch ngoạc.. sai chính tả..

 “Đò 031 Bò Song Huơng, hỏi con Ong Ba đò”..

“ số đò….”

 Nghĩ đơn giản như trên bờ, ngó thấy số (nhà), thấy tên (đường), chắc là họ cũng cập đâu đó sát bờ, nên tôi yên bụng từ giã các em, để đển gặp cuộc hẹn khác trong ngày.

 Hai giờ sau, tôi bắt đầu truy tìm “địa chỉ”, Mạ ơi!  tìm ra được bến đò đã không là chuyện dễ huống hồ gì “nhà”. May mà các em đoán trước được và chờ đón tôi sẵn ở bến đò, nếu không tìm đến sáng chắc cũng chưa ra được căn “nhà” nào. Quả thật địa chỉ trên “đò” có khác!

 Ghé xuống bến, lũ trẻ chạy ùa ra đón. Những em có nhà trên bờ… níu tay, kéo áo … “dìa” cho Mạ cho Ngoại …. nó gặp xí. Tôi xẹt như điện, để còn kịp sang “nhà” phía bên kia. Dân cư sống trên đò đi ngủ rất sớm, vì giờ lao động của họ bắt đầu từ giữa khuya.

 Phương tiện giao thông là một chiếc ghe nhỏ. Hai đứa chèo, một đứa múc nước đổ ngược ra sông vì .. ghe lủng. Các em thuộc từng đường và từng ngôi nhà trên khúc Sông Hương ấy. Nhà ở đây là những chiếc đò, to hơn chiếc chúng tôi đang di chuyển. Nhà nào khang trang lắm thì sài đèn điện, còn không thì họ sài đèn dầu, đèn hột vịt, một manh chiếu và vài cái gối, rồi cả gia đình tha hồ vừa ngủ vừa ngắm trăng sao bên gió mát sông Hương... văng vẳng xa xa từ máy cát-sét “ Ai ra xứ Huế thì ra, ai về là về bến ngự, ai về là về sông Hương…. ”

 Gần mười gia đình tôi ghé qua, các em đều học chữ nhờ vào lớp học tình thương ban đêm trong góc chợ. Họa hoằng và hiếm hoi lắm mới có một “nhà” cho con theo học lớp chính quy. Như trường hợp của Lạc và Thủy, hai-chị-em vì ham học quá, đã năn nỉ ba mẹ và hứa nếu không đạt học sinh giỏi, sẽ không đòi ba mẹ cho học nữa. Qủa thật, hai em này đã giữ vững danh hiệu học sinh xuất sắc trong nhiều năm liền.

 Cảm động hơn, khi tôi tiếp xúc và trò chuyện với bé Hảo, khuôn mặt sáng sủa, thông minh và học khá giỏi. Nhà đông anh em và là con trai lớn trong gia đình, nên mới mười-bốn tuổi em đã trở thành lao động chính trong gia đình. Rời ghế nhà trường, Hảo phải đi làm từ mười-một giờ khuya đến mười-một giờ sáng, về cơm nước nghĩ ngơi vài tiếng, lại đi làm tiếp.. “2nd job”…  

Đa số trẻ ở bến đò mà tôi gặp đều chưa học hết lớp năm. Người dân sống và suy nghĩ  rất giản dị, họ chỉ lo mưu sinh, chạy chợ hàng ngày, theo nghề cha truyền con nối.  90% các em đều sống và sinh họat trên đò, theo ba mẹ lênh đênh đây đó làm nghề đánh cá, đãi cát sạn hoặc làm thuê.  Họ chỉ mong con em mình biết đọc biết viết đã là “oai” lắm rồi. Nếu có được điều kiện thì trẻ đi học một ngành nghề nào đó như phần đông các em đều mơ ước.. được làm cô thợ may, anh thợ hồ, thợ điện hay làm cô giáo để sau này có thể giúp đỡ nhưng trẻ khác có cùng hoàn cảnh như mình. 

Tôi rời Huế, tự hỏi mình có thể làm được điều gì để giúp đỡ, chia sẽ những ước mơ mộc mạc, đơn sơ ấy. Những con đò vẫn bấp bênh nơi vùng sông nước. Giấc mơ ấy liệu có trở thành hiện thực, vẫn là những dấu chấm hỏi nằm giữa lòng người.

 Melb, 17/2/2004.

Viên Trí Mai-Nhơn

 

--- o0o ---

Cập nhật ngày: 01-03-2004

 

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

 Trở về trang Tản Mạn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com