Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tản Mạn


...... ... .

 

qd-thanglong.jpg (45885 bytes)

 

Nhân kỷ niệm 990 năm, ngày vua Lý Thái Tổ ban chiếu dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Đọc lại sử xưa viết về thời này để xem giữa tiền nhân xưa và chúng ta nay có điểm đồng qui nào không?

Đọc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (bản Chính Hòa, NXB KHXH), Đại Việt Sử Ký Tiền Biên (NXB KHXH), Đại Việt Sử Lược (bản dịch của Nguyễn Gia Tường) ta đều bắt gặp đoạn văn có cùng nội dung: "… Vạn Hạnh mới bảo Lý Công Uẩn rằng: mới rồi tôi thấy chữ bùa sấm kỳ lạ, biết họ Lý cường thịnh. Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng Thân Vệ, là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại đang nắm binh quyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân Vệ thì còn ai đương nổi nữa. Tôi đã hơn 70 tuổi, mong được thư thả hãy chết, để xem đức hóa của ông như thế nào, thực là may nghìn năm có một. Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn"

Vấn đề là tại sao Công Uẩn lại bảo người đem giấu Vạn Hạnh? Vì Công Uẩn sợ âm mưu "soán ngôi" của mình bị bại lộ chăng? Ngờ rằng sử ghi như vậy là thiếu chính xác! Ai cũng biết Công Uẩn là con nuôi của sư Lý Khánh Vân, học trò của Sư Vạn Hạnh, một đàng là dưỡng phụ, một đàng là ân sư. Hơn nữa Vạn Hạnh là người tiến cử Công Uẩn vào Hoa Lư làm quan dưới triều Trung Tôn và Long Đỉnh. Và Vạn Hạnh được vua Lê Đại Hành rất mực kính trọng (TU TA).

Chỉ khi thấy Long Đỉnh giết anh là Long Việt để cướp ngôi, sau đó thi hành đường lối trị dân bạo ngược dã man và hiếu sát, trong khi thế nước mong manh, giặc Tống lăm le xâm lược, mà vua thì vừa bạo ngược, vừa mang ác bệnh phải nằm coi chầu, thế thì bằng cách nào để cứu nguy vận nước và muôn dân? Từ đó Vạn Hạnh mới bắt đầu mưu định việc đưa Công Uẩn lên ngôi để nhằm cứu nguy vận nước và thực hiện đường lối Đức Trị mà bản thân thầy trò ông cưu mang!

Theo sử thần Ngô Thì Sĩ: "Vạn Hạnh là người có chí khí hơn đời, ôm tài thao lược phò tá nghiệp vương, kiến thức hơn hẳn mọi người, tính toán biết trước sự việc, cũng là tay lỗi lạc trong giới thiền… đến khi biết nhà Lý sắp dấy lên đặt ra câu sấm, giã làm chữ sét đánh để thần kỳ hóa cái thuật của mình…." Sở dĩ Vạn Hạnh phải "thần kỳ hóa cái thuật của mình" vì thời ấy muốn làm công tác dân vận, ngoài việc thần kỳ hóa người ta không còn cách nào khác. Ngay như sau này, khi chống quân Minh xâm lược, Nguyễn Trãi vẫn phải nhờ vào việc "thần kỳ hóa" để vận động mọi người hướng về cờ nghĩa Lam Sơn để chống giặc bằng cách dùng mật đường viết lên lá cây tám chữ "Lê Lợi Vi Vương, Nguyễn Trãi Vi Thần" cho kiến đục thủng thành chữ rồi thả trôi sông. Khiến mọi người đọc được mà vững tin vào chơn mạng đế vương của Lê Lợi để hưởng ứng theo ông đánh giặc. Như vậy không thể cho rằng Công Uẩn sai người "đem giấu Vạn Hạnh ở Tiêu Sơn". Nếu cho là giấu hóa ra Vạn Hạnh là người ngoài cuộc trong việc đưa Công Uẩn lên ngôi? Đã là người ngoài cuộc hà tất phải "thần kỳ hoá" cái thuật của mình"? Nhân đây mới thấy sự chính xác của sách Thiền Uyển Tập Anh: "Ngày Lý Thái Tổ lên ngôi, sư ở tại chùa Lục Tổ đã biết trước, bảo người bác và người chú của vua rằng: Thiên tử đã băng, Lý Thần Vệ hiện đang ở nhà, tay chân họ Lý túc trực trong thành lên tới số ngàn. Trong trưa nay, Thân Vệ ắt được lên ngôi. Rồi yết bảng ở đường cái nói rằng:

Tật Lê chìm bể bắc
Hạt Lý mọc trời nam
Bốn phương gươm giáo đẹp
Mừng tám cõi bình an

Hai vương nghe nói rất sợ sai người đi hỏi tin, quả đúng như lời sư nói" (Nghiên cứu TU TA_ Lê Mạnh Thát)

Có lẽ Vạn Hạnh vắng mặt trong ngày đăng quang của học trò_ Công Uẩn, là để tránh tiếng rằng nhà sư mà cũng tham dự vào việc phế lập. Tuy việc phế lập đó không bằng sát phạt tranh giành, mà hoàn toàn hòa bình. Biết rõ Long Đỉnh là vậy, nhưng không giết bỏ, đợi Long Đỉnh trút hơi thở cuối cùng mới chính thức lên ngôi do sự đồng lòng của triều thần văn võ. Từ sự kiện này cho thấy ý niệm về "trung quân" của phong kiến phương bắc chưa có mấy ảnh hưởng đến tư tưởng người Việt thời ấy. Trung không khéo sẽ trở thành lực cản cho sự tiến hoá của xã hội và cộng đồng. Không thể "trung" với một triều đại hay với một người lãnh tụ nào, một khi triều đại đó hoặc vị lãnh tụ đó không còn thích hợp với trào lưu tiến hóa của xã hội loài người và của đất nước. Trong trường hợp của Lê Ngọa Triều mà cứ cố chấp chữ trung là đồng nghĩa với phản bội và mê muội. Nói cách khác, chỉ có người lãnh đạo không biết, hoặc không tự thăng tiến chính bản thân mình mới tìm đủ cách để ràng buộc người khác phải trung với mình. Một triều đại, một người lãnh tụ sáng suốt không nên đòi hỏi mọi người phải tận trung với mình _ ngoại trừ những nhà độc tài và hôn quân; mà họ phải luôn biết cách "duy biến sở thích" để chính họ không bị tụt hậu và gây cản trở cho đà tiến của dân, của nước.

Một người có công gây dựng nên triều đại đức trị như triều Lý_ một triều đại bắc phạt Tống, nam bình Chiêm làm rạng rỡ lịch sử dân tộc, mãi đến ngày nay con cháu vẫn còn hãnh diện và trân trọng. Nhưng ta hãy nghe sử thần Ngô Sĩ Liên nói: "Vạn Hạnh mới trông thấy Lý Thái Tổ, biết là người khác thường… Nhưng dứt tính mạng, bỏ nhân luân, chán trần tục ồn ào, nương cửa thiền tịch mịch, để trong sạch một mình , người quân tử không cho là phải"

Nhận xét trên của sử thần họ Ngô cho thấy ông là một nhà nho "kinh viện"; hễ thấy điều gì không hợp với chương cú, điển lệ của nho giáo là thẳng thừng bài xích. Sao lại lên án thiền sư Vạn Hạnh là "bỏ nhân luân"? Nhân luân là gì, phải chăng nhân luân là mối dây liên hệ tốt đẹp giữa người với người? Thế thì người tu hành không còn là con người nữa sao! Cho rằng Vạn Hạnh là người "chán trần tục", thế sao vua Lê Đại Hành mời làm quốc sư để cùng vua bàn luận những chuyện quốc quân trọng sự? Lối phê phán trên đúng là giọng điệu của một hủ nho hương quyện, nhìn người khác hệ tư tưởng với mình đầy ác cảm, đố kỵ, cho dù người ấy có làm nên công trạng bằng trời!

"Năm Thiên Phúc thứ 1 (980), tướng Tống là Hầu Nhân Bảo kéo quân sang cướp nước ta, vua mời sư đến, đem chuyện thắng bại ra hỏi, sư đáp: trong vòng 3-7 ngày giặc phải lui. Sau quả nhiên như thế. Đến khi vua muốn đánh Chiêm- Thành, việc bàn định chưa dứt khoát, sư tâu: "Xin mau cất binh, nếu không ắt mất cơ hội". Sau quả nhiên thắng trận" (Nghiên cứu TU TA, Lê Mạnh Thát). Một người gánh lấy vận mệnh lịch sử của dân tộc ngay trong lúc nguy khốn, để tạo nên sự an bình cường thịnh như thiền sư Vạn Hạnh _ có thể nói như thế_ lại bị phê phán là "chán trần tục ồn ào, nương cửa thiền tịch mịch, để tự trong sạch một mình" thì không thể chấp nhận được. Chúng ta đồng ý có sự khác nhau về mặt này, mặt nọ giữa Nho giáo và Phật giáo hoặc với bất kỳ một tôn giáo nào khác. Nhưng chúng ta không chấp nhận sự phê phán mang tính chủ quan, đầy ác cảm nhằm phủ nhận và triệt hạ một người nào, một tôn giáo hoặc một hệ tư tưởng nào. Một xã hội được gọi là văn minh là xã hội mà trong đó con người biết tôn trọng mọi giá trị của nhau.

Đọc ĐVSKTT, theo chúng tôi có một chi tiết rất quan trọng, nhưng sử chỉ lướt qua một cách nhẹ nhàng: "Canh Tuất, Thuận Thiên năm thứ 1 (1010), mùa xuân, tháng 2 xa giá về Châu Cổ Pháp, ban phát tiền lụa cho các bô lão trong làng theo thứ bậc khác nhau". Qua đoạn văn này, ta có cảm tưởng Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi liền về thăm cố hương, giống như Hạng Võ bị Trương Lương nói khích "làm vua mà không về cố hương chẳng khác nào áo gấm mặc đêm" để Hạng Võ bỏ Hán Trung (nơi địa lợi) cho Lưu Bang về Bành Thành (nơi hãm địa) đóng đô. Giá như Lý Thái Tổ về thăm quê chỉ thuần một việc là: "ban phát tiền, lụa là cho các bô lão" thì có gì đáng nói. Thiển nghĩ có thể sau khi lên ngôi vua, việc triều chính đã ổn, Lý Thái Tổ về thăm cố hương ngoài việc "ban phát tiền, lụa là cho các bô lão", còn lại việc quan trọng hơn là: lạy tạ ơn Thầy Tổ, đồng thời đem việc an bang tế thế ra tham vấn với Thầy _ sư Vạn Hạnh. Sau đó tháng 7 mùa thu mới ban chiếu Thiên Đô, xuống chiếu dựng và tu sửa chùa ở tất cả các hương ấp trong cả nước, tiếp theo là "Độ Tăng". Với việc làm này của Lý Thái Tổ về sau bị sử thần Lê Văn Hưu phê phán: "Lý Thái Tổ mới lên ngôi được hai năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập, mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ tăng hơn nghìn người ở kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vơ vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là việc làm phúc chăng?".

Ai cũng biết xã hội con người khác với "xã hội" con thú, ở chỗ xã hội con người biết quý trọng sự sống của chính mình và của tha nhân; đồng thời xã hội con người còn biết cách ngăn chặn không cho những điều xấu ác xảy ra, và đó cũng là mục đích của những nhà lãnh đạo đất nước; giáo dục và tôn giáo. Chức năng đích thực của tôn giáo không phải là đem những chuyện tội, phước để răn đe (tội) và nhử gạt (phước) con người, mà là giúp con người biết tôn trọng và thăng hoa cái kỷ-linh của chính mình. Để được làm được điều đó, theo Phật giáo, con người cần thực hành mười điều thiện căn bản sau:

-  Với thân:

Không gây tổn hại cho đồng loại và muôn thú

Không lấy của không cho

Không tư thông với vợ hoặc chồng của người khác

- Với miệng:

Không nói những gì sai sự thật

Không nói những gì từ không thành có và ngược lại

Không cậy quyền thế, tiền của để vu khống, gán ép cho người những gì họ không có, không muốn

Với mọi người, khi giao tiếp không dùng lời lẽ hiểm ác để hủy báng, mạ lị nhau

- Với tâm ý:

Không để những tư tưởng ham muốn bất chính nảy sinh và phát triển

Không có tư tưởng nóng giận và đánh trả với những gì bất như ý

Trước điều lợi cũng như hại, thuận cũng như nghịch phải luôn sáng suốt bình tĩnh, và tránh tất cả mọi sự cực đoan.

Theo Phật giáo mười điều hiền thiện căn bản trên sẽ làm phát sinh vô số những điều tốt lành khác, hơn hai nghìn năm nay, nơi nào có đạo Phật nơi đó có sự thuyết giảng mười điều hiền thiện. Như vậy cất chùa và độ tăng của vị vua đầu triều Lý không hẳn "là việc làm phúc" theo quan niệm của Lê Văn Hưu, và cũng là quan niệm của đa số quần chúng bình dân. Các triều Ngô, Đinh, Lê và đầu triều Lý, ở Đại Việt chưa có hệ thống trường ốc, giáo dục. Vậy lấy ai để "giáo dân vi Thiện"? Thời ấy, nước ta cũng chưa có tầng lớp trí thức khoa bảng, vậy thay vì mở trường đào tạo cán bộ, vua Lý Thái Tổ lại "độ tăng ở kinh sư hơn nghìn người". Điều này nói theo ngôn ngữ ngày nay là rất hợp logic. Có chùa là phải có tăng. Tăng là những người sống độc thân, sống không có gia đình, sống trong tinh thần Lục Hòa. Hơn nữa, thời ấy giới tăng lữ là giới trí thức của Đại Việt. Thế thì việc xây dựng, tu bổ chùa quán ở các hương ấp ở các lộ thì phải có tăng trụ trì. Tăng lúc này vừa là nhà tu, vừa là nhà trí thức và cũng vừa là "cán bộ" của triều đình "bổ nhậm" về trụ trì ở các chùa, các lộ để chăm nom, giáo dục dân thấu hiểu 10 điều hiền thiện căn bản và chính sách đức hóa của vua; và đây chính là phương sách ổn định xã hội và nhân tâm của Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi. Song song với việc dựng chùa, độ tăng, để dân thấm nhuần ân trạch của vua qua "chính sách nhân hậu", để dân tin tưởng thực hành 10 điều hiện thiện, Lý Thái Tổ liên tiếp miễn các tô thuế cho dân trong nhiều năm và nhiều lần. Phàm những năm gặp thiên tai, hạn hán, bão lũ thì vua miễn các thứ tô thuế cho dân là chuyện thường thấy, đàng này ngay năm được mùa to vua cũng miễn các thứ tô thuế cho dân. Ta hãy nghe sử thần Ngô thì Sĩ: "…Năm đó đại xá các thứ thuế 3 năm cho thiên hạ, năm thứ 7 lại tha tô thuế 3 năm cho thiên hạ, năm thứ 8 lại tha tô ruộng cho thiên hạ, năm thứ 9 lại tha một nửa tô ruộng cho thiên hạ, thế mà những việc xây dựng, đánh dẹp thì không năm nào không có; không biết sự chi dùng tại sao vẫn thường đủ được mà chính sách nhân hậu tha thuế, bỏ nợ vẫn được thi hành?" (ĐVSKTB)

Điều nhận xét của Ngô Thì Sĩ cho thấy vì sao xưa nay các tầng lớp thống trị luôn tiêu xài phung phí, luôn ở lầu son gác tía, luôn ăn sơn hào hải vị..vv.. mà vẫn không thiếu thốn gì đối với họ, đó là do họ tận thu các thứ tô thuế của dân một cách rất nặng, rất gắt. Cũng nhân đây ta mới hiểu được lời di chúc "hãy khoan thư sức dân" của Đức thánh Trần nói với vua Trần Anh Tông trước lúc lâm chung.

Như những gì vừa trình bày cho thấy việc vua Lý Thái Tổ dựng chùa, độ Tăng không phải đâu là việc "vơ vét của dân". Vơ vét máu mỡ của dân sao quốc vẫn phú, dân vẫn cường và vua vẫn tiếp tục "tha tô thuế cho thiên hạ"?. Lý Thái Tổ không nuôi hổ dữ, không đặt vạc dầu lớn để dùng uy trị thiên hạ như Đinh Tiên hoàng, Lý Thái Tổ cũng không xây dựng cung điện "lợp ngói bằng bạc" như vua Lê Đại Hành, mà chỉ xây chùa, độ Tăng và liên tiếp miễn thuế cho dân trong nhiều năm. Có thể nói 3 việc: dựng chùa, độ Tăng và liên tiếp miễn thuế cho dân, là ba mắc xích liên lập với nhau tạo thành chính sách "Dĩ đức hóa dân" của Lý Thái Tổ. Chính sách này một mặt giúp dân ai cũng có điều kiện để ổn định cuộc sống về cả vật chất lẫn tinh thần, mặt khác tránh được sự phung phí, nhũng lạm của quan viên! Sự nhũng lạm, phung phí của viên chức nhà nước làm cho "nơi thôn cùng xóm vắng" không ngớt "tiếng hờn giận oán sầu". Nói khác đi, khi quốc khố của vua mà đầy ắp thì đó là điều kiện thuận tiện để quan viên mặc tình vơ vét máu mỡ của dân. Miễn thuế cho dân là cách tiết kiệm tốt nhất để phát triển đất nước. Thế sao gọi Lý Thái Tổ "vơ vét máu mỡ của dân"? Có lẽ thời ấy, nhà sử học họ Lê chưa hề biết đến ý tưởng: "một cơ sở tín ngưỡng, hay một trường học được lập nên là bớt đi cho xã hội một nhà tù"

Đọc sử xưa mà cảm thấy tiếc, vì Đại Việt không có, hoặc chưa có một nhà viết sử nào đứng trên luận điểm của thời đại mình để nhận xét các thời đại trước một cách khách quan và tôn trọng sự thật của lịch sử.

Hai chữ Thăng Long có người dịch là "rồng bay", dịch như vậy không sai nhưng nghe có vẻ dân dã và thô quá, e rằng không lột tả được cái ngụ ý của tiền nhân. Vì "bay" có thể là bay lơ lửng, bay là là, bay vùn vụt, bay vèo…vv. "Thăng" mà dịch là bay sẽ không nói lên được những gì tiền nhân muốn nhắn nhủ con cháu mai hậu, "bay" là dịch từ chữ "phi" trong tiếng Hán chứ không phải chữ "Thăng". Do đó Thăng Long hoàn toàn khác với Phi Long, như "Phi Long tại thiên" chẳng hạn. Từ "Thăng Long" ngoài nghĩa bay lên còn hàm ẩn ý nghĩa chỉ sự trỗi dậy, sự vươn lên bay vút và không bao giờ còn bị hãm xuống vực sâu lần nữa. Vậy phải chăng khi cải tên Đại La thành Thăng Long, ẩn ý của Lý Thái Tổ (và cũng có thể có sự góp ý của Vạn Hạnh Thiền Sư) muốn nói với cháu con sau này: Non nước Đại Việt từ nay và mãi mãi về sau sẽ vững tiến vươn lên tới Phú Cường Thịnh Trị, và không còn sợ bất kỳ một thế lực ngoại xâm nào.

Theo chúng tôi cứ để y chữ Thăng Long mà không dịch gì cả để sự cảm nhận của mọi người sẽ sâu sắc và trọn vẹn hơn

Nha Trang, tháng Mạnh đông Canh Thìn-2000

Thích Tâm Trí
  Chùa An Dưỡng, Thái Thông, Vĩnh Thái, Nha Trang

 

---o0o--- 

| Thích Tâm Trí | Tác giả |


Vi tính: Nhị Tường
Cập nhật ngày 12-05-2001

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

 Trở về trang Tản Mạn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com