- Thức
biến
-
Có
những đêm dưới ánh trăng dọi, trong một phút bàng hoàng ta
đã từng nhìn lầm tàu lá chuối rung rinh ra một bóng áo
trắng đang lay động ; có những lúc nửa tỉnh nửa mê ta
từng nghe tiếng chó sủa xa xa như tiếng người cãi lộn, và
nhiều lúc mơ ngủ ta đã lầm nhận bàn tay mình đè lên
ngực thành một quái vật nặng nề. Trong những lúc ấy, vì
sao cảnh lại biến đổi như thế ?
"Vì tâm mình mê
hoảng". Ðó là câu trả lời của lý duy tâm thông thường.
Lý ấy cho rằng giá trị, tánh cách một vật một cảnh không
nhất định thế nào, nó chỉ tùy theo tâm hồn mình mà biến
hóa ra thế này thế kia, cho nên lắm lúc người buồn, cảnh
buồn, người vui, cảnh vui ; biết bao phen, cùng trong một
cảnh mà "người ngoài cười nụ người trong khóc thầm".
Lại như thì giờ nào
có khi mau khi chậm, thế mà "ngày vui ngắn chẳng tày
gang, ngày sầu dài tưởng đến hàng mấy thu".
Nhưng ta cũng nên tự
hỏi, lúc mơ hoảng thấy lá chuối ra bóng áo, tiếng chó
tựa tiếng cười, bàn tay ra quái vật, trong những lúc ấy
cảnh thiệt là chi ? Là lá chuối nhuộm ánh trăng hay bóng người,
là tiếng chó hay tiếng người, là bàn tay hay hình quái ?
Cảnh thiệt là lá chuối, tiếng chó, bàn tay ư ? Không, đó
chỉ là cảnh của người thức, cảnh đó chỉ thiệt với người
thức, chứ với người đang mơ, chính là bóng áo, tiếng người
và hình quái kia !
Thế thì biết cảnh nào
là thiệt ? Cho nên ta cũng không lạ cho lòng ngờ của Trang
Tử lúc nằm mộng thấy mình hóa bướm "Ta là người
nằm mộng hóa bướm, hay ta là bướm nằm mộng hóa người
?" .
Ai mà giải quyết được
!
Lý Duy tâm thông thường
phân biệt thiệt giả chỉ là thiên chấp, vì lý ấy nhận có
cảnh thiệt nhưng tâm hồn người đã tô màu cho các cảnh đó,
như lớp vỏ trùm lên gỗ, gia vị hòa vào thức ăn. Nhưng lý
ấy nào có biết thiệt giả đó chỉ là đối đãi mà có,
chứ cảnh trong mê đối với lúc mê vẫn thiệt.
Lý Duy tâm của Phật
giáo không công nhận có cảnh nào là cảnh thiệt, nhứt
thiết các cảnh đều do tâm hiện, lá chuối cũng tâm hiện,
bóng người cũng tâm hiện, như hoa đốm giữa hư không.
Ðó cũng là một phép
quán Duy tâm để nhận rõ chân tánh pháp giới.
Chân tánh tuyệt đối
của vũ trụ (tức pháp giới) không thể tả được, không
thể tưởng tượng được, vì muôn hình vạn tượng của pháp
giới đều là đối đãi mà có. Thoát khỏi các phương diện
đối đãi thì không thể nghĩ nghì cảnh ấy thế nào được.
Pháp giới như số trăm
(100). Số trăm không thể nghĩ nghì được, vì thiết thiệt nó
không nhất định có một tánh cách chi. Số 100 chỉ có tánh
cách đối đãi mà thôi, nghĩa là một trăm người, 100 xu hay
100 sông v.v...
Chính nhờ những tính
cách : người, xu, sông đó làm cho số 100 thành có tánh cách
rõ rệt : 100 người, 100 xu, 100 sông.
Pháp giới như số 100
ấy, tánh cách không thể nghĩ nghì, nó chỉ tùy tâm niệm mà
hóa ra có tánh cách cùng tướng này tướng kia. Chính những tánh
cách những tướng ấy mà ta gọi là sự vật. Nó hoàn toàn là
cảnh đối đãi với tâm niệm vậy.
Thí như sông, núi, trăng,
sao, chỉ là pháp đối đãi với tâm người mà hiện ra, chứ
đối với tâm loài khác, nghiệp khác vị tất đã có. Nước
chỉ theo tâm người mà có, với tâm cá, nước chắc đâu đã
là nước (Tình hữu lý vô).
Vì thế Phật đã
từng nói : "Sự sự vật vật như hoa đốm giữa hư không".
Hư không nào có hoa đốm,
thế mà trừng mắt nhìn lâu cũng thấy giữa hư không có hoa
đốm lăn xăn. Pháp giới ví như hư không, hoa đốm như muôn
tướng, sự mõi mắt như nghiệp các loài.
Sự sự, vật vật đây
không phải chỉ các tướng hình như cảnh vật cùng thân mình,
mà cho đến thấy, nghe, suy nghĩ, tư tưởng cùng các tâm pháp
như vui, buồn, phiền não, thiện, ác v.v... nữa.
Nhưng đã biết rằng
tâm cảnh chỉ là đối đãi mà có thì có thể hoặc :
1) Ðổi tâm niệm để đổi
cảnh, nhơn đó biết quả "Ngoài tâm không cảnh".
Ðó là phép quán pháp tánh.
2) Xét nơi cảnh mà nhận rõ
cảnh tức tâm. Ðó là phép quán pháp tướng.
Thường ta nhận thấy
có tâm đối với cảnh, tâm là năng tri, cảnh là sở tri, nhưng
xét kỹ thì giữa năng tri và sở tri không có chi là giới
hạn. Không năng tri thì sở tri cũng diệt, không sở tri thì năng
tri cũng tiêu ; vì thế biết rằng tâm và cảnh chỉ là hai
phần đối đãi của chơn tâm. Theo Duy thức học thì cảnh là
tướng phần, tâm là kiến phần của căn bản thức (hay đệ
bát thức) mà thôi. Rõ như bản đồ sau :
Kiến phần
Tự chứng phần ——>> Chứng tự chứng
Tướng phần <<—— phần : Thức
ÐỆ BÁT THỨC
Như tay sờ đầu, tay
là kiến phần, đầu bị sờ là tướng phần, cái thân cảm
nhận sự sờ đó là tự chứng phần và mình biết rằng cái
thân có nhận cảm sự sờ đó, sự biết ấy là chứng tự
chứng phần.
Tâm cũng như tay,
cảnh cũng như đầu, chỉ là hai phần của một thể, vì do
sự động chạm mà phát ra có kiến và tướng thôi. Như thế
thì biết kiến phần (tâm) tướng phần (cảnh) cùng tự
chứng phần và chứng tự chứng phần đều là tác dụng
của tâm thức mà thôi.
DUY CẢNH
Quán Duy tâm xong cần
quán Duy cảnh để phá trừ cho rốt ráo ngã chấp pháp chấp.
Quán Duy cảnh là đem tâm mình đặt vào một cảnh, thâu tâm
cho đúng với tâm cảnh ấy để nhận pháp giới đối đãi
với cảnh. Như đặt tâm mình vào người khác thời phải quán
cảnh xung quanh người ấy, đúng như người ấy thấy ; hoặc
xa hơn như đặt tâm mình vào con cá, thời phải quán nước
thành vô hình, mà không khí đối với mình hóa ra nghẹt thở,
những thức ăn ngon lành là rêu cỏ v.v... Lúc nào rốt ráo quán
pháp giới được đúng với pháp giới người khác, hoặc
với pháp giới con cá, thì sẽ hiểu được tất cả tâm
trạng và đời sống của người khác và của con cá và có
thể cảm hóa người và cá một cách dễ dàng.
Pháp quán này rất cao,
Phật đã giảng trong kinh Hoa Nghiêm là một Kinh tối cao của
Ðạo Phật.
*
* *
Năm xưa Hòa thượng
Phúc Hậu chùa Báo Quốc, trong một dịp Tết Nguyên Ðán, ngài
đã ung dung viết dán lên vách những câu đối, bài thơ để
đón mừng xuân mới. Tôi may mắn được đọc những vần thơ
siêu thoát của Ngài ngay khi nó vừa được viết ra còn chưa
ráo mực. Có những câu thơ đã in đậm vào trí óc non dại
của tôi lúc bấy giờ mà ngày nay vẫn còn hiện rõ. Mừng Xuân,
Ngài đã mở đầu hai câu : "Giàu sang lễ nghĩa mấy cho cùng,
đạm bạc ngày xuân cúng tấm lòng..." Thật là giản dị
mà đầy đủ. Giàu sang lễ nghĩa ít nhiều thiếu đủ chỉ
được phô bày tùy người tùy cảnh, chẳng có chi nhất định,
nên cũng chẳng biết mấy cho cùng. Kẻ giàu sang mà chẳng có
lễ nghĩa hay kẻ có lễ nghĩa mà không giàu sang đã đành là
thiếu, dẫu ngay đến kẻ vừa giàu sang vừa lễ nghĩa, nhưng
thiếu "tấm lòng" thì giàu sang lễ nghĩa ấy cũng hóa
ra hời hợt, mong manh chưa đủ cúng "tấm lòng" thật
là đạm bạc ! Nhưng thiếu tấm lòng là thiếu tất cả. Có
tấm lòng mới rực rỡ hoa đăng, tràn đầy hoan lạc, mới
dựng nỗi cảnh sắc huy hoàng thanh thoát.
Nghĩ vậy, nên trong ngày
Phật Ðản sinh tôi bắt chước Hòa thượng, trước hết dâng
lên đức Phật tấm lòng thành kính tưởng niệm những giáo
lý cao siêu mà Ngài đã đinh ninh dạy bảo. Vì nếu không như
vậy thì làm sao khỏi phụ bản hoài xuất thế của Phật là
cốt vì "khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật."
Ðó là lý do khiến tôi
trịnh trọng ghi ra những dòng đạo lý trên đây vậy.
Thích
Thiện Siêu
Lễ Phật Ðản 2537 (1993)
Sài Gòn
Chân thành cảm ơn Đạo hữu
Bình Anson đã gởi tặng bài viết này
( Trang nhà Quảng Đức, 02/2002)
---o0o---
| Thư mục Tác Giả |