VAI TRÒ
CỦA ĐẠO ĐỨC
TRONG
SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA NHÂN CÁCH
Lama Anaragika
Govinda
Tổ dịch
thuật Trúc Lâm dịch
---o0o---
Phần
2
Như vậy, vị ấy
thật sự là người "toàn thiện", "hoàn chĩnh",
và "toàn mãn," an tịnh với chính mình, nói khác đi,
vị ấy là người "có một đời sống tâm linh lành
mạnh." Vị ấy đã khắc phục được chứng bịnh "phân
tâm" gây nên bởi ảo giác về cái ngã—cái ảo giác luôn
luôn đi ngược lại với thực tại và là nguồn gốc của
vấn đề "thiện" và "ác." Và cũng chính vì
lý do nầy mà vị ấy không quan tâm đến việc xóa bỏ bất
cứ một tính chất nào trong nhân cách con người. Tráí lại,
vị ấy chỉ quan tâm đến việc khắc phục sự mất quân bình
giữa các năng lực tâm lý và qua quá trình phục hồi sự quân
bình của các năng lực tâm lý nầy, vị ấy không hủy diệt
hay sáng tạo ra một cái gì mới cả. Nếu chúng ta có một cái
cân trống mà cán cân bị lệch, chúng ta có thể điều chĩnh
bằng cách dời đổi trọng điểm của cán cân chứ không
phải bằng cách chất thêm đồ trên bàn cân bị chếch.
Việc chữa bịnh mất quân bình trong tâm lý con người cũng
thế. Chúng ta chuyển trọng tâm của tâm lý mất quân bình
từ "cái ngã" về phía "cái vô ngã."
Trong bối cảnh nầy,
chúng ta có thể hiểu tại sao đạo Phật thường dùng những
từ như "thiện" và "bất thiện" (kusala,
akusala), vì những khái niệm như "thiện" và "ác",
"đạo đức" và "phi đạo đức" đều không
hợp với quan điểm đạo Phật. Vì thế người Phật tử không
thể chấp nhận ý niệm về tội lỗi và ý niệm về một Đấng
Thượng Đế có quyền cấm đoán hoặc quy định những nguyên
tắc đạo đức, và ý niệm về những "điều răn" mà
con người có thể "vi phạm." Đối với người Phật
tử, chỉ có một lỗi lầm, đó là vô minh—nói khác đi, đó
là do không biết và mù quáng, và tất cả những tư tưởng và
hành động xuất phát từ vô minh đều đem tai họa lại cho
chính chủ nhân hành độïng. Do đó, hậu quả của một hành
động hoặc tư tưởng được xem là "thiện" hay
"bất thiện" là tùy vào mức độ nó có phản ánh
hay đi sát với thực tại hay không, nghĩa là tùy vào việc người
đó có hay không có trí tuệ để hiểu được thực tại như
nó đang tồn tại mà thôi.
Điều nầy làm cho chúng
ta thấy rõ là chế ngự được dục vọng hay sân hận vẫn
không đủ để giúp chúng ta giải thoát một cách triệt để.
Việc nhiếp phục được dục vọng nhiều nhất là giúp chúng
ta sống một cuộc đời hết sức thanh đạm, đơn giản và
khổ hạnh. Chiến thắng được sân hận giúp chúng ta khoan
dung, và trong nghĩa tích cực nào đó, yêu thương những người
sống chung quanh mình. Nhưng cuộc sống thanh đạm, đơn giản,
và khổ hạnh cũng như tấm lòng bi mẩn vẫn chưa đủ vì
trong cuộc đời nầy, rất nhiều người bình thường vẫn có
đủ những đức tính nầy. Chỉ với sự hiểu biết, sự
cởi bỏ những ảo tưởng và hạn chế về tâm linh, và sự
vượt lên trên chính mình, tóm lại chỉ có trí tuệ bát nhã
(prajna) mới đem lại cho sự vô tham và tình thương yêu
đối với người chung quanh một ý nghĩa thật sự và biến
chúng thành những thuộc tính của một đấng toàn giác.
Cũng giống như tham
lam và sân hận là hai thể hiện đối nghịch nhau của vô
minh và điều kiện lẫn nhau như hai cực âm và dương của
nam châm, cực này hút thì cực kia đẩy, việc giải thoát
khỏi sự chi phối của tham dục và đam mê chấp thủâ hay quá
trình chế ngự cái ảo tưởng về cái ngả cũng có cực âm
và cực dương của nó. Nó là hệ quả tất nhiên của sự
chớm nhận thức ra được cái thực tại trong đó không còn
chỗ cho "cái tôi", hay nói khác đi, không có chỗ cho
ý niệm về cái ngã, dù dưới hình thức tham dục, thù hận
hay chống ghét.
Nhưng Đức Phật có
cho rằng sống khổ hạnh là điều kiện tiên quyết trên con
đường phát triển tâm linh không? Trước khi đi vào vấn đề
này, chúng ta cần làm sáng tỏ nội dung của từ "khổ
hạnh" và từ "giác ngộ". Khổ hạnh hay chủ nghĩa
khổ hạnh (Asceticism) thể hiện dưới nhiều hình thức,
từ những hình thức cực đoan nhất như việc tự hành xác
đến những hình thức vi tế nhất trong quá trình tự kỷ
luật để tu tập. Nhân tố chung của các hình thức khổ
hạnh nầy là sự khước từ, giới hạn, và kiềm chế sự hưởng
thụ các lạc thú và tiện nghi, và sự từ bỏ các khát
vọng và xu hướng tham đắm. Lịch sử Ấn Độø cho thấy người
ta tu khổ hạnh vì nhiều lý do khác nhau. Nhưng nếu mục tiêu
của việc tu khổ hạnh là để giác ngộ thì với sự hiểu
biết của chúng ta về những nhân tố cơ bản đưa đến sự
giác ngộ, chúng ta hãy thử tìm cách đánh giá xem khổ hạnh
có phải là phương pháp đúng đắn đưa chúng ta đến bờ giác
ngộ hay không.
Chúng ta hảy bắt đầu
đi vào vấn đề nầy bằng cách tìm hiểu từ "Giác ngộ".
Giác ngộ (Enlightenment) nghĩa đen có nghĩa là sự nhiếp
phục và xóa tan bóng tối. Trong trường hợp của người
tu Phật, ý niệm ánh sáng và bóng tối được áp dụng vào lãnh
vực tâm linh và những năng lực tinh thần. Trên cơ sở đó, Giác
ngộ chính là việc xóa bỏ tất cả những chướng ngại
làm đen tối hoặc làm nghẽn lối đi của ánh sáng trí tuệ.
Trong vấn đề nầy, chúng ta không quan tâm đến nguồn gốc
của trí tuệ. Nói khác đi, chúng ta không quan tâm đến việc
trí tuệ đến từ bên ngoài hay là một phẩm chất có sẵn
trong nội tâm chúng ta. Điều quan trọng duy nhất mà chúng ta
cần làm là nhận thức ra được bản chất của những chướng
ngại làm nghẽn lối đi của trí tuệ và tìm ra cách thức để
hóa giải và trừ diệt chúng.
Như chúng ta đã thấy,
Đức Phật đã nhận ra những chướng ngại trên lộ trình giác
ngộ của ngài. Đó là tham dục, sân hận, và si mê hay ảo tưởng
về cái ngã. Do đó, chúng ta chỉ có thể thành tựu giác
ngộ bằng cách nhiếp phục những chướng ngại này. Cũng như
chúng ta đã thấy, tham lam và sân hận là những thể hiện
cực đoan của sự chấp ngã dưới hình thức tham dục và thù
hận. Lòng tham là một năng lực cuốn hút và hấp thu không
thể kiềm chế được trong khi thù hận là sự đảo ngược
của năng lực cuốn hút và hấp thu nầy thành năng lực chán
ghét và sân hận không thể ngăn cản được.
Lý do tại sao chúng ta
muốn vật nầy và ghét vật kia bắt nguồn từ thói quen gắn
liền mọi vật trên đời này vào con người của chúng ta, nói
khác đi, vào quan niệm về "cái ngã" như một cái gì
thường hằng và bất biến. Từ đó, với niềm tin mù quáng
cho cái ngã của mình là trung tâm vũ trụ, chúng ta không thể
nào nhìn sự việc một cách vô tư và khách quan—và đây chính
là nguồn gốc của tất cả ảo tưởng của chúng ta. Tham
lam, sân hận, và si mê cùng có một mẫu số chung—đó là
ảo tưởng về sự tồn tại của cái ngã được hư cấu thành
một thực thể tồn tại cách biệt với tất cả những gì
đang xảy ra và hiện hữu trên thế gian nầy. Theo lời Đức
Phật dạy, chính đây là nguyên nhân của sự mê mờ về tâm
linh và do đó, củng là nguyên nhân của biết bao nỗi thống
khổ của con người.
Để chữa trị căn
bịnh nầy, chúng ta phải loại bỏ tận gốc cái ảo tưởng
về một "cái ngã" biệt lập cùng với hệ quả tình
cảm của nó, đó là lòng ích kỷ. Tuy nhiên, có một sự
kiện cần lưu ý. Dù về mặt trí thức, chúng ta có thể
hiểu rằng cái ngã chỉ là một ảo tưởng, nhưng trên thực
tế, con đường giải thoát khỏi sự trói buộc của cáiõ ngã
hãy còn rất xa, vì ảo tưởng về cái ngã bắt rể rất sâu
trong tiềm thức và trở thành một bộ phận trong bản chất
nội tại của chúng ta. Do đó, chúng ta phải tìm về nguồn
gốc và quá trình phát triển của cái ngã bằng cách theo dõi
những triệu chứng biểu hiện nó cho đến tận đầu nguồn,
hay nói khác đi, cho đến nguyên nhân sâu xa tận cùng của nó.
Thêm vào đó, nếu hạn chế được tham dục, chúng ta sẽ ít
bị cuộc đời ràng buộc, hay sẽ bớt đi phiền não khi mọi
việc không xảy ra theo ý muốn chúng ta. Khi chúng ta làm được
việc này, cái tôi sẽ mất đi sức khống chế của nó, bởi
vì trong giây phút mà chúng ta xả bỏ được tham dục và sân
hận, một niềm tự do và bình an mới sẽ dâng trào trong chúng
ta, và qua đó, chúng ta sẽ nhận biết được cái vô biên
của bản chất con người mà niềm tin thuần túy dựa trên trí
thức không thể nào mang đến cho chúng ta được.
Thật ra những hiểu
biết trí thức sâu sắc vẫn có thể giúp chúng ta phần nào
trên đường tu tập. Nhưng cũng giống như việc chửa bịnh,
nếu chỉ đọc qua hay biết về toa thuốc trị bịnh, chúng
vẫn không thể chữa đúng căn bịnh tâm linh của mình. Căn
bệnh chỉ có thể được chữa trị thật sự và đúng đắn
nếu chúng ta theo lời khuyên của bác sĩ và uống thuốc thường
xuyên. Việc tu tập cũng thế. Nếu chúng ta biết và tin là
việc tiết chế tham dục sẽ xóa đi những trở ngại chính
trên đường tu tập, chúng ta sẽ áp dụng nó vào việc tu
tập của mình. Và đây chính là điểm khởi đầu của việc
thực hành những hình thức khắc kỷ và tự kỷ luật của
những người tu khổ hạnh.
Nếu trước mắt chúng
ta có một mục tiêu cao cả và thánh thiện, chúng ta sẵn sàng
hy sinh đời mình cho mục tiêu nầy. Đối với người Phật
tử, mục tiêu duy nhất là sự giác ngộ, và tất cả những
hy sinh nhằm đưa đến mục tiêu nầy đều là cần thiết và
xứng đáng. Vì lẽ đó, người Phật tử sẵn sàng từ bỏ
những mục tiêu thấp bé hơn để hướng cuộc đới mình
về mục tiêu cao cả và vĩ đại nầy, và đây mới là một
hành động của bậc trí tuệ. Nhưng nếu những ai vẫn còn mơ
hồ và nghi ngại về lý tưởng của mình mà vẫn từ bỏ
tất cả những gì mình hiểu biết, sở hữu, và quý trọng
thì đây quả là một hành động điên rồ. Do đó, sống
khắc kỷ tự nó không có giá trị gì cả. Nó chỉ có ý nghĩa
khi được áp dụng một cách đứng đắn cho mục tiêu được
xác định rỏ ràng. Những phương tiện được sử dụng
trong nếp sống khổ hạnh phải tương ứng và thích hợp
với con đường tu tập hướng đến mục tiêu đã chọn để
mỗi tiến bộ trong việc tu tập đều khẳng định giá trị
và sự đúng đắn của phương pháp đã chọn lựa.
Chúng ta cũng phải
biết đánh giá và phân biệt để có thể quyết định đúng
đắn và chọn những phương pháp tu khổ hạnh đúng mức và
vừa phải. Vì nếu không làm thế, chủ nghĩa khổ hạnh có
thể dẫn đến những hình thức hành xác cực đoan, kích thích
tinh thần ganh đua muốn vượt xa hơn các bạn đồng tu về
mặt tâm linh, và nuôi dưỡng thái độ chê bai và khinh rẽ
cuộc sống thế gian mà về mặt tiêu cực, sẽ ngăn chặn
ngay không cho chúng ta hiểu biết thêm tí nào về những khả
năng và triển vọng mà cuộc đời rẻ rúng nầy có thể mang
đến. Bởi vì mặc dù những giá trị của cuộc đới này có
thể thấp bé so với những giá trị mà người tu tập nhắm
đến qua cách sống khổ hạnh, nhưng nó có những giá trị mà
người Phật tử không nên coi thường mà trái lại phải
tập quán chiếu chúng một cách chăm chỉ và cẩn thận. Xét
cho cùng, Đức Phật đã xem những giá trị thực nghiệm trong
thế giới loài người cao hơn giá trị của tất cả những
thế giới khác, ngay cả thế giới của các chư thiên!
Vì thế, Đức Phật
đã lên án tất cả hình thức tự hành xác cũng như sự buông
thả trong tham dục. Cả hai khuynh hướng cực đoan nầy đều
phá hoại cơ sở sức khỏe tinh thần và vật chất mà sức
khỏe là yếu tố không thể thiếu được cho sự tiến bộ tâm
linh của con người. Chính Đức Phật đã khám phá điều
nầy từ kinh nghiệm bản thân của Ngài. Ngài đã thực hành
những pháp tu khổ hạnh cực đoan nhất đến độ gần như
tự hũy diệt mình, và đã phải công nhận rằng cách tu nầy
không đưa đến giác ngộ. Ngài nhận ra rằng chủ nghĩa khổ
hạnh, cũng giống như những hình thức cực đoan khác, có
thể làm người ta dễ dàng chạy trốn cuộc đời, và từ đó,
cũng như bất cứ hình thức rút chạy nào, sẽ làm cho người
ta lạc lối và mất đi mục tiêu của mình. Nhưng chủ nghĩa
khổ hạnh chân chánh như là một hình thức tu tập tự kỷ
luật không bao giờ tách chúng ta ra khỏi cuộc đời nầy. Nó
nhắm đến việc loại bỏ những yếu tố ngăn cản việc hoàn
thiện cuộc sống chúng ta. Đó là việc đi xuyên qua và đột
phá trong tâm thức để tiến đến quả vị giác ngộ. Nó
giống như những tia sáng hội tụ qua một thấu kính và vì
thêù hiệu năng tia sáng được tăng cường đến độ nó có
thể đốt cháy ngay những vật liệu bắt lửa mà thường
vẫn cứ tồn tại nếu những tia sáng nầy vẫn ở trạng thái
bình thường của nó. Ngưòi tu tập khổ hạnh đúng đắn cũng
thế. Năng lực tâm linh của vị ấy được tăng cường như
những tia sáng hội tụ nầy. Bằng cách tu khổ hạnh, vị
ấy có thể đạt được trong cuộc đời ngắn ngũi nầy
những gì mà những người khác không thể đạt được trong
vô vàng kiếp sống.
Tuy nhiên, bất cứ ai
sử dụng những năng lực tâm linh tập trung cao độ nầy mà
không hiểu đúng bản chất của mục tiêu lý tưởng mà mình
chọn lựa sẽ đi lạc hướng. Sự giác ngộ đòi hỏi chúng
ta trước tiên phải sống với tinh thần vô ngã. Người nào
nghĩ rằng chỉ cần đè nén và chế ngự tất cả tham dục
thì tự nhiên giác ngộ sẽ đến, người đó vẫn còn bị
chi phối bởi ảo tưởng về cái ngã; do đó, người đó
vẫn còn bị kẹt trong vô minh, thay vì vượt ra khõi những trói
buộc hạn hẹp của tự ngã, vị ấy tách mình khỏi thế
giới và đồng loại chung quanh mình, để rồi cuối cùng
sống cô lập và cô độc trong một khoảng chân không rỗng
tuếch về tâm linh. Những ai tìm cách giải thoát "cho riêng
mình" mà không để ý gì đến đồng loại có thể là
một người đạo đức và được mọi người chú ý, nhưng
vị ấy sẽ mãi là một người ích kỷ. Sự cố chấp hẹp hòi
xuất phát tự nhiên từ thái độ ích kỷ như thế trực
tiếp đi ngược lại những biểu hiện của sự giác ngộ—đó
là tình thương yêu, tình đồng loaị, sự khoan dung, lòng từ
ái, và tinh thần vô ngã.
Nhưng chúng ta không
thể có được những phẩm chất đạo đức như tình thương
yêu, tình đồng loaị, sự khoan dung, lòng từ ái, và tinh
thần vô ngã chỉ bằng cách khổ hạnh hành xác hay chỉ
bằng cách học hỏi thuần túy qua sách vở. Chỉ qua tình thương
và lòng từ bi đối với tất cả chúng sanh chúng ta mới có
thể phá vở được cái vỏ cứng rắn của cái ngã cô lập
của chúng ta và khắc phục được cái ảo tưởng về sự
tồn tại biệt lập của cái ngã. Chỉ khi nào chúng ta kết
hợp được cái biết của trái tim với cái hiểu của khối
óc, lúc đó tri thức mới trở thành Trí tuệ bát nhã, và
việc tu tập khổ hạnh nghiêm khắc mới hòa hợp và đồng
điệu với tinh thần giác ngộ. Dựa trên những lý giải
vừa nêu trên, chúng ta có thể trả lời câu hỏi "chủ
nghĩa khổ hạnh có đưa con người đến giác ngộ hay không?"
như sau: Chủ nghĩa khổ hạnh tự nó không đưa chúng ta đến
đâu hết. Chỉ khi nào chủ nghĩa khổ hạnh được kết hợp
với Trí tuệ bát nhã và Tâm từ bi, lúc ấy hành giả mới có
thể đi đến mục tiêu giác ngộ và giải thoát.
Đức Phật--tấm gương
của chúng ta trên con đường Bát thánh đạo, là một hành
giả có kỷ luật tâm linh ở mức độ cao nhất. Trong khi
giảng đạo cho các tu sĩ và cư sĩ, ngài nhấn mạnh việc tôn
trọng giới luật trong sinh hoạt thường ngày. Nếu ngày nay
thỉnh thoảng có người cho rằng công việc tu tập thực
chất chỉ là làm một cuộc đột phá tâm linh để mang lại
tự do cho nội tâm con người và là người tu Phật, chúng ta
chỉ cần làm như thế là đủ. Điều này là không phù hợp
với quan điểm của Đức Phật. Đối với Ngài, khi một hành
giả chểnh mảng và buông thả chính mình, hay đắm mình trong
những tình cảm và hoang tưởng, chắc chắn vị ấy đang
tuột dốc trên con đường tu tập và không gì có thể kéo ngược
lại được.
Chủ nghĩa khổ hạnh
hay asceticism có ngữ gốc từ tiếng Hy Lạp. Đó là askesis,
có nghĩa là "sự tập luyện" và do đó, có nghĩa tương
đương với từ Sila trong Phạn ngữ (Pali sila),
tức là năm giới hay năm nhiệm vụ đạo đức mà mọi Phật
tử phải tập luyện mỗi ngày. Người Phật tử thực hành năm
nhiệm vụ đạo đức nầy không phải vì đó là những điều
răn của một đấng thiêng liêng nào đó mà vì sự hiểu
biết và trí tuệ của riêng vị ấy. Hoàn toàn trách nhiệm
về cá nhân mình, vị ấy nỗ lực qua ý tưởng, lời nói, và
hành động không làm hại sinh mạng, không lấy của không cho,
sống thanh tịnh, không nói láo và dùng lời lẽ ác dữ, không
uống rượu say và làm mê mờ tâm trí mình. Năm điều tập
luyện nầy được gọi là Năm giới (pancasila).
Phật tử xuất gia nhận thêm năm giới nữa, tương đươngï
với khoảng 250 giới ở các tu viện, bổ sung cho năm giới chính
nầy.
Người Phật tử
"thấy và biết gì" khi họ thọ Năm giới? Trước tiên,
đó là ý thức trách nhiệm rằngø người đó đã tự hòa
nhập và đồng hóa với tất cả chúng sanh, hay như các kinh
điển ghi là "xem vị ấy và tất cả chúng sanh là bình
đẳng." Vị ấy đã nhận ra rằng nếu vị ấy làm
những việc, nói những lời, và suy nghĩ những điều không
đúng theo những giới luật nầy, vị ấy sẽ làm tổn hại
đến những người khác. Làm như thế, vị ấy sẽ đi ngược
lại với thế giới chung quanh, và kết quả là vị ấy sẽ
đau khổ, và con đường đi đến giác ngộ của vị ấy sẽ
bị chận đóng lại. Do đó. những hành động trái với
giới luật (sila) được xem là "bất thiện"
(Anh ngữ unwholesome, Phạn ngữ akusala) vì nó gây tác
hại nghiêm trọng không những cho kẻ khác, mà còn cho chính
bản thân vị ấy, vì năm uẩn (Phạn ngữ skandhas, Pali khandhas)
hay những hợp thể luôn biến thiên để không ngừng tái
tạo nhân cách của vị ấy sẽ phải chịu những tác động
không lành mạnh. [7]
Để thực hành đúng
đắn Giới luật, chúng ta cần có cái nhìn trí tuệ vào
bản chất duyên sinh của con người, và để nhận ra rằng không
có cái gì có thể tồn tại biệt lập tự nó trong vũ trụ
nầy, và rằng tất cả các pháp đều hòa quyệân vào nhau
qua những quan hệ hỗ tương vô tận, được thể hiện qua giáo
lý duyên sinh (Phạn ngữ pratitya-samupada). Chính
nhờ biết rằng tất cả chúng ta đêàu hòa quyện trong
những mối quan hệ hỗ tương vô biên và phổ biến nầy mà
dần dần một tình cảm liên đới và đoàn kết với tất
cả chúng sinh thành hình, phát triển, và chín muồi trong chúng
ta, và chúng ta sẽ nhận thấy trách nhiệm cuả mình với toàn
thể cuộc sống. Chính Phật giáo đại thừa đã giúp chúng
ta nhận thức được mối quan hệ hỗ tương và vô biên nầy
của vạn pháp.
Kinh điển của hệ phái
Phật giáo nguyên thủy có ghi chép lại những thái độ và
tấm gương đạo đức vô cùng cảm động. Nhưng điều nầy
sẽ không thật sự có ý nghĩa nếu người ta sống theo nó
chỉ vì nó được kinh điển đánh giá là đạo đức. Dĩ nhiên,
người ta có thể nói, "Hãy làm điều lành!" hay
"Hãy sống đời đạo đức!" hay "Hãy làm điều
nầy và chớ làm điều nọ!"; nhưng nếu có người tập
tành tất cả những đức hạnh có được trên thế gian nầy
mà vẫn không biết tại sao mình phải làm như thế, thì tốt
hơn vị ấy nên buông bõ những đức hạnh nầy, bởi vì tu
tập đạo đức mà không hiểu tại sao mình tu tập chỉ mang
lại phiền muộn hơn là hạnh phúc. Đó là chưa kể đến
một tệ nạn khác--tu tập đạo đức mù quáng như thế có
thể làm vị ấy kiêu mạn cho là mình đạo đức và thanh cao
hơn những người khác. Chỉ có những người biết "làm
điều nầy và không làm điều nọ" với tinh thần trách
nhiệm đối với tất cả sự sống chung quanh mình, đó mới
thật sự là hành động toàn thiện về đạo đức. Chỉ có
vị ấy mới tự giải thoát mình khỏi những kềm kẹp của
tự ngã (Phạn ngữ vedana, Hán ngữ cảm xúc) và làm
khởi dậy tấm lòng từ bi phủ trùm vạn hữu để rồi từ
sâu thẳm trong tâm hồn vị ấy sẽ cảm thấy thương yêu và
gần gũi với tất cả chúng sanh. Chỉ bằng cách chia sẻ
niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc và khổ đau với người khác,
chúng ta mới thật sự cảm nhận một cách sâu sắc là tất
cả sự sống là một thể thống nhất. Từ cơ sở tình cảm
nầy tự nhiên sẽ xuất hiện niềm thôi thúc được hiến dâng,
để rồi cuối cùng cái tự ngã của con người sẽ đầu hàng
và nhường chỗ cho lý tưởng Bồ tát hay tinh thần hy sinh
cuộc sống của riêng mình cho tất cả muôn loài.
Chúng ta đang sống
trong một thời đại với nhiều biến động to lớn, một
thời đại trong đó khoa học do con người tạo nên đang đe
dọa hủy diệt chính con người. Sở dĩ có tình trạng nầy là
vì con người ngày càng không thể kiểm soát những năng lực
do chính họ tạo ra. Và dưới sự chi phối của sức mạnh
khoa học kỹ thuật, con người đang trở thành một bộ phận
của cái cơ chế đang hủy diệt chính họ bằng cách xóa bỏ
đi những dấu tích cuối cùng của tính người và tính thánh
thiện trong họ. Đây chính là những chất liệu làm nên loài
người chúng ta. Bởi vì con người là sự kết hợp của
một bên là cái cá thể độc đáo và đặc thù với một bên
là cái thánh thiện có khả năng đưa con người vượt lên trên
sự cô đơn của mình và đồng thời chứng nghiệm và hiểu
rằng mình là một bộ phận không thể tách rời với toàn
thể vũ trụ nầy. Đức Phật dạy rằng chúng ta có thể làm
hiển lộ "tính chất thiêng liêng và thánh thiện" vượt
lên trên cái ngã tầm thường của chúng ta bằng cách đánh
thức Bốn trạng thái tâm vô biên xuất phát từ quá trình
thiền định hay Tứ vô lượng tâm (brahamaviharas "trú
xứ thiêng liêng," hay appamannas "vô biên
xứ"), đó là, Từ (Phạn ngữ maitri, Pali metta),
Bi (karuna), Hỷ (mudita), và Xả (Phạn
ngữ upeksa, Pali upekkha) hay tấm lòng vô biên và bình
đẳng hướng về tất cả chúng sanh, và từ đó trở nên bình
thản với tất cả những gì xảy ra đến cho bản thân mình.
Từ tâm
(maitri), trú xứ thánh thiện đầu tiên, là chìa khóa
giải phóng chúng ta khỏi cái nhà tù tự ngã và đưa chúng ta
tiếp xúc với nhũng chiều sâu của không gian vô biên. Mặc dù
có nhiều giải thích rất bài bản về thuật ngữ và nhiều
cuộc bàn cãi uyên bác về khái niệm nầy, Từ tâm (maitri) không
chỉ có nghĩa là "tình bằng hữu," "tinh thần
thiện nguyện và bố thí,""sự tử tế," "sự
thân thiện," hay "thiện chí"[8]. Có một định
nghĩa tương đương duy nhất có thể giúp chúng ta hiểu được
bản chất cốt lỏi của Từ tâm, mặc dù định nghĩa nầy
vẫn còn chưa rỏ nétù. Đó là: Từ tâm làø tình
thương xuất phát từ tinh thần hy sinh tự ngã trong ý
nghĩa cao cả nhất và trong sáng nhất của nó.
Mặc dù tình thương có
vô số mức độ và có thể xảy ra trong vô số hoàn cảnh khác
nhau, bản chất tinh yếu của nó vẫn không thay đổi. Tình thương
như ngọn lửa đốt cháy tất cả những gì bẩn đục và
chuyển hóa nó thành sức sống ấm áp và tràn đầy ánh sáng.
Những ai nghi ngờ và bác bỏ năng lượng ấm áp của từ
tâm mà Thế Tôn ca ngợi vẫn chưa hiểu hết Đạo
Phật và ý nghĩa của tình thương. Ngay cả khi tình thương đi
đôi với tình dục, nó vẫn không bị mất giá trị mà còn nâng
tình dục từ một chức năng của thú tính lên một mức độ
cao hơn thuộc lãnh vực tâm linh. Chính vì thế mà Đạo Cơ Đốc
đã không ngần ngại dịch từ agape (nghĩa đen là
cuồng nhiệt) của tiếâng Hy lạp là "tình yêu" và
đưa nó lên một vị trí cao nhất--mặc dù từ ngữ nầy có
nhiều nghĩa phụ và có thể tạo những liên tưởng cần được
bàn cải-- Do đó, người Phật tử không có lý do gì để e
ngại, sợ, và tránh né chữ "thương yêu" và nhút nhát
dấu kín nó đàng sau những khái niệm đạo đức vô nghĩa
hay những nguyên tắc luân lý trừu tượng.
Trái lại, chúng ta nên
nhận thức rằng một người mà trong đời sống riêng tư không
thể thương yêu một cách nồng nhiệt thì không thể nào phát
huy được tinh thần hiến dâng chân thật trong lãnh vực tâm
linh hay có thể thật sự hy sinh bản thân mình. Chúng ta nên
đề phòng những nhà tiên tri giả hiệu đề cao "một
nền đạo đức toàn hảo và tuyệt đối trong sạch giống như
sự trong sạch của một phòng thí nghiệïm bệnh lý (clinical
purity)," một nền đạo đức vô nhiễm, và việc kiêng
cữ hành xác đi ngược hẳn lại sự sống. Chúng ta hãy chia
sẻ trái tim ấm áp, và cả cái nhiệt thành yêu thương sâu
sắc nhất của chúng ta cho tất cả các bạn đồng loại mà
không mặc cả hay phán xét, hay mong đợi được hồi đáp,
chỉ vì cái tình yêu vĩ đại mà Thế Tôn gọi là "sự
giải thoát của tâm và ý" (Pali cetovimutti) là ngọn
lửa trong sạch nhất có thể đốt cháy hết tất cả năng
lực vị kỷ tồn tại trong con người chúng ta.
Vì thế, cách đây hai
nghìn năm trăm năm--năm trăm năm trước bài ca ngợi tình yêu
nổi tiếng của Thánh Phao Lồ (1 Cor. 13), Đức Phật đã ca
ngợi tình yêu như là một khả năng vượt xa hơn tất cả
những hoạt động tôn giáo và đạo đức cao quý nhất, có
thể làm mềm yếu đi cái vỏ cứng nhắc của tự ngã hay
ảo tưởng về cái ngã, và qua đó tháo gỡ con người khỏi
sự trói buộc của upadhis hay tổng thể của năm uẩn (khandha),
nghiệp lực (kamma), và các phiền nảo chướng (kisela)
và mở đường tiến đến giải thoát và giác ngộ. Và ngài
đã tuyên bố:
Này các tỳ kheo,
bất cứ phương tiện thiện xảo nào mà chúng ta làm trong
cuộc đời nầy với mong ước là kiếp sau sẽ được
sống tốt lành hơn, vẫn không bằng một phần mười sáu
của tình thương xuất phát từ cái tâm được giải thoát;
Tình thương xuất phát từ cái tâm được giải thoát tự
nó chưa đựng tất cả những phương tiện thiện xảo
nầy, chiếu rọi, lấp lánh, và tỏa sáng đến tất cả.
Và nầy các tỳ
kheo, giống như ánh sáng tỏa ra từ các vì sao không bằng
một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng, nhưng ánh sáng
của mặt trăng bao gồm ánh sáng của tất cả vì sao và
chiếu rọi, lấp lánh, và tỏa sáng đến tất cả. Và cũng
thế, này các tỳ kheo, những phương tiện thiện xảo này
vẩn không bằng một phần mười sáu của tình thương
xuất phát từ cái tâm giải thoát; Tinh thương nầy tự nó
chứa đựng tất cả những phương tiện thiện xảo nầy,
chiếu rọi, lấp lánh, và tỏa sáng đến tất cả.
Và ví như, nầy các
tỳ kheo, trong tháng cuối cùng của mùa mưa, vào mùa thu, măït
trời mọc lên trong bầu trời trong và không gợn bóng mây,
xua đuổi tất cả tăm tối từ trời cao, chiếu sáng,
lấp lánh và tỏa sáng đến tất cả. Và cũng thế,
những phương tiện thiện xảo nầy vẫn không bằng một
phần mười sáu tình thương xuất phát từ cái tâm giải
thoát; Tình thương nầy tự nó chứa đựng tất cả,
chiếu rọi, lấp lánh, và tỏa sáng đến tất cả.
Và nầy các tỳ
kheo, cũng như trong đêm gần về sáng, sao mai chiếu rọi,
lấp lánh, và tỏa sáng đến tất cả, bất cứ phương
tiện thiện xảo nào mà chúng ta làm trong cuộc đời nầy
với mong ước là kiếp sau sẽ tốt lành hơn sẽ không
bằng một phần mười sáu cái tình thương xuất phát từ
cái tâm được giải thoát; Chỉ bằng tình thương nầy thôi,
tình thương của cái tâm được giải thoát, tự nó chứ
đựng tất cả, chiếu rọi, lấp lánh, và tỏa sáng đến
tất cả.
Và Ngài tiếp tục
thuyết:
- Những ai có tâm nguyện nuôi
dưỡng
- và nâng cao tình yêu thành vô
tận,
- Sẽ không còn tái sinh và được
thoát ly mọi trói buộc.
- Những ai với tâm thanh tịnh
- Dù chỉ thương yêu một người
- Đã là thiện
- Huống là người yêu thương
tất cả chúng sanh
- Sự cao quý của vị ấy sẽ
là vô tận.
- (Bản Sự Kinh hay Như Thị
Thuyết Kinh, phẩm 27)
Và ở một nơi khác,
Đức Phật thuyết:
Do vậy, nầy các
tỳ kheo, các con nên tâm niệm như thế nầy: Tình yêu, đó
là tâm giải thoát và tuệ giải thoát, chúng con sẽ nuôi
dưỡng, nâng cao, mở rộng và tăng trưởng nó, làm cho nó
thấm nhuần toàn bộ nhân cách của chúng con, thực hiện
nó, làm cho nó ngày càng hoàn chĩnh, và sử dụng nó đến
mức toàn thiện.
Nhưng tình yêu thương
bình đẳng chan hòa đến với tất cả chúng sinh không thể nào
phát triển và thành tựu được nếu con người không trải
qua kinh nghiệm khổ đau. Những ai tìm cách đồng hóa Từ tâm
(Phạn maitri, Pali metta) với tình cảm gắn bó
với những gì gần gủi, thân thương và mang lại lạc thú
cho mình (Phạn priya, Pali piya)--bằng lời biện
minh vị kỷ, khốn khổ và tệ hại nhất: "Không thương
yêu thì sẽ không bị khổ đau"-- để trốn tránh khổ đau
thì tự người đó đã tước lấy cái thành quả cao quý
nhất của đời người. Bởi vì sự hiểu biết thuần
thục và trí tuệ cao nhất thể hiện qua hình ảnh của Bát
nhã Ba La Mật Đa chỉ có thể bắt nguồn và trưởng thành
từ kinh nghiệm khổ đau của một trái tim giàu tình yêu thương
con người.
Con đường phát
triển từ tâm (Phạn maitri) thường bắt đầu với
tấm lòng hiến dâng đầy thương yêu, ấp ủ, và rộng mở
đến một đối tượng nào đó, không phải để sở hữu đối
tượng đó, để bắt nó lệ thuộc vào mình hay để uốn
nắn nó theo hình ảnh của riêng mình, mà là để giải phóng
và đánh thức để nó tự khai mở những tiềm lực vẫn còn
đang ngủ yên trong nội tâm của đối tượng ấy. Người
với tâm từ (Phạn maitri) sẽ không bao giờ theo đuổi
bất cứ cái gì riêng của riêng vị ấy. Vị ấy bước lùi
lại và biến mình thành cái bệ phóng để đối tượng của
mình có thể vươn cao hơn.
Qua tấm lòng hiến dâng
đầy tình thương đếán đối tượng của mình, người giàu
từ tâm sẽ dần dần nâng cao và trải rộng tình thương
của mình cho tất cả muôn loài. Gống như nhân vật Govinda
trong chuyện Thái tử Siddhartha của văn hào Đức Hermann
Hesse, mỗi lần xúc động vì tình thương, Govinda thấy vầng
trán của bạn mình trở thành trong suốt, để từ đó người
thấy tính duyên sinh và thống nhất của vạn pháp--tất cả
là vô ngã và đang không ngừng chuyển hóa--do đó từ tình thương
dành cho một đối tượng, tâm từ sẽ đưa chúng ta đến
một tình thương trải khắp đến muôn loài, bởi vì qua từ
tâm chúng ta sẽ nhận ra được cái thể thống nhất của
vạn hữu và tập phá vỡ tất cả chướng ngại và rào
chắn nhằm chia rẽ cuộc sống. Và từ trong cái thấy và
biết nầy sẽ xuất hiện cái nhìn mà Đức Phật gọi là
"xem người khác như là chính mình" (attanam upamam
katva). Khi đã thể nhập hoàn toàn với vạn hữu thì Từ
tâm (maitri) sẽ trở thành lòng bi mẫn (Tâm đại bi, mahakaruna)
và hoan hỷ vô biên (Hỷ, Mudita), và con người sẽ hoàn
toàn quên mình để chia sẻ niềm vui và nỗi buồn với tất
cả chúng sanh.
Vì nhận thấy sự phát
triển và kết hợp cao nhất của Tâm từ bi (karuna) và
Trí tuệ (prajna) là đặc điểm chính yếu của các
bậc giác ngộ, Phật giáo Đại Thừa đã đưa Từ bi (karuna)
và Trí tuệ (prajna) vào vị trí trung tâm trong hệ
thống đạo đức Phật giáo. Vì Trí tuêï mà không có Từ bi
có thể dễ dẫn đến cảnh giới mà ở đó mọi thứ đều
trở thành cứng nhắc và lạnh lùng, và ngược lại, từ bi mà
không có trí tuệ luôn đưa đến nguy cơ sa đà trong tình
cảm làm thường xuyên phí tổn năng lực một cách vô lý.
Nếu muốn thật sự
giúp đỡ người khác, chúng ta phải không để tình cảm bị
lung lạc. Trái lại, trước hết chúng ta phải học tìm hiểu
đối tượng và hoàn cảnh, mặt mạnh và yếu của họ. Chỉ
bằng cách đó, chúng ta mới có thễ tìm được con đường
đúng đắn đáp ứng nhu cầu của họ. Nhưng giúp đỡ như
thế không có nghĩa là chúng ta tước mất đi trách nhiệm và
sự thành tựu cá nhân của vị ấy. Chúng ta có thể chỉ cho
vị ấy những hướng đi nhưng không thể đi thay thế cho viï
ấy. Tình thương và lòng từ bi thật sự sẽ luôn giúp ngăn
chận những tai họa nhưng không vì thế mà cản trở và trói
buộc sự sống và kinh nghiệm sống của người khác.
Tình thương và sự thông
cảm mà chúng ta dành cho người tu tập sẽ giúp vị ấy có
thêm sức mạnh để kiên định hành trì trong giai đoạn đầu
tu tập, vì họ cảm thấy được hỗ trợ và khích lệ bởi
tình thương và lòng tin tưởng tích cực của chúng ta vào
những tiềm năng sẵn có của họ. Tuy nhiên, với trí tuệ,
chúng ta có thể giúp vị ấy tránh vết xe đổ của những chướng
ngại phiền nảo trên đường tu tập, không trốn tránh mà trái
lại tìm cách đi qua những xung đột căng thẳng, cũng không
nuôi dưỡng lòng kiêu mạn, không chạy theo hư danh, chỉ nghĩ
đến riêng mình, hay ngay cả có cảm giác cho mình là đặc
biệt, mà tìm cách nhiếp phục những tình cảm bất thiện
nầy; Khi gặp những việc bất bình, chúng ta cũng nên giúp
vị ấy biết nhìn lại chính mình thay vì buộc tội hay đổ
trách nhiệm cho người khác.
Chính Phật giáo Đại
Thừa đã phát triển rất sớm những hình ảnh biểu tượng
thể hiện cao nhất của Tâm Từ (maitri) và Tâm Đại Bi
(mahakaruna), qua hình tượng của Đa La (Tara), Quán
Thế Âm (Avalokitesvara), và Phật Di Lặc tương lai (Maitreya).
Phật Di Lặc, người có tình thương lớn chuẩn bị đi vào
cuộc đời nầy để chỉ cho chúng ta nếp sống vô ngã và
qua đó, dạy chúng ta hành động mà không tạo thêm nghiệp báo,
là ngôi sao Bắc Đẩu trong bóng tối của thời đại chúng ta.
Mong rằng lời kêu gọi của Ngài đi vào trái tim nhân loại,
bởi vì đó là nơi duy nhất mà chúng ta có thể tìm lại sự
khôi phục của thế giới này và sự tái hiện thân của Đấng
Toàn Giác!
Chú
Thích
1. Từ đây
cho dến cuối bài dịch, những chữ, câu, và đoạn được tô
dậm và nhấn mạnh là của dịch giả.
2. Tĩnh
giác (dịch sang tiếng đức là Vergegenwartigung in klarer
Bewusstheit, dịch sát nghĩa tiếng Anh là "presence of mind
with clear awareness", Việt dịch là "trạng thái tâm
thanh tịnh". Trạch Pháp là nghiên cứu và tìm hiểu sự
thật (dharmavicaya, Pali dhammavicaya). Tính tấn là dũng cảm
hiến dâng năng lực (Phạn là virya, Pali viriya). Hoan hỷ và
phấn khởi (priti, Pali piti). Khinh an là nội tâm hạnh phúc và
tự do (Phạn prasradbhi, Pali passadhi). Định là Tâm sâu lắng
tập trung va hợp nhất (Phạn và Pali Samadhi). Xã là tâm mở
rộng vô biên đến tất cả chúng sanh và đồng thời bình
thản đối với tất cả những gì xảy đến cho mình (upeksa,
Pali upekkha)
3. Thân,
Thọ, Tâm, Pháp hay Bốn lãnh vực quán niệm (Tứ niệm xư)ù
4. Đây là
cái nền tâm lý chứa dựng nghiệp thiện và nghiệp bất
thiện, có thể vô thức hoặc ý thức chỉ đạo hoạt động
thân, khẩu, và ý của con người. Tâm lý học phương Tây xem
đó là vùng của tiềm thức.
5. Pali
Yathabhutha hay cái nhìn trí tuệ
6.
Preserved ingenuousness dịch sang tiếng Đức là erhaltene
Unbefangenheit. Gốc Latin của từ inge niousness là ingenuus,
gốc tiếng Pháp của từ nầy là in-gignere và gốc
tiếng Hy lạp là genos. Cả ba từ đều có nghĩa là sinh
ra trong trạng thái tự nhiên, ngây thơ, trong trắng và giản
đơn.
Dahlke là
học giả Phật giáo người Đức (1865 - 1912)
7.
Skandhas, còn được gọi là "uẩn" hay "những nhân
tố của hiện hữu" hay "những hợp thễ bám víu và
châùp thủ", là những nhân tố tạo nên sự tồn tại
về tâm sinh lý của con người, làm cho con người tiếp tục
có mặt, và liên tục thay đổi. Chúng là những năng lực có
khả năng đồng hóa và tác động lựa chọn trên năm lãnh
vực: thân xác (sắc), cảm xúc (thọ), nhận thức và tiến trình
tư tưởng (tưởng), những khuynh hướng bản năng và ý chí
(hành), ý thức (thức) của con người.
8. Bản
tiếng Anh theo thứ tự là Friendship, benevolence, kindness,
friendliness, good will
-o0o-
| Phần 1 |
---o0o---
| Thư mục Tác Giả |