VAI TRÒ
CỦA ĐẠO ĐỨC
TRONG
SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA NHÂN CÁCH
Lama Anaragika
Govinda
Tổ dịch
thuật Trúc Lâm dịch
---o0o---
Đây là chương
thứ ba "The Role of Morality in the Maturing of the Human
Personality", trích từ quyển A Living Buddhism for the
West, Shambala xuất bản, Boston, 1990.
---o0o---
Phong cách đạo đức
và luân lý phải luôn là biểu hiện tự nhiên của kinh
nghiệm tôn giáo xuất phát từ nội tâm và tình cảm thật
sự giữa con người. Tuy nhiên không phải vì thế mà đạo đức
và luân lý được xem như là điểm bắt đầu của tôn giáo.
Làm như thế là áp đặt không tự nhiên và cưỡng ép trên
con người. Thật ra, nhiều tôn giáo thường quan niệm rằng
chỉ khi nào bị khiếp sợ, con người mới chịu chấp nhận
sống hòa hợp với nhau. Từ đó, nhiều người có phong cách
"rất đạo đức" chỉ vì lo sợ rằng nếu không làm
như thế, họ sẽ bị "thượng đế trừng phạt".
Hoặc nếu không sợ bị thượng đế trừng phạt, họ sống
" đạo đức" vì hy vọng là sẽ được ban thưởng,
nếu không phải ngay trong cuộc đời nầy, thì ít nhất sau
khi chết cũng được trọng thưởng trên thiên đường.
Chúng ta không thể dùng
sự sợ hãi và khủng bố để đánh thức niềm tin chân thành
hay xây dựng những hành vi thật sự đạo đức trong con người.
Tuy nhiên, những tư tưởng mà chúng ta lĩnh hội từ bên ngoài
hay tự mình suy nghĩ ra thường có tác động lâu dài trên tình
cảm, tư tưởng, và hành động, và qua đó, trên toàn bộ phát
triển nhân cách của chúng ta. Nếu một người nào đó bị
chìm đắm trong nỗi sợ hãi về cuộc sống ở địa ngục,
người đó sẽ ngày càng lo sợ, và triệt để thi hành
những quy tắc đạo đức mang tính giáo điều và cưỡng
bức. Trái lại, nếu một người có tâm tính hân hoan giàu tình
yêu thương, lòng từ bi, và hoan hỷ, cuộc sống nội tâm
của người ấy sẽ ngày càng hạnh phúc và, qua những tình
cảm thương yêu giữa con người, sẽ phát triển thành một
nhân cách vừa tự do vừa đầy ý thức trách nhiệm xã hội.
Ngay từ đầu, lời
dạy của Đức Phật chỉ có một mục đích: Đó là giúp
tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau và giúp tất cả chúng
sinh được sống hạnh phúc, vui tươi, và tự do. Do đó, tất
cả những gì khủng bố, trói buộc, đe dọa, và làm con người
đau khổ đều đi ngược lại Phật pháp.
Vai trò của tôn giáo
không phải là rao giảng những quan điểm đạo đức và luân
lý một cách giáo điều. Trái lại, về bản chất ý nghĩa, tôn
giáo là một khuynh hướng tâm lý bẩm sinh của loài người,
một loại năng lực tâm linh có xu hướng ly tâm (centrifugal)
đi ngược lại và chủ yếu là đối trọng lại năng lực tâm
linh có xu hướng hướng tâm (centripetal) tự nhiên của lòng
vị kỹ. Do đó, tôn giáo cũng giống như cuộc đời, nó có
ý nghĩa tự nó. Nó là một loại đời sống tâm linh trong đó
con người cố gắng nâng cao nhạân thức của mình lên một
trình độ khác, không những vượt cao và xa hơn bản thân cá
nhân họ, mà còn hòa nhập vào vũ trụ vô biên nầy. Bản
chất của tôn giáo là đưa con người thoát khỏi sự cô
lập của chính mình và sống hòa hợp với những chúng sinh
khác trong xã hội và trong vũ trụ vô biên nầy. Trong quá trình
trưởng thành và phát triển nầy, con người trở thành một
cá nhân có khả năng thể hiện tình cảm và tư tưởng của
mình một cách tự nhiên và không bị chi phối bởi bất cứ
một thế lực cưỡng ép nào từ bên ngoài.
Như đã nói ở trên,
việc đồng hóa tôn giáo với đạo đức là lỗi lầm nghiêm
trọng nhất của con người, và những đánh giá như "thiện"
và "ác" thật ra chẳng có liên hệ gì đến tôn giáo
cả. Và vì thế, luân lý đạo đức Phật giáo không hề
bắt đầu với những huấn thị như "Con phải như thế
nầy" hay "Con sẽ như thế kia." Mỗi người đều
được xem như một cá nhân với những mức độ trưởng thành
về trí tuệ và tâm linh khác nhau và từ đó, là những cá nhân
hoàn toàn trách nhiệm về sự phát triển trí tuệ và tâm
linh của mình.
Theo tâm lý học Phật
giáo, con người có ba xu hướng tâm lý: xu hướng ham muốn,
xu hướng chống ghét, và xu hướng thứ ba nằm ngoài hai xu hướng
cực đoan trên. Vì lòng ham muốn cũng như sự chống ghét
thuộc về bản năng và khí chất riêng của con người nên nó
không chịu sự chi phối của ý chí vươn đến tự do của
con người. Hai xu hướng đầu— lòng ham muốn và sự chống
ghét là những thể hiện của một trạng thái tâm lý nô lệ
hay bị ràng buộc, và ngược lại, xu hướng thứ ba xuất phát
từ trạng thái tâm lý tự do. Trạng thái tâm lý nô lệ và
bị ràng buộc hàm ý rằng có một năng lực đang vận hành và
cùng lúc đó, có một năng lực khác đang tìm cách ngăn chặn
nó, để rồi một quan hệ căng thẳng xuất hiện giữa hai
lực đối lập nầy. Một bên là "cái bản ngã phức
tạp của con người" và bên kia là một hệ thống phức
tạp khác mà chúng ta thường gọi là "thế giới" hay
"cuộc đời."
Nỗ lực tạo lại
sự cân bằng trong quan hệ căng thẳng do lòng ham muốn tạo nên
có thể biểu hiện dưới hai hình thức. Hoặc nó kết hợp và
sát nhập những nhân tố của hệ thống nầy vào hệ thống
kia, hoặc nó tìm cách hủy diệt sự thỏa mãn và thắng lợi
của hệ thống đối lập, hay nói khác đi, nó dùng sức
mạnh của hệ thống nầy để đẩy lùi sức mạnh của hệ
thống kia, hoặc nó chế ngự sức mạnh của hệ thống đối
lập bằng một cuộc phản công. Nhưng cả hai cách thức nầy
đều dẫn đến thất bại. Mỗi năng lực phát ra đều tạo
một năng lực phản hồi với sức mạnh tương đương, mỗi
tình cảm chống ghét phát ra đều tạo một tình cảm chống
ghét ngược lại, và mỗi lực phản hồi đều dẫn đến
một sức đề kháng ngày càng cao. Nói khác đi, khi chúng ta càng
chạy theo sự ham muốn và tìm cách thỏa mãn nó, sức mạnh
của sự ham muốn ngày sẽ càng tăng. Mỗi hành động nhằm
thỏa mãn sự ham muốn là mầm mống hay nguyên nhân đưa đến
một sự ham muốn mới. Năng lực nầy vận hành như một vùng
chân không có sức thu hút và chỉ có thể chấm dứt khi nào
chúng ta loại trừ được nguyên nhân đầu tiên của nó,
tức là dẹp bỏ đi vùng chân không có sức thu hút nầy. Nhưng
nếu sức thu hút của vùng chân không này trở thành vô hạn
giống như năng lực của vùng phi chân không đối lập với nó,
thì chúng ta sẽ không thể nào phá bỏ được sự căng
thẳng và tái lập lại sự quân bình giữa hai lực lượng
nầy.
Nếu chúng ta quan
niệm cái ngã của con người là một thực thể độc lập thì
cái ngã sẽ là một vùng chân không với sức thu hút vô tận
nầy. Bởi vì khi được quan niệm như là một thực thể độc
lập, cái ngã đã bị tách rời khỏi những quan hệ đang
tồn tại mà con người có thể nhận biết được: nó trở
thành một cái gì hoàn toàn ngoại lệ, một vùng chân không
chỉ tồn tại trong tư tưởng, nói khác đi, nó chỉ là một
ảo tưởng. Lực hút của vùng chân không có tên là "cái
ngã" thể hiện ở hai mặt: lòng ham muốn và tình cảm đối
nghịch lại với lòng ham muốn, tức là sự chống ghét—chống
ghét những gì cản trở sự thỏa mãn lòng ham muốn của nó.
Nhưng sức phản kháng lại lòng ham muốn nầy sẽ tạo ra
một "cơn lốc xoáy" trong dòng chảy của lực hút. Cơn
lốc xoáy nầy sẽ trở thành sức cản ngày càng mạnh mẽ hơn
đối với lực hút. Cùng lúc đó, cường độ của lực hút
sẽ ngày càng căng. Nhưng vì ảo tưởng về cái ngã chủ
yếu là niềm tin cho rằng "cái tôi" tưởng tượng là
cái tôi "tuyệt đối" nên sẽ không có bất cứ sự
thỏa hiệp nào giữa lực hút và sức cản lại nó, và do đó,
trong trường hợp nầy, chúng ta có thể thật sự khẳng định
về "sức hút vô tận" của cái ngã như đã đề
cập ở trên. Việc không thể nào hóa giãi được quan hệ căng
thẳng giữa một bên là lực hút của cái tôi và một bên là
sức đề kháng lại nó, sự cách biệt hoàn toàn giữa một bên
là ý chí chủ quan của con người và một bên là dữ kiện
khách quan, sự bất hòa giữa một bên là ý tưởng và một bên
là thực tế cuộc đời—đây chính là nguồn gốc của cái
mà chúng ta gọi là "sự đau khổ."
Để khắc phục sự
xung đột giữa cái ngã và thực tế cuộc đời và hóa giải
những khí chất ham muốn nầy, hay nói khác đi, để tháo gỡ
trạng thái tâm lý "nô lệ" hay "bị ràng buộc"
đã đề cập ở trên — tóm lại, để trã lại sự tự do
cho nội tâm của con người, chúng ta không thể chiến đấu
chống lại hoặc đè nén lòng ham muốn, mà phải phá hủy cái
vùng chân không có sức hút vô tận đó, nghĩa là phải phá
hủy cái ảo tưởng về cái ngã hay cái tôi bất biến và thường
hằng. Nói khác đi, tất cả sự đau khổ trong cuộc đới
nầy đều xuất phát từ một thái độ sai lầm. Cuộc đời
nầy tự nó không tốt cũng không xấu. Chỉ có quan hệ giữa
cái ngã của con người và cuộc đời mới làm cho cuộc đời
trở thành hình như tốt hoặc xấu mà thôi.
Trong khi những tôn giáo
trong quá khứ chủ yếu đòi hỏi tín đồ của mình chấp
nhận mù quáng những tín điều không được minh xác, Đức
Phật không muốn có những tín đồ mù quáng chỉ biết thực
hành giáo lý của Ngài mà không tìm hiểu và không biết tại
sao Đạo Phật là cần thiết cho họ. Đối với Thế Tôn, giá
trị tư duy của con người không nằm ở thành tựu bên ngoài,
mà chính là ở động cơ hành động, nghĩa là, ở xu hướng
và thái độ tâm thức. Đây là nguồn gốc của năng lực tâm
ly ù thôi thúc con người có hành động tương xứng ra bên
ngoài. Như lời tuyên bố nổi tiếng của Ngài với Kalamas (trong
Tăng chi bộ kinh, phẩm 3.66) rằng Ngài mong muốn đệ
tử của Ngài thừa nhận chân Pháp mà ngài giảng dạy bằng
tuệ quán của riêng họ, chứ không phải vì họ tin tưởng vào
trí tuệ hay nhân cách ưu việt của Ngài. Niềm tin duy nhất mà
ngài mong chờ ở các đệ tử của mình là niềm tin vào chính
sức mạnh nội tâm của riêng họ. Vì lý do nầy mà Ngài đưa
Chánh tri kiến [1] (samyag-đrsti, hay việc
nhận thức được Tứ Diệu Đế) thành vấn đề hàng đầu
của Bát Thánh Đạo. Chỉ với thái độ tâm linh xuất phát
từ Chánh tri kiến, lý tưởng hướng về sự toàn
thiện mới có thể dần dần chín muồi và thấm nhuần toàn
bộ nhân cách con người. Nó sẽ thúc đẩy sự thay đổi về
tư tưởng, lời nói, và hành động của người đó, và
cuối cùng, qua một quá trình nội quán và thiền định rốt
ráo và tỉ mĩ, sẽ dẫn đến sự giác ngộ hoàn toàn.
Ở đây, sự ham muốn
và chống ghét, hay theo thuật ngữ Phật giáo, tham (lobha)
và sân (dosa) được xem như là những chướng
ngại chính trên con đường tu tập. Tâm chúng ta phải tự
giải thoát khỏi những chướng ngại này bằng cách phát huy
những năng lực giúp chúng ta đối trị lại chúng. Đó là năng
lực của sự bố thí (dana) và từ tâm
(maitri, Pali metta) mà thực chất là vô tham và vô
sân.
Nếu một người nào
đó đã có lần nhận thức được điều nầy từ sâu thẳm
trong tâm thức mình, và nếu người đó chỉ có một ước
nguyện duy nhất còn lại—đó là được thành tựu giác
ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh, những điều "thiện"
(kusala, Pali kusala) và "bất thiện"
(akusala) tự chúng sẽ trở nên rất rỏ ràng và tự nhiên
trong tâm họ. Người tầm cầu chân lý sẽ không nói dối, và
người có lòng thương tưởng tất cả chúng sanh sẽ không vu
khống và nói lời độc ác cũng như tránh những trò lý
luận và ngồi lê đôi mách vô ích và nhảm nhí.
Việc từ bỏ những hành
vi tiêu cực nầy có tác động hữu ích và tích cực cho chính
bản thân người đó và tất cả chúng sinh. Vì thế Tương
ưng bộ kinh (Anguttara Nikaya) phẩm 4, 198 (Trường
bộ kinh, Digha Nikaya phẩm 1.1.9) viết:
"Vị ấy nói
sự thật, hết lòng vì sự thật, nên vị ấy là người
đáng tin cậy và chúng ta có thể dựa vào vị ấy. Vị
ấy không chủ tâm nói dối bất cứ điều gì, hoặc vì
lợi ích riêng của mình hoặc của người khác hoặc vì
bất kỳ lợi ích nào. Những gì vị ấy nghe ở đây, vị
ấy không lập lại ở nơi khác để gây sự chia rẽ. Trái
lại, vị ấy hòa giải những người bất đồng ý kiến
và khuyến khích người khác sống hòa hợp. Hoan hỉ với
sự bình an, vị ấy vui sướng khi được sống trong bình
an và dùng lời nói để mang lại sự bình an. Khi từ bỏ
ác ngữ, vị ấy tự kiềm chế không nói lời ác độc.
Vị ấy nói lời dịu dàng và dễ nghe, an tịnh, yêu thương,
đi vào lòng người, thanh lịch, làm vui lòng, và hấp dẫn
với quần chúng. Tránh thói hý luận nhảm nhí, vị ấy nói
Pháp và Giới luật đúng lúc, với nội dung đúng đắn và
đúng trọng tâm của vấn đề. Vị ấy là phát ngôn viên
với lời lẽ quí báo, hợp thời, lợp lý, rỏ ràng, và
đi sát với mục tiêu. Đây chính là chánh ngữ."
Bước kế tiếp của
Bát Thánh Đạo là Chánh nghiệp (samyak-karmanta,
Pali samma kammanta), được hiểu trước tiên và trong
chừng mực nào đó hơi tiêu cực, là sự tự kiềm chế không
sát sanh, trộm cướp, và bị ám ảnh về tình dục. Nhưng hành
động tự kiềm chế nầy chỉ trở thành "hoàn thiện"
(samyak) khi nó xuất phát, không phải từ một kỷ luật
áp đặt bởi xã hội bên ngoài hay từ lòng vị kỷ, mà trái
lại, từ một thái độ nội tâm thuần thục dựa trên tuệ
quán và có khả năng giúp chúng ta lấy những quyết định hoàn
thiện nhằm đưa đến sự hài hòa giữa chúng ta và cuộc đời.
Đây là những hệ quả tất yếu của quá trình tu tập
thiền định. Chỉ như thế, chúng ta mới có thể "không
dùng đến sức mạnh của gậy gộc và đao kiếm (nghĩa là không
áp dụng sức mạnh hay sức ép nào từ bên ngoài), chân thành
và bi mẩn, quan tâm đến sự an lạc của tất cả chúng
sanh."(Trường Bộ Kinh, Digha Nikaya 1.1.8).
Lẽ dĩ nhiên, người
có hành động đúng đắn (chánh nghiệp) như thế không
thể chọn nghề hoặc hành nghề phương hại đến sự sống
chung quanh họ. Vì thế, người đó không thể chế tạo hoặc
mua bán vũ khí, mua bán con người hoặc súc vật, mua bán rượu
để làm người khác có thể say sưa, và những chất độc
hại người (như các loại ma túy chẵng hạn), hay thuê người
đâm chém, tra khảo, lừa đảo, phản bội, mưu mô quanh co
xảo trá, cho vay nặng lãi, hối lộ, hay bói toán: sau khi đã
làm một cuộc đổi đời "đạo đức" trong nhân cách
của mình, người đó không thể nào làm những việc vừa
kể trên. Bằng cách sống mới, người đó tìm cách hoàn
thiện đời mình mà dưới cái nhìn của những người chung
quanh, đó là một đời sống trong sạch, hợp với công lý, và
vì lợi ích của cộng đồng. Cuộc sống đó thánh thiện cho
chính bản thân người đó và những người khác, tốt lành
cho thân tâm, và hoàn toàn là để phụng sự người khác, mà
không cần chạy theo những lời hứa hẹn được ban thưởng
ở thiên đàng hay lo sợ là sẽ bị trừng phạt dưới địa
ngục bởi một đấng thượng đế sáng tạo nào đó.
Nếu phát huy được
sức mạnh tâm linh như thế, vị ấy sẽ ít gặp chướng
ngại trên đường tu tập và những trạng thái tâm không lành
mạnh sẽ ít khởi lên trong tâm của vị ấy. Ngay trong trường
hợp vì tập khí củ, những phiền não có thể khởi lên, nhưng
vị ấy sẽ loại bỏ nó và tìm cách phát huy và huân tập
những năng lực tích cực và hướng thiện để tái tạo
lại sự quân bình trong bản thân và sự hòa hợp giữa vị
ấy với môi trường sống chung quanh. Trong quá trình tu tập
nầy, vị ấy phát huy và huân tập bảy yếu tố. Bảy yếu
tố nầy liên hệ rất chặt chẽ với nhau và sẽ chuẩn bị
con đướng đi đến sự bừng ngộ sau cùng. "Bảy yếu
tố giác ngộ" nầy (sapta-sambodhyanga, Pali satta
sambojjhanga, Hán ngữ Thất giác chi) là 1. Chánh niệm
tĩnh giác 2. Trạch pháp 3. Tinh tấn 4. Hoan hỷ 5. Khinh
an. 6. Định 7. Xả.[2]
Qua một quá trình công
phu liên tục trên tự thân và quá trình rèn luyện nhầm phát
huy 7 yếu tố dẫn đến sự giác ngộ (thất giác chi), một
ngày nào đó vị ấy sẽ hoàn tất bước thứ bảy của Bát
Thánh Đạo, đó là Chánh niệm hay sự hiển hộ
toàn bộ của tâm hay tâm không còn bị vô minh che khuất (smyak-smrti,
Pali samma-sati). Bằng cái tâm thanh tịnh và tĩnh giác hoàn
toàn này, chúng ta có thể quan sát trực tiếp (trực quán)
những tiến trình năng động đang diễn ra trong thân xác,
cảm xúc, tâm thức, và các đối tượng của tâm [3]. Và quá
trình đào sâu kinh nghiệm quán sát trực tiếp của tâm thanh
tịnh và tĩnh giác nầy sẽ thúc đẩy quá trình chuyển hóa
nhân cách của chúng ta, từ đó dẫn đến Chánh định
(samyak-samadhi) tức là sự củng cố và tăng cường
của tâm thanh tịnh và tỉnh giác nầy, hay nói khác đi, dẫn
đến sự chuyễn hóa của tâm thức trong đó sự căng thẳng
giữa chủ thể và khách thể do tư duy trừu tượng tạo nên
sẽ được hóa giải bởi sức mạnh hợp nhất đến từ kinh
nghiệm trực quán thuần khiết nầy. Chúng ta gọi kinh nghiệm
trực quán nầy " thuần khiết" vì nó không bị ảnh
hưởng hay tô vẽ hoặc bởi tư duy trừu tượng hoặc bởi
những định kiến, và do đó thoát khỏi ảo tưởng và
những trạng thái tâm kèm theo nó như lòng ham muốn và sự
chống ghét. Khi kinh nghiệm trực quán thuần khiết nầy sâu
sắc đủ để đi xuyên qua toàn bộ tâm thức, tiếp xúc với
những cội nguồn sâu thẳm nhất của tâm thức chúng ta (samskaras,
Pali sankharas, Hán Nghiệp hay Hành uẩn), làm
hiển lộ cái động lực cơ bản nhất hay cái nhân đầu tiên
đưa chúng ta vào vòng sinh tử (St., Pali hetu); đó cũng là
lúc chúng ta thành tựu Niết Bàn (Nirvana).[4]
Ngay cả khi chúng ta
tập quán niệm ở mức độ thấp hơn và tác động của quá
trình thiền quán là giới hạn và tạm thời, tu tập thiền
định vẩn giúp mở rộng chân trời tâm linh trong chúng ta, làm
chúng ta tự tin hơn, làm sâu sắc hơn khả năng quán chiếu, làm
yếu dần đi những định kiến, và những nỗ lực của chúng
ta ngày càng trong sạch.
Tóm lại, bước đầu
tiên trên con đường đạt đến tri kiến cao nhất và cũng là
con đường đi đến sự toàn giác bao gồm lòng nhiệt thành
tầm cầu chân lý và khả năng nhận thức một cách khách
quan và vô tư những quy luật tồn tại trong cuộc đời nầy.
Đây là ý nghĩa của Chính kiến (samyagdrsti,
Pali samma ditthi) — bước đầu tiên của Bát Thánh Đạo.
Trong Đạo Phật, thái độ tâm linh rất có ý nghĩa ở chỗ nó
xem khả năng nhận thức và quán niệm trực tiếp những quy
luật trong cuộc sống, chứ không phải việc tuân thủ và
chấp hành những nguyên tắc đạo đức do truyền thống để
lại hay được ghi lại trong các điều răn tôn giáo là bước
đầu tiên của con đường đi đến giải thoát. Đối
với người Phật tử, đạo đức của con người là sự
thể hiện trình độ hiểu biết và trí tuệ của vị ấy
trong cuộc sống. Nếu vị ấy chấp hành các nguyên tắt đạo
đức chỉ vì lo sợ bị trừng phạt hay vì hy vọng sẽ được
ban thưởng, thì cái gọi là "đạo đức" của vị
ấy là hoàn toàn không có cơ sở đạo lý.
Dưới cái nhìn của
đạo Phật, đạo đức không phải là nguyên nhân mà là kết
quả của một thái độï tâm linh dựa trên cái nhìn đúng đắn
và như thật về cuộc đới.[5]
Sự thốngnhất giữa thái độ tinh thần nầy và hành động
thể hiện ra bên ngoài cuộc sống của chúng ta, hay nói khác
đi, sự chân thật xuất phát từ nội tâm mới là ý nghĩa
thật sự của Giới luật (sila, Pali sila) mà
thật ra nghĩa đen của nó chỉ là sự "thực hành." Vì
lý do đó mà Định (Skrt samadhi, Pali samadhi)
hay sự hợp nhất và hoàn thiện của nội tâm không thể nào
có được nếu không có Giới luật, vì năng lực tập
trung và hợp nhất trong nội tâm chỉ có được khi nào có
sự thống nhất giữa Trí tuệ và Giới luật. Và
khi Giới luật (sila) đến từ sự hài hoà giữa
niềm tin và hành động, Trí tuệ (prajna, Pali panna)
đến từ sự hài hòa giữa tâm thức và các quy luật vận hành
trong cuộc sống khách quan, và Định (samadhi) đến
từ sự hài hòa giữa cảm xúc, tri thức, và ý chí, hay là
sự kết hợp chặt chẽ của tất cả năng lực tâm lý sáng
tạo trong quá trình thể nghiệm thực tại ở mức độ cao hơn
trong nội tâm chúng ta.
Trong kinh nghiệm giác
ngộ của Đức Phật, ngài đã nhận ra được ba nguyên nhân
căn bản (hetu) đã buộc con người trôi lăn mãi trong
những kiếp sống đầy đau khổ, và về thực chất, ba nguyên
nhân này không là gì khác hơn là ba biểu hiện của vô
minh (avidya, Pali avijja). Để rồi từ đó,
nền tảng của toàn bộ giáo lý Phật pháp được xây dựng
trên vấn đề là làm sao khắc phục được ba nguyên nhân căn
bản đưa con người đến khổ đau này. Ba nguyên nhân bất
thiện nầy—tham lam, sân hận, và si mê — chỉ có thể
nhiếp phục được bằng ba phương tiện. Đó là vô tham, vô
sân, và vô si. Và quá trình nhiếp phục ba nguyên nhân bất
thiện nầy cũng chính là quá trình vượt lên trên tất cả các
giá trị, ở đó vô tham trở thành đồng nghĩa với một
nội tâm tự do, vô sân chính là tâm từ bi, và vô si chính là
tuệ quán và tri thức.
Cách diễn đạt
những mục tiêu và tư tưởng tích cực bằng những từ ngữ
mang nét tiêu cực như vô tham, vô sân, và vô si cho thấy đạo
Phật rất thông hiểu thực tế cuộc đời. Những khái niệm
tích cực là để giúp chúng ta nắm bắt hoặc phân định
rạch ròi được sự vật. Nếu chúng ta nói một cái gì đó
là màu xanh, điều này có nghĩa là chúng ta loại bỏ tất
cả các màu khác ngoại trừ màu xanh. Nhưng nếu chúng ta nói
một vật gì đó không là màu xanh, điều này có nghĩa là
vật đó có thể là bất cứ màu gì ngoại trừ màu xanh. Cái
thực tại mà chúng ta đang sống và thể nghiệm là vô biên vì
tất cả đều ở trong trạng thái thay đổi không ngừng. Do
đó, nếu muốn loại bỏ một cái gì đó trái ngược lại
với cái thực tại vô biên này, hay cái ảo tưởng về thực
tế cuộc đời—mà thực chất là "vô minh"— chúng
ta chỉ cần dùng những khái niệm tiêu cực đối nghịch
lại nó để loại bỏ nó là đủ vì thực chất của nó không
phải là cái gì mới mẻ hoặc chưa hề xảy ra mà chính là vì
nó đi ngược lại với thực tại. Vấn đề chính ở đây là
làm sao loại bỏ được chướng ngại trên đường tìm hiểu
thực tại của chúng ta. Những người không thấy phương pháp
diễn đạt nầy là hữu ích có thể cho nó là hoàn toàn tiêu
cực. Nhưng phải chăng chỉ có sự vượt lên trên những
giới hạn của chính mình mới thật sự là điều sáng tạo
và phải chăng thật sự trong một ý nghĩa nào đó, từ "genius"
hay thiên tài— mà chúng ta thường hiểu như là một người
siêu phàm, vượt lên trên cuộc đời bình thường nầy--
có thể đồng nghĩa với từ "preserved ingeniousness"
mà chúng ta có thể hiểu nôm na là "người biết gìn
giữ những gì hết sức tưï nhiên, bình thường,
trong trắng và đơn giản của mìnhõ" như Dahlke
đã từng định nghĩa? [6]
Các bậc trí giả, thánh
nhân, và nhất là các đấng giác ngộ là những người đã
phá vở tất cả những chướng ngại nội tâm, từ bỏ tất
cả những ràng buộc từ bên ngoài, và qua đó đã đi vào
thế giới sáng tạo. Vị ấy thể hiện cuộc sống của mình
một cách hoàn hảo nhất qua những hành động--những hành động
nầy có thể sáng tạo hoặc hủy diệt. Và qua những hành động
sáng tạo và hủy diệt này, vị ấy giải thoát chính mình. Vì
thế, vị ấy là điểm hội tụ của những năng lực sống
động mở rộng và vượt xa hơn phạm vi cá nhân của vị
ấy. Khi chưa có được tâm thanh tịnh, chúng ta thường bị
trói buộc bởi những hoạt động của mình. Nhưng đối với
các bậc thánh, hoạt động chính là sự giải thoát. Vị ấy
"vượt khỏi thiện và ác"—nghĩa là không bị chi
phối bởi hai khái niệm tương đối này. Nói khác đi, trên bước
đường tu tập, vị ấy vượt lên trên quá trình không
ngừng thay đổi và loại trừ lẫn nhau của hai giá trị tương
đối nầy và khi họ nhiếp phục được vô minh, tất cả giá
trị đối nghịch như thiện và ác đều trở thành trung hòa
và không còn tác dụng nữa. Do đó, những gì ở người khác
là khuyết điểm thì ở bậc thánh là một điều vinh hạnhø.
Và ngược lại, tất cả những đức tính mà người đời thường
đánh giá là "thiện" thì đối với bậc thánh chỉ là
những khả năng mà con người có thể đạt được trên con
đường tu tập tâm linh.
Do đó, chúng ta thấy
rõ là một vị thánh sẽ không bao giờ hoàn toàn thụ động,
mặc dù vị ấy không làm điều gì thiện hoặc bất thiện và
mặc dù thực hiện hai điều này là nằm trong khả năng của
vị ấy. Vị âý không tìm cách diệt trừ những tính "bất
thiện" trong người của mình để chỉ giữ lại những tính
"thiện", vì thật ra, khi không còn tính bất thiện,
thì những tính thiện nầy cũng sẽ không còn là "tính
thiện" nữa. Trái lại, thái độ tâm linh của vị ấy đã
đổi khác, vì vị ấy đã loại bỏ được những định
kiến thường xuất phát từ vô minh, và do đó những chướng
ngại tâm linh mà trong đạo Phật xem là "bất thiện"
cũng không còn nữa.
|Xem tiếp phần hai
|
---o0o---
Source: www.buddhismtoday.com
| Thư mục Tác Giả |