Trong hình dung của tôi trước đây,
Hòa thượng là một "ông cụ" khó tính, khó gần và khó
tiếp xúc bởi những câu hỏi "mắc mớ" thường gây lúng
túng cho người mới gặp. Nhưng, sau khi được gần Hòa thượng một
thời gian, hình ảnh về ngài trong tưởng tượng của tôi mới vỡ
lẽ ra chỉ là
tưởng tượng! Hòa thượng, một bậc chân tu giản
dị, một học giả Phật giáo uyên thâm Hán tạng, người luôn theo
dõi, quan tâm từng bước đi của lớp tăng ni trẻ, luôn thao thức
về một đường hướng cho nền giáo dục Phật giáo nước nhà, và
là linh hồn của Phật giáo chốn cố đô
Trong bộ áo "vạt hò" màu lam, tại một góc
thanh vắng trong thiền khách của chùa Từ Đàm, trên chiếc tràng kỷ
với những bộ Đại tạng chữ Hán, các loại từ điển và sách
tra cứu khác, một vị sư già cặm cụi viết lách, tĩnh tại như không
hề quan tâm tới thế giới bên ngoài, kể cả cái nóng như ran của
miền trung vào hè hay cái lạnh tê buốt mùa đông. Đó là hình ảnh
rất đỗi quen thuộc ở ngôi chùa lịch sử này và đối với
người dân cố đô, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, vị giáo phẩm mà
Tăng Ni và Phật tử ở đây thường gọi bằng âm điệu Huế vừa
gần gũi vừa tôn kính: "Ôông Từ Đàm".
Xuất gia từ năm 14 tuổi, Hòa thượng sớm
được đào tạo trong một môi trường giáo dục căn bản và nghiêm
túc là Phật học đường Báo Quốc, Phật học đường Kim Sơn (Huế)
với những bậc giáo thọ uy tín và uyên bác như cố Hòa thượng
Trí Độ, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
Ngay từ thuở nhỏ, Hòa
thượng bản tính vốn hiền hậu và chăm chỉ, ham đọc sách hơn quà
cáp hay vui chơi như bạn cùng trang lứa, bộc lộ những tư chất đặc
biệt của một học giả, đặc biệt là về văn học A-tỳ- đàm.
Chương trình tại các Phật học đường thời bấy giờ bắt buộc
học Tăng tiếp xúc thẳng với các bộ kinh luận chữ Hán và kéo
dài hơn mười năm, thời lượng đủ để người thầy có thể
truyền tất cả tri thức của mình cho học trò. Gợi về thuở ấu
thời, với chất giọng Huế sắc nhưng giản dị, Hòa thượng tâm
sự: "Ngày xưa, theo lối dạy đơn thân, Thầy chúng tôi không
dạy chi nhiều về chi tiết. Ngoài chương trình học Thầy không cho đọc
thêm chi hết, kể cả sách văn chương. Lúc đó, phong trào quốc văn
đang rộ lên, nhóm Tự lực văn đoàn đã cho ra đời hàng loạt
đầu sách và đang chiếm lĩnh thị trường sách thời bấy giờ.
Chúng tôi cũng mua về đọc, nhưng Thầy chúng tôi vốn là người
trọng cổ, nên lâu lâu Ngài đi soát coi thử chúng tôi có ai đọc
không, nếu bắt được ai có sách ấy Ngài liền xé ngay không nói
gì hết (
). Chúng tôi học kinh luật luận bằng chữ Hán với
một Thầy suốt năm này qua tháng nọ. Lâu ngày với giọng quen quen
dễ đâm ra buồn ngủ, cho nên ai cũng tìm chỗ thuận tiện để
ngủ. Trong lớp có mấy cái cột nhà lớn và hễ hôm nào ai được
cột nhà che là hôm đó coi như may mắn lắm! (cười). Cột nhà
là
"thần hộ mệnh", vì có ngủ gật cũng không bị Thầy
phát giác, và ai cũng tranh nhau tìm cột nhà mà núp
"
Sau khi tốt nghiệp chương trình Phật học với hạng ưu,
Hòa thượng đã lao ngay vào con đường giáo dục, như bổn phận làm
Thầy vốn sẵn có. Nói về cái duyên với công tác giáo dục Phật
giáo, Hòa thượng kể tiếp: "
Người xưa thường nói: Hậu
sanh khả úy, kẻ hậu sanh đáng sợ. Chữ "đáng sợ" ở
đây theo tôi là tỏ ý khen ngợi, nghĩa tốt, trong hoài bão của một
người Thầy luôn mong mõi những người học trò, thế hệ sau giỏi
hơn, hay hơn mình. Với tôi, nhìn thấy các thầy, các cô trẻ giỏi
giang là điều hết sức đáng mừng chứ không phải là "đáng
sợ". Cũng do đó mà tôi đã đeo đuổi cái nghề dạy học này
từ khi ra trường đến giờ. Nhiều người coi tôi hợp với nghề
giáo hơn cả. Trước đây, tôi đã từng làm Đốc giáo, làm Viện
trưởng viện Cao đẳng Phật học tại Phật học viện Hải Đức, Nha
Trang. Sau này, Giáo hội PGVN cũng giao công tác Trưởng ban Giáo dục
Tăng Ni cho tôi. Ngoài ra, tôi còn được phân công giảng dạy tại
các trường Cao cấp Phật học tại Hà Nội, TP. HCM; và gần đây lại
đảm trách công tác Viện trưởng, tham gia giảng dạy cho Tăng Ni Học
viện Phật giáo Việt Nam tại Huế. Nhìn thấy tất cả các miền đều
có trường Phật học, tôi rất mừng. Nhưng tôi thấy cần phải có
một trung tâm lớn để đào tạo Tăng Ni tập trung chung cho cả ba miền
thì tốt hơn, không phân chia ranh giới. Bởi khi mọi người đều có
cùng một sự hiểu biết, phương thức tu tập và chí nguyện phụng
sự thì sẽ tốt hơn cho Phật giáo và sự phát triển chung của
nước nhà."
Điều dễ nhận thấy ở Hòa thượng là người ham
học, ham đọc. Cũng chính điều này đã làm cho không ít người rất
ngại mỗi lần tiếp xúc với Ngài, hễ thấy sách là đọc, thấy
điều không rõ là hỏi và lắng nghe, không phân thượng hạ, già
trẻ. Có một nhà báo thường theo dõi các kỳ họp Quốc hội đã
thống kê rằng, Ngài là vị đại biểu Quốc hội làm khách nhiều
nhất ở quầy sách báo tại khuôn viên Hội trường Ba đình trong
các giờ giải lao giữa phiên họp. Gần Hòa thượng hằng ngày mới
thấy thời gian đối với Ngài là quý hóa đến nhường nào. Một
ngày bình yên với Hòa thượng thật sít sao. Năm giờ khuya đã có
mặt ở thiền khách tĩnh lặng bên chén trà nóng; sáu giờ sáng
lên chánh điện lễ Phật, tụng niệm và hành thiền; một tiếng sau
thả bộ xuống nhà khách dùng điểm tâm; tám giờ bắt đầu ngồi
vào bàn làm việc cho đến giờ cơm trưa, nghỉ trưa; hai giờ chiều
lại cặm cụi một mình với các bộ Đại tạng kinh luận đồ sộ cho
đến lúc thị giả báo cơm chiều. Tối, Hòa thượng một mình trong
phòng riêng, không có các tiện nghi của đời sống hiện đại như
điện thoại, ti-vi hay máy lạnh, lò sưởi, dù cái thời tiết thay
đổi giữa các mùa ở Huế không phải là dễ chịu với mọi
người. Một ngày bình yên với Ngài là thế, như một chu kỳ nhưng
lại không thấy sự trễ nải, đơn điệu, mà tươi mới như mặt
trời mỗi bình minh. Thế mới biết, là một bậc giáo phẩm mang nhiều
trọng trách lãnh đạo Giáo hội, nhưng các công trình nghiên cứu,
dịch thuật giá trị của Ngài vẫn xuất hiện như thể là công trình
của một đời người cần mẫn. Tuy nghiêm khắc với thời gian là
vậy, nhưng hễ có các tăng, ni trẻ muốn thỉnh vấn trong vấn đề tu
học thì Hòa thượng vẫn dành thời giờ cho họ. Gần đây, dù đang
dỡ dang công trình dịch và chú bộ Đại trí độ luận vàtrong bề
bộn các Phật sự khác, Ngài vẫn không bỏ qua việc đọc các tác
phẩm của một số tăng sĩ trẻ, rồi viết thư tay để góp ý thân
tình và đích thân hiệu đính từng điểm, từng chi tiết. Đó là
một tính cách giản dị mà không phải dễ tìm thấy trong cuộc sống,
nhất là trong lĩnh vực học thuật.
Là người chứng kiến, trải qua không biết bao biến
động, đổi thay của thời thế trong hơn hai phần ba thế kỷ 20, song
tính mộc mạc, giản dị, nhưng thâm trầm, sâu lắng rất phương Đông
và tính cách Huế ở con người của bậc chân tu này không hề thay
đổi. Có lần, Ngài tâm tình: " Ở hoàn cảnh nào, tình huống
nào, với bất cứ sự phân công nào của Giáo hội, theo yêu cầu
của quần chúng Phật tử, tôi luôn tâm niệm mình là một ông thầy
tu, "tiên vi sư hậu vi sư", trước làm thầy tu sau cũng làm
thầy tu không khác, luôn tâm niệm như vậy nên mọi Phật sự khó
khăn đến đâu rồi cũng thành tựu, và những biến thiên bên
ngoài không làm lung lay ý chí phụng sự của mình. Và tôi tin vào
điều đó." Hòa thượng nói tiếp: "Làm ông thầy tu thì
phải hội
頦