Bá Trượng Ngữ Lục
Bửu Tạng Luận, Đại Sư Tăng
Triệu - HT. Thích Duy Lực Việt dịch
Cội nguồn truyền thừa
và
Phương pháp tu trì của thiền
tông.
Công án của Phật Thích Ca & Tổ Ðạt Ma
Danh từ Thiền học chú giải
Duy Tâm Quyết, Vĩnh Minh Thiền Sư - HT. Thích Duy lực Việt dịch
Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng
Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ
Ðại Huệ Ngữ Lục
Đại Thừa Tuyệt Đối Luận, Nguyệt Khê Thiền Sư
Ðường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền
Giảng Giải Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải, HT. Thích Duy Lực
Giới Thiệu Pháp Môn Tổ sư Thiền
Góp Nhặt Lời Phật Tổ và Thánh Hiền
Hoàng Bá Thiền Sư truyền tâm pháp yếu.
Kinh Duy Ma Cật
Kinh Kim Cang Bát
Nhã Ba La Mật
Kinh Lăng Nghiêm
Kinh Lăng Già
Kinh Pháp Bảo Ðàn
Kinh Viên Giác
Khai Thị Thiền Thất Tại Chùa Tam Bảo
Khai Thị Cuối Cùng Tại Việt Nam, HT. Duy Lực
Khai Thị Ban Đầu tại Hoa Kỳ
Khai Thị Cuối Cùng Tại Hoa Kỳ
Kinh Phạm Võng
Giảng Lược, HT. Thích Duy Lực
Lâm Tế Ngữ Lục
Nam Tuyền Ngữ Lục
Phật Pháp với Thiền Tông
Tham Thiền Cảnh Ngữ (tác giả: Hòa Thượng Bác Sơn)
Tâm Linh và Khoa Học Trong
Phật Pháp
Thiền Thất Khai Thị Lục (tác giả: Lai Quả Thiền Sư)
Thuyết Giảng Kinh Luận
Trung Phong Pháp Ngữ
Tham Thiền Phổ Thuyết
Truyền Tâm Pháp Yếu
Trung Phong Pháp Ngữ
Thiền Thất Khai Thị Lục, Lai Quả Thiền Sư
Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải, Hòa Thượng Trung Phong
Triệu Luận Lược Giải, Hám Sơn Ðại Sư
Từ Ngữ Thiền Học Tiếng Việt, Thích Duy Lực
Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21
Vấn Đáp Thiền Và Phật Pháp, HT. Thích Duy Lực
Vũ trụ quan thế kỷ 21
Yếu chỉ Trung Quán Luận
Yếu Chỉ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
Yếu chỉ Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Yếu Chỉ Phật Pháp
Tiểu sử HT Thích Duy
Lực
THỜI THƠ ẤU
Sư hiệu DUY LỰC, tự GIÁC
KHAI, thế danh LA DU sanh ngày 05 tháng 05 năm 1923, là người làng Long
Yên, huyện Phong Thuận phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Cha
tên là La Xương và mẹ tên là Lưu Thị, làm nghề nông. Sau khi tốt nghiệp
phổ thông cấp 1, thì Sư phải nghỉ học, theo cha sang Việt Nam sinh sống,
lúc đó Sư được 16 tuổi (1938). Trú tại tỉnh Cần Thơ, Sư thường tranh thủ
tự học trong lúc rảnh rỗi. Đến năm 26 tuổi (1948), thi đậu bằng giáo viên
Hoa Văn và được mời dạy ở các trường tiểu học tỉnh Tà Keo Cao Miên (nay là
Campuchia), và trường Khải Trí ở Cần Thơ, Trường Cái Vồn ở Vĩnh Long, Việt
Nam trải qua 10 năm. Năm 1958, sau khi lấy bằng Đông Y Sĩ cấp 1, Sư được
mời làm đông y sĩ cho tiệm thuốc Tế Ngươn Đường Cà Mâu và Minh Nguyệt Cư
Sĩ Lâm tỉnh Cần Thơ để khám bệnh miễn phí cho dân trong thời gian 8 năm.
Trong tủ sách của Cư Sĩ
Lâm có bộ Kinh Tục Tạng gồm 150 quyển, lúc đầu Sư định đọc hết toàn bộ,
nhưng trải qua một năm chỉ xem được 7 quyển, sau quyết định chỉ xem phần
Thiền Tông. Lúc đó Sư theo Pháp sư DIỆU DUYÊN tham học Tổ Sư Thiền (Pháp
Sư Diệu Duyên đã nhiều năm thân cận Lai Quả Thiền Sư và Hư Vân Thiền Sư,
và ngài tịch vào năm 1976 tại Chùa Thảo Đường Việt Nam).
THỜI KỲ XUẤT GIA HỌC
ĐẠO
Vào mùng 08 tháng 02 năm
1973, Sư được Hòa Thượng, thượng Hoằng hạ Tu cho xuất gia tu học tại chùa
Từ Aân Quận 11 Chợ Lớn. Tháng 05 năm 1974, Sư thọ giới Tam Đàn Cụ Túc tại
Chùa Cực Lạc Malaysia.
Từ đó Sư chuyên tham câu
thoại đầu "Khi chưa có trời đất ta là cái gì" trải qua nhiều năm, một hôm
do đọc quyển "Trung Quán Luận" đến câu "Do có nghĩa KHÔNG nên thành tựu
tất cả pháp" đốn ngộ ý chỉ "TỪ KHÔNG HIỂN DỤNG", lại tỏ ngộ câu KHÔNG sanh
nơi đại giác, như biển nổi non bọt, vô số nước hữu lậu, đều từ KHÔNG sanh
khởi trong Kinh Lăng Nghiêm, với câu "Lấy VÔ TRỤ làm gốc" của Ngài Lục Tổ;
"Từ gốc VÔ TRỤ lập tất cả pháp" của Ngài Duy Ma Cật vốn cùng một ý chỉ, VÔ
TRỤ tức TÁNH KHÔNG, thể Chơn Như vốn KHÔNG mà tự hiển bày sự dụng; thể và
dụng của Chư Phật với chúng sanh vốn chẳng hai chẳng khác, cùng khắp không
gian thời gian, nơi thánh chẳng thêm, nơi phàm chẳng bớt, dù là phàm phu
mà sức dụng của Phật tánh chẳng kém hơn Phật, cũng chẳng từng gián đoạn,
chỉ vì chúng sinh ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết.
THỜI KỲ HOẰNGPHÁP
Ngày mùng 2 tháng 4 năm
1977 Sư thừa lệnh ân sư (Hòa Thượng Hoằng Tu) ra hoằng pháp Tổ Sư Thiền
tại chùa Từ Aân đường Hùng Vương Quận 11 TP HCM. Hai năm sau, tứ chúng
phật tử qui tụ ngày càng đông, Phật tử người Việt theo tu học pháp Tổ Sư
Thiền hơn 4000 người, mỗi lần tham dự thiền thất đều vượt trên 300 người.
Tháng 02 năm 1989, Sư di
cư đến tiểu bang California nước Hoa Kỳ và sáng lập Từ Ân Thiền Đường tại
Orange County. Đến thiền đường học đạo có người Tây Phương và người Á
Châu, trong đó người Việt Nam đông nhất. Những năm gần đây, Sư thường được
thỉnh đến các nước như Chùa Chánh Giác ở Toronto, Canada, Chùa Quan Aâm ở
Brisbane Australia, Hồng Kông, Tịnh Xá Đại Bi ở Đài Loan để hoằng pháp và
các thiền đường ở Mỹ để giảng dạy pháp Tổ sư Thiền.
Riêng ở Việt nam, bất cứ
nơi nào mời, Sư đều tùy duyên giảng dạy, như đả Thiền Thất tại chùa Từ Ân
Quận 11, chùa Hưng Phước đường Cách Mạng Tháng 8 quận 3, Chùa Pháp Thành
Quận 6, Chùa Sùng Đức Quận 6, Chùa Huệ Quang Quận Tân Bình, , Đại Tòng
Lâm, Ni Viện Thiện Hòa Bà Rịa Vũng Tầu, và tại các tỉnh Long An, Sóc
Trăng, Tây Ninh Khánh Hòa, Bình Định..
Năm 1996 Sư lập một nông
thiền trồng rau sạch không dùng phân bón và thuốc sát trùng tại Củ Chi,
Sai Gòn.
Đến năm 1998, Sư đã được
Ban Hoằng Pháp Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, mời thỉnh vào Ban
Hoằng Pháp Trung Ương, với cương vị Uûy Viên Ban Hoằng Pháp Trung Ương, Sư
đã được Giáo Hội phân thỉnh giảng tại các Khóa Bồi Dưỡng Hoằng Pháp ngắn
hạn cho các tỉnh Miền Trung tổ chức tại Bình định, cho các tỉnh Miền Đông,
TP Saigon và Miền Nam tại Văn Phòng 2 Trung Ương Giáo Hội.
Đến năm 1999 Sư thành lập
phòng khám bệnh và phát thuốc miễn phí tại huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai
cũng nhằm tùy duyên hóa độ chúng sinh, trong hoàn cảnh khó khăn của sự
phát triển tôn giáo tại Việt Nam.
DỊCH THUẬT CÁC KINH
SÁCH VÀ TRƯỚC TÁC
Ngoài ra Sư còn truớc tác,
dịch thuật và chú giải từ tiếng Hán sang tiếng Việt các kinh điển và ngữ
lục của Tổ sư hơn 20 loại, lượng sách phát hành tại Việt nam trên mấy mươi
ngàn quyển. Các kinh sách tiếng Việt và một số bằng tiếng Hoa được phát
hành bao gồm:
DỊCH THUẬT và CHÚ GIẢI:
-
Kinh Lăng Nghiêm
-
Kinh Lăng Già
-
Kinh Pháp Bảo Đàn
-
Kinh Viên Giác
-
Kinh Duy Ma Cật
-
Đại Huệ Ngữ Lục
-
Tham Thiền Cảnh Ngữ
(tác giả: Hòa Thượng Bác Sơn)
-
Thiền Thất Khai Thị
Lục (tác giả: Lai Quả Thiền Sư)
-
Bá Trượng Quảng Lục và
Ngữ Lục
-
Truyền Tâm Pháp Yếu
-
Trung Phong Pháp Ngữ
-
Cội Nguồn truyền Thừa
-
Chư Kinh Tập Yếu
-
Tín Tâm Minh Tịch
Nghĩa Giải
TRƯỚC TÁC:
-
Góp Nhặt Lời Phật Tổ
và Thánh Hiền
-
Công An Của Phật Thích
Ca & Tổ Đạt Ma
-
Phật pháp với Thiền
Tông
-
Đường Lối Tham Tổ Sư
Thiền
-
Danh Từ Thiền Học
-
Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21
-
Yếu Chỉ Trung Quán
Luận
-
Yếu Chỉ Phật Pháp...
VIÊN TỊCH
Sư biện tài vô ngại, tùy
duyên hóa độ và tận tụy với hoằng pháp lợi sanh, chẳng kể gian lao, không
từ khó nhọc. Người xưa có nói "Bồ Tát dĩ lợi sanh vi bổn hoài", (Bồ Tát
luôn luôn vì lợi ích chúng sanh mà cứu giúp) thật khế hợp với Sư biết bao.
Hóa duyên kỳ tắc, Sư viên
tịch vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 07-1-2000 tại California Hoa Kỳ,tức ngày
mùng 01 tháng 12 năm Kỷ Mão, nhằm lúc 01 giờ 30 phút giờ Việt Nam ngày 02
tháng 12 năm Kỷ Mão (tức ngày 08 tháng Giêng năm 2000).
---o0o---
Cập
nhật : 01-09-2007
Khởi đăng : 01-02-2002