Một nhà sư Phật giáo
tranh đấu cho Hòa Bình
Có một nhà sư rất
khiêm tốn, chỉ tự nhận là một người tu hành, một nhà sư Phật giáo mà
thôi. Ngài tên là Tenzin Gyatso, sinh năm 1935. Nhưng người ta lại gán
cho Ngài cái tước hiệu là Đạt-Lai Lạt-Ma thứ XIV, và Ngài đã nhận giải
Nobel Hoà Bình vào tháng 9 năm 1989. Ngài rất yêu thương con người, nhân
loại và dân tộc của Ngài.

Hình
chụp tại Tòa Bạch Ốc ngày 21 tháng 5 năm 2001,
trong dịp Đức Đạt-Lai Lạt-Ma yết kiến
Tổng thống George W. Bush của Mỹ.
Sau cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất vào năm 1991
trên đất xứ Kuwait, một tờ báo Mỹ đã phỏng vấn Đức Đạt-Lai Lạt-Ma và
Ngài trả lời như sau : « Tôi không thể nào chỉ phản đối một mình
Saddam Hussein được, như thế là không phải. Có thể đấy là một người xấu,
nhưng nếu không có quân đội, thì ông ta cũng không thể hung hãn đến như
thế ; và tiếp theo, nếu không khí giới, thì quân đội của ông ta cũng chẳng
làm gì được. Những khí giới ấy không phải xứ Iraq sản xuất ra. Ai bán những
khí giới đó cho họ ? Chính là Tây phương ! »
Đức Đạt-Lai Lạt-Ma vẫn thường nói rằng một cuộc chiến chỉ để
chuẩn bị cho một cuộc chiến khác mà thôi. Thật vậy chiến tranh vùng Vịnh
lần thứ hai xảy ra ngay trên đất Iraq của chính Saddam Hussein. Dù nhất
định không thể nào chấp nhận một cá nhân hung bạo và độc ác, nhưng ta
không thể đơn giản kết tội một con người. Sự xét đoán của ta thường vô
cùng hạn hẹp và thiển cận trước những phức tạp của xã hội nói chung,
trong đó có kinh tế, chính trị, văn hoá, tín ngưỡng…, cũng như những phức
tạp trong tâm thức của từng người, và cả trong tâm thức tập thể của từng
nhóm người trong xã hội. Những phức tạp này là những gì mà Phật giáo gọi
là sự tương liên, tương kết và tương tạo của mọi vật thể và mọi hiện tượng.
Sự phức tạp trong tâm thức là do những xúc cảm bấn loạn gây
ra bởi hận thù, ghét bỏ, bám níu…, bởi những vết hằn trong tiềm thức hay
a-lại-gia thức, những xu hướng mà ta thụ hưởng từ muôn ngàn kiếp
trước. Vậy ta hãy nhìn lại và tìm hiểu tâm thức ta trước đã, xem tâm thức
đó có tinh khiết hay không, trước khi ta xử dụng nó để xét đoán và kết tội
kẻ khác. Đức Đạt-Lai Lạt-Ma vẫn thường nói « kẻ thù của ta là người bạn
tốt nhất cho ta. Người bạn đó giúp ta phát huy sự kiên nhẫn và sức nhẫn
nhục », một người bạn tốt, bên cạnh ta, chưa chắc đã giúp ta được điều
này.
Cách nay đã nhiều năm khi Đức Đạt-Lai Lạt-Ma thuyết giảng ở
Ái Nhĩ Lan (Ireland) Ngài đã nhắc nhở các vị lãnh đạo Cơ đốc giáo như
sau : « Quý vị đã có sẵn tôn giáo của quý vị, thì không cần phải trở
thành người Phật giáo để thiền định, để giải quyết những vấn đề của quý
vị, nhưng quý vị phải cần có một nền đạo đức [….] và cần tin tưởng vào một
số giá trị sơ đẳng nào đó của con người ». Những lời phát biểu thẳng
thắn và trung thực của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma đã hơn một lần được nhiều nhà
lãnh đạo và dư luận quần chúng trên thế giới kính nể. Vị tổng trưởng của
nước Anh, phụ trách về Ái Nhĩ Lan lúc bấy giờ, là Peter Mandelson, đã
đáp lại lời tuyên bố trên đây của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma như sau : « Chúng
tôi xin mang theo với chúng tôi những lời nói của Ngài, có thể, và hơn
như thế nữa, cả những giá trị và tinh thần đã khơi động những lời nói đó ».
Vào tháng 11 năm 1991, trong một thông điệp gởi cho nước Nam
tư (Yugoslavia), Ngài đã kêu gọi như sau : « Tôi xin tất cả hãy ngưng
cuộc chiến này, nó không có ý nghĩa gì cả. Sự hung bạo phải chấm dứt bằng
bất cứ giá nào. Không có một giải pháp thật sự và lâu bền nào có thể đem
đến bằng sự hung bạo ».
Vào năm 1993, sau những cuộc khủng bố bằng cách cài bom giết
hại hàng trăm người ở Bombay, và trước cảnh dân chúng vừa hỗn loạn vừa
chạy ngược xuôi cứu giúp nhau, Đức Đạt-Lai
Lạt-Ma đã tuyên bố như sau : « Những
người dân thường đã phản ứng với tình
nhân loại và với lòng từ bi, đã cứu giúp những người khổ đau. Họ cứu
giúp kẻ khác để nhanh chóng tái lập lại một đời sống bình thường...Chúng
ta phải tập hành động, không phải cho chính chúng ta, cho gia đình chúng
ta, cho tổ quốc chúng ta, mà chung cho cả nhân loại. Nguyên tắc của
trách nhiệm toàn cầu là cơ sở cho hạnh phúc cá nhân và cho hoà bình trên
toàn thế giới ».
Báo chí và dư luận thế giới thường xếp ngang hàng ba vĩ nhân
của nhân loại thuộc vào thời đại chúng ta là Rabindranath Tagore,
Mohadas Karamchand Gandhi, và Đức Đạt-Lai Lạt-Ma. Riêng thiển ý của tôi,
quả thật khó so sánh và xếp chung ba vĩ nhân đó với nhau. R. Tagore
(1861-1941) là một thi hào thần bí, thấm đượm tinh thần yêu nước, ông
cũng là một nhà văn, một nhạc sĩ và họa sĩ, đồng thời cũng là dịch giả
chuyên về các tác phẩm của André Gide. Ông đoạt giải Nobel văn chương
năm 1913. M.K. Gandhi (1869-1948) là một triết gia, một người tu khổ hạnh,
chủ trương bất bạo động để giành lại độc lập cho riêng nước Ấn độ. Đức Đạt-Lai
Lạt-Ma là một người tu hành tinh khiết, biểu tượng của một tôn giáo lớn
trên toàn cầu, chủ trương bất bạo động và giải thoát tất cả mọi con người
hay nhân loại nói chung.
Trong lúc cuộc chiến tranh mở ra trên xứ Iraq, vị sư Phật
giáo, sứ giả của Hòa Bình, lại tuyên bố như sau : « Ngày nay, những
biến đổi lớn lao đang đánh thức lương tâm của cả thế giới. Người ta đã
hiểu rằng không có thể giải quyết các vấn đề bằng chiến tranh được. Thật
hết sức rõ ràng, chiến tranh tạo ra những người chiến thắng, nhưng chỉ tạm
thời mà thôi. Vinh quang hay bại trận cũng không kéo dài được bao lâu.
Hơn nữa, thế giới của chúng ta hôm nay liên đới với nhau quá chặt chẽ, sự
bại trận của một nước cũng tác động đến tất cả các nước khác. [...] Khái
niệm về chiến tranh dường như đã cổ hủ, giống như một cách xử lý lỗi thời ».
Ngài lại nói thêm là trong một cuộc chiến, những người thật sự thiệt
thòi là những kẻ nghèo và những người không có gì để tự vệ, « họ là
những người vô tội ».
Sau những vụ thử bom hạt nhân của Ấn độ vào năm 1998, Đức Đạt-Lai
Lạt-Ma đã tuyên bố như sau : « Vũ khí hạt nhân thật hết sức nguy hiểm ;
chúng ta phải nỗ lực dốc sức cố gắng để loại trừ những vũ khí này ».
Chẳng những ta không thấy Ngài lên án Ấn độ trong việc này, nhưng lại thấy
Ngài tuyên bố tiếp như sau : « Mặc dù vậy, nếu cho rằng chỉ một vài
quốc gia được quyền có bom hạt nhân và các quốc gia khác không được, thì
không dân chủ một chút nào ». Ngày nay, lại thêm một quốc gia nữa
đang ngấp nghé muốn chế tạo bom hạt nhân.
Sau thảm trạng ngày 11 tháng 9, không tặc đánh sập hai tòa
nhà chọc trời ở Nữu Ước, và trong lúc Tổng thống Mỹ George W. Bush đang
âm mưu trả thù, Đức Đạt-Lai Lạt-Ma đã bày tỏ sự đau buồn và phân ưu với
Tổng thống Bush về thảm trạng 11 tháng 9 bằng một bức thư, trong đó có
câu kết luận như sau : « Có lẽ tôi hơi chủ quan, nhưng theo thiển ý
tôi thì chúng ta cũng nên đặt lại vấn đề một cách hết sức cẩn thận để
xem rằng dùng bạo lực trong lúc này có phải là điều nên làm hay không.
Quả là một câu hỏi rất khó khăn. Tôi tin chắc ràng ngài sẽ chọn được một
giải pháp đúng đắn ».
Để kết thúc cho bài viết ngắn này, tôi chắp
tay xin được phép mượn câu kết luận trong bức thư của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma
gởi cho Tổng thống Mỹ, để đem gởi lại một lần nữa cho mỗi người trong
chúng ta. Dù chúng ta không có tầm vóc của một vị tổng thống, của một
nhà lãnh đạo, chúng ta chỉ là những chúng sinh tầm thường, nhưng nếu
tất cả chúng ta, bất cứ ở đâu trên thế giới này, bất cứ thuộc một nền
văn hoá nào hay trào lưu tín ngưỡng nào, nếu chúng ta biết suy
nghĩ thật cẩn thận và chọn được một giải pháp đúng đắn cho những hành
vi dù nhỏ nhoi của chính ta, không dựa trên hung bạo và hận
thù, như Đức Đạt-Lai Lạt-Ma đã khuyên Tổng thống Mỹ, thì biết
đâu cũng sẽ không còn có chiến tranh trên địa cầu này nữa. Ước mong lắm
thay.
HOANG PHONG
Bures-Sur-Yvette (Pháp Quốc), 15.01.07