Bhutan có gì lạ?
Thích Như Điển
◄♣►
Chương VII. Nhục thân bồ tát và cố cung
Ngày
27 tháng 4 năm 2001 đó, trước khi đi về chốn cố cung, phái đoàn được
hướng dẫn bởi anh Kunzang và 2 Thầy Bhutan đi thăm nhục thân Bồ Tát
trong chốn Hoàng Cung. Nơi nầy gọi là Tashichhodzong. Chữ Dzong đứng sau
cùng theo nghĩa tiếng Bhutan là Tu Viện. Tu Viện nầy nằm ngay chỗ Vua và
các vị Bộ Trưởng làm việc.
Chúng tôi leo lên
những từng gác có cầu thang dựng đứng để vào chánh điện. Sau khi vào
chánh điện lễ Phật thì mọi người được hướng dẫn vào nơi Tổ Sư Đường để
tụng kinh, dâng lễ và nhận nước gia trì. Có kẻ thì uống, có người thì
xoa lên đầu. Chúng tôi được biết rằng vị Đại Sư nầy sau khi thị tịch,
xác thân không bị rữa thối, cho nên Vua Chúa và quan lại cũng như nhân
dân mới mang vào đây thờ và kính trọng Ngài như là một vị Thánh hiển
linh.
Điều nầy cũng dễ
hiểu thôi. Vì những bậc Đại Sư sau khi thị tịch thường hay để lại một
cái gì đó cho hậu thế chiêm ngưỡng và từ đó phát khởi nên lòng tin. Ví
dụ như Đức Phật, các vị Bồ Tát, các vị A La Hán để lại Xá Lợi. Không
những chỉ ở Ấn Độ mà ở Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam cũng đều
có như thế.
Tại Việt Nam chúng
ta nơi Chùa Đậu thuộc tỉnh Hà Tây cách Hà Nội 24 cây số về phía Nam hiện
có tôn trí 2 nhục thân của 2 vị Thiền Sư tên là Vũ Khắc Minh pháp danh
là Đạo Chân và Thiền Sư Vũ Khắc Trường pháp danh là Đạo Tâm. Hai vị nầy
là hai chú cháu cùng tu tại một chùa và cùng chứng đạo cách đây 300 năm
về trước. Chùa nầy được xây dựng từ thời nhà Lý, thế kỷ thứ 11. Ban đầu
có tên là Thành Đạo Tự và trải qua nhiều giai đoạn lịch sử tên chùa lần
lượt thay đổi như sau: Pháp Vũ Tự, Chùa Vua, Chùa Bà, Chùa Đậu. Chùa nầy
hiện đang trùng tu. Nếu quý Phật Tử nào có cơ duyên về thăm quê, nên đến
đây để đảnh lễ nhục thân của 2 vị Bồ Tát nầy. Chứng tỏ rằng Việt Nam
chúng ta cũng có vị tu chứng, chứ không nhất thiết phải là Tây Tạng hay
Trung Hoa.
Tại tỉnh Quảng
Đông thuộc thôn Thiều Quang nơi Nam Hoa Thiền Tự hiện còn thờ 3 nhục
thân của 3 vị Bồ Tát. Đó là: Ngài Lục Tổ Huệ Năng, Ngài Đan Điền và Ngài
Hám Sơn. Tất cả những chơn thân nầy đã trải qua trên dưới 1.000 năm rồi,
nhưng thân thể ấy vẫn còn ngồi kiết già nguyên vẹn như thế.
Đúng là bất khả tư
nghì. Chỉ có pháp Phật mới giải thích được, chứ ngoài ra thì không có
một hiện tượng gì của thế gian mà giải thích nổi. Nhưng một điều cũng
không kém phần quan trọng mà chúng ta nên hiểu rằng tất cả mọi pháp đều
bất định. Có nghĩa là không có gì chắc thật cả. Hôm nay là như thế mà
ngày mai lại thay đổi. Hôm nay tốt, ngày mai xấu hoặc ngược lại. Có kẻ
hôm qua là sát nhân; nhưng hôm nay sau khi hối hận ăn năn là Bồ Tát. Cho
nên chúng sanh và Bồ Tát không khác nhau là vậy. Hãy đừng kẹt vào nhị
nguyên và vào sự chấp trước thì chúng ta sống thoải mái vô cùng. Còn ai
đó nếu không hiểu giáo lý của Đạo Phật cứ chạy theo bắt bóng chứ hình
thật thì không bao giờ có được.
Mới đây chúng tôi
có dịp đi Ý để làm lễ và thuyết giảng tại Niệm Phật Đường Viên-Ý, quý
Đạo Hữu có dẫn chúng tôi đến nhà thờ St. Antonio tại Padova. Nơi đây còn
tàng trữ cái lưỡi và quai hàm của Thánh Antonio. Mặc dầu Thánh đã mất
cách đây mấy trăm năm rồi. Đây không phải là một hiện tượng lạ mà tôn
giáo nào cũng có cả, chứ không phải chỉ Phật Giáo mới có. Quý vị nào ở Ý
hay ở các quốc gia khác, nếu có cơ hội, nên đến Padova để xem những hình
thức Xá Lợi của Đạo Thiên Chúa.
Thượng Tọa Quảng
Bình, tôi và Thầy Đồng Văn cũng đã đến thành phố Firenze tại Ý và vào
trong nhà thờ, nơi mà ông Gallilé đã phát minh ra rằng: Quả đất hình
tròn chứ chẳng phải hình vuông và quả đất xoay xung quanh mặt trời chứ
không phải ngược lại như Thánh Kinh đã nói. Sau đó Tòa Án của La Mã đã
kết án tử hình và bảo ông phải nói lại cho giống Thánh Kinh; nhưng ông
đã không làm điều đó và trước khi bị chết, ông vẫn nói những điều như
ông đã phát minh. Ngày nay La Mã vẫn còn và những sự thật vẫn còn. Ai
muốn nghiên cứu lịch sử thì hãy đọc sách hoặc đến tận chỗ để xem thì có
lẽ tận tường hơn; nhưng một điều căn bản mà chúng ta phải hiểu là không
có gì nhất định cả. Vì mọi vật đang thay đổi; nên pháp cũng phải thay
đổi vậy thôi.
Sau khi thăm nhục
thân Bồ Tát tại Tashichhodzong phái đoàn chúng tôi về lại khách sạn và
chuẩn bị hành lý để đi Punakha và sẽ không về lại đây nữa. Đường đi từ
Thimphu đến Punakha không xa mấy, cách Thimphu về hướng Đông độ chừng 77
cây số; nhưng xe chạy qua đèo, quanh đi quẩn lại phải tốn đến 4 tiếng
đồng hồ. Punakha nằm cạnh con sông Mo Chhu (con sông mẹ) và Pho Chhu
(con sông cha).
Trên đường đi
chúng tôi nhìn ngắm hai bên thật thỏa chí. Ai mệt thì nghỉ và thỉnh
thoảng cũng có những cánh đồng xanh đây đó, có bầy chim hay bầy quạ bay
ngang vỗ cánh kêu lên thất thanh mấy tiếng như nhắc nhở mọi người là
đừng quên cảnh đẹp thiên nhiên đấy nhé!
Anh tài xế xe nhỏ
đưa chúng tôi đến khách sạn trước; nhưng theo chúng tôi được biết là vị
Thị Trưởng thành phố Punakha đang chờ ở đó cũng như Đại Sư Giám Viện. Do
vậy tôi hối anh tài xế là nên đưa chúng tôi đến Tu Viện Punakha gấp. Mà
thật thế, khi xe nhỏ chúng tôi đến thì xe Bus đưa đoàn của chúng tôi
cũng vừa đến. Lúc đến đây ai cũng mệt; nhưng nhìn chung quanh Tu Viện
rất đẹp; nhất là những hàng cây trổ bông màu tím vây kín cố cung. Hai
bên Tu Viện là 2 con sông với dòng nước êm ả đang lững lờ trôi. Quả là
một phong cảnh rất hữu tình.
Cố Cung và bây giờ
là Tu Viện Punakha Dzong
Ở đây xin nhắc qua
một chút lịch sử của Punakha Dzong. Tu Viện nầy là một Tu Viện quan
trọng đứng hàng thứ 2 của Bhutan. Nhiều năm về trước cho đến đời vua thứ
2 thì nơi đây là thủ đô của chính phủ. Việc kiến tạo Punakha được Guru
Rimpochi mô tả như sau: "... Có một người tên là Namgyal muốn đến một
ngọn đồi và thấy đó như là một con voi". Sau đó Shabdrung đến Punakha và
thấy rằng đây là một nơi như con voi đang nằm ngủ, nằm yên 2 bên con
sông Mo Chhu và Pho Chhu. Đây là nơi nên xây một Tu Viện.
Tu Viện nầy được
bắt đầu xây năm 1637 và hoàn thành vào những năm sau đó. Tên đầu tiên là
Druk Punythang Dechhen Phodrang có nghĩa là cung điện đại hỷ. Sau đó thì
bị Tây Tạng chiếm đóng vào năm 1639. Chiến tranh cũng đã làm hư hại rất
nhiều. Tăng Sĩ Shabdrung thành lập Tu Viện nầy với 600 vị. Khi mà thủ đô
được dời về Thimphu thì Punakha vẫn được xem như là cung điện mùa Đông
với sự có mặt của chư Tăng đại biểu. Tu Viện cũng là trụ sở của chính
phủ. Khi Punakha còn là thủ đô thì Vua Jigme Dorji Wangchuck cũng đã tập
trung các đại biểu về đây dự hội nghị vào năm 1952.
Tu Viện Punakha
Dzong nầy chiều dài 180 mét, ngang 72 mét, có độ cao của 6 tầng lầu.
Tháp chuông bằng vàng được xây dựng vào năm 1676 bởi Punakha Dzong
Gyaltsen Tenzin Rabgye. Một cây cầu được xây qua giữa 2 sông bắt ngang
qua Tu Viện được xây năm 1720 đến 1730 thì hoàn thành. Ngài Shabdrung
Ngawang Namgyal đã viên tịch nơi đây và nhục thân của Ngài cũng đang tôn
trí tại Machey Lhakhang trong Tu Viện nầy. Không phải là ai cũng có thể
vào đây và có thể mở cửa được. Ngoài 2 Lạt Ma Machin Zimpon và Machin
Simpon ra thì chỉ có nhà Vua và vị Je Khenpo mới có thể vào phòng nầy.
Cả 2 vị nầy vào đây để cầu nguyện trước khi họ lâm triều.
Đầu tiên thì vị
Thị Trưởng thành phố Punakha tên là Drabi Lopen tiếp chúng tôi khi mới
xuống xe. Hôm ấy ông ta mặc đại lễ phục của triều đình, có gươm báu đeo
bên mình, theo sau là quân lính hầu; cũng như đứng chào chúng tôi ở tư
thế là một quốc khách. Vị Thị Trưởng nói tiếng Anh rất lưu loát. Đường
lên Tu Viện có 3 ngõ. Ngõ giữa chỉ để dành cho Vua và các bậc Đại Sư đi.
Hôm đó tôi được hân hạnh đi con đường nầy. Đường 2 bên dùng cho quan và
dân đi, và phái đoàn đã đi con đường đó.
Chụp chung với vị
Thị Trưởng thành phố Punakha và các vị Dân Biểu địa phương
Đường nào thật ra
cũng dẫn đến một đích duy nhất thôi; nhưng ngày xưa thì có phân chia ra
như thế; chứ bây giờ đã dân chủ nhiều rồi; không có còn phân biệt nặng
nề giữa vua và dân cũng như giữa người lãnh đạo và thân tộc nữa. Mới đây
nước Đức có một điều đặc biệt mà truyền hình nhà nước vẫn thường hay lưu
tâm chiếu đi chiếu lại nhiều lần như sau:
Sau khi ông
Schröder lên làm Thủ Tướng của nước Đức, ông ta muốn tìm lại người cha
đã mất tích sau đệ nhị thế chiến và cuối cùng thì nhân lễ Phục Sinh năm
2001 người ta đã tìm ra tông tích là mồ mả của cha ông Thủ Tướng hiện
chôn tại một vùng nhỏ ở Tiệp Khắc và gia đình còn lại là Mẹ già, em
trai, chị gái đang sống tại Thổ Nhĩ Kỳ. Bây giờ thì họ nhìn lại nhau,
chứ ngày trước không biết vì lý do gì mà gia đình bỏ ông Thủ Tướng sống
một mình nơi nước Đức, còn mọi người thì lưu lạc sang Đông Âu. Câu hỏi
ấy vẫn chưa được trả lời. Có lẽ lý do chiến tranh là chính; nhưng cũng
có thể vì đông con quá nuôi không nổi cho nên gia đình đẩy ông ta đi xa
hơn để tự sống. Thế rồi ông ta làm đủ thứ nghề. Từ nghề đồ gốm cho đến
đi bỏ báo và tự học từ nhỏ đến lớn. Đến khi đang học Đại Học thì cực
hơn, ban ngày đi làm và ban đêm đi học để cuối cùng tốt nghiệp Tiến Sĩ
và ông cũng đã tham gia chính trị để leo lên đến tột đỉnh của quyền uy
trước khi làm Thủ Tướng của nước Đức ông là Thủ Tướng của Tiểu Bang
Niedersachsen thuộc Đảng SPD đang cầm quyền.
Thế rồi mùa tranh
cử năm 1998 vừa qua SPD đã thắng và ông ra tranh cử chức Thủ Tướng cũng
đã thành công. Riêng nói về cuộc đời của ông thì quá khổ sở, có 3 hay 4
đời vợ; nhưng bà nào cũng có vấn đề rồi ly dị. Lương của ông phải phân
chia cho nhiều bà nên chẳng còn lại là bao nhiêu. Bây giờ sau khi làm
Thủ Tướng ông đã tìm lại cội nguồn và đã gặp lại tất cả. Những bà chị và
em của ông nói tiếng Thổ rất rành và khi mặc đồ Thổ thì người ta không
thể phân biệt được là người Thổ hay người Đức nữa. Em ông làm thợ ống
cống. Chị ông làm trong các tiệm tạp hóa vẫn bình thường như mọi người.
Chỉ có điều là tên họ của họ đã đổi khác và họ vẫn còn nói được tiếng
Đức rất rành. Nếu là người Việt Nam mà làm lớn như thế thì cả họ được
nhờ rồi, chứ nói gì đến anh em trong gia đình.
Khi phỏng vấn bà
chị của ông Thủ Tướng thì bà ta cho biết rằng tôi rất vui khi em tôi làm
Thủ Tướng; nhưng khi tôi đến thăm em tôi thì không phải tôi thăm Thủ
Tướng mà tôi thăm đứa em bé nhỏ của tôi tự thuở nào. Đúng là một câu trả
lời tuyệt mỹ vậy. Đa phần khi người ta "giàu thì bỏ bạn, sang thì bỏ
vợ"; nhưng ở trong trường hợp nầy chúng ta có nhiều bài học để rút tỉa
ra lắm.
Thứ nhất không
phải là: Thời thế tạo ra anh hùng mà chính khả năng của ông Schröder tự
vươn lên trong cuộc sống và tự tin ở chính mình nên mới được như ngày
hôm nay, trong khi em ông vẫn là những người dân lao động rất bình
thường và vẫn bị thất nghiệp như bao nhiêu người khác vậy.
Thứ hai là không
bao che, bè phái hay gia đình trị. Nghĩa là bổn phận của ai nấy làm.
Điều nầy khác hẳn với các chế độ vua chúa ngày xưa và các chế độ độc tài
hay Cộng Sản ngày nay có mặt khắp nơi trên thế giới.
Trước Tu Viện
Punakha Dzong
Cùng với các quan
chức địa phương.
Khi chúng tôi vào
trong Tu Viện thì mới thấy cái hùng vĩ của cố cung nầy. Đi đâu cũng thấy
lính hầu và cột nhà, cột chùa, cột cung điện, tất cả đều được bao bọc
bởi vàng lá có chạm hình rồng nổi. Khi chúng tôi lên đến tầng trên cùng
thì có gặp vị Đại Sư Dasho Dzongda, giống như là Tu Viện Trưởng của Tu
Viện nầy. Được biết tại đó có 350 Tu Sĩ đang tu học; nên Sư Bà Bảo
Quang, Ni Sư Diệu Phước và một số Phật Tử khác hùn tiền lại để cúng
dường một cách phổ đồng mỗi vị 30 Nu.
Chúng tôi cũng
được biết là chùa đang chuẩn bị đốt nến để chuẩn bị cho pháp hội Di Đà;
nên mọi người đều chung tiền để hỗ trợ công việc Phật sự ấy. Khi quý vị
đảnh lễ, tôi có giới thiệu về truyền thống Ni bộ Việt Nam cũng như những
Phật Tử đi cùng cho Đại Sư nghe. Nghe xong, Đại Sư có cho mỗi người một
sợi chỉ thì phải và bảo rằng để bảo hộ cho tấm thân; chứ nhiều khi đi xe
bị tai nạn hay máy bay có sự cố, thì chính những sợi chỉ gia trì nầy sẽ
giúp cho. Lúc ấy chúng tôi chẳng để ý, mà dẫu cho có người để ý đến nữa
thì cũng nghĩ rằng mình đang ở trong hoàn cảnh tốt làm sao có những sự
cố như thế được.
Phái đoàn chụp ảnh
lưu niệm trước cố cung
Ở đời có nhiều
việc mình không chờ đợi; nhưng nó vẫn đến để trả nghiệp. Hoặc ngược lại
có nhiều việc mình chờ đợi mà nó vẫn không đến. Đó là duyên chưa thành
thục, chín muồi vậy. Âu tất cả cũng là nhân duyên thôi. Giống như tôi đi
Bhutan cũng là nhân duyên, mà tôi bị ở lại Bhutan mấy ngày cũng là việc
bị nhân duyên chi phối mà thôi; chứ không có gì khác cả.
Vì Tu Viện đang tu
bổ; nên chúng tôi không có chỗ lễ Phật nơi chánh điện. Tuy nhiên chúng
tôi được chiêm ngưỡng cách tạo tượng của các nghệ nhân của Bhutan cũng
rất tài tình, không khác gì những nghệ nhân điêu luyện của Trung Quốc và
Nhật Bản. Ở chính giữa chùa vẫn là thờ Đức Phật, cao chừng 10 mét. Hai
bên thờ Ngài Liên Hoa Sanh và người có công thống nhất Bhutan. Hình dáng
các vị nầy là những dũng tướng; nhưng rất mực từ bi.
Ở giữa sân Tu Viện
nầy có một cây Bồ Đề rất lớn. Tôi không hiểu nổi là khí hậu ở đây rất
lạnh mà vẫn trồng được cây nầy; trong khi ở xứ Đức, tôi trồng cây Bồ Đề
20 năm; nhưng vẫn còn nằm trong một chậu kiểng. Kể ra việc thực hiện sự
giác ngộ, giữa Đông và Tây có nhiều điều khác nhau lắm. Cũng ví như ngày
nay Phật Giáo đã tràn vào phương Tây, thôi thì đủ Mode, đủ cỡ, đủ loại.
Thật là trăm hoa đua nở. Đẹp chứ có sao đâu; nhưng thỉnh thoảng cũng có
nhiều loài hoa mang theo những tai họa dị ứng cho kẻ khác.
Người Tây Phương
không nặng về hình thức tín ngưỡng đã đành; nhưng tin Phật Giáo chỉ có
Thiền Tông không thì quả rằng chưa đủ. Người ta nghĩ rằng Thiền có thể
giải quyết mọi vấn đề; nhưng điều đó hẳn không đúng. Vì Phật dạy có vô
lượng pháp môn tu để đi đến chỗ giải thoát; chứ không phải chỉ duy nhất
có một con đường độc tôn như thế. Hiện tại ở Đức có ít nhất là 450 Tu
viện, Chùa, Trung tâm Thiền học Phật Giáo và cũng đã có nhiều Cư Sĩ đi
tu, trở thành Tăng Sĩ của các truyền thống Phật Giáo Nhật Bản, Đại Hàn,
Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Tây Tạng v.v... nhưng cũng có nhiều Cư
Sĩ chuyên để diễn giảng Phật học cho các tầng lớp Cư sĩ khác.
Phái đoàn chúng
tôi ra về mà lòng bâng khuâng nhớ nghĩ về quê hương, trong đó có bài thơ
"Thăng Long Thành Hoài Cổ" của Bà Huyện Thanh Quan. Chắc là ai cũng đã
rõ và nhất là bài: Cố đô giờ đã ra sao? của Thượng Tọa Thích Tịnh Đức,
thì trong lòng tôi sao mà nó xao xuyến lạ lùng. Đến đây cũng để học hỏi
thêm rằng Phật Giáo tại xứ Bhutan nầy đã giúp cho quốc gia phát triển về
chiều sâu của tinh thần thật không có bút mực nào tả hết được. Nhờ Phật
Giáo mà môi sinh mới được tôn trọng như thế. Nhờ Phật Giáo mà quê hương
nầy mới được để ý đến và phải nói rằng nhờ những Vua là những Phật Tử
thuần thành nên mới tôn trọng đức tin và thể hiện đức tin nầy vào con
người cũng như sự vật; nên mới có thể thành tựu như vậy đó.
Khi về khách sạn
Zangto Pelri thì được biết rằng khách sạn nầy do vợ của ông Bộ Trưởng
Văn Hóa đứng trông nom và khách sạn nầy xây theo cách Tây Phương nên rất
thoáng mát cũng như sạch sẽ. Tối đó tôi không ăn cơm nước được nữa, mà
nằm liệt nơi giường. Có quý Thầy, Cô và Phật Tử đến thăm cũng như cạo
gió. Hầu như lần nào tôi đi hành hương cũng đều bị như thế cả. Có lẽ vì
đã gắng sức quá nhiều; nên đã không đủ lượng Vitamin C dự trữ trong
người. Thế là thuốc và thuốc tới tấp bay vào phòng ở của tôi.
Ai cũng lo vì tôi
là Trưởng phái đoàn mà bị đau và phải ở lại nhiều ngày tại đây thì nguy
lắm. Nhưng dù sao đi nữa khách sạn nầy cũng đẹp; nên chúng tôi đã yêu
cầu được ở lại thêm một ngày nữa. Một phần để dưỡng sức và một phần để
chiêm nghiệm cảnh đẹp của thiên nhiên tại đây. Nếu trong đoàn có Bác sĩ
thì lúc ấy tôi đã đỡ rồi; nhưng lần nầy đi chẳng có Bác sĩ nào đi theo;
nên tôi đành nằm đó để chờ cho khỏe.
Sáng hôm sau khi
mặt trời chiếu qua song cửa sổ thì tôi cũng đã bắt đầu thấy khỏe khoắn
lại. Cố gắng lên dùng cháo và có gặp một số người Nhựt tại đây. Dẫu sao
đi nữa ngày hôm ấy là một ngày trọng đại, tôi không thể không đi được.
----
♣----
Mục Lục
►
Chương I
►Chương
II
Chương III
►Chương
IV
►Chương
V
►Chương
VI
Chương VII
►Chương
VIII
►Chương
IX
----
♣----
Trình bày: Anna
Cập nhật: 1/6/2005