Bhutan có gì lạ?
Thích Như Điển
◄♣►
Chương VI. Viếng thăm Tu Viện
Thế
là tôi đã thoát được những câu chuyện đối đãi và ngoại giao rồi. Toàn là
những câu rất hay, rất nặng ký; nhưng đồng thời cũng rất có giá trị. Kỳ
nầy đi Bhutan có lẽ tôi là người mệt nhất. Vì phải ngoại giao cho bao
nhiêu chuyện. Do vậy ngày 26 tháng 4 cả phái đoàn lên xe đi Dodena, cách
Thimphu chừng 30 cây số, là ai nấy cũng vui rồi.
Xe của Bộ Ngoại
Giao Bhutan với cán cờ cuốn lại.
Đường đi gập ghềnh
nhiều nỗi truân chuyên. Thỉnh thoảng chúng tôi phải dừng lại để nghỉ. Đi
đến một chỗ đẹp chúng tôi hỏi người tài xế đó là gì? Anh ta bảo rằng đó
là nơi ở của Thái Hậu, mẹ của Vua. Chung quanh có nước chảy thông reo,
trông thật hữu tình. Đúng là chỉ có Vua mới được thế. Cho nên Thượng Tọa
Thích Trí Minh, trụ trì chùa Khuông Việt tại Na Uy, lúc nào cũng muốn
làm Vua có lẽ cũng có nhiều lý do khác nhau là vậy.
Đường lên Tu Viện
Tango hôm đó sao mà xa diệu vợi. Kẻ đi trước người đi sau; nhưng phải
mất cả 2 tiếng đồng hồ chúng tôi mới lên đến đỉnh núi. Dọc đường biết
bao cảnh đẹp như hoa rừng và lắng nghe tiếng hót của chim muông. Xa xa
thấy mây trời sà thấp xuống như đón khách trần ai nhẹ gót vân du; nhưng
có lẽ thân tứ đại còn nặng nề quá nên đã chưa có ai theo mây về nơi
thượng giới. Đến gần đỉnh thì Rattay, người Đức, ngộp thở, cũng chỉ vì
áp suất còn lại trên 3.000 mét chỉ còn thoang thoảng mà thôi. Thế mà nơi
đây đã đang và sẽ có không biết bao nhiêu con người tu luyện tại đó.
Khi phái đoàn
chúng tôi vào cổng thì thấy 2 bên khói thông xông nghi ngút. Được biết
rằng truyền thống nầy có tự ngàn xưa và chỉ để đón những bậc Đại Sư tôn
quý. Chùa nầy có tất cả 150 vị đang tu học, hầu hết là cấp bậc Đại Học.
Nơi nầy cũng là nơi của Thầy Gap và Thầy Dorji đang ở. Hôm ấy tuy Sư phụ
của quý Thầy ấy không có ở chùa; nhưng việc tiếp đón rất chu đáo.
Đầu tiên chúng tôi
vào phòng khách dùng trà cũng như cúng dường Tu Viện. Ở đây có 2 phần để
cúng dường. Một phần cúng cho chùa và phần còn lại phổ đồng cúng dường.
Nghĩa là 150 vị không kể lớn nhỏ. Mỗi vị nhận 30 Nu ở đây. Số tiền không
lớn; nhưng đó là tấm lòng của tôi và đoàn.
Sau một hồi kẻng
báo động, 150 vị Tăng lên hết chánh điện tụng kinh cầu nguyện chúc phúc
cho phái đoàn. Trong khi tụng kinh Thầy Dorji mang đi phát cho mỗi vị 30
Nu như thế. Sau thời kinh thì việc cấp phát cũng xong. Chúng tôi lần
lượt tụng kinh Bát Nhã bằng tiếng Việt và tiếng Đức. Tu Viện nầy rất xưa
nên cấm chụp hình. Do vậy mà chương nầy nếu quý vị lưu tâm hầu như không
có một hình nào về Chùa Viện cả. Thời kinh vừa chấm dứt, vị Sư trụ trì
dẫn chúng tôi vào bên trong Phật điện để đảnh lễ xá lợi của chư Phật. Ở
đây còn quá nhiều tượng Phật cổ và những ngà voi cũng rất lớn. Đoạn đến
một miếng đá có dấu chân người, vị Sư trụ trì bảo rằng đây là dấu chân
của vị khai sơn cách đây 350 năm về trước và hiện tại vĩ Tulku đó đang ở
đây. Chính bàn chân của vị tái sanh nầy để vừa vẹn và những chỉ chân rất
giống nhau.
Nghe như vậy tôi
như mở tấm lòng nên buột miệng thưa liền với vị Sư trụ trì rằng chúng
tôi có được đảnh lễ vị Tulku ấy không? Vị Sư trụ trì trả lời rằng phải
đi hỏi Ngài trước đã; nếu Ngài bằng lòng. Thông thường thì mỗi tuần vào
ngày thứ bảy Ngài có gặp Phật Tử; nhưng bình thường thì không. Hôm đó
chúng tôi đi ngày Thứ Năm; nên ít có hy vọng. Tuy nhiên sau một hồi
chuẩn bị, vị Sư trụ trì trở ra bảo rằng vị Tulku nầy bằng lòng tiếp phái
đoàn. Chúng tôi rất mừng vui.
Tương truyền rằng
350 năm về trước vị Tulku nầy đã thành lập nên Tu Viện nầy và sau đó
Ngài viên tịch. Thời gian cứ thế mà trôi. Vị nầy đã đi đầu thai qua
nhiều lần sanh tử và lần nầy sanh ra trong một gia đình bình dân tại
miền Đông Bhutan, cách đây khoảng 300 cây số; nhưng khi lên 5 tuổi lúc
nào Ngài cũng đòi về lại Tu Viện xưa. Do vậy các vị Trưởng Lão mới gạn
hỏi Ngài và đã trả lời rất rõ ràng là trong 100 gian phòng của Tu Viện
ấy nơi đó có thờ gì, kiến trúc theo kiểu gì Ngài đều mô tả rõ, mặc dầu
mới 5 tuổi Ngài chưa đến đó bao giờ. Không những thế mà bàn chân của
Ngài trong hiện tại để vừa vẹn với bàn chân của vị Đại Sư đã khai sơn
chùa nầy hơn 350 năm về trước. Thật là hy hữu, hy hữu. Cho nên cả Tu
Viện mới tôn Ngài lên ở ngôi vị Tulku. Nghĩa là một vị Lama tái sanh.
Năm nay thì Ngài đã 7 tuổi. Trông nét mặt Ngài rất hiền từ và thông minh
rực sáng. Phái đoàn chúng tôi chung tiền cùng nhau để cúng dường và đặc
biệt là Chocolat, vì Ngài còn nhỏ mà, vẫn là đứa trẻ với thân vật lý 7
tuổi; nhưng trí tuệ thì siêu phàm. Sau nầy khi gặp ông Bộ Trưởng Bộ Văn
Hóa ở dưới chân núi, ông ta cũng nói rằng: đây là một vị Tulku đặc biệt.
Đầu tiên Ngài nói
một số lời đã được dặn trước, trông có vẻ hơi khổ sở, nhất là nói tiếng
địa danh Hannover. Ngài thỉnh thoảng ngồi yên nhìn hết người nầy tới
người khác. Trong khi đó Thượng Tọa Quảng Bình nghĩ rằng nếu Ngài giỏi
thì điểm mặt từng người để nói quá khứ vị lai đi. Lúc ấy chắc Thầy phải
lạy sát đất. Mặc dầu điều ấy không xảy ra; nhưng mọi người cũng đã đưa
đầu cho Ngài sờ tay lên để làm lễ chúc phúc.
Quà tặng của Ngài
cho phái đoàn là một số bản kinh bằng tiếng Bhutan. Ngoài ra một số
người cũng muốn nghe một cái gì đó từ Ngài nên còn nán lại lâu hơn. Tuy
nhiên sự kiện ấy không xảy ra hôm đó. Có lẽ trí tuệ của Ngài và sự hiểu
biết kia mới còn giới hạn nơi xứ Bhutan chứ chưa ra ngoài biên giới ấy.
Dầu sao đi nữa truyền thống tái sanh nầy vẫn là một điều hay, nhằm nhắc
nhở cho mọi người biết rằng việc chết chưa phải là hết, mà sau sự chết
kia còn không biết bao nhiêu sự sống nữa. Đó là điều kỳ diệu trong nhiều
điều kỳ diệu khác vậy.
Phái đoàn từ giã
vị trụ trì cũng như chư Tăng để xuống núi. Vì còn phải dùng trưa tại một
công viên công cộng nữa. Đường đi xuống núi thì rất nhanh. Hôm ấy có mưa
hoa cúng dường, như để nhắc nhở cho chúng tôi biết rằng hôm ấy cũng là
một đại sự nhân duyên vậy.
Picnic ngoài trời
Xuống cho đến khỏi
núi là một giờ chiều rồi. Do vậy tất cả phái đoàn đều phải dừng chân để
dùng cơm. Khung cảnh thiên nhiên ở đây rất đẹp. Vì lẽ có núi cao và có
sông, có thác, có ghềnh. Tuy nước rất lạnh nhưng nghe đâu cũng có người
tắm nơi ấy. Chúng tôi đang ngồi chờ chuẩn bị dùng trưa thì ông Bộ Trưởng
Văn Hóa từ trên núi nơi tu kín của các vị Đại Sư đi xuống và ông ta báo
tin rằng chờ lâu quá không thấy phái đoàn lên; nên ông ta lại phải xuống
núi. Ông ta đâu có biết rằng chúng tôi là những người sanh ra ở đồng
bằng và nơi biển cả ở độ thấp làm sao leo núi thoăn thoắt như những
người bản xứ được. Cho nên mới chậm là thế. Nếu ông ta tính trừ hao cho
phái đoàn chúng tôi thì đỡ biết mấy.
Dùng cơm ngoài
trời tại Dodena
Bữa cơm đã được
chuẩn bị sẵn từ lâu nên có phần bị nguội lạnh. Tuy nhiên lòng người chủ
nhà thì lúc nào cũng nồng nàn; nên chúng tôi phải cố gắng dùng nhiều cho
họ vui. Mặc dầu có một số thức ăn không hợp khẩu vị mấy.
Sau khi dùng cơm
xong thì chia ra làm 2 toán. Một toán trở về lại khách sạn để nghỉ ngơi.
Vì leo tiếp tục lên núi không nổi nữa, trong toán nầy có tôi. Còn toán
khác tiếp tục leo núi, trong đó có Hạnh Hảo. Đây là một dòng tu kín mà
Hạnh Hảo cố tìm gặp để trình giải một số công việc đã làm được.
Từ dưới đất nhìn
lên trên núi cao thấy những cái cốc của những vị ẩn tu trông giống như
những cái tổ yến nằm ép mình vào hang đá. Nghe đâu ở đây các vị Sư không
tiếp xúc với thế trần trong chừng 3 năm 3 tháng 3 ngày như thế. Sau khi
xả thất mới gặp gỡ nói chuyện và có người lại vào thất tiếp. Vì trong
thất an lạc hơn và vui hơn với niềm vui đạo hạnh. Còn ở ngoài trần thế
vui đấy chứ; nhưng đối với những vị nầy nội tâm bị cào xé từng hồi. Trên
núi cao kia có độ 50 cái am như thế. Tôi không hiểu bằng cách nào mà họ
có thể xây trên những triền núi cheo leo như thế được. Đúng là lánh đời
như không còn chỗ nào lánh được nữa. Ở đây có lẽ chỉ làm bạn với gió
mây, với trăng, với sao chứ chẳng còn gì nữa. Nhưng nếu ai đó đã quyết
chí thì có ngày ánh sáng chơn lý sẽ tỏ ngộ.
Sau khi phái đoàn
leo núi trở về lại khách sạn có kể cho tôi nghe rằng núi nầy còn cao hơn
núi trước nữa và đặc biệt là rất khó đi. Nếu mà tôi có đi chắc có lẽ
cũng chùn bước là cái chắc. Và hình như tôi cũng bắt đầu đau tim, hay
cũng đã cảm nhận rằng với cái tuổi 53 nầy mình không còn trẻ trung như
ngày xưa nữa. Nghe đâu vị Đại Sư trưởng môn phái dòng tu kín ấy cũng
không tiếp phái đoàn còn lại vì biết rằng Trưởng phái đoàn bên nầy là
tôi không có mặt. Tôi xin sám hối với Đại Sư. Vì lẽ hôm ấy không thể nào
tiếp tục đi nổi nữa. Mặc dầu thế Ngài đã cho phái đoàn của chúng tôi
nhiều tấm Thangkha và nhiều kinh điển giá trị. Có một số bài kinh đã
được chính Ngài trì chú rất nhiều lần. Do vậy mà phái đoàn ai cũng muốn
thỉnh một bài kinh như thế để được sức gia trì. Chỉ có Hạnh Hảo là hơi
thất vọng, vì không gặp được Đại Sư; nhưng rồi đâu cũng vào đấy cả. Tu
Viện đó gọi là Tu Viện Cheri mà quy luật ở đây rất nghiêm khắc; nên nghe
đến Tu Viện nầy ai cũng biết cả. Nghe đâu năm 1995 có một vị Sư người
Việt Nam từ Hawaii sang cũng đã thăm viếng Tu Viện nầy.
Đêm hôm đó tại một
khung cảnh thiên nhiên, chính phủ Hoàng gia đã tổ chức một đêm lửa trại
cho chúng tôi có các vị Bộ Trưởng đến tham dự. Không khí thật vui nhộn
khi lửa được đốt lên lại có nhiều người nhảy múa. Dưới ánh sáng chập
chờn của đêm thanh cảnh vắng ấy tôi liên tưởng đến quê tôi vào những
thuở xa xưa khi mùa gặt đã đến và trai gái của dân làng tụ tập ở một nơi
công cộng nào đó để đập lúa và hát hò.
Ban dân ca đêm lửa
trại
Chúng tôi được
chia nhau ra từng nhóm nhỏ. Cứ một người Việt hoặc một người Đức, là mấy
người Bhutan để nói cho nhau nghe và nghe nhau nói thật nhiều đề tài.
Những ai còn trai trẻ thì hòa chung cùng cái vui của tiếng sáo, tiếng
đàn, tiếng kèn, tiếng phách gõ nhịp để múa hát chung quanh đống củi mà
lửa đã cháy lên cao sưởi ấm biết bao nhiêu tâm hồn của người xa xứ.
Lửa đã cháy cao
Lửa cháy cao rồi
cũng đến lúc lửa cũng phải tàn. Mọi người cảm thấy thấm lạnh nên có kẻ
vào lều ngồi uống trà nói chuyện hoặc vào bên trong nhà hàng thì ấm cúng
hơn. Tôi ngồi đó như giữa ba quân tướng sĩ của trận tiền mà sự vô thường
của ánh lửa và củi kia khiến tôi suy nghĩ về sự thịnh suy của cuộc thế.
Tất cả chúng ta cũng chỉ như gió, như mây, như đất, như nước, như củi,
như lửa chứ có khác gì đâu. Vì mới đầu hôm cả một đống củi cao ngất, sau
ánh lửa làm mồi đầu tiên được châm vào thì tất cả củi đều bị đốt. Chúng
đã thành than. Lửa đang trở về trạng thái uyên nguyên của nó. Như vậy là
hết hay còn ? Có thể nói rằng không hết mà cũng không còn. Vì trong củi
sẵn có lửa và lửa ẩn tàng nơi củi ấy. Nếu ta cọ xát mạnh lửa sẽ xẹt ra;
nhưng củi thì đi về đâu ? Dĩ nhiên là ngấm sâu vào lòng đất, bón thành
phân để nuôi dưỡng cỏ cây, rồi một ngày nào đó cỏ cây lớn lên người ta
đốn đi để làm củi; rồi trăm kiếp luân hồi về sau củi cũng sẽ là mồi của
lửa để đốt lên những buổi lửa trại như hôm nay. Chỉ có thế thôi. Vì con
người vẫn còn luân hồi sanh tử là thế.
Sau đó chúng tôi
vào bên trong cùng ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa. Tôi đã nói câu của Phật đã
dạy rằng: Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành. Nhân cơ hội
đó ông ta giảng nghĩa chữ Tathagatha một hồi lâu để chứng tỏ về sở học
cũng như sự nghiên cứu của mình. Theo ông thì chữ gatha có nghĩa là giác
ngộ; nhưng mà giác cái gì thì đố ai mà biết. Còn Tatha là kẻ hay người;
nhưng người nào ? người đã đủ nhân duyên với Phật Pháp, làm tròn đầy
những hạnh nguyện lợi tha thì mới thành được. Còn bao nhiêu chúng sanh
khác mới bắt đầu tu làm sao có thể thành.
Hạnh Hảo mà nghe
đến đó rồi thì không chịu. Vì Thầy nầy đệ tử của tôi muốn thành Phật
ngay trong kiếp nầy kia. Nhưng điều ấy tôi cũng bảo là không đúng. Vì
trong kinh điển Phật Giáo chưa có nơi nào nói có một người Đức thành
Phật trong hiện thế cả. Mà nhất là giáo lý của Đức Thích Ca Như Lai còn
tồn tại trong đời nầy thì làm sao có thể có việc hy hữu đó được. Kỳ nầy
Hạnh Hảo quyết chí làm Phật nên mới vào Hy Mã Lạp Sơn, mà thật ra trong
núi cao ấy không có Phật thực sự. Vì đã bao phen tìm kiếm nhưng Hạnh Hảo
đâu có thấy gì. Không biết bây giờ Hạnh Hảo đã tin chắc thật điều ấy
chưa, chứ lúc còn hăng say mà nói điều đó quả là một chướng nạn. Nhưng
sự luận bàn hôm nay với một số quan chức của Hoàng Gia, Hạnh Hảo sẽ rõ
thêm một vấn đề là sự thành Phật còn xa lắm. Tôi bảo ít nhất là 2 triệu
năm nữa mới có một người Đức thành Phật. Mặc dầu Đức Phật nói rằng ai
cũng có thể thành Phật cả.
Cùng ông Bộ Trưởng
Bộ Văn Hóa luận đàm về Phật Pháp.
Việc luận bàn nào
rồi cũng đến lúc kết thúc. Có khi căng thẳng; có lúc vui tươi. Có khi
cũng đi đến một kết luận, mà nhiều lúc cũng chỉ là một câu hỏi còn để
trống và chẳng bao giờ có một mẫu số chung để trả lời được cả. Vì vô
biên thế giới đâu có thế giới nào tận cùng, ngay cả thế giới của chư
Phật đang giáo hóa.
Đêm hôm đó chúng
tôi đã ngủ một giấc an lành để chuẩn bị cho một ngày mai có một chuyến
đi còn xa xôi dịu vợi hơn nữa.
----
♣----
Mục Lục
►
Chương I
►Chương
II
Chương III
►Chương
IV
►Chương
V
►Chương
VI
Chương VII
►Chương
VIII
►Chương
IX
----
♣----
Trình bày: Anna
Cập nhật: 1/6/2005