Bhutan có gì lạ?
Thích Như Điển
◄♣►
Chương V. Nụ cười hoàng hậu
Chương
nầy vẫn còn tiếp tục với Chương Bốn; nhưng tôi cố ý cách ly ra như vậy
để thấy rằng phái đoàn của chúng tôi hôm nay ngày thứ tư 25.4.2001 có
một số công việc trọng đại vậy; nhưng trước khi đi thăm Hoàng Hậu vào
buổi chiều, sáng hôm ấy chúng tôi có một số chương trình cần phải thăm
viếng như sau:
Vào lúc 9 giờ 30
sáng ngày 25.4 phái đoàn của chúng tôi đã đến Văn phòng của ông Bộ
Trưởng Bộ Văn Hóa. Ông ta tên là Sangay Wangchug. Địa chỉ Post Box Nr.
233 Thimphu, Bhutan. Tel. 02/322001 - 325116 - 322694 - Fax: 00975 - 2 -
323040. Ông ta lo về vấn đề văn hóa. Tuy nhiên trong tương lai nếu có ai
đó muốn đi Bhutan đều phải qua ông nầy và không phải qua Bộ Ngoại Giao
Bhutan nữa.
Hôm ấy Thầy Kinga
T. Dorji cũng có mặt nữa. Thầy nầy cũng là một trong hai Thầy đã ở tại
Hannover trong vòng thời gian 6 tháng; nên đã biết chúng tôi. Khi gặp
thì ai cũng vui mừng.
Tại văn phòng của
ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa.
Mới đầu thì ông Bộ
Trưởng Bộ Văn Hóa nói tiếng Bhutan, rất đúng phép xã giao và rất lịch
sự. Đoạn để cho một trong hai Thầy Bhutan dịch ra tiếng Anh. Hai Thầy
nầy cũng đã cùng với ông ta đi sang Hà Nội vào năm 1994; nên quý Thầy ấy
cũng biết ít nhiều về Việt Nam trước khi đến Đức.
Được biết ông ta
là một học giả tiếng Pali và nhiều ngôn ngữ khác tại Á Châu cũng như Anh
văn. Sau một hồi thông dịch thì ông lại tự nói tiếng Anh một cách lưu
loát. Ông ta đã du học tại Tích Lan và ông rất rành về Phật Giáo. Nghe
đâu ông ta cũng là một Tu Sĩ và không tu tiếp tục được nữa; nên đã ra
đời. Tướng người cao ráo, lịch thiệp và rất hiểu về người ngoại quốc.
Cung Văn Hóa của
ông nằm trong cung điện của nhà Vua, có lính gác hầu hai bên cửa vào và
cũng là nơi làm việc của chư Tăng nữa. Như phần tổng quát chúng ta thấy
các Hội Đồng Cố Vấn Hoàng Gia và các Bộ đều có sự hiện diện của Tăng Sĩ.
Do vậy nơi cung điện nầy được chia ra 3 phần chính:
- Phần ở ngoài có
chánh điện trang nghiêm, là nơi để cho Vua, Hội Đồng Bộ Trưởng và chư
Tăng lễ Phật trước khi hội họp.
- Phía bên phải là
văn phòng của chư Tăng.
- Phía bên trái từ
ngoài nhìn vào là nơi làm việc của các Bộ.
Cả hai bên khi vào
cổng đều có lính hầu và được kiểm soát rất chặt chẽ. Ví dụ như tất cả
mọi người ra vào đều bị kiểm soát qua tia quang tuyến như các máy rà tại
phi trường vậy. Nơi đây cũng không được chụp hình hoặc quay phim. Nếu
có, chỉ ở phía bên ngoài, chứ bên trong thì tuyệt đối. Xe ngoại giao chở
chúng tôi đi thẳng vào cửa chính, đỡ tốn công đi bộ và vì thế cho nên có
nhiều người để ý, hình thức thì giống như một Tăng Sĩ; nhưng thực tế là
một Tu Sĩ ở cấp bậc ngoại giao. Bởi vậy có lúc những người Đức đi cùng
gọi tôi là Minister Ehrwürdiger cũng có nghĩa tương đương như vậy. Đây
chỉ là ngôn ngữ ngoại giao mà. Sau khi dùng trà sữa Bhutan thì chúng tôi
được ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa tiễn biệt ra cổng và sau đó chạy xe đến
thăm Tu viện Dechenphodrang ở gần đó.
Tu viện đã được
xây dựng tại Thimphu cách đây 350 năm, nên rất cũ kỹ. Trong hiện tại Tu
viện nầy có 350 vị Tăng Sinh. Họ học từ Sơ cấp đến Trung cấp. Lên Trung
cấp thì học nhiều môn học khác nhau như: Thiền văn học; Kinh tạng; Luật
tạng và Luận tạng. Còn những lớp nhỏ bên dưới học lễ nhạc cũng như học
Anh văn, tiếng Tây Tạng và tiếng Bhutan.
Thăm và cúng dường
cũng như tặng quà cho Tu Viện
Các Chú Tiểu đang
học Lễ nhạc Phật Giáo.
Đa phần ngồi học
không có bàn ghế và có môn học không có bảng đen để viết, mà mỗi Chú
Tiểu như thế có một tấm bảng nhỏ, chỉ lớn hơn quyển tập, đổ cát có pha
màu đen vào đó. Sau khi lấy cọ vẽ chữ rồi, lại xóa đi và viết tiếp những
dòng chữ khác. Trông rất tội nghiệp và khổ hạnh. Vì thế Sư Bà Diệu Tâm
có đặt câu hỏi là: Tại sao không ngồi trên bàn mà ngồi dưới đất vậy cho
cong lưng? Thì được trả lời rằng: Chính những Chú Tiểu nầy phải vượt qua
những cám dỗ về tiện nghi đó và đây chỉ là những thử thách nhỏ ban đầu
của một người tu trên đoạn đường sanh tử ấy.
Lớp Trung đang học
về Luận học.
Phòng học cũng là
phòng ngủ và đôi khi cũng làm cả phòng ăn luôn. Do đó vấn đề vệ sinh tại
nơi đây phải nói rằng không được khả quan lắm. Hầu như các Tu Viện hoặc
Phật Học Viện lớn tại Việt Nam ngày xưa cũng như thế; nhưng ít ra mỗi
người cũng có một cái đơn, tức là chiếc giường nhỏ vừa đủ nằm; nhưng ở
đây thì hầu như không có. Trông các Chú Tiểu rất hồn nhiên và như thế
tôi đã nhớ về thời quá khứ xa xưa gần 40 năm về trước khi còn hành điệu
ở Chùa Phước Lâm và Viên Giác tại Hội An có lẽ cũng chỉ đỡ hơn chút xíu
thôi.
Một lớp học khác
Phái đoàn cũng đã
mang theo kẹo và Chocolat từ Đức; cho nên ở đây có cơ hội để phát cho
mỗi Chú Tiểu một cây. Chú nào cũng cười và giơ hai tay ra đón nhận.
Biết đâu trong những người ấy sẽ có người là những bậc Đại Sư danh tiếng
trong tương lai, sẽ phổ độ quần sanh; cho nên mọi người đã cúng dường
một cách rất trịnh trọng và không phân biệt người nào cả.
Tôi nhớ lại ngày
xưa khi còn hành điệu tại Chùa Tổ Phước Lâm ở Hội An cũng cực không ít.
Nguyên Phước Lâm là một đồi cát mà trong chùa thì trồng rất nhiều cây
cảnh và rau quả để dùng. Do vậy các Chú Tiểu chúng tôi mỗi ngày phải
gánh nước tưới cây 2 lần như thế. Mỗi lần đổ nước xuống, chỉ thấy một
cái vèo thôi, nước thấm đi đâu hết. Còn phân thì cũng chẳng có. Do vậy
cây cối lên không xanh mượt như những vùng đất mầu mỡ khác.
Để tạo kinh tế tự
túc cho chùa, Thượng Tọa Thích Như Vạn, tức Bổn Sư của Thầy Hạnh Tuấn ở
Mỹ, đã có một nhà làm nhang để phát hành. Mỗi một tuần như vậy mỗi một
Chú Tiểu như chúng tôi phải làm 10.000 cây nhang như thế. Ai muốn làm
lúc nào cũng được, miễn đủ 10.000 cây nhang thì thôi. Thuở ấy Chú Hạnh
Thu làm Chúng Trưởng, Chú Hạnh Đức, mà bây giờ là Thượng Tọa Thích Hạnh
Đức trụ trì Chùa Sơn Linh ở Bà Rịa đó, là những người phác họa chương
trình cho học chúng chúng tôi. Chùa Tổ Phước Lâm tại Hội An trùng tu vào
năm 1964, thuở ấy tôi mới vào xuất gia, tâm hồn còn rất thơ ngây trong
trắng ở lứa tuổi 14 tuổi rưỡi như thế, cho nên mọi việc cực nhọc rồi
cũng qua đi. Đến năm sau thì tôi lại về Chùa Viên Giác.
Khi còn ở Chùa
Phước Lâm, trong khi còn làm chùa, học chúng chúng tôi kéo xe bò lên Cẩm
Hà để chở gạch và cát về làm chùa. Suốt đoạn đường đi thôi thì hò hát
vui nhộn; nhất là những đêm có trăng. Cũng có nhiều người làm công quả
và sau nầy xuất gia như chú Quảng tức Thượng Tọa Thích Hạnh Thiền ngày
nay đang làm chánh đại diện Hội An; chú Huân tức Thượng Tọa Thích Thị
Tập, hình như là Hạnh... gì đó tôi quên đi rồi. Vì những vị nầy xuất gia
sau tôi và sau nầy ít còn liên lạc nữa.
Ngày ấy sao mà vui
quá; bây giờ hình ảnh tuổi thơ cứ còn lởn vởn trong đầu óc của mình khi
có một dịp nào đó thì nó hiện lên liền; nhất là lúc nầy đây đang thăm Tu
Viện Phật Giáo tại Bhutan nầy. Thế rồi ngày lại tháng qua gần 40 cái mùa
xuân thu mưa nắng như thế; riêng tôi thì đã ở ngoại quốc đã vào năm thứ
30 rồi; hồi ấy anh em học chúng rất đông, mấy chục vị. Bây giờ chỉ còn
lại bốn năm người cùng trang lứa mà thôi. Quả là đời tu như bông xoài
trứng cá là thực tế.
Từ năm 1966 đến
1968 tôi làm điệu tại Viên Giác - Hội An. Thuở ấy Viên Giác chỉ có Sư
Phụ và 3 chú Tiểu với tôi là bốn. Sau nầy có một bà tịnh hạnh nhân nữa
làm công quả. Như vậy chùa cũng không có gì là đông; nhưng mỗi tháng 4
lần như thế; tôi và chú Ngô phải xay đậu hủ; sau đó là "boòng" đậu hủ và
nấu đậu hủ cũng như ép đậu hủ để cho vị tịnh hạnh nhân nầy đem ra chợ
Hội An bán lấy tiền mua tương chao cho chùa. Đó cũng là một kế hoạch
kinh tế tự túc nhỏ của Thầy tôi.
Cối đá càng nặng
bao nhiêu, tôi càng phải trườn theo độ nhạy của nước và đậu khi chú Ngô
cho đậu vào miệng cối. Nhiều lúc thân tôi phải trải dài lên cần xay như
thế để tạo lực cân bằng. Sau nầy tôi chưa có dịp về lại Viên Giác; nhưng
Sư Phụ tôi trước khi viên tịch, Người có bảo rằng hãy giữ cái cối đá ấy
để sau nầy tôi có về lại nước, thấy đó mà hồi tưởng lại kỷ niệm của
những ngày làm đậu của thuở còn học trò.
Nhiều người thấy
bàn tay tôi dài và thân hình tôi cao lớn hỏi tôi tại sao ăn chay mà được
như vậy? Tôi bảo rằng: Đó là nhờ gánh nước tưới cây tại chùa Phước Lâm
và xay đậu làm đậu hũ ở chùa Viên Giác tại Hội An đấy! Ai cũng nhăn mắt
cười và có lẽ họ không tin tôi hay đó chỉ là cái cười xã giao để đáp lễ
mà thôi.
Từ 1968 đến 1972
thì tôi ở Sàigòn chẳng có gì vui, chỉ lo vùi đầu học và tu, cốt lấy bằng
Tú Tài để đi ngoại quốc. Rồi thời gian cứ như thế mà trôi, từ thuở xuân
xanh đến lúc bạc đầu như thế nầy mới thấy được những kỷ niệm rất nhỏ của
ngày xưa, bây giờ lại quý giá vô vàn như thế đó.
Kỷ niệm nó không
là vàng bạc châu báu; nhưng nó giúp người ta có một cái nhìn về quá khứ
một cách trìu mến dễ thương. Dễ ai lấy quyền hay lấy tiền mua hay chiếm
đoạt những ký ức hồn nhiên ấy. Bởi thế có nhiều người lúc về già rồi mới
ngồi viết hồi ký là vậy. Lúc ấy kho tàng của tuổi thơ sẽ sống dậy và có
nhiều người đã trở thành văn sĩ lúc tuổi về chiều là vậy. Có nhiều người
bảo tôi tại sao Thầy không viết hồi ký của tuổi thơ? Tôi bảo rằng: Tuổi
thơ của tôi chẳng có gì để đáng viết; chỉ là một chú mục đồng mà thôi.
Hay lúc ấy tôi cũng chỉ là Chú Tiểu vô danh, đâu có gì để mà viết; nhưng
biết đâu sau nầy lại cần đến những dữ kiện nhỏ nhặt nầy.
Sau khi thăm Tu
Viện Dechenphodrang, chúng tôi được xe đưa đến Thư Viện Quốc Gia. Người
Giám Đốc Thư Viện đã giới thiệu cho chúng tôi nghe về những loại sách,
kinh mà Thư Viện hiện có.
Thăm Thư Viện Quốc
Gia
Sau đó ông ta đưa
chúng tôi đi xem từng khu một. Ví dụ như nơi chụp phim Microfilm để bảo
quản tốt hơn là giữ lại những bảng kinh bằng gỗ như thế. Cũng có một số
nơi các nghệ nhân đang tu bổ lại những bảng gỗ mà đã khắc kinh lâu đời
bỏ vào trong những hòm thiếc để bảo quản, tránh đi cái khí hậu khắc
nghiệt tại xứ nầy.
Ông Giám Đốc Thư
Viện Quốc Gia giới thiệu tổng quát về Thư Viện.
Trong Thư Viện nầy
có một số bộ kinh đã có mặt cả ngàn năm, đa phần bằng tiếng Tây Tạng và
tiếng Phạn. Chỉ có một ít kinh sách tiếng Anh và chữ Hán. Chữ Nhựt thỉnh
thoảng có vài quyển. Còn tiếng Việt hầu như hoàn toàn không có một quyển
nào. Trông thật đáng thương cho dân tộc như dân tộc Việt Nam vậy. Một
dân tộc có 4.000 năm văn hiến và 2.000 năm lịch sử Phật Giáo mà sự giao
lưu văn hóa với các nước cận Á như thế, còn giới hạn quá chừng. Quả là
điều đáng lưu tâm vậy.
Sau đó phái đoàn
chúng tôi trở về khách sạn để ăn trưa và chiều hôm đó còn đi thăm 2 nơi
nữa mới đến lượt diện kiến Hoàng Hậu. Vào lúc 14 giờ phái đoàn đến một
trường dạy nghề tên là Zoriz Chusum để xem những nghệ nhân họ vẽ và tạc
tượng Phật. Có nhiều lớp học khác nhau. Mỗi lớp như thế có một Thầy giáo
chuyên môn hướng dẫn. Ở đây đa phần là Cư Sĩ, thỉnh thoảng mới thấy một
vị Tu Sĩ ngồi tạc tượng Phật.
Khi chúng ta nhìn
một hình tượng như thế, chúng ta nghĩ rằng đơn giản hoặc chúng rập khuôn
với nhau; nhưng điều ấy không phải, cứ mỗi một hình tượng như thế phải
có một chiều bình hành, hoặc lục giác hoặc hình tam giác cân, để người
họa có thể căn cứ vào đó mà vẽ chân mày, mắt, mũi hoặc môi miệng. Đúng
là một kỹ thuật tạo hình vậy. Có một số người trong đoàn muốn mua một số
quà kỷ niệm; nhưng ở đây không còn bán lẻ nữa; nên phái đoàn phải di
chuyển sang một tiệm khác ở đối diện bên đường.
Trời bắt đầu vần
vũ mưa, chúng tôi đang lo ngại nhất là những người mặc áo dài đẹp đẽ
chuẩn bị vào Hoàng Cung. Cạnh đó có người Bhutan nói rằng cứ mỗi một
việc tiếp đón quan trọng như thế mà có mưa thì quả là rất tốt. Theo
truyền thống của Bhutan chỉ có những bậc Đại Sư mới tạo nên được khung
cảnh ấy. Tôi chỉ nghe và biết vậy thôi; chứ với tôi trường hợp nầy chỉ
là ngẫu nhiên mà thôi.
Đến thăm trường
thuốc y-học truyền thống của Tây Tạng có nhiều người cũng thích. Vì hợp
với nghề nghiệp của mình trong đó có Đạo Hữu Diệu Đông. Vừa tốt nghiệp
Hóa-học vừa tốt nghiệp Dược nên những danh từ xem qua là Đạo Hữu hiểu
rành. Những cây cỏ tại đây đa phần được tuyển chọn từ vùng Hy Mã Lạp
Sơn. Các máy móc trang thiết bị tại đây hầu như do Ấn Độ cung cấp. Tương
đối sạch sẽ và ngăn nắp. Có lẽ vì là một trường thuốc. Nếu nhiễm trùng
thì quả là một đại họa cho người tiêu dùng.
Sau khi viếng
trường thuốc xong; bây giờ phái đoàn chúng tôi chia ra làm 2 nhóm. Một
nhóm 8 người trở về lại khách sạn nghỉ ngơi và nhóm 11 người chuẩn bị đi
đến Hoàng Cung để diện kiến Hoàng Hậu. Tất cả chúng tôi đều muốn đi hết;
nhưng vì chỗ nơi có giới hạn. Hoặc giả phải khổ công nhọc sức cho những
người phục dịch hầu hạ, cho nên chúng tôi chỉ được phép như vậy mà thôi.
Có người buồn mà cũng có kẻ vui trong chuyến đi nầy. Nhưng vui buồn tất
cả rồi nó cũng chóng qua thôi.
Thị tỳ của Hoàng
Hậu đến tận khách sạn để liên lạc bằng điện thoại không dây cho biết là
phái đoàn đã chuẩn bị, phái đoàn đã vào ngõ, phái đoàn đã xuống xe
v.v... đúng là cung cách của Hoàng Gia. Những nhân viên Bộ Ngoại Giao
cũng đã túc trực trước cửa cung và những quà biếu thì đi qua một ngõ
khác để được qua máy rà kiểm soát.
Trời hôm ấy mưa
nên những cây dù bây giờ trở nên đắc dụng. Khi đến cửa chúng tôi trông
thấy mọi người ở đó tất cả đều có một cử chỉ rụt rè cung kính. Đây là
cảm giác lần đầu khi tôi bước đến cung son nầy. Lễ nghi ấy chắc mọi
người phải học. Người ta phải học cách ăn làm sao, cách nói làm sao,
cách nhìn làm sao và nhất là cách cười phải làm sao cho chủ và khách có
được một cái cảm thông, thì đó, tôi gọi là cung cách của triều đình vậy.
Hôm đó Hoàng Hậu
ra tận cửa để nghinh đón. Tôi đi đầu và cầm một khăn trắng để trao qua
Hoàng Hậu và Hoàng Hậu chắp tay lại chào với cái mỉm cười sơ ngộ. Hoàng
Hậu mặc áo quốc phục màu tím hoa cà. Trông dáng Hoàng Hậu chỉ vào tuổi
ngoài 40, rất trẻ và phải nói rằng duyên dáng, dịu dàng, đẹp tự nhiên.
Nhất là nụ cười mà sau nầy người nào cũng để ý đến. Hoàng Hậu có một nụ
cười thật tươi và thật xinh.
Trước khi vào đây,
tôi được các vị bên Bộ Ngoại Giao lưu ý là chắc chỉ được tiếp 15 phút mà
thôi. Nghĩa là sau khi nhận quà cũng như chào hỏi là phái đoàn trở về;
nhưng hôm đó có lẽ ngoại lệ gần đúng 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi mới rời
chốn cung son nầy. Căn phòng khách bày trí rất hài hòa. Đầu tiên Hoàng
Hậu tiếp chúng tôi ở một gian phòng khách rộng rãi đủ chỗ cho 16 người,
có bàn ghế và sau khi chụp hình thì ở một phòng khác.
Căn phòng nào cũng
trang hoàng bằng lụa là bản xứ, từ ghế ngồi cho đến màn cửa, nhất nhất
đều uy nghi để chứng tỏ là uy quyền của Hoàng Đế vẫn có ở đâu đó.
Cùng với Hoàng Hậu
Bhutan Ashi Dorji Wangmo Wangchuck.
Nhìn thấy cung
cách chào của những người Bhutan cũng khác. Vì họ biết Hoàng Hậu của họ
là ai và là địa vị gì của dân tộc Bhutan cho nên họ rất khúm núm, ngay
cả những Tu Sĩ của họ đi nữa cũng thế. Còn chúng tôi thì rất tự nhiên.
Tuy cũng có giữ lễ ít nhiều vì chúng tôi biết rằng chúng tôi đang đối
diện với một bậc được gọi là mẫu nghi của thiên hạ.
Hoàng Hậu cùng với
Thầy Hạnh Hảo, Thầy Gap và Thầy Dorji.
Tôi trân trọng đưa
bài diễn từ của tôi cho anh Kunzang xem trước khi đọc trước Hoàng Hậu;
nên đoạn văn nầy có vài chỗ được thêm vào sau. Vì những người bên chính
phủ, nhất là những người có trách nhiệm với EXPO 2000 họ cũng muốn Hoàng
Hậu biết đến họ. Bài nầy do Thầy Hạnh Tấn soạn bằng tiếng Anh qua sự góp
ý của tôi.
Tôi ngồi cùng ghế
chánh với Hoàng Hậu và đọc một bài diễn văn ngắn với nội dung như sau:
Nam Mô Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính thưa Hoàng
Hậu Bệ Hạ và các vị Bộ Trưởng
Thưa tất cả quý
vị,
Tôi thật lấy làm
sung sướng có mặt tại Vương Quốc của quý vị ngày hôm nay. Đây là một
việc bất khả tư nghì của giáo lý Đức Phật. Vì chỉ có người Phật Tử mới
hiểu được rằng; những người tỵ nạn Phật Tử Việt Nam chúng tôi tại Đức
mới có thể nhận được những sự tiếp đón cao quý của Hoàng Hậu và các vị
Bộ Trưởng cũng như sự tiếp đón những người thợ từ Bhutan tại Chùa của
chúng tôi khi mà họ đến Đức để xây dựng Chùa Bhutan tại khu EXPO.
Ngôi Chùa Bhutan
nó không những chỉ là một biểu tượng của Vương Quốc Bhutan mà còn là một
giá trị toàn hảo của người Phật Tử. Tôi rất lấy làm tiếc rằng đã không
thể tiếp đón Hoàng Hậu, bởi vì tôi đã có những việc quan trọng tại Pháp,
khi Hoàng Hậu đến Đức. Tuy nhiên tôi cũng rất vui mừng vì nhờ cơ hội tốt
nầy mà tôi xin cảm ơn sự thăm viếng đó của Hoàng Hậu khi có ý thăm viếng
Chùa của chúng tôi và còn tặng cho nhiều tặng vật giá trị nữa.
Ở đây tôi cũng xin
cảm ơn một cách công khai những người của chính phủ mà họ đã xây dựng
Chùa Bhutan tại EXPO 2000. Ngoài ra tôi cũng muốn đề cập đến ông
Phüntsho và ông Kunzang Trinley là những người họ đã đến đầu tiên tại xứ
Đức và chẳng bao lâu trở thành những người bạn của cộng đồng người Việt
Nam của chúng tôi.
Với cơ hội nầy
phái đoàn của chúng tôi rất là hân hạnh để thăm viếng quê hương của
Hoàng Hậu và tôi cũng sẽ được hướng dẫn đi thăm nhiều nơi chốn của
Bhutan. Vì tôi nghe rằng có nhiều nơi và nhiều việc tốt đẹp tại quê
hương nầy vẫn còn gìn giữ.
Tôi biết rằng
Bhutan là một quốc gia Phật Giáo. Nên với người Phật Tử tôi muốn biết
nhiều về hoạt động Phật Giáo tại xứ nầy. Đặc biệt trong phạm vi giáo
dục, tôi hy vọng rằng có thể giúp một vài việc cho những người Tăng Sĩ
của Bhutan.
Xin đại diện cho
phái đoàn của chúng tôi, xin chân thành cảm ơn sự tiếp đãi một cách nồng
hậu của Hoàng Hậu.
Tôi nguyện cầu Đức
Phật và ba ngôi Tam Bảo gia hộ cho mọi người và cho quốc gia của Hoàng
Hậu đặc biệt giữ lại những truyền thống cao đẹp đó.
Trân trọng kính
chào.
Namo Shakya Muni
Buddha
Respected Your
Majesty, Ministers,
Ladies and
Gentlemen:
I am
really glad to be in your Kingdom today, this is due to a mystery of
Buddha’s Dharma. Then only through the Buddhist connection we, the
refugee Vietnamese Buddhist in Germany, were able to receive your
Highness’ Ministers and to accommodate the Craftsmen in our monastery,
when they came to Germany to build the Temple in the Expo ground.
The
Bhutanese Temple was not just the symbol of the Kingdom of Bhutan, but
also a pride of the entire Buddhist people. I extremely regret not to be
able to receive your Majesty, The Queen, by myself due to an important
work in France, when you were in Germany. Therefore I would like to use
this opportunity to express my thanks for visit to my monastery and for
your valuable presents.
At
this time I wish to thank those officials who were responsible for the
building of the Bhutanese pavilion for Expo 2000. Particular, I want to
mention Mr. Phuentshok and Mr. Kuenzang Trinley, who were our partners
when they came first to Germany and soon became friends to our
Vietnamese community.
In
this occasion my delegation and I are of great interest in visiting your
country and would like to request for a guide throughout the interesting
places of Bhutan. I have heard many nice things about the country and
its splendid custom.
We
know the Kingdom of Bhutan as a Buddhist country, and a Buddhist I also
would like to know more about the Buddhist activities in Bhutan,
especially in the field of education. I hope, we could be of some help
to our brothers in Dharma.
In the
name of the whole group I would like also to express my thanks for your
kind reception.
I wish
you all the blessing of Buddha and the triple Gems may always bless your
country that it would remain in its extraordinary condition.
Thank You very
much.
Sau khi tôi đọc
xong bài diễn văn đó thì mắt Hoàng Hậu như ngời lên ánh sao và Hoàng Hậu
cười thật tươi như hoa xuân đang rạng nở. Vì thế sau nầy mọi người mới
bảo rằng: Đúng là nụ cười Hoàng Hậu là vậy. Tôi đáo mắt nhìn xem quý vị
Bộ Trưởng và hai Thầy người Bhutan ngồi xa xa phía trước, thấy họ cũng
tỏ vẻ hài lòng.
Hoàng Hậu chụp
hình chung với Thầy Thông Trí.
Bây giờ thì chúng
tôi đàm đạo thoải mái và trà nước cũng như xôi đặc biệt cũng đã được dọn
lên. Hoàng Hậu hỏi chuyện từng người và Hạnh Hảo đã giới thiệu một cách
không mỏi mệt. Người nào không nói rành tiếng Anh thì cũng có Hạnh Hảo
thông dịch lại. Hôm ấy tôi đã thấy rõ đĩa vàng chén ngọc là gì. Tất cả
đồ đem ra dọn đãi khách đều là những gì quý giá của Hoàng Gia. Mọi người
đều uống trà của Bhutan và dùng xôi màu vàng có tính cách truyền thống.
Hoàng Hậu chụng
hình chung với Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm.
Phái đoàn nói
chuyện rất lâu, tôi rất sốt ruột nhìn đồng hồ và trông sang các vị trong
Bộ Ngoại Giao ngồi xa phía trước đó; nhưng quý vị nầy ra dấu hiệu hài
lòng và cứ tiếp tục nói chuyện không có gì phải lo cả. Vì Hoàng Hậu đang
vui. Có lẽ nơi cung son Hoàng Hậu ít có người nói chuyện chăng? Hay với
người Bhutan lúc nào cũng dạ dạ thưa thưa, khúm núm rụt rè. Còn chúng
tôi một phái đoàn đến từ Âu Châu, ăn nói tự nhiên nên Hoàng Hậu không
còn nghĩ đến thì giờ nữa. Nhiều lúc còn phá cười lên khi có một vài
người nói lạc điệu. Ví dụ chú Hạnh Định nói tiếng Anh và giới thiệu về
nước Na Uy, nơi mà Chú đã có cơ hội định cư ở đó nhiều năm. Nước Na Uy
về môi sinh tốt như Bhutan. Nào là có thác nước, có cảnh đẹp và cuối
cùng thì Chú bảo rằng: Nếu Hoàng Hậu đi sang đó thì Chú sẽ là người
hướng đạo cho Hoàng Hậu. Do vậy mà Hoàng Hậu cười và mọi người đều cười
theo. Theo phép ngoại giao thì không nên nói những lời như thế. Vì giữa
các quốc gia có giao hảo với nhau, đều có các cơ quan ngoại giao lo vấn
đề nầy làm sao mà cho tới mình làm được việc đó.
Sau khi dùng trà
nước, xôi, thì chúng tôi xin phép chụp hình chung với Hoàng Hậu. Hoàng
Hậu rất tự nhiên, không có gì khách sáo cả. Nếu là người nữ thì Hoàng
Hậu ngồi sát vào và còn cụng đầu gần nhau nữa. Nếu là người nam thì có
một chút khoảng cách. Nếu là người Âu Châu thì Hoàng Hậu càng tự nhiên
hơn.
Quà biếu hôm đó là
4 tấm tranh sơn mài lớn tạo thành tấm chắn gió để trong nhà và một hoa
sen bằng pha lê tuyệt đẹp. Đây là món quà từ xa xôi mang đến để tặng
Người. Một món có xuất xứ từ Đức và một món có xuất xứ từ Việt Nam
chuyển sang Pháp, rồi từ Pháp sang Đức; để sau đó từ Đức bay qua Thái
Lan và Bhutan. Đúng là một chặng đường dài cả mấy chục ngàn cây số vậy.
Trước khi ra về
thì Hoàng Hậu chắp tay cúi đầu và còn đem đầu mình cụng vào đầu tôi nữa.
Thật là một việc làm mà tôi không ngờ; nhưng đồng thời tôi cũng không né
tránh. Vì đó là việc tự nhiên. Vả lại cũng là truyền thống của Bhutan
khi đã trở nên quen thuộc. Tôi có hỏi những người sau đó có làm như vậy
không? thì bảo có chuyện ấy vậy sao? Có lẽ tùy theo từng người mà Hoàng
Hậu chia tay như vậy chăng? Đến nỗi sau nầy có lần nói chuyện tại chùa
Vạn Hạnh ở Hòa Lan, Thầy Thông Trí còn bảo rằng: Thấy Thượng Tọa và
Hoàng Hậu ngồi chung một ghế và được đối xử như một bậc quân vương,
khiến ai thấy cũng ghen lây. Không biết điều ấy có thật không; nhưng với
tôi lúc ấy tâm chẳng có gì giao động. Mà lạ thay! Sau khi đi chuyến
Bhutan về có nhiều người và nhiều Thầy đau tim. Theo Thầy Thông Trí nói
thì vì Hoàng Hậu quá đẹp cho nên ai cũng cảm. Nhưng điều ấy không phải,
ai cũng đau tim vì leo núi quá cao. Nơi ở bình thường đã là cao 3.000
mét rồi. Càng leo cao hơn nữa thì không khí càng mỏng đi. Do vậy mà khó
thở; chứ tuyệt nhiên không phải vì Hoàng Hậu đâu.
Tối đó tại một
khách sạn gần bên có tổ chức một buổi chiêu đãi Self-Service rất trang
trọng. Đầu tiên thì nói chuyện bên lề. Sau khi mọi người đến đông đủ thì
ông Thủ Tướng bắt đầu nói lên những lời cảm ơn phái đoàn và tặng quà lưu
niệm. Hôm đó tôi cũng nói; nhưng vì không có soạn sẵn trước; nên đã phát
âm sai một vài chữ, mà khiến ra nghĩa khác. Do vậy có người cười. Ngày
hôm sau tôi xin lỗi ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa; nhưng ông ta nói rằng: Đôi
khi tôi cũng vậy. Vì tiếng Anh đâu có phải là tiếng mẹ đẻ của chúng ta.
Đó đúng là một câu an ủi có tính cách ngoại giao vậy.
Chiêu đãi tại
khách sạn cùng với các vị Thủ Tướng, Bộ Trưởng và Thứ Trưởng của Bhutan.
Ông Thứ Trưởng
Ngoại Giao đến trễ và ngồi bên tay trái tôi. Còn ông Thủ Tướng thì ngồi
bên tay mặt. Mọi người nói chuyện rất tâm đắc. Họ hỏi về việc gặp Hoàng
Hậu ban chiều ra sao; nhưng thật ra thì họ đã biết hết rồi. Xứ Bhutan
nầy rất nhỏ, mà thủ đô hình như cũng chỉ 30.000 dân nên đâu có nhiều hơn
thành phố Laatzen ở gần chùa. Do vậy mà chuyện gì trong sân ngoài ngõ
người ta cũng dễ rõ thôi. Nhiều lúc chúng tôi còn thấy họ theo dõi mình
nữa là đằng khác. Vì mọi chuyện của chúng tôi làm họ đều biết cả. Kể cả
những dự định chưa có làm. Đúng là "bức tường có tai" như cách ngôn Pháp
đã hay dùng. Tóm lại thì cuộc ngoại giao ban chiều tại Hoàng Cung cả Bộ
Văn Hóa và Bộ Ngoại Giao rất hài lòng. Còn hai Thầy bên Tôn Giáo thì dĩ
nhiên là vui rồi. Vì ít khi vào đến chốn ấy; mà lần nầy còn ngồi chụp
hình với Hoàng Hậu nữa. Quả là điều hy hữu mà có lẽ quý vị ấy cũng chẳng
đợi chờ mong.
Đồ ăn của Bhutan
cũng ngon lắm; nhất là những măng tây cũng như các rau cải địa phương;
nhưng ngược lại trái cây thì còn hiếm lắm; những trái chuối, trái táo
rất nhỏ, trông thảm thương. Trong khi Âu Châu những loại như thế chỉ có
bỏ. Còn ở tại xứ núi đồi nầy là vàng là của quý đấy.
Mấy ngày đầu thì
ai dùng cũng ngon; nhưng những ngày sau ai cũng thêm tô mì gói và những
lát bánh mì ăn với mứt theo kiểu Tây phương trông có vẻ nhẹ nhàng hơn. Ở
đây được một cái là núi cao; nên khí hậu rất mát về đêm. Nhiều khi cần
phải sưởi nữa; nhưng không có muỗi và không có những sinh vật nhỏ ở xứ
nóng như những nước Á Châu khác.
Ông Thứ Trưởng
Ngoại Giao ngồi bên tôi ông cũng nói rằng ông đang ăn chay. Trước đây
ông học tại Mỹ và cũng đã nhiều năm ăn chay như thế. Ông khoe rằng con
ông còn nói được tiếng Thái và tiếng Lào nữa. Cả nhà cũng ăn chay. Do
vậy khi phái đoàn đến từ Âu Châu mà ăn chay như chúng tôi, nên ông cũng
không ngạc nhiên mấy. Có điều là họ chiên bơ hơi nhiều nên có nhiều lúc
tôi rất mệt và ăn không còn thấy ngon nữa. Nhiều lúc chỉ cần chén cháo
là đủ rồi. Đúng là mỗi dân tộc có một đời sống và thói quen khác nhau,
chẳng ai giống ai được. Mà cái gì đã trở thành truyền thống rồi thì
người ta khó thay đổi lắm; nhất là những gì mà người ta đã chấp nhận lâu
đời rồi.
Ông Thứ Trưởng Bộ
Ngoại Giao cáo từ về trước vì có tiệc khác và chúng tôi cũng như một số
vị Bộ Trưởng khác thì còn ở lại lâu hơn, để cuối cùng rồi cũng phải ra
về với bao niềm vui. Vì mỗi người đã trao đổi với nhau về một câu chuyện
có ý nghĩa nào đó. Buổi tiệc hôm đó do chính phủ khoản đãi nên các thực
khách toàn là những người đại diện cho dân. Tuy không đông lắm; nhưng
hầu như những nhân vật quan trọng tôi đã gặp qua. Mọi người ra về để dỗ
một giấc ngủ ngon. Vì ngày mai còn phải đi một chuyến xa hơn như thế
nữa.
----
♣----
Mục Lục
►
Chương I
►Chương
II
Chương III
►Chương
IV
►Chương
V
►Chương
VI
Chương VII
►Chương
VIII
►Chương
IX
----
♣----
Trình bày: Anna
Cập nhật: 1/6/2005