Bhutan có gì lạ?
Thích Như Điển
◄♣►
Chương IV. Bhutan có gì lạ ?
Thật
sự ra thì mỗi xứ trên quả địa cầu nầy đều có cái hay cái lạ riêng cả;
nhưng ở mỗi nơi lại có những phong tục tập quán khác nhau. Do vậy mà đặc
trưng của nền văn hóa xứ đó mới sáng giá và đáng chú ý. Nếu nước nào
cũng giống nước nào thì hóa ra nền văn hóa ở đó đã bị đồng hóa rồi.
Tôi đã có cơ may
hay nói đúng hơn là có nhiều nhân duyên để đi nhiều nơi và đến nhiều chỗ
trên thế giới. Có lẽ cũng không dưới 60 quốc gia, mà mỗi nơi như thế đều
có một sắc thái riêng của mình. Rồi đây những ngày còn lại trong đời tôi
sẽ có cơ hội làm quen với nhiều miền đất mới lạ hơn nữa. Nhiều người
không thích đi thì bảo rằng ở đâu nó cũng giống nhau hết: điều ấy hẳn
không sai nhưng không hoàn toàn đúng. Vì lẽ ngày nay hơn 6 tỷ người hiện
diện trên quả địa cầu nầy rồi; nhưng chỉ tay của mỗi người mỗi khác,
không ai giống ai cả. Cho nên đi và đến một nơi nào đó rất cần thiết
vậy.
Người Phật Tử thì
2 nơi phải và nên đi, đầu tiên là Ấn Độ và Trung Quốc. Chúng ta về Ấn Độ
là về lại quê xưa; nơi của chư Phật đã bao đời thị hiện. Về Trung Quốc
là về lại với chốn Tổ với bao cảnh giới đã phong sương cùng tuế nguyệt.
Về với Việt Nam hay với nội tâm của mình là về với bản lai diện mục của
chính mình. Ở đời có nhiều chuyến đi có ý nghĩa; nhưng đồng thời cũng có
những chuyến đi rất vô vị; nhưng cũng đã có lắm kẻ đã tốn biết bao nhiêu
tiền bạc và công sức dùng phung phí vào những trận cười thâu đêm suốt
sáng hay sát phạt nhau trên những sàn bạc, để rồi kết quả là gì, chắc ai
trong chúng ta cũng đều rõ. Thế mà cũng đã có lắm người theo. Thật cuộc
đời có rất nhiều đáp số. Mỗi một bài toán như thế đúng sai là tùy người
đối diện vậy.
Người ta còn lại
nơi tâm cũng rất nhiều mà đánh mất đi bản chất vốn thanh tịnh của mình
cũng không phải là ít, để đổi lấy một cái gì đó được gọi là ảo ảnh của
cuộc đời; nhưng kết quả đó vẫn còn làm cho nhiều kẻ đắm say. Chung quy
lại thì cũng danh, lợi, tiền, tài, địa vị, v.v... Thế nhưng Đức Đạt Lai
Lạt Ma thứ 14 cũng đã nói rằng: "Chúng tôi đã mất tất cả; nhưng không lẽ
sự an lạc của nội tâm chúng tôi cũng làm cho mất sao? ". Điều ấy chứng
tỏ rằng: Cái gì người khác cũng có thể lấy được; nhưng sự an nhiên tự
tại qua việc tu học và hành hạnh giải thoát thì chắc chắn rằng không ai
có thể tước đoạt của mình được cả.
Tôi phải diễn tả
như thế nào cho quý vị hiểu về tâm trạng của một người Phật Tử đến được
dưới gốc cây Bồ Đề nơi Đức Phật thành đạo, để rồi cảm động khóc sướt
mướt như một trẻ thơ bên mẹ hiền. Vì lâu ngày xa quê và xa gia đình, mới
về lại bên người thân. Điều ấy chính quý vị mới cảm nhận và thể hiện
được. Còn diễn tả qua phim hay lời nói, chỉ là những hình thức bề ngoài
mà thôi. Cũng như thế đó, bạn nhìn một mâm cơm bảo rằng ngon quá; nhưng
nếu không bắt đầu cầm đũa và gắp thức ăn cho vào miệng thì cảm giác của
sự ngon, sự dở, chua, cay, ngọt, mặn như thế nào khó mà hình dung được.
Tôi không phải quảng cáo về các chuyến hành hương, mà đó là sự thật.
Người nào có đi, hẳn có đến. Nếu không lên xe thì làm sao biết được xe
sẽ ngừng và đỗ ở bến nào? Đây là chuyến xe khứ hồi của Ta Bà và Tịnh Độ,
xin mời các hành giả chuẩn bị sẵn sàng hành trang để bước lên chuyến xe
phương tiện mà nhàn du về cảnh giới an lành vậy.
Máy bay Druk Air
cất cánh tại phi trường Bangkok vào lúc 7 giờ 50 sáng ngày 24 tháng 4
năm 2001. Sau 2 tiếng đồng hồ bay thì đáp xuống phi trường Calcutta của
Ấn Độ để cho xuống và nhận thêm hành khách lên. Đến 11 giờ 25 thì máy
bay hạ cánh tại phi trường Paro của Bhutan. Chiếc máy bay nầy là một
loại máy bay phản lực của Anh chế. Trông rất lịch sự; nhưng chỉ có chừng
60 chỗ ngồi. Hôm ấy tất cả máy bay đều chật chỗ. Khi đến phi trường rồi
chúng tôi mới biết rằng phi đạo rất ngắn và chỉ có một đường bay thôi.
Sau khi hạ cánh máy bay giảm tốc độ và đến cuối phi đạo thì quay đầu để
chạy lại bến đậu.
Tuy nhiên cảnh trí
và phòng ốc ở phi trường rất lịch sự. Phái đoàn chúng tôi vào đến cửa
thì gặp anh Kunzang và một vài vị đại diện cho Bộ Ngoại Giao có mặt tại
đó. Có cả Thầy Gap Tshering, người đã có mặt tại Hannover trong thời
gian 6 tháng Expo của năm 2000 nữa. Sau khi chờ một vài giây thì anh
Kunzang bảo rằng nên theo anh ta lên phòng VIP để chờ đợi và đưa giấy tờ
lãnh hành lý cũng như Passport để cho anh ta lo Visa nhập cảnh.
Trong thời gian ấy
thì mọi người nghỉ ngơi và ăn bánh mì Sanwisch, uống trà bơ của Bhutan
để lót dạ. Vì được biết rằng đường đi từ phi trường về thủ đô Thimphu
không xa lắm, chỉ 50 cây số thôi; nhưng là đường đèo. Vì vậy phải cần ít
nhất là 2 tiếng đồng hồ. Sau một hồi chờ đợi thì anh Kunzang mang tất cả
17 cái Passport lại với giấy nhập nội không phải đóng tiền lệ phí. Khi
thấy như vậy thì Hạnh Hảo và Jen phân bì. Vì hai người nầy đến Bhutan
cách 2 ngày trước đây từ Kathmandu phải đóng mỗi người 20 US$ cho việc
nầy.
Phái đoàn ngồi tại
phòng VIP tại phi trường Paro. Thầy Gap Tshering và anh Kunzang đón tiếp
phái đoàn.
Bước ra khỏi phòng
lạnh thì bầu trời thật nóng bức. Không khí ở đó hơi khô, vì khí hậu miền
núi. Nước ít mà cát nhiều. Chung quanh đây chỉ có những cây thông là vi
vút gió suốt thời gian xuân hạ thu đông mà thôi. Ngoài ra ít thấy loại
cây nào đặc biệt. Tôi nhìn thấy 2 xe đến đón. Một xe Bus chở lành lý và
một xe của Bộ Ngoại Giao hạng sang của Nhựt, cờ cuốn lại. Trong xe có
tôi, Thượng Tọa Thích Quảng Bình và Thầy Thông Trí. Số người còn lại thì
lên xe Bus. Tại Bhutan cũng chạy xe bên tay trái như Ấn Độ vậy; nên
nhiều khi tôi lầm, chạy qua bên phía ghế của tài xế để ngồi.
Ngồi trong xe tôi
suy nghĩ, ông cụ Uyên Như Nguyễn Trọng Thẩm ở Canada nói trong lá số Tử
Vi có lẽ đúng đấy. Ông cụ bảo rằng sau nầy tôi sẽ là một vị quan trong
Phật Giáo; nhưng khi đi lọng không bung ra mà lại được lọng cúp che.
Lọng cúp cũng có nghĩa là cờ cuốn lại đó. Không phơi bày một địa vị lộ
liễu của một người tu như tôi thì phải? Ông cụ lâu nay không có tin, vì
đã mấy năm rồi tôi không đi Canada. Có lẽ ông cụ cũng già lắm. Đã 90
tuổi rồi còn gì? Trong cuộc đời 90 tuổi đó, ông cụ ăn chay trường đã 70
năm. Lúc trẻ làm thầu khoán. Lúc già đọc kinh Kim Cương và truy tầm Phật
điển. Ông cụ giống như một Ông Tiên, sống an phận một mình; không cháu
con hay người hầu kẻ hạ. Tuy cũng là quyền cao tước trọng và gia thế một
thời. Mấy năm trước đây mỗi lần tôi qua Canada ông cụ thường hay điện
thoại đến chùa Quan Âm hỏi thăm tôi còn ở Canada bao lâu và mời lại thăm
chơi.
Anh Bàng, pháp
danh Thị Pháp, người đệ tử tại gia của tôi, trước năm 75 có dạy tại Đại
Học Phú Thọ - Sàigòn, và sau nầy hỗ trợ chùa Quan Âm tại Canada một cách
rất đắc lực, thường hay chở tôi đi đến chỗ Cụ, mỗi lần tôi đến Canada
như thế. Có lúc thì anh ta cùng ghé thăm. Có lúc thì anh để tôi ngồi đó
nói chuyện say sưa với Cụ cả mấy tiếng đồng hồ để anh ta đi công chuyện;
sau khi xong việc lại ghé đón về chùa; hoặc đi ăn cơm chay ở một nhà
hàng chay nào đó.
Kể ra thì ở đời
hay đạo gì cũng thế. Cái gì nó cũng có nhân duyên cả. Có duyên thì hợp,
không duyên thì tan. Vậy thôi! Có kẻ gặp nhau với những tia quang phổ
giao thoa; nên thông cảm hiểu biết nhau nhiều hơn; nhưng những người
không có nhân duyên thì không được vậy. Phật ngày xưa cũng thế, huống là
chúng sanh như chúng ta ngày nay. Ông Cụ cách tôi 40 tuổi mà nói chuyện
vẫn hợp như thường. Thông thường thì ông hay rót trà đặc biệt để đãi
khách và đem chuyện đời xưa, văn thơ, chữ nghĩa trong nhà Phật ra nói.
Nhiều lúc cụ bảo rằng Kinh Lăng Nghiêm cụ đọc 5 phút là xong. Tôi ái
ngại không hỏi lại. Vì nhiều lẽ khác nhau. Nhưng nhiều khi nể cụ nên im
lặng. Vì như tôi, cho đến nay tụng Lăng Nghiêm gần 40 năm mỗi sáng. Có
bao giờ toàn thời kinh mai dưới 1 tiếng đồng hồ đâu. Có lẽ cụ nói mấy
câu chú chăng? Nhưng cho đến nay tôi vẫn chưa hỏi cụ.
Ngồi trên xe như
thế, tôi dõi mắt nhìn hai bên lề đường, trâu bò qua lại thong thả, dường
như vô tư lự. Chuyện xảy ra chung quanh chẳng đáng quan tâm là mấy.
Những luống khoai lang chạy dọc theo hai bên đường, trông theo mà no
tròn con mắt. Xa xa là một dòng sông uốn khúc, nước lững lờ trôi. Đâu đó
một vài thửa ruộng, mạ xanh mơn mởn. Có chỗ thì người ta trồng lúa mì,
lúa mạch. Có nơi thì trồng ớt, trồng đậu; nhác trông như một tấm thảm
xanh trải dài đến tận chân núi.
Đi qua lại nhiều
vòng trên nhiều triền núi như thế; cuối cùng rồi phái đoàn chúng tôi
cũng đã đến khách sạn Jumolhari tại thủ đô Thimphu. Đây là một khách sạn
trung bình, không có sao. Hay nói đúng hơn là nhà khách của chính phủ để
đón tiếp những nhà ngoại giao cỡ trung. Tất cả nhân viên phục dịch đều
biết nói tiếng Anh. Điều làm tôi đáng chú ý là đàn bà thì khuân vác vali
nặng nề; trong khi đó đàn ông làm những việc nhẹ khác. Không biết xã hội
như thế có bất công không; chứ dường như ở đây họ xem như thế là một sự
bình thường.
Khi đến khách sạn
chúng tôi được ông Bộ Trưởng Văn Hóa và ông Chánh Văn Phòng của Bộ Ngoại
Giao tiếp đón. Quốc phục của đàn ông là một áo dài hơi ngắn; chỉ xuống
quá đầu gối thôi. Còn đàn bà là một áo dài thật dài, tận đến mắt cá vậy.
Ông Chánh Văn Phòng hỏi chuyện với tôi và xem ai là Thư Ký. Lúc ấy tôi
không trả lời, mà đưa mắt về Hạnh Hảo và Thầy ấy hiểu ý.
Bình thường ở chùa
thì tôi có nhiều thị giả và nhiều thư ký khác nhau. Một thị giả lo
chuyện bên trong phòng như giặt giũ, hút bụi. Một thị giả ra đi bên
ngoài khi tiếp xúc với người Việt. Một thị giả ra đi bên ngoài khi tiếp
xúc với người Đức và người ngoại quốc. Thư ký thì có thư ký tiếng Việt,
thư ký tiếng Đức, Anh và thư ký các ngôn ngữ khác. Nhưng hôm đó thì chỉ
có Chú Hạnh Định theo làm thị giả, còn thiếu thư ký tiếng Anh; nên Hạnh
Hảo đã đảm trách việc ấy.
Hạnh Hảo tiếng Anh
rất sành sỏi. Vì là người Đức và đã tốt nghiệp Cao Học tại Đức nữa; nên
điều ấy cũng dễ hiểu thôi. Còn tiếng Trung Quốc Phổ Thông thì nói rất
chỉnh. Còn tiếng Việt, khi người mình nói tiếng lóng Thầy ấy cũng hiểu
như thường. Gặp người Quảng Nam thì nhại theo giọng Quảng. Gặp người Huế
thì nhại theo tiếng Huế. Kể cả những tiếng khó nhất Thầy ấy cũng có thể
qua cầu được. Chỉ hơi tiếc là phát âm không chỉnh lắm mà thôi. Tương lai
thì chưa biết thế nào? Có lẽ về Việt Nam một thời gian để tu học. Hoặc
giả ra làm việc Phật sự; chắc sẽ được nhiều người Việt Nam và người Đức
hỗ trợ.
Cùng với ông Bộ
Trưởng Văn Hóa tại khách sạn Jumolhari.
Ông Chánh Văn
Phòng Bộ Ngoại Giao trao cho tôi cũng như phái đoàn mỗi người một tờ
chương trình cho những ngày ở lại Bhutan như sau:
Ngày thứ ba : 24
tháng 4
11:25 - Đến phi
trường quốc tế Paro
- Được đón tiếp
bởi người đứng đầu Viện Bảo Tàng Nhân Dân
11:45 - Rời Paro
về Thimphu
- Đến
khách sạn Jumolhari
- Dùng
cơm
16:00 - Tiếp
kiến Bộ Ngoại Giao
17:00 - Tiếp
kiến những vị Bộ Trưởng lo về vấn đề EXPO thế giới năm 2000
Ngày thứ tư : 25
tháng 4
09:30 - Tiếp
kiến vị Bộ Trưởng của Bộ Văn Hóa
10:30 -Thăm
viếng Tu viện Phật Giáo Dechenphodang
11:30 - Thăm
viếng Thư Viện Quốc Gia
- Dùng
trưa
14:00 - Thăm
viếng Viện Zorig Chusum nơi làm thủ công nghệ
15:00 - Thăm
viếng Học viện Y khoa truyền thống
16:00 - Diện
kiến với Hoàng Hậu Bệ Hạ Ashi Dorji Wangmo Wangchuck
19:00 - Chiêu
đãi bởi Bộ Trưởng lo về EXPO 2000
Ngày thứ năm : 26
tháng 4
09:00 - Di
chuyển đi Donena
- Thăm
viếng Tu viện Tango
- Cơm
trưa ngoài trời tại Donena
-
Thăm Tu viện Cheri
19:00 - Đêm văn
hóa với cơm tối
Ngày thứ sáu : 27
tháng 4
Buổi sáng:
- Thăm
Tashichhodzong nơi có nhục thân Bồ Tát
- Cơm trưa
Buổi chiều:
- Đi Punakha
- Tiếp kiến với
Dasho Dzongda
- Tiếp kiến với
Drabi Lopen
- Thăm Punakha
Dzong
- Đến khách sạn
Pelri
Ngày thứ bảy : 28
tháng 4
08:00 - Đến
Nyinzergang
- Thăm
vị Khamsum Yuley Namgyel Chorten
- Tiếp
kiến vị Dorji Lopen
12:30 - Ăn trưa
tại Dasho Dzongda
14:00 - Về Paro
- Đến
khách sạn Olathang
Ngày chủ nhật : 29
tháng 4
09:00 - Thăm
Viện Bảo Tàng Quốc Gia
- Thăm
Rinpung Dzong
- Thăm
Kyichu Lhakhang
- Cơm
trưa
14:00 - Di
chuyển ra phi trường
16:50 - Đi
Bangkok
- Tiễn đưa bởi
người đứng đầu Viện Bảo Tàng Nhân Dân
Sau đó là danh
sách của những người trong phái đoàn cùng đi chung với tôi. Một chương
trình như thế thật không có nhiều so với những chuyến hành hương khác;
nhưng đây là một chuyến hành hương ngoại giao nên khác hơn những nơi
khác rất nhiều. Đầu óc tôi lúc nào cũng mệt. Một phần phải lo cho phái
đoàn, mặc dầu đã có Hạnh Hảo, Hạnh Định, Thầy Thông Trí lo giúp. Về ăn
giặm thêm thì đã có Sư Bà Bảo Quang, Ni Sư Diệu Phước và Sư Cô Tâm Viên
lo; nhưng với tôi còn phải sửa soạn ngôn ngữ ngoại giao làm sao cho
thích hợp của mọi hoàn cảnh nữa. Như gặp ở Bộ Ngoại Giao thì phải nói
những gì. Gặp Hoàng Hậu thì phải làm sao? Khi gặp những chính khách;
những chính trị gia thì phải tiếp đãi như thế nào v.v... và v.v... thôi
thì mọi thứ. Vì từ xưa đến nay tôi chưa làm như thế bao giờ. Đây đúng là
một chuyến ngoại giao lịch sử của một người tu xuất thân từ chốn nông
thôn của tôi. Ngôn ngữ tôi nói được, vốn không hay; nhưng được một cái
là gồm nhiều ngôn ngữ như: Pháp, Anh, Đức, Nhật, Quan Thoại, Việt Nam và
một ít tiếng Nga nên cũng không khó khăn lắm khi giao tế; nhưng đây là
ngôn ngữ ngoại giao mà. Con dao hai lưỡi đấy !
Sau khi đã tắm
rửa, nghỉ ngơi tại khách sạn, phái đoàn chúng tôi lên xe để đi đến Bộ
Ngoại Giao. Đầu tiên gặp ông Chánh Văn Phòng đón từ ngoài sân với quốc
phục và gươm báu đeo bên mình. Sau đó vào bên trong Bộ, được ông Thứ
Trưởng Bộ Ngoại Giao tiếp kiến và trao quà lưu niệm và chụp hình. Ông ta
người nhỏ thó, xinh xắn và rất mềm mỏng dịu dàng trong lời nói ngoại
giao.
Trao quà lưu niệm
cho ông Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao.
Nhìn lên tường,
chúng tôi thấy có treo một tấm Thangkha rất lớn, có vẽ nhiều hình của
ông Shabdrung Rimpochi tức Ngawang Namgyal (1594-1651), người có công
thống nhất Bhutan và lấy Bhutan lại từ người Tây Tạng. Đi đâu hầu hết
tại xứ nầy cũng đều thấy hình ấy. Sau đó có nhân viên của Bộ mang trà
sữa ra đãi
Uống trà Bhutan
tại Bộ Ngoại Giao.
Nhìn cách phục sức
của người Bhutan chúng ta càng thấy được sự ảnh hưởng của Phật Giáo Tây
Tạng và Ấn Độ đối với người dân không ít. Vì lẽ ngoài bộ quốc phục ra
rồi; trên người họ còn giắt thêm một mảnh vải nữa, giống hệt như chiếc y
chư Tăng vậy. Có điều y của chư Tăng màu vàng hoặc nâu. Còn y của Cư Sĩ
thì đủ mọi màu. Đa phần người Bhutan ngồi trên ghế, chứ không ngồi trên
chiếu như người Nhựt hoặc Đại Hàn; nhưng bàn của họ không giống như bàn
của Á Châu, Âu Châu và Việt Nam. Vì lẽ cái bàn để thức ăn và nước uống
nó từa tựa như một cái bàn kinh vậy. Phía trước có áng che và phía sau
có chỗ để chân vào.
Ông Thứ Trưởng cho
biết là ông Bộ Trưởng Ngoại Giao đang ở Hòa Lan; nên không thể tiếp đón
phái đoàn được, mà ông nầy tôi đã gặp tại Hannover vào ngày 1 tháng 6
năm 2000 vừa qua. Nếu gặp lại lần thứ 2, chắc là quen thuộc hơn. Ông Thứ
Trưởng nói về mọi đề tài và sau đó tôi cũng đã đáp lễ bằng tiếng Anh
cũng như ông Thiền Sư Reiho người Đức tu theo Thiền Phật Giáo Nhật Bản
nói thêm một số ý chính để cảm ơn Bộ Ngoại Giao của Bhutan đã lo cho
phái đoàn một cách chu đáo trước, trong cũng như sau chuyến đi nầy.
Sau đó ông Thứ
Trưởng hướng dẫn chúng tôi đến Quốc Hội; nơi các Dân Biểu thường hay hội
họp.
Quốc Hội Bhutan.
Những máy hình và
máy quay phim thi nhau chụp đủ kiểu; nhưng sau nầy mới biết là có những
nơi du khách không được phép như vậy. Nhìn lên phía trước của Quốc Hội ở
giữa là Ngai vàng; nơi ngự trị của Nhà Vua; tượng trưng cho thế quyền.
Phía bên tay trái của Nhà Vua, cao hơn là nơi thờ Phật và phía tay phải
của Vua thờ vị Shabdrung Rimpoche, người có công thống nhất đất nước
Bhutan vào đầu thế kỷ thứ 17. Phía trước mặt Vua là diễn đàn của các Dân
Biểu và phía dưới là 154 ghế xây theo lối hình tròn, đại diện ở đây là
các vị Dân Biểu do địa phương hoặc Vua chọn lựa nên. Như thế đủ biết
rằng đây là một Quốc Gia Phật Giáo theo chế độ quân chủ; nhưng cũng rập
khuôn theo cách tổ chức của Thụy Sĩ là một nước dân chủ nhất nhì của Âu
Châu.
Sau đó ông Thứ
Trưởng Bộ Ngoại Giao cùng với ông Chánh Văn Phòng đưa chúng tôi ra xe để
đi đến thăm ông Chủ Tịch Bộ Trưởng về việc triển lãm EXPO năm 2000. Đến
đây thì tôi đã gặp lại ông Bộ Trưởng nầy. Vì lẽ trước đó ông ta có đến
chùa Viên Giác chừng 2 lần để lo cho việc EXPO năm 2000. Hôm ấy phái
đoàn có tặng cho ông một bộ tranh sơn mài quý giá. Chủ Tịch Bộ Trưởng
tức Thủ Tướng; nhưng ông ta rất bình dân và xuề xòa; nên ai tiếp chuyện
cũng vui. Nhìn lên phía trên hình treo nơi tường có hình của Vua chụp
chung với một vị Đại Sư Phật Giáo. Vị nầy có thể là Thầy mà cũng có thể
là bạn của Vua. Nhìn thấy cử chỉ của Vua thân mật với vị Thầy nầy lắm.
Nhà Vua ngoài quốc phục cũng có phủ một lớp y; nhưng đặc biệt là màu
vàng. Còn ông Thủ Tướng cũng đắp y ; nhưng là y màu đỏ. Họ cũng có mang
giày nữa. Mỗi một loại giày như thế tượng trưng một cấp bậc khác nhau
như các quan của nước ta ngày xưa từ cửu phẩm đến nhứt phẩm vậy.
Trao quà cho ông
Chủ Tịch Bộ Trưởng EXPO 2000.
Chụp chung hình
với ông Thủ Tướng Bhutan và anh Kunzang.
Lại uống trà bơ
của Bhutan nên mọi người đã bắt đầu chối từ một cách lịch sự. Sau những
lời xã giao qua lại giữa hai bên để cảm ơn nhau về cuộc Hội Ngộ cũng như
giúp đỡ cho nhân viên Bhutan ở lại Chùa Viên Giác Hannover trong khi xây
dựng chùa Bhutan suốt 7 tháng trường và ngược lại tôi cũng như Thiền Sư
Reiho cũng đã cảm ơn ông Chủ Tịch Bộ Trưởng về cách thức tổ chức để
nghênh đón phái đoàn của chúng tôi một cách vô cùng trọng thể như thế.
Chừng nửa tiếng
đồng hồ sau thì ông Thủ Tướng cùng với phái đoàn ra phía trước Hoàng
Cung để chụp chung một tấm hình lưu niệm.
Hình nầy cũng sẽ
là hình bìa của quyển sách nầy. Vì tất cả những người tham dự đều có
mặt. Sau đó một mình tôi ra chụp một tấm hình mà phía sau là Hoàng Cung
với mây trắng, còn con sông lớn uốn khúc chảy quanh qua bao bọc cung
điện nầy. (xem hình trang 97)
Từ xa nhìn về
Hoàng Cung với mây trắng chập chùng.
Đây có thể nói là
một ngày đẹp trời và tối đó chúng tôi về lại khách sạn dùng cơm cũng như
ngồi lại bên nhau để bàn thảo về chương trình của những ngày sắp tới và
để chuẩn bị cho một ngày trọng đại của ngày mai. Đó là việc tiếp kiến
Hoàng Hậu của Bhutan.
----
♣----
Mục Lục
►
Chương I
►Chương
II
Chương III
►Chương
IV
►Chương
V
►Chương
VI
Chương VII
►Chương
VIII
►Chương
IX
----
♣----
Trình bày: Anna
Cập nhật: 1/6/2005