Bhutan có gì lạ?
Thích Như Điển
◄♣►
Chương III. Chuẩn bị một cuộc hành trình
Thông thường thì
ai trong chúng ta khi làm bất cứ một điều gì cũng phải có một chương
trình, một kế hoạch hết cả. Nhất là nếu muốn cho chương trình ấy được
hoàn bị. Ở đây cũng thế, chuẩn bị cho một cuộc hành hương không chỉ toàn
là số người, cách đi đứng v.v... mà phải liên hệ với ai trước; nơi nào
cần phải liên lạc trước và những gì cần phải làm trước, những gì cần
phải làm sau v.v...
Tôi cũng chẳng
phải là một người hoàn toàn chu đáo. Vì nhiều khi vẫn còn sơ hở như
thường, mặc dù đã cố gắng hết mình; nhưng cũng có nhiều điều xảy ra
ngoài ý muốn. Lần nầy thì không phải từ phía chúng tôi, mà từ phía Chính
phủ Bhutan, hay nói đúng hơn là văn phòng Bộ Ngoại Giao của Bhutan có
gởi cho chúng tôi một công hàm có quốc huy của chính phủ vào ngày 24
tháng 1 năm 2001, gởi đi từ vị Chánh Văn Phòng và có nội dung như sau:
Chính Phủ Hoàng
Gia Bhutan
Bộ Ngoại Giao
Gyulyong Tshokhang
Thimphu Bhutan
Ngày 5 tháng 1 năm
2001
Kính thưa Ngài,
Tôi được hân hạnh
báo tin cho Ngài biết rằng: Bệ Hạ Ashi Dorji Wangmo Wangchuck, Hoàng Hậu
của xứ Bhutan đã hân hạnh nhận được thư của Ngài và được biết rằng Ngài
sẽ thăm viếng Bhutan trong tương lai gần. Tôi được biết chắc rằng Hoàng
Hậu Bệ Hạ sẽ gặp Ngài tại Bhutan nếu Hoàng Hậu ở tại Thimphu trong thời
gian Ngài thăm viếng.
Ngài cũng thừa
biết rằng Bệ Hạ hoạt động rất tích cực cho việc từ thiện cho người
Bhutan và hay du hành liên tục trong quốc gia, kể cả những vùng xa xôi
nhất.
Xin vui lòng cho
biết để tôi có thể giúp Ngài trong chuyến viếng thăm Bhutan được dễ dàng
hơn.
Xin nhận nơi đây,
thưa Ngài, sự xác tín về lòng tôn kính cao nhất của tôi.
Tôn kính,
Kesang Wangdi
Chánh Văn Phòng
Kính gởi Thượng
Tọa Thích Như Điển
Viện Chủ Chùa Viên
Giác
Karlsruherstr. 6
30519 Hannover
Đức Quốc
Đây là văn thư
chính thức từ Bộ Ngoại Giao Bhutan gởi, mà tôi cũng đã chẳng biết là
trước đó tôi có gởi thư không. Vì bản chính không còn nữa. Chỉ còn những
thư liên lạc sau nầy mà thôi. Có lẽ rằng tôi sơ ý. Hay qua một cuộc nói
chuyện với các vị ở cấp cao Bộ Ngoại Giao mà tôi đã quên rồi.
Điều nầy phải biết
rằng mình có lỗi. Khi nhận được bức thư như thế, nghĩa là tôi đã vui
rồi; nhưng nếu đến Bhutan mà không gặp được Hoàng Hậu để cảm ơn Hoàng
Hậu những gì đã tặng cho tôi khi đến Hannover vào tháng 7 năm 2000, mà
lúc ấy tôi không có mặt thì quả là điều thiếu sót. Do đó tôi đã nhờ Thầy
Hạnh Tấn viết một thư với nội dung như sau:
Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất
Chi Bộ Đức Quốc
Chùa Viên Giác -
Karlsruherstr.6 - 30519 Hannover - Đức Quốc
Tel. 0511-879630 -
Fax 0511-8790963. Email: viengiactu@t-online.de
Hannover, ngày 13
tháng 2 năm 2001
Kính gởi: Bộ Ngoại
Giao
Qua Bà Kesang
Wangdi
Thưa Bà,
Tôi rất cảm ơn về
việc đón chào nồng nhiệt về chuyến đi Bhutan của tôi từ Bệ Hạ, Hoàng Hậu
của Bhutan. Tôi mong rằng sự bận rộn của Hoàng Hậu sẽ không bị ảnh hưởng
đến việc tiếp đón phái đoàn của chúng tôi.
Với lá thư nầy tôi
muốn xác định với Bà rằng chuyến thăm viếng của chúng tôi kéo dài từ
ngày 23 đến ngày 30 tháng 4 năm 2001 tại Bhutan. Xin vui lòng giúp đỡ
cho chúng tôi những phương tiện cũng như ăn ở tại quốc gia của Bà. Phái
đoàn của chúng tôi dự định là 20 người, gồm 10 Tu sĩ Việt Nam và những
đệ tử; 10 người khác là Đức và bạn bè của họ. Họ là những người đã cộng
tác suốt trong thời gian EXPO 2000 với chúng tôi. Chúng tôi phải chuẩn
bị hành lý như thế nào ? và quy định nào chúng tôi phải tuân giữ ?
Tôi sẽ gởi danh
sách và chuyến bay trong thời gian sớm trong điều kiện có thể.
Xin cảm ơn về sự
trợ giúp của Bà và hy vọng rằng chúng tôi sẽ gặp được Hoàng Hậu Bhutan
cũng như Bà bên cạnh đó.
Kính chào
Thích Như Điển
Viện Chủ Chùa Viên
Giác
Đó là những văn
thư và lời lẽ của ngoại giao, mà sau nầy khi đến Bhutan mới biết là
Kesang Wangdi không phải là Bà mà là Ông. Mặc dầu trước đó cũng đã hỏi
Hạnh Tấn cho chắc chắn. Vì Thầy ấy đã học ở Ấn Độ lâu năm mà. Nhưng
không sao. Có lẽ họ cũng sẽ lầm mình như vậy. Chẳng biết ai là bà, ai là
ông nếu phía trước tên không ghi chú cho rõ ràng. Ngay cả tên của tôi
nhiều người Việt Nam viết mà không bỏ dấu thì nó sẽ ra nghĩa khác. Thỉnh
thoảng cũng có nhận được một bức thư, viết rất trịnh trọng; nhưng mở đầu
đã kính thưa Thầy Tự Điển chứ không phải là Như Điển nữa. Rõ ràng là tên
mình đã bị đặt lại lúc nào chẳng hay.
Nhưng nhiều lúc
tôi cũng phải khen cho ông nhà Bưu Điện của Đức và ngay cả Úc nữa. Đã
nhiều lần tôi nhận được những bức thư rất xa lạ gởi đi từ Việt Nam, từ
Mỹ hay ngay cả từ Đức là Kính gởi Thầy Như Điển, hoặc chùa Viên Giác,
Hannover, Đức. Chỉ như thế thôi, không tên đường, không số nhà, không số
bưu điện mà thư vẫn tới. Quả thật là tài tình. Có lẽ vì Chùa Viên Giác
tại Hannover thì ông Bưu điện nào mà chẳng biết.
Điều ấy thì cũng
dễ hiểu thôi, nhưng có một hôm tôi càng khó hiểu hơn nữa khi nhận được
một lá thư gởi từ Việt Nam, ngoài bì thư chỉ để như thế nầy: Kính gởi
Thầy Như Điển, Australia. Thế mà cuối cùng thư vẫn đến Đức. Theo tôi
nghĩ có lẽ người Việt Nam nào đó làm việc trong Bưu Điện Úc; mà khi bắt
gặp tiếng Việt thì nhân viên bưu điện lại chuyển sang đây. Quả thật ngôn
ngữ nó có một giá trị lạ lùng của nó và tất cả cũng chỉ là nhân duyên
thôi.
Tôi đi hơi xa đề
một chút; nhưng ở đây xin kể một câu chuyện vui về ngôn ngữ để hầu quý
vị. Có lẽ là tôi đã đọc được trong Quê Mẹ, hoặc Nhân Bản xuất bản tại
Paris chừng 15 năm về trước. Chuyện kể rằng:
"Có một người Úc
đi du lịch sang Pháp, khi đến Lyon thì bị đau bụng thình lình nên được
xe cấp cứu đưa vào nhà thương. Mấy cô y tá vồn vã hỏi tiếng Pháp thì ông
ta trả lời tiếng Anh. Ông nói gà, bà nói vịt, chẳng ai hiểu cả. Vì người
Pháp có rất ít người chịu nói tiếng Anh và người Úc, người Anh, người Mỹ
họ cũng chẳng muốn học một ngoại ngữ nào cả. Vì họ nghĩ rằng chỉ tiếng
Anh là đủ rồi. Nhưng trong trường hợp nầy thì chẳng biết nói sao, thông
dịch tiếng Anh ra tiếng Pháp lúc đó ở đâu có mà tìm. Cơn đau lại đến,
ông ta la lên bằng tiếng Việt: Ôi! Tôi đau bụng quá! Bỗng dưng có người
y tá Việt Nam đang làm bên phòng đó nghe và qua kịp thời. Thế là ông ta
qua đi một cơn thập tử nhất sanh".
Đó là tiếng Việt
và phải nói rằng nhờ tiếng Việt mà mạng sống được cứu ở một xứ văn minh
như xứ Pháp vậy. Do vậy học một ngôn ngữ nào cũng được cả. Miễn sao sành
sỏi là được rồi.
Nếu đi Trung Quốc
mà không biết tiếng Trung Quốc hoặc đi Nhật mà không nói được tiếng Nhật
thì chuyến đi nó mất đi ý vị hết 50%. Tôi đoan chắc điều nầy là đúng. Vì
bao nhiêu người đã khổ sở lắm rồi. Vì chỉ dùng tiếng Anh khi đến xứ họ,
mà ở đó thì họ chẳng cần dùng tiếng Anh.
Tuy thế ở phần
ngoại giao ngày nay tiếng Anh rất cần thiết. Ai cũng nên và phải học
tiếng Anh để giao dịch với nhau, có lợi vô cùng.
Sau đó tôi nhờ
Thầy Hạnh Tấn điện thoại thẳng cho ông Đại Sứ Bhutan tại Genève thì được
biết rằng ông ta đã rõ việc chúng tôi sẽ đến Bhutan, khỏi cần phải lấy
Visa từ Thụy Sĩ, mà khi đến phi trường Paro ở Bhutan thì họ sẽ cấp cho.
Ngoài ra việc ăn ở đã có chính phủ lo rồi. Nhưng sau đó gọi nói miệng
không thấy chắc nên tôi nhờ Thầy Hạnh Tấn gởi một thư khác qua Thụy Sĩ
để rõ ràng hơn; nhất là có 2 thành viên trong đoàn không đi chung cùng
từ Âu Châu mà đi từ Népal. Từ đó nếu không có sự xác nhận của chính phủ
Bhutan thì hãng máy bay Druk Air sẽ không bán vé. Đúng là cái khó nó bó
cái khôn là vậy.
Thư viết rằng:
Hannover, ngày 2
tháng 4 năm 2001
Kính gởi Ông Sonam
Tobgay
Đệ nhị Tham vụ,
Tòa Đại Sứ Bhutan
17-19 Chemin du
Champ d' Anier
CH - 1209 Genève
Thưa Ông,
Xin cảm ơn lần gọi
của Ông. Bây giờ tôi gởi cho Ông tên của những người tham dự với những
chi tiết; đồng thời tôi cũng sẽ gởi một bản khác qua đường bưu điện.
Tôi hy vọng rằng
Ông sẽ viết cho tôi một thư xác nhận từ Tòa Đại Sứ của Ông hoặc Bộ Ngoại
Giao về việc nhận Visa đặc biệt cho 2 thành viên trong nhóm của tôi mà
họ hiện tại đang ở Népal. Bởi như Ông biết rằng: vé của họ chỉ được bán
khi có sự thị thực Visa.
Xin cảm ơn về lòng
tốt và sự cảm thông của Ông cho việc nầy của chúng tôi.
Tôi đang chờ đợi
sự trả lời nhanh chóng của Ông.
Kính thư
Thích Như Điển
Viện Chủ Chùa Viên
Giác
Sau đó có gởi thêm
một thư nữa cho Ông Đại Sứ về việc khó khăn không đủ chỗ đi chung khi về
lại Âu Châu. Tất cả đều được trả lời lịch sự, nhã nhặn và cảm thông;
nhưng sự thật thì có phần hơi khác nên phái đoàn ai cũng lo. Mà điều
khác nầy là do chị Mỹ Anh Hanisch Pfaff phát hiện. Chị nầy thường hay lo
giấy tờ Visa và vé máy bay cho phái đoàn chúng tôi khi đi xứ nầy xứ
khác. Chị ấy bảo rằng cứ gọi điện thoại cho hãng hàng không Druk Air ở
Bangkok cũng như Thimphu hoài mà mỗi ngày chỉ được trả lời một vài tiếng
và không đâu vào đâu cả. Thà rằng họ nói ngay từ đầu là nước chúng tôi
chỉ có một chiếc máy bay thôi, mà máy bay lại hết chỗ cho nên quý Ngài
không có cách nào khác hết. Hoặc cho biết rằng ngoài hàng không Druk của
Bhutan không có hãng hàng không nào hạ cánh nơi nầy cả. Cứ nói như vậy
cho ai nấy được yên tâm đi. Ở đây thì hoàn toàn trống vắng cho nên ai
cũng lo.
Đến ngày 5.4.2001
nhận được một thư của chính ông Đại Sứ viết, nội dung như thế nầy:
Cơ Quan Đại Diện
Thường Trực của Chính Phủ Bhutan tại Hội Quốc Liên
Kính gởi Thượng
Tọa Thích Như Điển
Viện Chủ Chùa Viên
Giác
Karlsruherstr.6
30519 Hannover
Kính thưa Ngài,
Tôi hân hạnh báo
tin cho Ngài biết rằng Hoàng Gia Bhutan sẵn sàng nghênh tiếp sự thăm
viếng của Ngài và phái đoàn của Ngài gồm có Tăng, Ni, đệ tử của Ngài.
Chiếu khán cho
những thành viên sẽ được cấp tại phi trường.
Ngoài ra Hoàng Gia
sẽ cung cấp cho Ngài mọi phương tiện cũng như sự di chuyển trong thời
gian Ngài ở tại Bhutan. Bộ Ngoại Giao sẽ can thiệp với hãng máy bay của
quốc gia để xem cách nào tốt nhất và giúp Ngài về việc vé cho cả nhóm.
Được biết rằng tháng 4 và tháng 5 là mùa du lịch nở rộ tại Bhutan.
Ngoài ra trong
tương lai mọi sự liên lạc cho việc thăm viếng nầy xin vui lòng gởi đến
Chánh Văn Phòng của Bộ Ngoại Giao ở Thimphu với số Fax 975-2-323056.
Tôi cầu chúc cho
Ngài và phái đoàn hài lòng khi ở tại Quốc thổ của chúng tôi.
Trân trọng kính
chào.
Bap Kesang
Đại Sứ Thường
Trực
Bản sao gởi đến
Chánh Văn Phòng Bộ Ngoại Giao tại Thimphu.
Khi ngoại giao mà
nhận được một loại thư như thế quả là: được lời như cởi tấm lòng là thế
đấy. Sau khi nhận được văn thư ấy tôi rất mừng có báo cho tất cả thành
viên biết; nhưng đồng thời cũng báo cho cả đoàn biết về giá vé máy bay
đi về. Ai cũng thất kinh; nhưng bù vào đó ở tại Bhutan 10 ngày không tốn
đồng nào cũng có phần an ủi.
Đến ngày 14 tháng
4 năm 2001 nghĩa là cách ngày đi còn có mấy ngày nữa mà cũng có 3 vị
không đi. Lý do là Bác Phát bị bịnh. Cô Tuệ Đàm Nghiêm bận thi và cô Từ
Khánh lý do bất khả kháng khác. Do vậy tôi đã đề nghị Hạnh Định nên đi,
để làm thị giả cho tôi cũng như giúp đoàn quay phim và chụp hình. Cuối
cùng thì Chú được đi ngoài dự định của Chú.
Ở Đời hay Đạo gì
cũng thế có những cái xảy ra rất bất ngờ mà ai cũng không hay được. Lúc
ấy ta chỉ nói hên quá, may quá v.v... nhưng kết quả bất ngờ đó là do bao
nhiêu sự bất ngờ khác đã huân tập lâu rồi, bây giờ mới thành tựu như vậy
đó.
Đây là những
nguyên nhân xa và gần để rồi cuối cùng phái đoàn chúng tôi cũng đã đến
Bhutan vào ngày 24 tháng 4 từ Bangkok. Riêng việc thăm chùa Việt Nam tại
Bangkok thì tôi đã có dịp viết trong báo Viên Giác số 123 tháng 6 năm
2001 với tiểu đề là "Mây Trắng Chập Chùng". Quý độc giả xem sẽ hiểu
thêm. Nơi quyển sách nầy chỉ dành riêng viết về Bhutan; cho nên tôi
không lặp lại những gì xảy ra tại Thái Lan nữa.
----
♣----
Mục Lục
►
Chương I
►Chương
II
Chương III
►Chương
IV
►Chương
V
►Chương
VI
Chương VII
►Chương
VIII
►Chương
IX
----
♣----
Trình bày: Anna
Cập nhật: 1/6/2005