Bhutan có gì lạ?
Thích Như Điển
◄♣►
Chương I.
Phần Tổng Quát
Nhiều
người trong chúng ta chẳng biết Bhutan nằm ở đâu, vì lẽ ít nghe nói đến.
Ngay cả người Đức, vì trong hiện tại chính phủ Đức vẫn chưa có ngoại
giao chính thức với Bhutan.
Bhutan có 300 cây
số chiều dài; 150 cây số chiều rộng. Diện tích 46.500 cây số vuông. Phía
Tây Bắc giáp Tây Tạng. Phía Đông giáp Ấn Độ. Phía Nam giáp Pradesch
thuộc Ấn Độ. Phía Bắc giáp Sikkim. Nhìn toàn diện Bhutan có 90% là núi
và ở độ cao từ 1.100 mét cho đến 3.000 mét. Có nơi núi cao hơn nằm ở
phía Hy Mã Lạp Sơn chạy dọc theo biên giới Ấn Độ.
Khí hậu ở nước nầy
cũng giống như Florida của Mỹ hay Cairo của Ai Cập. Phía Nam khí hậu
giống như các nước khác tại Á Châu. Phía cao nơi gần Hy Mã Lạp Sơn có
nhiều tuyết. Nhiệt độ trung bình ở phía Nam có 15 độ C về đông và 30 độ
C về mùa hè. Tại Paro về mùa đông thường -5 độ C và vào tháng bảy độ 30
độ C. Mỗi năm như vậy lượng mưa trung bình là 350 ml. Núi cao thường 0
độ C vào mùa đông và 10 độ C vào mùa hè.
Những núi cao
tuyết hay rơi thường và ở những độ cao 2.400 mét đến 3.000 mét tuyết hay
giữ lại cho đến tháng 3 mới tan. Mùa mưa thường hay xảy ra suốt miền Tây
Nam từ đầu tháng 6 đến tháng 9. Có những đợt mưa cao nhất thế giới hằng
năm là 9m50. Có lúc nước mưa cao dâng lên chừng 6 tầng lầu.
Bhutan tiếng
Sanskrit gọi là Bhotant có nghĩa là miền cuối cùng của Tây Tạng. Cũng có
nghĩa khác là vùng đất rất cao. Người Anh gọi là Bootan hoặc Bhotan. Xứ
nầy cũng được gọi là xứ của rồng. Tôi những tưởng chỉ có Trung Hoa và
Việt Nam lấy rồng làm biểu hiệu mà ngay cả Đại Hàn và Nhật Bản cũng ảnh
hưởng. Ngày nay lại phát hiện thêm xứ Bhutan nữa. Trên các nóc chùa; nơi
cung điện của Vua hay nơi những ghế ngồi trong cung điện đều có chạm
hình những con rồng chầu hai bên. Rồng đối với các dân tộc Á Châu là
những biểu tượng linh thiêng, sống động giúp vua cứu đời; nhưng ngược
lại con rồng ở Âu Châu và theo tinh thần của Thánh Kinh thì ngược lại.
Cũng như chữ Vạn đối với người Phật Tử là một dấu hiệu thiêng liêng;
nhưng đối với một số người Đức thì họ rất sợ. Vì liên tưởng đến chế độ
độc tài của Hitler. Đúng là khó nói và khó diễn tả.
Bắt đầu từ thế kỷ
thứ 13 người dân mới đến ở tại xứ nầy. Như vậy cũng có thể nói là khi
dân tộc Việt Nam mình đã đến triều Trần, nghĩa là đã có khoa thi Tam
Giáo đỗ Tiến Sĩ ra làm quan rồi, người Bhutan mới lập quốc. Dĩ nhiên
trước đó họ cũng đã có những người địa phương sống khắp đó đây tại lãnh
thổ nầy; nhưng đến thế kỷ thứ 13 mới chính thức có tên gọi. Tôn giáo
chính của Bhutan là Drukpa thuộc Đại Thừa Phật Giáo. Ở đây hầu như không
có một tôn giáo ngoại lai nào bành trướng được ngay cả Hồi Giáo, Ấn Độ
Giáo hay Thiên Chúa Giáo.
Dân số Bhutan
thống kê vào năm 1994 là 600.000 người với 43% dưới 15 tuổi. Mức độ phát
triển là 3,1% mỗi năm. Đây là mức độ cao nhất của thế giới. Do vậy đến
năm 2001 có thể nói Bhutan có độ 1 triệu người sống rải rác trên một
lãnh thổ như Thụy Sĩ; nhưng đa phần núi cao ở đây không trồng trọt được.
Thật ra trẻ em chết rất nhiều vì phương tiện y học còn thô sơ. Nếu
phương tiện y học tốt thì sẽ bảo đảm được sức khỏe cho dân chúng tại đây
rất nhiều.
Người Bhutan gồm
có những dân tộc chính sinh sống tại đó. Đầu tiên là nhóm dân thiểu số,
gọi là Sharchops; họ sống ở miền Đông Bhutan. Đây là cư dân căn bản của
Bhutan; họ là những người được pha trộn giữa Ấn Độ và Mông Cổ. Không rõ
di dân từ khi nào đến dãy đất nầy.
Giống người thứ
hai gọi là Lhotshampa. Đây là người Népal bắt đầu lập nghiệp tại Bhutan
vào cuối thế kỷ thứ 19 và họ vẫn dùng tiếng Népal để giao dịch với nhau.
Những người Népal nầy thường theo Ấn Độ giáo và có một số ít theo Hồi
Giáo.
Nhóm thứ ba được
gọi là Ngalong. Nguồn gốc giống người nầy đến từ Tây Tạng và họ đến
Bhutan vào thế kỷ thứ 9. Họ ở về phía Tây, giáp giới với Tây Tạng. Họ
theo Phật Giáo và cho đến ngày nay họ vẫn còn nói tiếng Tây Tạng.
Như vậy nước
Bhutan cũng tương đối giống nước Thụy Sĩ. Vì lẽ Thụy Sĩ có hơn 60% dân
số nói tiếng Đức. Có 15% nói tiếng Pháp; 15% nói tiếng Ý và 10% còn lại
nói tiếng địa phương. Vì lẽ Thụy Sĩ cũng là một quốc gia mới độc lập sau
nầy; cho nên quốc gia họ phải có nhiều tiếng nói và nhiều dân tộc đến
sống nơi đó. Có lẽ cũng vì vị trí địa lý của Bhutan và Thụy Sĩ giống
nhau; cho nên thể chế chính trị của Bhutan trong hiện tại họ cũng rập
khuôn theo Thụy Sĩ. Mặc dầu tại Thụy Sĩ không còn vua nữa; nhưng địa vị
Tổng Thống của Thụy Sĩ cũng chỉ có tính cách tượng trưng; trong khi đó
Vua Bhutan vẫn còn một thực quyền đối với Quốc Hội và dân chúng.
Hội Đồng Quốc Gia
của Bhutan có 154 Dân Biểu và chia ra làm 3 loại khác nhau. Loại một gồm
105 vị Dân Biểu đại diện cho 20 quận và đều được bầu trong 3 năm một
lần. Loại thứ hai gồm đại diện cho 12 Tu viện Phật Giáo và cũng duy trì
trong vòng 3 năm. Nhóm thứ ba từ nhân dân và do nhà Vua bổ nhiệm. Gồm 20
viên chức Quận, Bộ Trưởng, Thứ Trưởng của chính phủ hoặc những nhân viên
cao hơn để đảm đương việc nước.
Những người được
bầu tuổi từ 25 trở đi. Nhà Vua trong hiện tại đã thay đổi hệ thống hành
chánh nầy và đã được 2/3 dân chúng đồng ý. Vào tháng 6 năm 1998 nhà Vua
cũng đã ban hành Hiến Pháp, cải thiện chính trị và lấy việc bỏ phiếu của
dân bầu làm gốc.
Nhưng đặc biệt một
điều là cho đến nay ở Bhutan vẫn chưa có đảng đối lập, mà họ chỉ có một
đảng duy nhất. Đó là đảng của quốc gia Bhutan mà thôi. Không biết mai
sau đây tình thế thay đổi ra sao thì chưa biết; nhưng trong hiện tại họ
sống rất là yên bình dưới sự lãnh đạo của Vua và Hội Đồng Cố Vấn của
Hoàng Gia cũng như các Bộ Trưởng và Dân Biểu.
Hội Đồng Cố Vấn
của Hoàng Gia thành lập vào năm 1965 để cố vấn cho Vua cũng như cho Hội
Đồng Bộ Trưởng trong những vấn đề quan trọng. Những vị nầy cố vấn cả
những vấn đề chính trị trong Quốc Hội nữa. Vị Chủ Tịch của Hội Đồng nầy
do Vua bổ nhiệm. Có tất cả là 6 vị; trong đó có 2 vị là Tu sĩ. Một trong
2 vị Tu sĩ nầy, phái đoàn chúng tôi đã gặp, sẽ đề cập tỉ mỉ hơn vào
những chương sau.
Hội Đồng Bộ Trưởng
của Bhutan trong hiện tại có tất cả là 8 Bộ. Nếu kể luôn Hội Đồng Cố Vấn
của Hoàng Gia nữa, có nghĩa là hết thảy 9 Bộ. Gồm những Bộ như sau:
1. Bộ Thương Mại
Kỹ Nghệ
2. Bộ Y Tế
3. Bộ Giáo Dục
4. Bộ Tài Chánh
5. Bộ Ngoại Giao
6. Bộ Thiết Kế Đồ
Án
7. Bộ Nông Nghiệp,
và
8. Bộ Giao
Thương.
Năm 1998 nhà Vua
đã chỉ định để thành lập Hội Đồng Bộ Trưởng nầy. Ông Bộ Trưởng Ngoại
Giao lâu đời nhất thế giới là ông Lompo Dawa Tsering. Ông ta đã là Bộ
Trưởng kể từ năm 1972 đến 1998. Kể từ năm 1998 vị Bộ Trưởng Ngoại Giao
được chọn lựa bởi Hội Đồng Bộ Trưởng để điều hành việc ngoại giao với
các nước bên ngoài.
Trên thực tế, cho
đến hôm nay (2001) Bhutan chỉ có ngoại giao chính trị với 18 nước; đa
phần tại Á Châu. Đặc biệt những nước Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch, Na
Uy, Phần Lan có ngoại giao rất sâu rộng với xứ Bhutan. Vì lẽ các xứ Bắc
Âu đang chủ trương bảo vệ môi sinh hầu như hoàn hảo tại Âu Châu nầy và
Bhutan cũng lại là nước tại Á Châu duy nhất chủ trương bảo vệ môi sinh
tuyệt đối như thế. Cho nên họ có ngoại giao với nhau là phải. Ngoài ra
Bhutan cũng được những nước Bắc Âu nầy viện trợ hằng năm để bảo vệ môi
sinh.
Đặc biệt tại các
khách sạn hay ngân hàng tiền Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển và Phần Lan được
nhân viên ở đây biết đến nhiều hơn là tiền Đức, Anh, Pháp, Mỹ v.v... Quả
thật ở trong đời có nhiều việc khó tin, mà có thật. Trong khi đó ở những
xứ khác thì đồng tiền Bắc Âu ít được nhắc đến nhiều hơn là những đồng
tiền thông dụng tại Âu Châu hay Mỹ Châu. Ngay như tại Đức nhiều lúc nhân
viên ngân hàng không phân biệt được tiền nào là tiền của Na Uy và tiền
nào là của Đan Mạch hay Thụy Điển; nếu họ không nhìn kỹ vào những ghi
chú bên cạnh. Rồi đây 15 quốc gia Âu Châu sẽ xử dụng chung một đồng
tiền; nhưng tiếng nói và phong tục tập quán thì xứ nào họ giữ của xứ ấy.
Có lẽ cũng sẽ tiện lợi dần dần. Vì thế giới càng ngày càng gần gũi với
nhau hơn.
Năm 1994 Bhutan
nhận được 77 triệu Mỹ kim tiền ngoại viện; đa phần là của Ấn Độ, Nhật
Bản và các nước Bắc Âu. Nếu gặp những người ngoại quốc tại xứ nầy thì đa
phần là người Ấn Độ, Nhật Bản và Bắc Âu chứ người Đức rất ít. Vì lẽ mỗi
năm Bhutan chỉ nhận từ 7 đến 8.000 người mà thôi. Mỗi người vào lãnh thổ
nầy mỗi ngày phải đóng 200 Mỹ kim để trả cho tiền ăn ở cũng như di
chuyển. Trong số tiền nầy có 35% sung vào quỹ của quốc gia để lo cho vấn
đề sức khỏe và giáo dục của dân chúng.
Nhà vua Jigme
Dorji Wangchuck đã băng hà năm 1972; nhưng chính nhà vua nầy lần đầu
tiên mới mở cửa cho người ngoại quốc vào Bhutan năm 1960. Nhóm đầu tiên
du lịch vào Bhutan là năm 1974 do ông Lars Eric Lindblad tổ chức. Nhà
vua đã khuyến khích chính phủ hạn chế việc du lịch và đánh tiền thuế cao
vào người du lịch. Lúc ấy mỗi năm chỉ vào được Bhutan độ 200 người. Mỗi
nhóm có 6 người hoặc nhiều hơn. Họ lúc ấy phải đóng 130 Mỹ kim mỗi ngày.
Thời gian ấy chưa có phi trường; nên đa phần khách du lịch phải đến biên
giới Ấn Độ, rồi từ đó mới đi bộ, đi ngựa hoặc có đoạn đường có thể xử
dụng xe Bus để đi vào Bhutan. Riêng phái đoàn của chúng tôi 19 người
không phải đóng một đô-la nào trong suốt 10 ngày ở tại Bhutan. Có lẽ đây
cũng là một phái đoàn đặc biệt, sẽ trình bày ở những chương sau.
Phi trường Paro
nơi chúng tôi đến, được xây dựng năm 1983 và đến năm 1990 Bộ Trưởng Bộ
Giao Thông Ấn Độ mới sang đây dự lễ khánh thành và giúp đỡ tài chánh và
kể từ đó phi trường Paro mới được mở rộng ra. Druk Air lúc mới bắt đầu
bay chỉ có 72 hành khách. Nhưng trong hiện tại ở Bhutan cũng mới chỉ có
một chiếc máy bay, một phi trường và một phi đạo. Cho nên tôi gọi là
Bhutan khó đến mà cũng khó về là vậy; nếu máy bay có sự cố.
Druk Air chỉ bay
từ Paro qua Dhaka, qua Bangkok. Trở về Calcutta và Paro. Đó là đường bay
thứ nhất. Đường bay thứ hai từ Paro đi Kathmandu rồi qua Delhi rồi trở
về lại Paro. Tuy là bay hai đường bay qua 4 nước; nhưng chỉ có một chiếc
máy bay và một phi hành đoàn chưa đến 10 người. Quả là một hãng hàng
không rất khiêm nhường nhất nhì trên thế giới. Do vậy mà đến Bhutan rồi
mới hiểu Bhutan là gì?
Nhà vua trong hiện
tại tên là Jigme Singye Wangchuck. Lúc Vua 16 tuổi thì Vua cha băng hà.
Vua cha tên là Jigme Dorji Wangchuck. Ông ta mất vào năm 1972 khi nhà
vua mất mới 44 tuổi. Nhà vua nầy cũng là một vị vua cải cách của xứ
Bhutan. Chính ông ta đã cho mở cửa để đón khách nước ngoài vào từ thập
niên 60. Còn trước đó thì hoàn toàn không có.
Nhà vua trong hiện
tại cũng giống như cha mình được học ở Ấn Độ và Anh Quốc. Đức Vua cũng
đã được tốt nghiệp trường Đại Học của Bhutan ở Paro. Ông ta cũng tiếp
tục con đường giáo dục, kinh tế và ngoại giao giống như vua cha đã làm.
Đó là việc bảo vệ môi sinh tốt cũng như giữ mức dân số nhỏ như hiện nay.
Mức sống kinh tế tại Bhutan tuy không giàu như các nước Tây phương;
nhưng dân chúng ở đây sống trong một quốc gia rất hạnh phúc.
Năm 1974 sau khi
phong vương, nhà vua nầy chủ trương mở cửa cho Bhutan và đây là lần đầu
tiên có các ký giả ngoại quốc vào quốc gia nầy. Có khoảng 287 vị khách
được mời lúc đó. Vì lẽ đó cho nên những khách sạn cũng đã phải mọc lên
để cung ứng cho nhu cầu nầy và sau đó dùng để đón khách du lịch.
Nhà vua cũng đã
hiện đại hóa nền giáo dục và nhất là hệ thống y tế của quốc gia cùng với
vai trò phát triển cộng đồng của người Bhutan. Ông ta có thể nói là một
Kiến trúc sư cho việc bảo vệ môi sinh của Bhutan. Ông ta cũng tiếp tục
phát triển những thành quả tốt đẹp mà vua cha đã để lại, giữ gìn truyền
thống văn hóa cổ truyền và chủ trương một quốc gia, một dân tộc.
Năm 1988 HoàngTộc
đã làm lễ kết hôn cho nhà vua cùng với 4 chị em ruột của Ashi Dorji
Wangmo, Ashi Tshering Pem, Ashi Tshering Yangdön và Ashi Sangay Choden.
Nhà Vua và các Hoàng Hậu hiện có 5 Thái Tử và 5 Công Chúa, kể cả Thái Tử
sắp nối ngôi.
Đây cũng là một
điều ngoại lệ và cũng rất hiếm hoi cho các vị vua trên thế giới; mà cũng
có thể nói rằng đây là phước đức của dòng họ Ashi. Cả 4 chị em ruột đều
lấy một chồng và người chồng ấy là Vua của xứ Bhutan. Cũng có thể vì để
tránh việc tranh giành ngôi thứ với nhau và cũng để khỏi có sự lật đổ
một vương triều nên Hoàng tộc của Bhutan trong hiện tại đã chọn giải
pháp như thế.
Tốt xấu, đúng sai
hãy để cho hậu thế sẽ ghi vào sử sách; riêng về phương diện phước đức
thì phải thấy rằng nếu không gây nhân bố thí, giúp đời ở kiếp trước, thì
kiếp nầy khó có thể làm Vua và làm Hoàng Hậu.
Sau đây là biểu đồ
gia phả của Hoàng Hậu cũng như việc kết hôn với nhà Vua. ( Xem trang 26
& 27)
Đồng thời cũng nên
biết qua về hình ảnh của nhà Vua và 4 Hoàng Hậu cũng như cha mẹ của
Hoàng Hậu.
Scanne:
(Trang 20C) và (Trang 20D)
Vua và 4
Hoàng Hậu
Cha Mẹ của Hoàng
Hậu
Đến thế kỷ thứ 16
thì Bhutan chia ra nhiều địa phương khác nhau và đây cũng là cơ hội để
năm 1644 quân Mông Cổ và Tây Tạng tấn công chiếm Bhutan. Vào năm
1644-1647 Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ V đã ngự giá đến Paro và năm 1648-1649
Tây Tạng đã chiếm trọn Bhutan. Ông Shabdrung Ngawang Namgyal đã chống
lại Tây Tạng và đã thành công năm 1655. Ông ta sinh vào cuối thế kỷ thứ
16 (1594) và đến năm 1651 thì từ trần. Cuộc chiến mà ông đã lãnh đạo để
chống lại Tây Tạng đã thành công rồi sau 4 năm ông mất. Do vậy hình ảnh
của ông được xem như là một vị Thánh quan trọng của Bhutan. Hầu như chùa
nào cũng có thờ.
Hình hoặc tượng
của ông ta ngồi, đội mũ đỏ, có râu dài, mặc y áo nhà tu và trên tay có
cầm một bình nước cam lồ. Người Bhutan cũng thờ lạy ông như là một vị Bồ
Tát.
Đến năm 1705 thì
Je Khenpo chết. Từ thân thể của ông có 3 tia sáng xuất hiện và điều ấy
báo tin rằng sẽ tái sinh ra 3 hình thức khác nhau để lãnh đạo quốc gia.
Thời gian yên bình nầy kéo dài chừng 200 năm, sau đó thì có nội chiến.
Vì vậy cho nên năm 1729-1730 Tây Tạng đã lợi dụng sự bất ổn định của
Bhutan nên đã xâm nhập lần thứ 3 và lần nầy người Tây Tạng cũng thua
phải kéo binh về nước.
Tuy rằng kinh điển
Phật Giáo cho đến ngày nay người Bhutan vẫn còn dùng tiếng Tây Tạng để
tụng đọc và hành trì; nhưng hình thức cũng có đôi phần khác với Tây
Tạng. Vì lẽ phong tục cũng như truyền thống và nghi lễ có nhiều điểm
không giống nhau.
Có lẽ đau đớn sau
3 lần bị chiếm đóng, cho nên người Bhutan không thích người Tây Tạng
mấy. Cũng giống như người Đại Hàn không thích người Nhật vậy. Do vậy cái
gì không đúng hay xấu xa, người Bhutan thường hay nói: Tại sao giống
người Tây Tạng quá vậy.
Dân tộc và đất
nước Việt Nam của chúng ta cũng đã bị người Trung Hoa đô hộ 3 lần. Bị
người Pháp, người Nhật mỗi xứ một lần. Mỗi lần như vậy cả hằng ngàn năm,
hàng trăm năm hay mấy chục năm; nhưng người Việt Nam phóng khoáng hơn;
không trả thù khi kẻ đến xâm lăng bị thua. Sau đó thì giao hảo tốt đẹp
cũng như tay bắt mặt mừng, trao đổi văn hóa, kinh tế, chính trị, thương
mại với nhau ngay cả những nước cựu thù. Còn Bhutan bị Tây Tạng chiếm
tổng cộng 3 lần chưa tới 30 năm mà mối thù truyền kiếp ấy vẫn còn dai
dẳng nơi lòng người Bhutan cho đến ngày hôm nay. Mặc dầu cả 2 nước đều
là Phật Giáo; mà Phật Giáo của Bhutan ảnh hưởng không ít bởi Phật Giáo
của Tây Tạng.
Hầu như tất cả
những chùa của Bhutan đều thờ hình hoặc tượng của Ngài Padmasambhava.
Ngài được xem như là một vị Phật thứ 2 sau Đức Thích Ca Mâu Ni đối với
người Bhutan. Chữ Padmasambhava có nghĩa là Liên Hoa Sanh. Có nghĩa là
Ngài hóa sanh từ hoa sen. Ngài xuất thân từ Ấn Độ. Năm 746 Ngài đã dùng
thần thông để bay qua Bhutan, Sikkim và Tây Tạng để xiển dương Phật Pháp
nơi đây. Do vậy mà cả 3 nước nầy đều thờ hình ảnh của Ngài rất trang
trọng.
Ngài cũng được
hiểu như một biểu tượng Đại Sư của Mật Giáo; nên gọi là Je Khenpo. Có
nơi cũng gọi là Greru Rimpoche. Hình hoặc tượng của Ngài tay mặt cầm hoa
sen; tay trái cầm bình nước cam lồ. Ngài mặc áo đỏ đắp y vàng; đầu đội
mũ đỏ viền xanh, dưới hình thức là một Tăng Sĩ. Vị nầy sau đó được đầu
thai dưới nhiều hình thức khác nhau; có lúc địa vị của Ngài còn cao hơn
cả vương quyền của Vua Bhutan nữa. Do vậy ở đầu thế kỷ thứ 20 mới có sự
tranh chấp và tái sanh của Je Khenpo bị giết để chứng tỏ thế quyền cao
hơn đạo giáo và vị Je Khenpo tái sanh tiếp theo bây giờ hiện đang ở tại
Ấn Độ.
Ấn Độ là một quốc
gia nơi phát sanh ra nhiều bậc giác ngộ, nhiều vĩ nhân trên thế giới;
nhưng đồng thời Ấn Độ cũng là nơi tranh chấp nhiều giai cấp và nhiều hóa
thân, để rồi mãi cho đến bao giờ Ấn Độ cũng còn nằm trong sự huyền bí,
như Hy Mã Lạp Sơn cho đến bao đời cũng chẳng có ai có thể biết được
trong đó có những gì?
Vị vua của Bhutan
có liên hệ với Anh Quốc tên là Ugyen Wangchuck. Ông ta lên ngôi ngày
17.12.1907. Có lẽ vì lúc ấy do sự hiện diện của người Anh tại Ấn Độ; nên
người Anh cũng muốn bành trướng thế lực của mình qua các xứ lân cận của
Ấn Độ. Cũng vì lẽ Bhutan là một xứ núi non rất hiểm trở cho nên người
Anh, ngay cả người Tây Tạng và Trung Quốc cũng đã chẳng thành công trong
giấc mộng xâm lăng của mình vậy.
Về đạo Thiên Chúa
hoàn toàn không có ảnh hưởng gì tại xứ Bhutan nầy. Mặc dầu năm 1627
nghĩa là cách đây 400 năm về trước có Giáo sĩ Bồ Đào Nha dòng Jesuit tên
là Cacella và Cabral, họ đến từ Calcutta của Ấn Độ; nhưng sau 400 năm
tại đây hầu như không có một nhà thờ và không có một người nào theo đạo
Thiên Chúa giáo. Ngay cả Nhật Bản, mặc dầu các Giáo sĩ người Tây phương
cũng đã đến đây vào thế kỷ thứ 16, 17 và cho đến nay sau 400 năm truyền
giáo họ chỉ có con số tín hữu rất khiêm nhường là 0,001% so với trên 100
triệu dân số của Nhật Bản ngày nay.
Quân đội của Anh
cũng đã tìm cách ảnh hưởng tại xứ Bhutan và Tây Tạng nên họ đã ký một
hiệp ước vào năm 1774. Đây là thời kỳ mà người Âu Châu đi tìm các thuộc
địa tại Á Châu và Mỹ Châu cũng như Phi Châu. Tuy nhiên với truyền thống
lâu đời của Phật Giáo mà người dân đã hấp thụ; nên không thể một sớm một
chiều mà có thể thay đổi tín ngưỡng của dân tộc họ cả hằng ngàn năm nay.
Phật Giáo giữ một
vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của dân chúng.
Người Népal và người Ấn Độ ở Bhutan thì theo Hindu. Có cả đạo Bon từ Tây
Tạng truyền sang đang có mặt tại những vùng thuộc Hy Mã Lạp Sơn. Những
vị Tu sĩ của Bhutan đang đóng vai trò chính yếu trong đời sống cộng
đồng. Con nhỏ của người Bhutan lúc 10 tuổi hầu như được đưa vào ở Tu
viện để học kinh và tu hành. Bây giờ thì truyền thống nầy không còn bị
bắt buộc nữa. Tuy nhiên tôn giáo của quốc gia là Drukpa Kagyu là một
nhánh của Mật Giáo, giống như Mật Giáo của Tây Tạng.
Trong Đạo Phật
không phải là một tôn giáo còn tin Thượng Đế; nhưng Đạo Phật đã lấy hệ
thống triết học và đạo đức học để răn dạy con người; nên đã ảnh hưởng
rất sâu đậm trong quần chúng cũng như vua chúa. Phật Giáo cũng đã giải
thích cuộc đời là vô thường, thế gian là giả hợp qua những bức tranh lụa
của Phật Giáo nhằm chuyển hóa những biểu tượng nầy vào cuộc sống của mọi
người, để ý thức được thế nào là sự hiện hữu của một kiếp nhân sinh vậy.
Đời sống chính trị
tại Bhutan cũng như chính sách của chính phủ bị ảnh hưởng về Phật Giáo
rất nhiều; nên đã bảo vệ thiên nhiên một cách toàn hảo và giữ lại những
truyền thống tốt đẹp tự ngàn xưa. Việc bảo vệ thiên nhiên và bảo vệ văn
hóa là hệ thống chính trị của Bhutan. Vì thế cho nên năm 1995 khi Quốc
Hội họp và đã biểu quyết là giữ lại 60% rừng như xưa. Ai chặt cây bừa
bãi sẽ bị luật pháp nghiêm trị.
Năm 1991 chính phủ
có thành lập một quỹ bảo vệ môi sinh để duy trì những hoạt động nầy.
Được bảo trợ bởi WWF (Tổ chức bảo vệ môi trường), gồm các nước như Thụy
Sĩ, Hòa Lan, Na Uy và Phần Lan giúp đỡ. Quỹ nầy hiện có 25 triệu Mỹ kim
để lo bảo vệ môi trường cho dân chúng Bhutan.
Nước Bhutan là một
nước có môi trường thiên nhiên rất tốt. Rừng rậm vẫn còn nguyên vẹn. Vì
dân số càng ngày càng tăng cho nên chính phủ đã ra lệnh cần phải bảo vệ
môi sinh nhiều hơn nữa. Chính vì rừng còn nguyên thủy cho nên có nhiều
loại cây và hoa quý vẫn còn tồn tại dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn nầy. Có
nhiều cây là dược thảo và theo sự kiểm kê của Sở Kiểm Lâm có đến 5.000
loại cây và hoa khác nhau đang có mặt tại rừng núi Bhutan nầy. Cũng vì
thiên nhiên còn tốt đẹp cho nên những động vật như khỉ, voi, báo tuyết
vẫn còn hiện diện nơi đây. Vì có nơi nương tựa.
Do từ những lý do
bảo vệ môi sinh một cách chặt chẽ có hệ thống như trên mà nhiều người đã
quả quyết rằng: Nếu trong tương lai thế giới nầy có thể sụp đổ; nhưng xứ
Bhutan vẫn còn là trong ý nghĩa nầy vậy.
Đời sống của người
dân tại Bhutan rất bình thường. Năm 1995 theo thống kê, bình quân đầu
người mỗi năm là 470 US$. Đến năm 2001 có lẽ tăng thêm chút đỉnh. Tuyệt
nhiên không nhờ vào lượng khách du lịch tới lui Bhutan mà đa phần 80%
dân số sống về nghề nông và họ cũng không có tiền mặt nhiều nơi mỗi cá
nhân.
Chính phủ xuất
cảng 25% tiền điện và than, gỗ, xi-măng. Đây là những nguồn cung ứng
chính cho sự sinh hoạt của cơ quan nhà nước và nhân dân. Ngoài ra Bhutan
cũng đã cung ứng 457 loại nấm khác nhau cho ngoại quốc. Nghe đâu Nhật
Bản thường mua nấm Suitake của Bhutan. Lý do là tại Bhutan có rừng nhiều
và rừng còn ở dạng nguyên thủy. Cho nên những loại nấm xuất hiện ở đây
rất được ngoại quốc ưa chuộng. Ngoài ra cây sả ép ra tinh dầu cũng đem
xuất cảng ra các nước ngoài.
Trung bình cứ 100
người dân Bhutan như thế có 20 người làm Tăng Sĩ và đâu đâu cũng thấy
chùa. Khắp nơi đều đặt dưới sự kiểm soát của hệ phái Je Khenpo tức hóa
thân của Ngài Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) và ảnh hưởng rất mạnh vào
đời sống của mọi người dân. Nhìn vào trình độ giáo dục của Tu viện tương
đối cao so với đời sống thường nhật của dân chúng. Vì họ phải lam lũ làm
ăn, ít có người đỗ đạt cao. Nếu có, đa phần xuất thân từ chùa chiền, tu
viện. Điều nầy cũng dễ hiểu, ở những thế kỷ trước tại Việt Nam hay Trung
Quốc và ngay cả Nhật Bản những danh Tăng, những nhà giáo dục đều xuất
thân từ cửa chùa. Nơi ấy có đầy đủ điều kiện hơn, có thể đời sống tại đó
kinh tế không khá lắm; nhưng đời sống tâm linh và đặc biệt là giáo dục
phát triển rất mạnh.
Về việc giáo dục
phổ thông cho quần chúng cho đến năm 1950 vẫn do các Tu viện nắm giữ và
cho đến ngày nay cũng thế. Tuy nhiên ai muốn học thêm ở ngoài thì phải
đến Darjeelivy. Khắp nơi người dân Bhutan đều biết đọc biết viết. Số
lượng chính xác vào năm 1984 là 28% và năm 1996 là 54%. Đa phần đường
hướng giáo dục tại đây đều rập theo khuôn mẫu của các nước phương Tây.
Về giáo dục ở cấp
bậc Đại Học thì tại Bhutan hiện chỉ có một trường dạy về y khoa và kỹ
sư. Đa phần những người trẻ được gởi ra nước ngoài để học Đại Học. Một
số không có cơ hội ra nước ngoài thì học tại Đại Học Sherubtse tại
Kanglung nằm về phía Đông của Bhutan.
Ngay như Thimpu là
thủ đô của Bhutan; nhưng tại đây hầu như không có một Đại Học nào cả.
Ngay như Vua và Hoàng Hậu đương triều cũng đã học và tốt nghiệp tại Ấn
Độ cũng như Anh Quốc; nên nói tiếng Anh rất thông suốt. Các vị Bộ Trưởng
của Bhutan đa phần cũng được học tại Mỹ hoặc Âu Châu, cũng có một số vị
học tại Á Châu và nhìn chung những người lãnh đạo của đất nước Bhutan là
những người trí thức.
Tôi đã có dịp tiếp
xúc với các vị Tỉnh Trưởng tại địa phương Punakha cũng như vị Giám Đốc
Viện Bảo Tàng Quốc Gia tại Paro; tất cả đều dùng tiếng Anh để trao đổi.
Họ là những người rất thông thái và hiểu sâu vấn đề. Lý do là họ có
nhiều cơ hội để xuất ngoại du học và làm việc, trao đổi quan hệ ngoại
giao với ngoại quốc.
Chương thứ nhất
nầy được viết ra một cách tổng quát về đất nước Bhutan do nhu cầu chung.
Chúng tôi đã tìm nguồn tài liệu từ quyển sách du lịch nha đề là: Bhutan
của Stan Armington. Ông ta là một Kỹ sư người Mỹ đã ở Népal 20 năm và
hiện ông ta vẫn còn ở Kathmandu, thủ đô của Népal. Ông ta viết được cuốn
sách nầy vì do sự mở cửa của Bhutan từ năm 1974; nên Thầy Thông Trí đã
cộng tác với tôi dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ một số mục cần thiết để
giới thiệu đến quý độc giả xa gần.
Ngoài ra nhân
chuyến viếng thăm Hannover và Hội Chợ Thế Giới vào ngày 27.7.2000, Hoàng
Hậu Ashi Dorji Wangmo Wangchuck đã tặng cho Hạnh Hảo Frank một quyển
sách nhan đề: of Rainbows and Clouds. Trong sách nầy có nhiều hình ảnh
rất đặc biệt và tôi đã xử dụng phổ hệ cũng như một vài hình ảnh đặc biệt
đó. Chỉ trong Chương nầy mà thôi. Còn những Chương sau bài viết và hình
ảnh đều do chính tác giả hay những người cận sự chụp lại và làm nên tác
phẩm nầy.
Mục đích duy nhất
của việc ghi lại tác phẩm nầy là để tìm hiểu thêm về một quốc gia theo
Phật Giáo tại Á Châu về phong tục cũng như tập quán cũng như đề cao vấn
đề môi sinh tại Bhutan trong hiện tại. Tuyệt nhiên không có một ý gì
khác. Ngoài ra nếu những người Việt Nam có cơ hội đọc được sách nầy cũng
sẽ có một số ý niệm tổng quát về một quốc gia, mà biết đâu trong tương
lai họ sẽ có cơ hội được đến thăm xứ sở huyền bí nầy.
----
♣----
Mục Lục
►
Chương I
►Chương
II
Chương III
►Chương
IV
►Chương
V
►Chương
VI
Chương VII
►Chương
VIII
►Chương
IX
----
♣----
Trình bày: Anna
Cập nhật: 1/6/2005