Lời ngỏ
Từ ngày 11 đến ngày
11 tháng 6 năm 2008 này, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ viếng thăm
Úc Châu, đây là chuyến thăm Úc lần thứ năm của Ngài để
giảng dạy Phật Pháp. Mọi người đang trông đợi sự xuất
hiện của ngài. Năm lần viếng thăm Úc trước đây đã diễn
ra vào các năm 1982, 1992, 1996, 2002, 2007 đặc biệt trong
lần viếng thăm và hoằng pháp lần thứ tư năm 2002, đã có
trên 110. 000 người trên khắp các thủ phủ như Melbourne,
Geelong, Sydney, và Canberra đến lắng nghe ngài thuyết
giảng để thay đổi và thăng hoa đời sống tâm linh của
mình. Có thể nói Đức Đạt Lai Lạt Ma là nhà hoằng pháp vĩ
đại nhất của PG trong thời hiện đại, và được xem là
người có nhiều tác phẩm Phật học được người Tây Phương
tiếp nhận và tìm đọc nhất. Tập sách nhỏ này được ấn hành
trong mùa Phật Đản năm nay, là một món quà khiêm tốn
kính dâng tặng đến Đức Đạt Lai Lạt Ma nhân chuyến viếng
thăm Úc năm nay và cũng để chia sẻ bức thông điệp từ bi
của Ngài đến với mọi người trong biển đời phiền lụy và
khổ đau này. Xin chắp tay nguyện cầu cho xứ sở Tây Tạng
sớm tìm lại được nền độc lập tự do, để mang lại hạnh
phúc ấm no cho người dân Tây Tạng và cũng để Đức Đạt Lai
Lạt Ma thứ 14 có cơ hội trở về cố hương sau nhiều thập
niên sống lưu vong ở nước ngoài.
Nam Mô A Di Đà Phật
Viết tại Tu Viện Quảng Đức,
Melbourne, Australia
Mùa Phật Đản lần thứ 2631- Đinh Hợi – 2007.
Dịch giả,
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
1. Phật sống Tây Tạng
^
Pico
Iyer (ghi chép)
Đêm Hy Mã Lạp
Sơn vang lên tiếng chó sủa. Ánh sáng lập lòe bên kia
sườn đồi. Dưới vòm trời sao, trên lối mòn tăm tối giữa
những hàng thông, một nhóm người hành hương trong y phục
tả tơi đang bước đi, miệng lẩm bẩm cầu kinh. Ngay trước
lúc rạng đông, khi những đỉnh núi tuyết ở phía sau nhuộm
màu hồng đậm, đám đông ở bên ngoài ngôi chùa Namgyal ba
tầng ở Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, trở nên yên lặng. Một
người có tướng mạo mạnh mẽ, lưng hơi khòm bước vào đưa
đôi mắt sáng nhìn khắp mọi người, khuôn mặt hoan hỷ với
nụ cười rộng không tắt trên môi. Tháp tùng theo sau ngài
là các tăng sĩ mặc áo đỏ thẫm và đầu đội mão màu vàng.
Vị mới đến đi thẳng lên điện Phật. Nơi đó, các vị phụ tá
ngồi nghiêm trang phía trước ngài. Khi mặt trời ló dạng,
tiếng tù và vang vọng cả một vùng thung lũng ở bên dưới,
Đức Đạt Lai Lạt Ma chủ trì một nghi lễ đón mừng năm mới,
năm con Rồng Đất.
Vào ngày mùng
hai Tết Losar, hội mừng xuân mới của Tây Tạng, vị Phật
sống của khoảng mười bốn triệu người về tiếp kiến công
chúng. Đến tám giờ sáng, đoàn người đến viếng thăm ngài
đứng thành một hàng dài nửa dặm dọc theo con đường núi
quanh co ở bên ngoài ngôi nhà gỗ thoáng khí của ngài ở
vùng núi. Họ là những người sơn cước phong trần trong
những chiếc mũ rộng vành, những người Tây Phương để tóc
dài, những bé gái mặc những bộ áo lụa đẹp nhất, tất cả
sáu ngàn dân làng, và hàng ngàn người khác nữa. Tiếp đó
là ba mươi người khách với y phục bám bụi đường vừa rời
khỏi Tây Tạng đứng chen chúc ở bên trong ngôi nhà. Khi
trông thấy vị lãnh tụ lưu vong của mình lần đầu tiên sau
gần ba mươi năm, họ liền oà lên khóc nức nở, rồi những
tiếng sụt sịt sau đó. Trong suốt những khoảnh khắc đó,
Tenzin Gyatso, nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của
Tây Tạng, hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm qua danh hiệu
Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, một dòng truyền thừa không gián
đoạn kể từ 597 năm qua, vẫn trầm tĩnh an nhiên.
Sau đó ngài
giải thích rằng, ở Tây Tạng lễ Losar thường được cử hành
trên sân thượng của cung điện Potala cao mười ba tầng,
với những cái bánh nướng được bày ra cho mọi người. “Mỗi
năm tôi lại thực sự lo ngại khi nhìn người ta cứ nhào
tới lấy bánh. Thứ nhất là toà nhà lâu đời có thể sụp đổ
bất cứ lúc nào và thứ hai, có thể có một người nào đó
rơi từ trên nóc nhà xuống dưới đất. Bây giờ việc đó diễn
ra ở đây lặng lẽ hơn nhiều”. Giọng nói của ngài trở nên
trầm ấm thân tình.
Từ năm 1959,
cuộc nổi dậy của người Tây Tạng chống lại những lực
lượng chiếm đóng của Trung Quốc đã đưa đến việc Đức Đạt
Lai Lạt Ma phải sống lưu vong ở Ấn Độ, nhưng tinh thần
của nền tín ngưỡng cổ truyền, có tính chất như truyện cổ
tích, vẫn còn sống mạnh mẽ ở Dharamsala này -- nơi trước
kia vốn là đồn lính của chính quyền thuộc địa Anh Quốc,
cách thủ đô New Delhi 250 cây số về hướng Bắc. Ở đây,
với một nhà tiên tri quốc gia, một lạt ma có quyền năng
làm mưa, một số y sĩ, mấy nhà chiêm tinh và một nội các
gồm bốn người, Đức Đạt Lai Lạt Ma, là hóa thân của tất
cả những gì mà ngài đã làm kể từ khi bước lên ngai sư tử
ở Lhasa vào năm lên bốn tuổi.
Nhưng dù
“Người bảo hộ xứ tuyết” (Protector of the Land of Snows)
có tất cả những nét huyền bí của vương quốc huyền diệu
mà người Tây Phương tưởng tượng lại và đặt tên là
Shangri-la, ngài vẫn là một nhà lãnh đạo trong cõi giới
trần tục này. Từ năm mười lăm tuổi ngài buộc phải lo
toan với những nhu cầu của nhân dân ngài trước những mưu
đồ đối nghịch của Bắc Kinh, Washington và New Delhi.
Tình trạng luôn luôn nóng bỏng đó đã đi tới cực điểm
trong mùa thu vừa qua khi người Tây Tạng nổi dậy ở
Lhasa, chính quyền Trung Quốc đã giết chết ba mươi hai
người, Đức Đạt Lai Lạt Ma mở cuộc họp báo lớn đầu tiên
của ngài ở Dharamsala, và Quốc Hội Hoa Kỳ nhất trí lên
án hành động của Trung Quốc. Những cuộc nổi dậy đã bộc
phát trong mấy tuần vừa qua, nhưng ngay cả trước đó, vị
tu sĩ Phật Giáo khiêm tốn này đã thấy mình không chỉ là
biểu tượng tinh thần nối kết một trăm ngàn người Tây
Tạng lưu vong với sáu triệu người vẫn sống dưới ách
thống trị của Trung Quốc mà còn là một nhân vật lãnh đạo
về chính trị cho xứ sở nữa. Ngài cười vui vẻ và nói “Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 có lẽ là người nổi tiếng nhất
trong tất cả các vị Đạt Lai lạt Ma. Nếu người Trung Hoa
đã đối xử với ngưòi Tây Tạng giống như người anh em thực
sự thì có lẽ vị Đạt lai Lạt Ma này không nổi tiếng như
vậy. Vì thế, tất cả là nhờ có người Trung Hoa”. Mắt ngài
sáng lên một cách châm biếm.
Đức Đạt Lai
Lạt Ma được xem là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, điều
hành một chính phủ lưu vong, là một tiến sĩ siêu hình
học. Nhưng có lẽ điều kỳ diệu duy nhất về ngài chính là
tính nhân bản thành thực và mạnh mẽ nơi ngài. Với phong
thái riêng, vị Phật sống qua hình ảnh quen thuộc với đôi
giầy màu nâu cùng bộ y mầu đỏ thẫm của mình, và cặp mắt
vẫn có nét tinh nghịch mà thuở ấu thời từng làm cho các
lạt ma của mình phải hốt hoảng vì tài chơi trò trốn tìm
nghịch ngợm. Ngài thích chăm sóc vườn hoa, ngắm bầy chim
rừng, sửa chữa những chiếc đồng hồ, máy thu thanh và
nhất là hành thiền tĩnh tọa. Và ngay cả đối với những kẻ
đã giết tới một triệu hai trăm ngàn người dân của ngài
và phá hủy sáu ngàn hai trăm năm mươi bốn ngôi tự viện
của Tây Tạng, ngài vẫn tha thứ cho họ. Ngài nói: “Là
những hành giả tu theo giáo lý Đại Thừa, chúng ta cầu
nguyện mỗi ngày để phát triển một loại tâm từ bi vô giới
hạn. Vì vậy không có lý do gì để nuôi dưỡng lòng thù hận
người Trung Quốc. Chúng ta hãy phát khởi đại bi tâm đối
với họ”.
Vị Phật vương
thứ mười bốn của Tây Tạng ra đời trong một gia đình nông
dân ở ngôi làng nhỏ Takster vào năm 1935. Khi ngài được
hai tuổi, một phái đoàn tăng sĩ tìm đến ngôi nhà nhỏ của
ngài do có sự xuất hiện của những dấu hiệu như: một xác
chết có vẻ như cử động, linh cảm từ hồ thiêng và những
đám mây lành, cho thấy ngài là hóa thân mới của vị thần
chủ của Tây Tạng. Hai năm sau đó, sau khi trải qua những
cuộc trắc nghiệm phức tạp, chú bé đã được một phái đoàn
gồm mấy trăm người cung thỉnh về thủ đô Lhasa. Ở đó ngài
sống xa gia đình cùng với người anh trai trong cung điện
Potala rộng lớn với một ngàn căn phòng và học một khóa
giáo lý kéo dài mười tám năm. Lên bảy tuổi, ngài tiếp
phái đoàn của Tổng Thống Mỹ Franklin Roosevelt và cầu
nguyện trước hai mươi ngàn tăng sĩ. Nhưng lúc đó ngài
vẫn là một lạt ma tí hon bình thường, thích chạy quanh
cung điện trên chiếc xe hơi đạp và đùa nghịch với các
anh em ruột của mình, Tenin Choegyal, em trai của Đức
Đạt Lai Lạt Ma nhớ lại “ Một ngày mùa hè, vào năm tôi
được bảy tuổi, mẹ tôi đưa tôi đến cung điện mùa hè
Norbulingka để thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi chúng tôi
tới nơi, ngài đang tưới nước những cây kiểng của mình,
và ngài đã chỉa ngay vòi nước vào tôi”.
Cũng trong
khoảng thời gian đó, lạt ma tí hon tinh nghịch lần đầu
tiên biểu lộ những năng khiếu về khoa học của mình. Ngài
tự học những nguyên tắc của động cơ nổ và tự sửa chữa
cái máy phát điện của Cung Điện Potala khi nào nó trục
trặc. Ngài chỉ được phép nhìn ra thế giới bên ngoài qua
tấm màn lụa của chiếc kiệu bằng vàng của mình, vì vậy
ngài dùng máy chiếu để xem những cuốn phim mà ngài thích
như loạt phim “Tarzan”, phim “Henry V, vua Anh Quốc”, và
nhất là những cuốn phim thu hình chính thủ đô Lhasa.
Ngài nhớ lại là mình thường trèo lên nóc điện Potala lấy
ống viễn vọng kính và thích thú quan sát những cư dân
của thủ đô Lhasa đang sinh hoạt trong đời sống hằng ngày
của họ.
Năm 1950, sự
cô lập của “viên ngọc như ý”(“Wish-Fulfilling Gem”) và
vương quốc miền núi của ngài bị phá hủy khi quân Trung
Quốc tấn công từ tám hướng khác nhau. Bất ngờ nhà lãnh
đạo nhỏ tuổi này phải học một khóa cấp tốc về chính trị,
để rồi đến Bắc Kinh thương thuyết với Chu Ân Lai (Zhou
Enlai) và Mao Trạch Đông (Mao Zedong). Cuối cùng, vào
tháng ba năm 1959, khi một cuộc đụng độ đẫm máu diễn ra
với ba mươi ngàn người Tây Tạng dũng mãnh vùng lên chống
lại sự cai trị hung bạo của Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt
Ma đã quyết định trốn khỏi cung điện mùa hè, hóa trang
thành một người lính thường và leo qua những rặng núi
cao nhất thế giới. Hai tuần sau, bị bệnh tiêu chảy và
ngồi trên lưng một con trâu yak, “Vị thủ lĩnh hoa sen
trắng” (“Holder of the White Lotus) đã đi vào đất Ấn Độ
như một người lưu vong cùng với tám chục ngàn người dân
Tây Tạng khác.
Kể từ đó ngài
đã phải sống với sự cố gắng giữ thăng bằng trên sợi dây
chính trị thế giới. Ngài là một vị khách của một quốc
gia muốn ngài giữ im lặng và là một kẻ địch của quốc gia
mà nhiều nước trên thế giới đang ve vãn. Không nản chí,
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tổ chức năm mươi hai khu định cư
của người Tây Tạng ở Ấn Độ và Nepal cũng như thiết lập
những viện bảo tồn nghệ thuật, kinh sách và y học truyền
thống của Tây Tạng. Trong mấy năm sau đó, ngài bắt đầu
đi vòng quanh thế giới giống như một vị Giáo Hoàng của
Phật Giáo để diễn thuyết ở Đại học Harvard, Hoa Kỳ, tiếp
kiến Đức Giáo Hoàng John Paul đệ nhị và gặp các tín đồ
PG trên khắp thế giới, dù họ là nông dân thất học hay là
diễn viên (diễn viên điện ảnh người Mỹ Richard Gere --
người bắt đầu nghiên cứu PG từ năm 1982). Ngài muốn luôn
luôn nhìn thấy những phương diện tích cực của đời sống,
ngài cảm thấy rằng sự lưu vong cũng có những mặt tốt của
nó. “Khi chúng tôi ở Tây Tạng, có những hoạt động nghi
lễ chiếm nhiều thời giờ mà thực chất không có ý nghĩa gì
nhiều. Tất cả những chuyện đó bây giờ không còn nữa. Tôi
nghĩ như vậy là tốt. Bây giờ thì không cần đến những
hình thức bên ngoài nữa”.
Nhiều người
Tây Tạng thuộc thế hệ trẻ muốn vị lãnh đạo của họ có
nhiều tính chiến đấu hơn. Họ ủng hộ đường lối bạo động,
vì họ nhận xét rằng có hơn ba ngàn tù nhân chính trị chỉ
ở riêng miền trung Tây Tạng và chính quyền Trung Quốc đã
đưa ít nhất là ba trăm ngàn binh sĩ đến để chiếm đóng
“nóc nhà của thế giới”. Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn chủ
trương đường lối ôn hòa. Ngài trình bày: “Khi tâm trí bị
sự sân hận ngự trị thì nó có thể trở nên điên loạn.
Người ta sẽ không thể quyết định đúng và không thể trông
thấy sự thật. Nhưng nếu bình tĩnh và an định người ta sẽ
trông thấy sự vật đúng như thật. Tôi nghĩ rằng các nhà
chính trị cần phải có loại kiên nhẫn này. Chẳng hạn, so
với các nhà lãnh đạo trước đây của Liên Xô thì ông
Gorbachev là người bình tĩnh hơn nhiều và do đó hoạt
động của ông hữu hiệu hơn”.
Tuy nhiên,
hiếu hòa không có nghĩa là thụ động, ngài nói tiếp “rốt
cuộc người Trung Quốc sẽ phải nhận thức rằng Tây Tạng là
một quốc gia riêng biệt. Nếu Tây Tạng đã luôn luôn thật
sự là một phần của Trung Quốc thì dù muốn hay không
muốn, người Tây Tạng cũng phải sống với sự kiện này.
Nhưng sự thật không phải như vậy, do đó chúng ta có tất
cả những lý do để đòi hỏi quyền lợi của mình”.
Đức Đạt Lai
Lạt Ma dành nhiều thời giờ để suy nghĩ về việc Phật Giáo
Tây Tạng có thể dạy như thế nào và có thể học như thế
nào từ những nền giáo thuyết khác. Chẳng hạn ngài tin
rằng Phật Giáo có thể hướng dẫn cho chủ nghĩa Marx biết
cách thiết lập một chủ nghĩa xã hội đích thực “không
bằng võ lực mà bằng lý luận, bằng một sự luyện tập tâm
trí rất nhẹ nhàng, bằng sự phát triển tâm từ bi”. Ngài
nhìn thấy nhiều điểm tương đồng giữa niềm tin của ngài
và tâm lý học, vũ trụ học, thần kinh học, khoa học, xã
hội học và vật lý học. Ngài nói: “Có nhiều điều mà người
đệ tử Phật chúng ta nên học từ những phát hiện mới nhất
của khoa học. Và các nhà khoa học có thể học từ những
giáo lý của Phật Giáo. Chúng ta phải làm công việc
nghiên cứu và rồi tiếp nhận những kết quả. Nếu không phù
hợp với những kết quả trắc nghiệm thì chính những lời
giảng của Phật cũng phải bị loại bỏ”.
Sự cấp tiến
của ngài có khi làm cho người Tây Tạng hoang mang, dù họ
là những người sẵn sàng từ bỏ mạng sống vì vị lãnh đạo
của mình. Trong bản hiến pháp sơ thảo mà ngài đã soạn
vào 1963, vị Phật vương đã cho vào đó một điều trái
ngược với ước muốn của người dân Tây Tạng, có thể làm
cho ngài bị lên án. Đó là việc ngài đang xét lại cách
thức mới để chọn vị Dalai Lama kế tục, có lẽ bằng một
cuộc bầu cử giống như của Tòa Thánh Vatican của Ky Tô
Giáo vậy, hoặc chọn theo tuổi tác, bãi bỏ tất cả những
tập quán tìm kiếm vị hóa thân tái sanh. “Tôi nghĩ rằng
đã đến lúc, dù không nhất thiết phải có quyết định thật
sớm, nhưng cũng phải có sự bắt đầu một cuộc thảo luận có
tính cách chính thức hơn, để người dân có thể chuẩn bị
tư tưởng cho việc này”.
Trong lúc đó,
nhà lãnh đạo lưu vong tiếp tục sống một đời sống đơn
giản, vô vị kỷ, giống như giáo lý Trung Đạo của Phật
Giáo, không tranh chấp với thế gian và cũng không bị thế
gian ảnh hưởng. Ngài vẫn không chịu ngồi hàng ghế hạng
nhất trên các chuyến bay và vẫn luôn tự xem mình là một
“tăng sĩ đơn sơ” (simple Buddhist monk). Dù là một trong
những học giả uyên bác nhất và là một trong những người
trí tuệ nhất của tất cả các nền triết học trên thế giới,
ngài có tài thu tóm giáo thuyết của mình thành một điều
thực dụng trong sáng, như đã kết tinh trong tựa đề cuốn
sách xuất bản năm 1984 của ngài “ Từ Bi, Quang Minh và
Trí Tuệ” (Kindness, Clarity and Insigh) do nhà xuất bản
Snow Lion ấn hành. Ngài nói “Tôn giáo thực sự của tôi là
lòng từ bi” (My true religion is kindness). Đây là một
điều không may mắn cho chính phủ Trung Quốc khi họ đụng
phải một người như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Bắc Kinh đã phỉ
báng ngài khi gọi ngài là “thây ma chính trị, thổ phỉ và
phản bội” (political corpse, bandit and traitor), “tên
đồ tể tay dính máu, sống bằng thịt người (red-handed
butcher who subsisted on people’s flesh). Nhưng bất cứ
ai gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng cảm thấy sự nồng ấm, nhân
ái và từ bi của ngài.
Đối với một
người ngoài, đời sống của một vị Phật sống có vẻ rất cô
đơn. Thêm nữa, trong mấy năm qua gần như tất cả những
người thân cận của ngài, nhất là vị giáo sư của chính
ngài, vị giáo sư phụ tá, mẹ và anh của ngài, là người
xưa kia đã chơi đùa với ngài, đều đã lần lượt qua đời.
Nhưng cũng như mọi điều khác, Đức Đạt Lai Lạt Ma chấp
nhận thực tại một cách sâu sắc nhất. Ngài nói: “Bạn cũ
qua đời, bạn mới xuất hiện. Điều này cũng giống như ngày
tháng vậy. Ngày tháng cũ trôi qua, ngày mới xuất hiện.
Điều quan trọng là làm cho nó có ý nghĩa: một người bạn
đầy ý nghĩa hay một ngày đầy ý nghĩa”.
2. Một ngày sinh hoạt của Đức Đạt Lai Lạt Ma ^
Vanya
Kewley ghi chép
Tôi thức dậy
đúng bốn giờ, tôi bắt đầu một thời công phu khuya thọ
trì thần chú Ngagjhinlab. Tôi nguyện hiến dâng những gì
tôi làm được trong suốt một ngày qua hành động, lời nói,
ý nghĩ của tôi, tất cả như một sự cống hiến, một phương
cách sống tích cực để giúp đỡ người khác.Giống như những
tăng sĩ khác, tôi nghiêm trì một lời phát nguyện an bần
thủ đạo, không sở hữu bất cứ thứ gì thuộc về cá nhân.
Phòng ngủ của tôi chỉ có một cái giường, và hình ảnh đầu
tiên tôi nhìn thấy sau khi thức dậy là khuôn mặt của Đức
Phật từ pho tượng có từ thời Kyirong thế kỷ thứ 17, bức
tượng này là một trong số rất ít mà tôi mang theo được
khi đào thoát khỏi sự báng bổ của Trung Quốc. Khí trời
lạnh khi tôi thức dậy, vì chúng tôi đang ở trên độ cao
7000 bộ, nên tôi tập thể dục một chút cho ấm, tiếp đó
rửa mặt và khoác thật nhanh chiếc y vào người.
Cũng như tất
cả tăng sĩ khác, tôi mặc y màu nâu đỏ thẫm. Loại vải này
không làm từ chất liệu tốt, và chiếc y được chắp vá lại
từ nhiều mảnh. Nếu vải được làm từ vật liệu tốt và liền
một mảnh thì có thể bán để kiếm lợi, sự kiện này không
thể xảy ra cho các tăng sĩ. Điều đó củng cố thêm triết
học của chúng tôi trong việc loại bỏ sự đắm nhiễm vật
chất của thế gian trong đời sống tu tập của mình. Tôi
hành thiền cho đến năm giờ rưỡi và lễ Phật sau đó. Chúng
tôi có một pháp tu tập đặc biệt để nhắc nhở, quán xét về
những lỗi lầm của chính mình trong đời sống và phát lồ
sám hối những gì đã vi phạm và cũng như nguyện cầu cho
chúng sinh được an lạc.
Trời hừng
đông, nếu thời tiết tốt, tôi ra thăm khu vườn. Đây là
thời gian rất đặc biệt trong ngày đối với tôi. Tôi nhìn
lên bầu trời và thấy những ngôi sao ở xa xa, tôi có một
cảm giác thật kỳ lạ, nhận ra tính không của vũ trụ vạn
hữu. Sự nhận thức này được người đệ tử Phật gọi là vô
thường. Tôi cảm thấy dễ chịu và rất thư giãn. Đôi lúc
tôi không suy nghĩ gì cả, chỉ thích thọ hưởng cái không
khí trong lành của buổi ban mai và lắng nghe những ngôn
ngữ của các loài chim.
Tiếp đó, Thầy
Penjor hay Thầy Loga, xuất thân từ Tu Viện Namgyal,
những vị đã sống bên cạnh tôi từ 28 năm qua, mang thức
ăn điểm tâm cho tôi. Thực đơn bữa sáng của tôi thường
pha trộn một nửa Tây Tạng và nửa kia là Tây Phương,
Tsampa, bánh mì làm từ lúa mạch và cháo. Tôi vừa ăn sáng
và vừa bận rộn lắng nghe tin tức thế giới qua chương
trình radio của đài BBC.
Sau đó khoảng
sáu giờ tôi vào một phòng khác và hành thiền đến chín
giờ. Xuyên suốt giờ hành thiền, tất cả đệ tử Phật đều nỗ
lực và phát triển lòng từ bi, bao dung và tha thứ. Tôi
hành thiền khoảng sáu hoặc bảy lần trong một ngày.
Từ chín giờ
cho đến trưa, tôi đọc và học kinh Phật. Đạo Phật là tôn
giáo rất uyên thâm, mặc dù tôi đã nghiên cứu Phật điển
suốt cả cuộc đời mình, nhưng vẫn còn có nhiều thứ để
học. Đau đớn thay cho dân tộc của chúng tôi, những bản
kinh cổ và những bản kinh chép tay đã bị người Trung
Quốc hủy diệt hết sạch. Trước khi có sự xâm chiếm của
người Trung Quốc, chúng tôi đã có trên 6000 tự viện và
Phật học viện. Bây giờ chỉ còn 37 tự viện mà thôi.
Tôi cũng cố
gắng đọc những tài liệu về các bậc Thầy người Tây
Phương. Tôi muốn học thêm về triết học và khoa học Tây
Phương. Đặc biệt là môn vật lý hạt nhân, thiên văn học
và sinh vật thần kinh học. Các nhà khoa học Tây Phương
thường viếng thăm và thảo luận cùng với tôi về mối liên
hệ giữa triết học Phật giáo và các ngành chuyên môn của
họ, hoặc so sánh công việc của họ trên chức năng trí óc
và kinh nghiệm tu tập của người Phật tử ở những trình độ
khác nhau.
Tôi thường
thức dậy và sau giờ hành thiền, tôi giải lao bằng cách
đi làm những việc lặt vặt như nạp điện cho máy thu
thanh, sửa chữa một cái gì đó. Từ tuổi ấu thơ tôi bị
quyến rũ mãnh liệt với những thứ thuộc về cơ khí, những
đồ chơi có gắn động cơ, những chiếc xe hơi nhỏ, những
chiếc máy bay, những đồ vật này thường được khảo sát rất
tỉ mỉ qua bàn tay của tôi. Chúng tôi có một máy chiếu
phim tại thủ đô Lhasa, nó thuộc về Đức Đạt Lai Lạt Ma
thứ 13. Chiếc máy này được một lạt ma gốc người Trung
Quốc coi ngó, nhưng khi vị này viên tịch không ai biết
sửa chữa.Vì thế tôi phải tự học cách làm thế nào để
chiếc máy có thể làm việc trở lại. Nhưng cái học của tôi
là tự mày mò, vì đơn giản tôi không đọc được bản hướng
dẫn. Tôi chỉ nói được tiếng Tây Tạng. Vì thế, như một
thói quen tôi hay làm việc vặt như sửa những thứ linh
tinh như đồng hồ đeo tay, đồng hồ treo tường, đồng hồ để
bàn hoặc trồng cây trong nhà kính. Tôi yêu cỏ cây hoa lá
nói chung, đặc biệt các loại hoa phi yến, hoa uất kim
hương và theo dõi chúng lớn lên mỗi ngày.
Đúng mười hai
giờ rưỡi trưa, tôi dùng ngọ trai. Tôi không phải là
người ăn chay mặc dù tôi thích ăn lắm. Tôi ăn những thứ
mà tôi được cho. Đôi khi có món thupka, súp với bánh mì,
thỉnh thoảng có món momo, bánh bao với thịt hấp, và
skabaklep, bánh mì chiên với nhân thịt bên trong.
Buổi chiều
tôi có cuộc họp chính thức với các thành viên nội các
của chính phủ Tây Tạng lưu vong (Bka’zhag) hoặc các đại
diện từ các cơ quan khác của chính phủ. Nhưng thường thì
có những người đến từ Tây Tạng, có hoặc không có giấy
phép của chính quyền Trung Quốc. Hầu hết họ đều trốn
chạy khỏi Tây Tạng, họ đã dũng cảm băng qua những đường
đèo cao vút của dãy Hy Mã Lạp Sơn ở độ cao mười bảy ngàn
bộ.
Đó là điều
đau đớn cho tôi. Tất cả những câu chuyện của họ là đau
buồn và đầy nước mắt. Ai cũng kể cho tôi nghe chuyện
người thân của họ bị người Trung Quốc sát hại hoặc chết
trong lao tù hoặc chết ở những trại cải tạo lao động.
Tôi cố gắng khuyến khích họ và giúp đỡ một cách rất thực
tế để họ ổn định đời sống ban đầu, phần lớn họ đến đây
đều thiếu thốn mọi thứ và sức khỏe suy sụp.
Họ thường đem
con cháu của họ đến đây. Họ cho tôi biết đó là con đường
duy nhất họ có thể học được tiếng mẹ đẻ Tây Tạng, truyền
thống văn hóa và tín ngưỡng ở nơi đây mà thôi. Chúng tôi
gởi những trẻ em vào làng thiếu nhi Tây Tạng. Những
thanh niên lớn hơn muốn trở thành tăng sĩ thì được gởi
vào tu viện của chúng tôi ở miền nam Ấn Độ.
Mặc dù nhân
dân Tây Tạng muốn tôi trở về cố hương, nhưng tôi nhận
được tin tức từ trong nước là tôi không nên trở về quê
nhà trong hoàn cảnh hiện tại. Họ không muốn tôi làm một
kẻ bù nhìn của người Trung Quốc như Lama Panchen. Ở đây
trong thế giới tự do, tôi có thể làm ích lợi hơn cho dân
tộc tôi như là một phát ngôn nhân, nói lên tiếng nói tự
do cho dân tộc tôi. Tôi có thể phục vụ tốt hơn cho xứ sở
tôi từ nước ngoài.
Đôi khi
Jetsun Pema, em gái tôi, người hoạt động trong làng
thiếu nhi Tây Tạng, đến để thảo luận về công việc của
làng. Như tất cả các tăng sĩ khác, tôi không gặp nhiều
thành viên trong gia đình, cha mẹ tôi qua đời, người anh
lớn hơn tôi, Thubten Norbu, là một giáo sư Tạng Ngữ Đại
Học Bloomington, tiểu bang Indiana, Hoa Kỳ và Gyalo
Thondup, một thương gia đang làm việc ở Hồng Kông. Buồn
thay, người anh kế tôi, Lobsang Samden (xem hình bên
dưới) đã mất cách đây hai năm. Chúng tôi rất thân với
nhau. Anh ấy từng sống, học và chia sẻ những vui buồn
của cuộc sống cùng với tôi ở cung điện Potala. Trước khi
qua đời, anh từng làm việc ở trung tâm y tế. Tôi nhớ anh
ấy lắm.
Sáu giờ chiều
tôi dùng trà. Như một tăng sĩ, tôi không ăn tối. Bảy giờ
tối tôi xem tivi, có bữa không may họ phát chương trình
nghị luận. Như một người từ Amritsar và một người khác
từ Pakistan, không nghe gì được, tôi không biết tiếng
Punjab hoặc tiếng Urdu. Nhưng thỉnh thoảng có một phim
tiếng Anh. Tôi thích loạt phim tài liệu về văn minh Tây
Phương của BBC và các chương trình về thế giới tự nhiên
khác.
Sau đó tôi
hành thiền lần cuối trong ngày và đi ngủ lúc tám giờ
rưỡi hoặc chín giờ tối. Nhưng nếu có mặt trăng ở đâu đó,
tôi nghĩ rằng nó đang nhìn xuống dân tộc của tôi đang bị
giam cầm bên trong xứ Tây Tạng. Tôi cảm ơn, dù rằng tôi
là một người tị nạn, tôi tự do ở đây, tự do nói tiếng
nói để giúp đỡ cho người dân của tôi. Tôi nguyện cầu Đức
Hộ Pháp của xứ sở Tây Tạng, Quán Thế Âm Bồ Tát
(Avalokitesvara) từ bi gia hộ cho Tây Tạng sớm thoát
cảnh khốn cùng này. Không có giờ thức giấc nào mà tôi
không nghĩ đến hoàn cảnh của người dân nước tôi đang bị
giam hãm trong tình trạng bế tắc ngay bên trong thành
lũy của họ.
Source:
Sidney Piburn (1993), The Dalai Lama, A Policy of
Kindness, Snow Lion Publications, Ithaca, New York, USA
3. Phỏng
vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 ^
Bài do
ký giả John Avedon phỏng vấn
Lời người
dịch: Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, tên thật là Tenzin Gyatso,
là một nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của nhân dân
Tây Tạng. Ngài chào đời tại làng Taktser, vùng Đông Bắc
Tây Tạng vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 (Ất Hợi) trong một
gia đình nông dân. Ngài được thừa nhận là Dalai Lama vào
năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là hóa thân
của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Ngài được tấn phong tước
vị Dalai Lama vào ngày 22 tháng 2 năm 1940 tại Lhasa,
thủ đô của Tây Tạng, chính thức là người lãnh đạo chính
trị và tôn giáo cho 6 triệu người Tây Tạng. Tuy nhiên
ngài đã thừa kế tước vị Dalai Lama trong một giai đoạn
bấp bênh nhất của toàn bộ lịch sử với danh hiệu cao quý
này, vì Trung Cộng đã xâm chiếm Tây Tạng và ngài đã đến
tỵ nạn ở tiểu bang Dharamsala, miền Bắc nước Ấn Ðộ từ
năm 1959. Từ đó, ngài đã ủng hộ triệt để cho chính sách
bất bạo động, ngay cả những lúc đối đầu với những cuộc
tấn công khủng khiếp nhất. Chính vì thế mà năm 1989,
ngài được trao giải thưởng Nobel về hòa bình. Hiện nay,
cũng trong thân phận người tỵ nạn, ngài thường xuyên đi
đến nhiều miền đất trên thế giới để kêu gọi hòa bình, để
rồi khi có thể, ngài nói lên tiếng nói tự do giải phóng
cho dân tộc Tây Tạng. Từ ngày 6 đến ngày 16 tháng 6 năm
2007 này, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ viếng thăm Úc Châu, đây
là chuyến thăm Úc lần thứ năm của Ngài để giảng dạy Phật
Pháp. Mọi người đang trông đợi sự xuất hiện của ngài.
Dưới đây là bài phỏng vấn của John Avedon, một ký giả
người Mỹ của tạp chí New York Time, sẽ giúp quý độc giả
biết thêm về cuộc đời của vị Phật vương này, bài phỏng
vấn này được thực hiện vào năm 1989 sau khi ngài lãnh
giải thưởng Nobel về hòa bình.
John Avedon:
Khi được công nhận là Đạt Lai Lạt Ma, cảm giác đầu tiên
của ngài là gì? Ngài thấy điều gì xảy ra cho mình?
Dalai Lama:
Tôi rất hạnh phúc. Tôi rất thích sự kiện này. Trước khi
người ta tìm tôi, tôi đã thường nói với mẹ tôi rằng tôi
sẽ đi tới Lhasa (thủ đô của Tây Tạng). Tôi thường ngồi
thả chân ở hai bên bậu cửa sổ, làm ra vẻ như đang cưỡi
ngựa đến Lhasa. Lúc đó tôi còn rất nhỏ, nhưng tôi nhớ rõ
chuyện này. Tôi muốn đi về Lhasa. Một chuyện khác mà tôi
đã không nói trong tập tự truyện (in lần đầu tiên năm
1961), là sau khi tôi ra đời, có hai con quạ bay đến đậu
trên mái nhà chúng tôi. Chúng đến vào mỗi buổi sáng, đậu
ở đó một lúc rồi bay đi. Điều này rất đáng chú ý, vì đã
có những hiện tượng tương tự xảy ra trong thời gian mới
chào đời của các vị Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất, thứ bảy,
thứ tám và thứ mười hai. Sau khi các vị đó ra đời, có
hai con quạ bay đến đậu ở trước nhà. Trong trường hợp
của tôi, lúc đầu không có ai để ý, nhưng mới đây, khoảng
ba năm trước, khi tôi nói chuyện với mẹ tôi, bà đã nhớ
lại chuyện này. Bà đã nhìn thấy hai con quạ bay tới đậu
trước nhà vào mỗi sáng sớm và một lúc lâu chúng lại bay
đi. Buổi tối sau khi đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất ra đời,
bọn cướp đột nhập vào nhà gia đình ngài. Cha mẹ ngài bỏ
chạy để lại đứa trẻ. Ngày hôm sau, khi trở về nhà, họ
tìm thấy em bé ở trong một góc nhà, có một con quạ đứng
trước nhà để bảo vệ. Về sau, khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ
nhất lớn lên và tu tập có kết quả, trong lúc thiền quán,
ngài tiếp xúc trực tiếp với các vị thần hộ pháp Mahakala
(Đại Hắc Thiên). Lúc đó ngài Mahakala đã nói rằng “Một
người như ngài đang làm công việc hoằng dương Phật pháp,
cần phải có một vị bảo hộ như tôi. Ngay trong ngày ngài ra đời, tôi
đã bảo hộ ngài” (somebody like you who is upholding the
Buddhist teaching needs a protector like me. Right on
the day of your birth, I helped you). Như vậy chúng ta
thấy rõ ràng có sự liên quan giữa Mahakala, những con
quạ và các vị Đạt Lai Lạt Ma.
Một chuyện
nữa xảy ra mà mẹ tôi nhớ rất rõ là ngay sau khi tôi đến
Lhasa, tôi đã nói rằng răng của tôi ở trong một chiếc
hộp ở trong tòa nhà nào đó ở cung điện mùa hè
Norbulingka. Khi họ mở chiếc hộp đó ra, bộ răng của vị
Đạt Lai lạt Ma thứ 13 đang nằm ở đó. Tôi đã chỉ vào cái
hộp và nói rằng răng của ta đấy, nhưng bây giờ thì tôi
không còn nhớ gì về chuyện đó cả. Những ký ức mới của
thể xác này mạnh hơn. Quá khứ đã trở nên mờ nhạt hơn,
tôi không nhớ gì cả trừ khi đặc biệt ra sức gợi lại một
ký ức như thế.
John Avedon:
Ngài có nhớ lúc được sinh ra hay trạng thái ở trong bào
thai trước đó không?
Dalai Lama:
Tôi không nhớ lúc đó. Khi còn nhỏ tôi cũng không nhớ gì.
Nhưng hình như có một dấu hiệu nhỏ bên ngoài. Trẻ sơ
sinh thường ra đời với hai mắt nhắm, còn tôi thì ra đời
với hai mắt mở, có thể điều này cho thấy chút ít trạng
thái tâm trí tỉnh thức trong bào thai.
John Avedon:
Lúc còn nhỏ ngài nghĩ gì về việc mình được những người
lớn đối xử như một nhân vật quan trọng? Ngài có lo sợ vì
sự kính trọng như vậy không?
Dalai Lama:
Người Tây Tạng là một dân tộc thực tế, những người Tây
Tạng lớn tuổi không bao giờ đối xử với tôi như vậy. Tôi
cũng rất tự tin. Trên đường đi đến Lhasa lần đầu tiên, ở
vùng đồng bằng Debuthang, vị Bốc Sư Nechung tới để chứng
thực thêm tôi là người được chọn đúng. Đi cùng với vị
này là một “geshay” già, rất được kính trọng và đã đạt
chứng ngộ cao ở Trường Loseling của Tu Viện Drepung. Vị
tiến sĩ này rất quan tâm đến việc tôi có phải đúng là
người cần phải tìm hay không. Phạm sai lầm trong việc
tìm vị Đạt Lai Lạt Ma là điều nguy hiểm. Vị này là một
tăng sĩ nhưng không phải là một viên chức của chính phủ.
Ông ấy đi vào lều nơi tôi có mặt với một nhóm người tới
thăm, và xác quyết rằng tôi đúng là người cần tìm. Như
vậy, dù có một số người già nghiêm khắc, muốn sự việc
phải chắc chắn, tôi cũng đã hành xử tốt và đã chinh phục
được họ (cười). Tôi không bao giờ cảm thấy khó chịu
trong vị trí của mình.
John Avedon:
Khoảng giữa năm mười sáu tuổi đến mười tám tuổi, sau khi
nắm quyền lực chính trị thế tục, ngài có thay đổi gì
không?
Dalai Lama:
Có, tôi đã thay đổi một chút. Tôi đã trải qua nhiều hạnh
phúc cũng như đau buồn. Từ sự trưởng thành của cuộc
sống, từ những vấn đề nảy sinh để có thêm kinh nghiêm,
tôi đã thay đổi. Kết quả là con người mà ông đang thấy
bây giờ (cười).
John Avedon:
Khi vừa tới tuổi trưởng thành ngài có tâm trạng như thế
nào? Nhiều người trải qua một thời kỳ khó khăn khi nhận
thấy mình đã là một người lớn. Điều này có xảy ra với
ngài không?
Dalai Lama:
Không, cuộc đời của tôi trôi đi một cách đều đặn. Tôi
học hai buổi mỗi ngày, còn những lúc khác thì chơi đùa
(cười). Đến năm mười ba tuổi, tôi bắt đầu học triết học,
pháp số, tranh luận, và thư pháp. Tôi học nhiều hơn
trước. Tất cả đều là những việc hằng ngày và dần dần tôi
cũng quen với những việc này. Có khi tôi được nghỉ hè.
Những kỳ nghỉ này rất dễ chịu, hạnh phúc. Anh của tôi,
Losang Samten luôn ở trường học nhưng trong những thời
gian đó anh cũng tới thăm tôi. Cũng có khi mẹ tôi mang
loại bánh mì đặc biệt ở quê hương, tỉnh Amdo, đến cho
tôi. Bánh này rất dày và ngon, do mẹ tôi tự tay làm.
John Avedon:
Khi trưởng thành ngài có dịp nào gặp cha của ngài hay
không?
Dalai Lama:
Cha tôi qua đời năm tôi mười ba tuổi.
John Avedon:
Có vị tiền nhiệm nào ngài đặc biệt chú ý hay có một sự
liên quan riêng nào đến ngài không?
Dalai Lama:
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba. Ngài đã cải tiến nhiều
những tiêu chuẩn học ở các Phật học viện. Ngài khuyến
khích rất nhiều những học sinh thành tâm. Ngài ngăn cản
những người thiếu năng lực mà lại muốn tiến thân trong
tăng đoàn, muốn trở thành sư trưởng hay những mục tiêu
khác. Về phương diện này ngài rất nghiêm khắc. Ngài cũng
làm lễ truyền giới cho mấy chục ngàn tăng sĩ. Đó là hai
thành tựu tôn giáo chính yếu của đời ngài. Ngài không
ban nhiều lễ truyền pháp, cũng không thuyết pháp nhiều.
Đối với đất nước thì ngài đã có những tư tưởng lớn và đã
quan tâm và cải cách về hành chánh, đặc biệt là đối với
những vùng ở xa, làm sao để công việc hành chánh ở những
nơi đó được tốt. Ngài rất chú trọng tới việc điều hành
chính phủ một cách có hiệu quả hơn. Ngài còn chú ý nhiều
điều tương tự.
John Avedon:
Trong cuộc đời ngài những bài học riêng hay những thách
thức nội tâm lớn nhất của ngài là gì? Những chứng nghiệm
nào có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát triển cá nhân
của ngài?
Dalai Lama:
Về chứng nghiệm tâm linh thì tôi có một sự chứng ngộ
tánh không (sunya/emptiness) nào đó, một thứ cảm giác,
chứng nghiệm, và phần lớn là bồ đề tâm, từ bi. Điều này
giúp nhiều điều cho tôi. Có thể nói rằng nó đã làm cho
tôi trở thành một con người mới. Tôi vẫn đang tiến xa
hơn, đang cố gắng. Nó giúp tôi có thêm sức mạnh nội tâm,
có can đảm và dễ chấp nhận hoàn cảnh hơn. Đó là một
trong những kinh nghiệm lớn nhất của tôi.
John Avedon:
Về mặt bồ đề tâm thì ngài đang nói đến sự tiến bộ thêm
về chứng ngộ hay ngài muốn nói đến nhân tố liên quan nào
đó ở bên ngoài?
Dalai Lama:
Chính yếu là về sự tu tập bên trong. Cũng có thể có
những nguyên nhân hay hoàn cảnh bên ngoài. Những nhân tố
bên ngoài có thể đã đóng góp một phần trong việc gây
dựng một cảm giác nào đó về bồ đề tâm. Nhưng chính yếu
là từ sự tu tập nội tâm.
John Avedon:
Ngài có thể kể ra một khoảnh khắc đặc biệt nào đó trong
quá trình tu tập của mình không?
Dalai Lama:
Về thuyết tánh không, thuyết tánh không trước tiên, rồi
cảm giác bồ đề tâm… vào khoảng 1965 hay 1966, trong
khoảng thời gian đó. Đây thực sự là chuyện riêng tư. Đối
với một hành giả chân chính thì những điều này phải được
giữ kín.
John Avedon:
Vâng, sẽ không đề cập về những chứng nghiệm sâu xa nhất
của ngài, nhưng còn những sự kiện trong đời ngài; những
sự kiện này đã có ảnh hưởng như thế nào đối với ngài
trong việc hình thành nhân cách? Ngài đã trưởng thành
như thế nào qua những kinh nghiệm này?
Dalai Lama:
Trưởng thành như một người lưu vong là điều hữu ích. Tôi
sống gần với thực tế hơn. Hồi tôi còn ở Tây Tạng với tư
cách một vị Đạt Lai Lạt Ma, tôi đã cố gắng sống một cách
thực tế, nhưng phần nào vì hoàn cảnh nên đã có một
khoảng cách nhất định giữa tôi và đời sống bên ngoài,
tôi có phần bị cô lập với thực tại. Và rồi khi trở thành
một người tị nạn, một người mất nước, đó lại là cơ hội
tốt để tôi có thêm kinh nghiệm, và nó cũng giúp tôi có
thêm lòng cương quyết hay sức mạnh nội tâm.
John Avedon:
Khi trở thành người tị nạn, điều gì đã giúp ngài có được
sức mạnh này? Có phải là việc mất địa vị và tổ quốc của
ngài chăng?Hay là sự kiện dân chúng thống khổ xung quanh
ngài? Ngài có được yêu cầu lãnh đạo nhân dân của ngài
theo một đường lối khác với cách ngài đã quen thuộc hay
không?
Dalai Lama:
Làm người tị nạn, thật sự là một tình thế nguy hiểm và
tuyệt vọng. Lúc đó mọi người phải đối phó với thực tại.
Đó không phải là lúc vờ cho rằng mọi việc đều tốt đẹp.
Và đó là một điều khó khăn. Người ta cảm thấy mình dấn
thân vào thực tại. Trong thời thanh bình mọi việc đều
trôi chảy. Ngay cả khi có một sự cố nào đó, người ta
cũng du di như mọi chuyện đều tốt. Nhưng trong thời khó
khăn thực sự, khi có biến cố lớn, thì người ta không thể
nào cho rằng mọi chuyện đều tốt, phải rạch ròi tình
trạng xấu là xấu. Khi tôi trốn khỏi cung điện mùa hè
Norbulingka thì tình thế thật nguy hiểm. Chúng tôi đã
băng qua gần những doanh trại của quân đội Trung Quốc.
Một trạm kiểm soát nằm ngay trên bờ sông bên kia. Khoảng
hai hay ba tuần trước khi tôi trốn đi, chúng tôi đã có
tin tức chắc chắn là người Trung Quốc đã chuẩn bị đầy đủ
để tấn công chúng tôi. Vấn đề chỉ còn là ngày giờ mà
thôi.
John Avedon:
Lúc đó ngài vượt qua sông Kyichu và gặp nhóm du kích
quân Khamba đang đợi ngài ở đó, ngài có giữ quyền lãnh
đạo trực tiếp hay không? Trong cuộc trốn chạy của ngài,
ai là người ra những quyết định?
Dalai Lama:
Ngay khi rời khỏi Lhasa, chúng tôi đã lập một nhóm bên
trong, một ủy ban để thảo luận mọi việc. Tôi và tám
người khác.
John Avedon:
Có phải việc làm cho mọi người nhất trí là ý kiến của
ngài?
Dalai Lama:
Đúng. Những người được để lại phía sau ở Lhasa cũng lập
một Ủy Ban Nhân Dân, một hình thức hội đồng cách mạng
(revolutionary council). Tất nhiên đối với Trung Quốc
thì đây là ủy ban phản cách mạng. Trong vòng vài ngày,
họ thành lập ủy ban đó, do nhân dân đề cử và ủy ban này
đưa ra mọi quyết định. Tôi đã gởi một bức thư đến để phê
chuẩn ủy ban đó. Trong ủy ban nhỏ-- những người chạy
trốn cùng với tôi, mỗi đêm chúng tôi thảo luận những
điểm thực tiễn. Lúc đầu, kế hoạch của chúng tôi là thiết
lập bộ chỉ huy ở miền nam Tây Tạng. Vào ngày 24 tháng tư
năm 1959, tôi cũng cho thủ tướng Nehru của Ấn Độ biết
rằng chúng tôi đã thành lập chính phủ lâm thời của Tây
Tạng, chuyển từ Lhasa tới miền nam Tây Tạng. Tôi thông
báo điều này một cách tự nhiên cho thủ tướng. Ông ấy hơi
nao núng (cười), nhưng ông ấy nói “chúng tôi sẽ không
công nhận chính phủ của ngài”. Dù chính phủ này đã được
thành lập trong khi còn bên trong Tây Tạng và lúc đó tôi
đã ở bên Ấn Độ rồi.
John Avedon:
Tôi muốn hỏi về việc ngài là hóa thân của Bồ Tát Đại Bi
Quán Thế Âm (Chenrezi/Avalokitesvara). Ngài có cảm nghĩ
gì về điều này?Ngài thừa nhận rõ ràng điều này hay còn
có quan điểm nào khác?
Dalai Lama:
Tôi khó có thể nói một cách xác quyết. Tôi không thể nói
chính xác được, trừ khi tôi ra sức tham thiền, nhập định
quán tưởng về lại cuộc đời của mình trong từng hơi thở
một. Chúng tôi tin có bốn loại tái sinh. Thứ nhất là
loại thông thường, trong đó sinh linh không thể quyết
định sự tái sinh của mình. Loại tái sinh thứ hai là của
một vị Phật toàn giác, chỉ cần hóa hiện một thân vật
chất để tiếp tục công việc giáo hóa chúng sinh. Trong
trường hợp này, rõ ràng người ấy là một vị Phật. Loại
tái sinh thứ ba là của một người đã từng có những thành
tựu tâm linh trong quá khứ, có khả năng chọn lựa, hay ít
nhất cũng có thể tác động đến địa điểm và hoàn cảnh tái
sinh. Loại tái sinh thứ tư được gọi là hiển lộ sự gia
hộ, trường hợp này người tái sinh được ban ơn gia hộ
vượt ngoài khả năng thông thường, để làm những việc lợi
ích, như giảng dạy chân lý giải thoát cho người khác.
Được tái sinh loại này là do trong các kiếp quá khứ
người đó đã có ý nguyện mạnh mẽ giúp đỡ chúng sinh. Dù
có thể thuộc vào một loại tái sinh nào đó, nhưng tôi
không thể nói chắc là mình thuộc loại nào.
John Avedon:
Về vai trò thực tiễn Quán Thế Âm Bồ Tát mà ngài đang
lãnh nhận, ngài có cảm nghĩ gì? Chỉ có một ít người đã
được xem là thiêng liêng về mặt này hay mặt khác. Sứ
mạng này là một gánh nặng hay là một điều thú vị?
Dalai Lama:
Vai trò này rất hữu ích, vì qua đó tôi có thể mang lại
lợi ích lớn lao cho người khác. Vì vậy mà tôi thích vai
trò Quán Thế Âm, và tôi quen thuộc với vị trí này. Dễ
dàng thấy rằng điều này giúp ích cho nhiều người, và rõ
ràng là tôi có nhân duyên để lãnh nhận vai trò này. Và
cũng rõ ràng là có nhân duyên với nhân dân Tây Tạng nói
riêng. Ông hãy xét điều này, trong những hoàn cảnh từ
trước đến nay của chúng tôi, phải nói là tôi rất may
mắn. Tuy nhiên sự may mắn nào cũng phải có những gốc rễ
và lý do của nó. Do tiềm năng của nghiệp lực cũng như
nguyện lực đã giúp tôi đảm đương sứ mạng này. Về phương
diện này, trong cuốn “Nhập Bồ Tát Đạo”(Engaging in the
Bodhisattva Deeds), Luận Sư Shantideva nói: “khi nào còn
trời còn đất và còn luân hồi, tôi nguyện ở lại nơi này
để cứu khổ độ sinh”(as long as space exists, and so long
as there are migrators in cyclic existence, may I remain
– removing their suffering). Tôi có thệ nguyện như vậy
trong cuộc đời này và biết mình đã có ý nguyện ấy trong
những kiếp trước.
John Avedon:
Với mục tiêu bao la như vậy làm động lực, ngài đối phó
như thế nào với những hạn chế riêng tư, những giới hạn
thuộc về con người?
Dalai Lama:
Luận sư Shantideva cũng nói “Nếu Đức Phật toàn giác
không thể làm vừa lòng chúng sinh thì làm sao ta có thể
làm được?”(If the blessed Buddha cannot please all
sentient beings, then how could I). Ngay cả một đấng
giác ngộ có trí tuệ và quyền năng vô hạn và có ý nguyện
cứu độ chúng sinh thoát khổ cũng không thể giải trừ
nghiệp cá nhân của mỗi người được.
John Avedon:
Phải chăng điều này đã làm ngài không cả lo khi trông
thấy cảnh khổ của sáu triệu dân Tây Tạng, những người mà
ngài có trách nhiệm trong một chừng mực nào đó?
Dalai Lama:
Động lực của tôi hướng về toàn thể chúng sinh. Tuy
nhiên, ở một mặt khác tôi cũng hướng về những người dân
Tây Tạng. Nếu một vấn đề có thể giải quyết được, có thể
sửa đổi được, thì không có gì phải lo nghĩ. Nếu không
thể sửa đổi được thì lo lắng cũng bằng không. Lo nghĩ
không có một chút ích lợi nào cả.
John Avedon:
Nhiều người cũng nói như vậy, nhưng ít có người nào làm
theo. Ngài luôn luôn nghĩ như vậy hay ngài đã phải học
dần dần điều này?
Dalai Lama:
Quan điểm này được phát triển từ sự tu luyện nội tâm.
Nói chung thì sự đau khổ luôn tồn tại. Trong chừng mực
nào đó, người ta phải gặp những nghiệp quả xấu mà mình
đã tạo ra trong quá khứ qua thân, khẩu, ý; mà ngay bản
chất của con người cũng là đau khổ. Theo quan điểm của
tôi, không chỉ có một mà còn có nhiều nhân tố khác nhau
tác động. Trên quan điểm thực thể gây ra đau khổ, thì
như tôi đã nói, nếu nó có thể sửa chữa được thì không
việc gì phải lo nghĩ. Nếu không thể sửa đổi được thì lo
nghĩ cũng không ích lợi gì. Trên quan điểm nhân quả thì
đau khổ là hậu quả của ác nghiệp do chính mình tạo ra
trong quá khứ chứ không phải do ai khác. Những nghiệp
xấu này không bao giờ tàn lụi nếu mình không tu tập ngay
từ bây giờ. Ác nghiệp sẽ sinh ra quả xấu nếu mình không
dùng thiện nghiệp để xóa mờ. Người ta không bao giờ gặp
những nghiệp quả báo ứng nào không do chính mình tạo ra.
Sau cùng, về mặt bản chất của khổ đau là do tính chất
của năm uẩn tạo thành, đưa đến sự khổ lụy cho thân và
tâm. Năm uẩn, gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức, là nền
móng của đau khổ. Chừng nào còn có thân năm uẩn thì
người ta còn phải chịu đau khổ. Xét một cách sâu xa thì
khi chúng tôi bị mất độc lập và phải sống ở xứ lạ quê
người, chúng tôi chịu những loại khổ đau nào đó, còn khi
chúng tôi trở về Tây Tạng và giành lại nền độc lập tự
chủ thì cũng sẽ có những loại khổ đau khác phát sinh.
Bản chất của đời sống là như vậy. Người ta có thể cho
tôi là bi quan, nhưng tôi không bi quan, mà đây là triết
lý hiện thực của Phật Giáo (Buddhist realism). Giáo lý
này giúp chúng tôi đối diện với mọi hoàn cảnh của kiếp
người. Có lần, khi năm mươi ngàn người thuộc bộ tộc
Thích Ca (Sakya) bị giết, Phật Thích Ca đã không đau
khổ, ngài đứng tựa vào một gốc cây và nói rằng “Hôm nay
ta hơi buồn vì năm mươi ngàn người thuộc bộ tộc của ta
bị giết” (I am a little sad today because fifty thousand
of my clans men were killed). Đức Phật đã không quá xúc
động vì sự kiện này. Như vậy đó, ông thấy chứ (cười), đó
là nghiệp quả của họ. Đức Phật không thể làm gì được cho
họ cả. Những ý nghĩ như vậy làm cho tôi mạnh mẽ hơn và
năng động hơn. Đây không phải là sự quẫn trí hay sự
thoái chí khi đối diện với khổ đau vốn có ở trong bất cứ
hoàn cảnh nào.
John Avedon:
Tôi để ý thấy ngài làm vườn và sửa chữa những đồ điện tử
để giải trí?
Dalai Lama:
À, đó là những thú vui của tôi, để giết thời giờ ấy mà
(cười). Khi thấy mình có thể sửa chữa được một món đồ gì
đó thì tôi hài lòng thực sự. Hồi nhỏ tôi đã tháo tung
những món đồ ra, vì tôi tò mò muốn biết những thứ máy
móc đó hoạt động ra sao. Tôi muốn biết ở bên trong cái
động cơ có cái gì. Nhưng bây giờ tôi chỉ tìm cách sửa
những cái gì bị hỏng mà thôi.
John Avedon:
Thế còn chuyện làm vườn?
Dalai Lama:
Làm vườn ở Dharamsala là chuyện gần như bất khả. Dù cố
gắng cách mấy thì mùa mưa đến mọi thứ cũng tiêu tan hết.
Ông cũng biết đời sống tu sĩ là rất đáng hài lòng, rất
hạnh phúc. Bằng chứng là những người hoàn tục nói rằng
họ luyến tiếc giá trị của đời sống tu hành. Nhiều người
đã nói với tôi rằng nếu không có sự tu hành thì đời sống
sẽ rất khó khăn và phức tạp. Với vợ con, người ta có thể
có hạnh phúc trong một thời gian nào đó. Nhưng về lâu về
dài thì sẽ có những vấn đề tự nhiên xuất hiện. Người ta
sẽ bị mất một nửa sự độc lập và tự do. Nếu khi từ bỏ sự
độc lập của mình để nếm trải sự đời rắc rối mà có một
lợi ích hay một ý nghĩa nào đó thì việc này cũng xứng
đáng. Nếu đây là hoàn cảnh có ích lợi cho người khác thì
như vậy cũng tốt. Sự rắc rối kia trở nên có giá trị,
bằng ngược lại thì quả thật không xứng đáng để theo
đuổi.
John Avedon:
Nhưng nếu không có cha mẹ thì sẽ không có chúng ta ở đây
để nói chuyện này.
Dalai Lama:
Tôi không nói rằng có con cái là điều xấu, hay mọi người
nên đi tu hết. Điều đó là bất khả (cười). Tôi nghĩ rằng
nếu người ta sống một cách đơn giản thì sự thỏa mãn sẽ
xuất hiện. Đơn sơ giản dị là nhân tố quan trọng đưa đến
hạnh phúc của con người. Ít muốn, biết đủ và thỏa mãn
những gì mình đang có, đó là điều quan trọng. Có bốn
điều giúp người ta trở thành một người cao cả, đó là
thỏa mãn với những thực phẩm nào mình có. Thỏa mãn với y
phục bằng vải vụn, hay chấp nhận bất cứ một thứ y phục
nào, không muốn những y phục cầu kỳ hay màu sắc rực rỡ.
Thỏa mãn với chỗ ở và vừa đủ để trú nắng mưa, và sau
cùng là hoan hỷ từ bỏ trạng thái tâm mê muội và gây dựng
những trạng thái tâm tỉnh thức trong thiền định.
Source:
Sidney Piburn (1993), The Dalai Lama, A Policy of
Kindness, Snow Lion Publications, Ithaca, New York, USA
4. SỨC MẠNH CỦA LÒNG
TỪ
^
Bài do
Michael Toms phỏng vấn Đức Đức Đạt Lai Lạt Ma
Lời dẫn: Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, Tenzin Gytso, một dòng các vị
quốc trưởng Phật Giáo hóa thân của Tây Tạng, có từ thế
kỷ thứ 14, là một nhà lãnh đạo tinh thần hiện đại, người
đã biểu lộ ý thức và sự quan tâm sâu xa đến những vấn đề
xã hội ngày nay. Sinh ra trong một gia đình nông dân,
vào năm lên hai tuổi, ngài được công nhận là hóa thân
của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, vốn là vị tiền nhiệm của
ngài, theo truyền thống Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma
được xem là nhà lãnh đạo chính trị, tôn giáo và tâm linh
của nhân dân Tây Tạng.
Không giống
các vị tiền nhiệm của mình, ngài đã đi nhiều nơi ở thế
giới Tây Phương, gặp các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng như
thế tục ở Tây Úc, Bắc Mỹ, Liên Xô và Á Châu. Trong những
chuyến du hành ở các nước, ngài đã mạnh mẽ vận động sự
hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các tôn giáo. Ngài
đã tham dự vô số lần những buổi hội nghị liên tôn, chia
sẻ thông điệp về bổn phận toàn cầu, tình yêu và lòng từ
bi. Từ chuyến viếng thăm Tây Phương lần đầu tiên, tiếng
tăm của ngài như một học giả và một sứ giả của hòa bình
đã gia tăng đều đặn. Các đại học và học viện Tây Phương
đã trao tặng ngài nhiều giải thưởng hòa bình và bằng
tiến sĩ danh dự khi công nhận những cuốn sách xuất sắc
và triết lý Phật Giáo của ngài, cũng như sự lãnh đạo của
ngài trong việc phụng sự cho lý tưởng tự do và hòa bình.
Vào ngày 5
tháng mười năm 1989, ngài được trao giải Nobel về hòa
bình. Ủy ban Nobel tuyên bố “Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kiên
định chống lại việc dùng võ lực. Ngài ủng hộ giải pháp
không bạo động trên sự khoan dung và tôn trọng lẫn
nhau”. Đối với người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma là
hiện thân tín ngưỡng của họ, là biểu tượng có tính cách
quốc gia của họ, và là niềm hy vọng dành lại nền độc lập
tự do của họ. Đối với thế giới, ngài là người được ủng
hộ và kính trọng một cách thành tâm vì lòng từ bi, công
lý và hòa bình thế giới của ngài.
Trước khi
nhận giải Nobel hòa bình ít lâu, ngài đến thăm Trung Mỹ
và Costa Rica lần đầu tiên và tham dự cuộc hội nghị liên
tôn quan trọng lần đầu tiên được tổ chức ở Trung Mỹ. Tại
hội nghị “Tìm ý nghĩa đích thực của hòa bình”, Ngài là
một diễn giả chính cùng với Tổng Thống Oscar Aricas của
Costa Rica, người cũng được tặng giải thưởng Nobel hòa
bình. Trong hội nghị này Michael Toms (Sáng lập viên và
giám đốc New Dimension Radio ở California, USA) đã phỏng
vấn ngài tại một nữ tu viện Ky Tô Giáo, nơi ngài lưu
trú, ngoại ô thủ đô San Jose, Costa Rica.
Michael Toms:
Ngài có cảm tưởng gì về Costa Rica?
Đức Đạt Lai
Lạt Ma: Tôi thấy đất nước này rất đẹp. Người dân ở đây
có vẻ không vội vã như ở New York và những nơi khác.
Quốc gia này không có lực lượng quân sự, không sản xuất
vũ khí. Tôi nghĩ rằng những điều này rất quan trọng, vì
mọi người ở đây có đủ tư cách để nói về hòa bình, giải
trừ quân bị, cố gắng giảm sản xuất vũ khí và ngừng thi
đua võ trang. Tôi thực sự cảm phục vì họ đã có đường lối
này từ thập niên bốn mươi. Lúc đó tôi không thấy ai thực
hiện loại ý tưởng này. Như ông cũng biết, sự việc rất
phức tạp vào lúc đó trong thập niên bốn mươi và thập
niên năm mươi, trong thế chiến thứ hai. Vì vậy điều này
gây nhiều ấn tượng cho tôi. Tôi cảm thấy chúng ta có thể
học nhiều điều từ kinh nghiệm của quốc gia này.
Michael Toms:
Ngài nghĩ gì về việc Phật Giáo cống hiến cho đời sống
con người trong thời đại này? Phật Giáo mang lại những
gì cho chúng ta ngày nay?
Đức Đạt Lai
Lạt Ma: Tôi nghĩ rằng Phật Giáo cũng như bất cứ tôn giáo
nào khác, có những tiềm năng để đóng góp, chính yếu là
qua an lạc nội tâm và bằng việc thay đổi quan niệm sống
của chúng ta đối với người khác và đối với môi trường.
Tôi nghĩ đó là những gì mà Phật Giáo có thể đóng góp.
Một điều đặc biệt quan trọng của Phật Giáo là lý thuyết
giải thích về sự sống. Mọi sự vật có tính cách tương
đối. Mọi sự vật đều tùy thuộc lẫn nhau. Đó là cách nhìn
thế giới rất lợi ích cho chúng ta. Nền kinh tế hiện đại
là một thí dụ rất điển hình về sự tùy thuộc vào nhau.
Hôm nọ tôi ăn trưa với Đức Tổng Giám Mục của quốc gia
này. Ngài nói rằng ở đây người ta trồng chuối để bán
sang Hoa Kỳ, còn Hoa Kỳ thì xuất cảng lúa mì sang quốc
gia này. Đó là một sự trao đổi với nhau và mọi thứ khác
trên đời này cũng luôn tùy thuộc vào nhau như vậy đó.
Một phương
diện khác của triết lý Phật Giáo mà tôi nghĩ có sự quan
trọng đặc biệt là ý tưởng sự vật có tính chất tương đối.
Thượng Đế luôn luôn được tìm thấy ở khoảng giữa trắng và
đen hay ở giữa tốt và xấu. Người ta không thể nói: “Đây
là kẻ thù của mình” và thấy kẻ thù đó xấu một trăm phần
trăm. Người ta cũng không thể nói: “đây là bạn của mình”
và thấy người bạn đó tốt một trăm phần trăm. Không thể
có như vậy được. Về căn bản thì hai trường hợp này chỉ
là một. Cách quán xét sự việc như vậy giúp rất nhiều cho
người ta giảm bớt sân hận. Tôi luôn luôn nói “hãy nói
chuyện với mọi người”. Các nhà tôn giáo không nên chỉ
nghĩ đến việc truyền bá tôn giáo của mình mà nên nghĩ
đến việc họ có thể đóng góp bao nhiêu cho loài người.
Michael Toms:
Ngài thấy thế nào về việc giao tiếp và mối liên hệ giữa
Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo ở xứ này và thế giới Tây
Phương nói chung?
Đức Đạt Lai
Lạt Ma: Có thể nói mối liên hệ giữa các tôn giáo trong
mấy năm qua đã được cải thiện nhiều, đặc biệt là giữa
Phật Giáo Tây Tạng và Thiên Chúa Giáo. Hai bên có mối
liên hệ thân mật hơn nhiều. Hai bên đã có sự hiểu biết
sâu xa hơn nhiều. Đức Giáo Hoàng John Paul đệ nhị và tôi
đã có dịp thảo luận với nhau về điều này. Tôi cũng đã
thảo luận vấn đề này với nhiều nhân vật quan trọng khác
trong cộng đồng Thiên Chúa và Tin Lành Giáo. Tôi nghĩ
rằng chúng tôi đã gây dựng những mối liên hệ rất tốt và
thân mật. Và như vậy rất hữu ích cho việc học hỏi lẫn
nhau. Chúng tôi đã học được nhiều điều từ truyền thống
Thiên Chúa Giáo, vốn rất có lợi ích và thực tế. Đồng
thời, các huynh đệ bên Thiên Chúa Giáo cũng học được một
vài pháp tu của Phật Giáo để sử dụng trong đời sống, như
pháp từ bi và tha thứ, liên quan đến sự chú tâm và luyện
tâm. Đó là Samatha hay thiền định, pháp trụ tâm. Pháp tu
này trong Phật Giáo, trong triết lý Đông Phương, vẫn còn
là một truyền thống sống động và hiệu quả. Tôi nghĩ rằng
điều này có ích lợi cho một số hành giả Thiên Chúa Giáo
của chúng ta.
Michael Toms:
Vào năm 1968, Thomas Merton đến thăm Á Châu, đó là
chuyến viếng thăm đầu tiên của ông ở ngoài Hoa Kỳ. Ông
ấy là một tu sĩ Thiên Chúa Giáo rất chú ý đến Phật Giáo
Tây Tạng. Ngài nhớ điều gì về cuộc gặp gỡ của với Thomas
Merton?
Đức Đạt Lai
Lạt Ma: Đó là một cuộc gặp gỡ rất thú vị. Và cũng do gặp
được ông ấy mà sự hiểu biết của tôi về Thiên Chúa Giáo
đã mở rộng, tôi thực tâm kính trọng hơn nữa đối với các
hành giả Thiên Chúa Giáo và sự đóng góp của họ cho nhân
loại. Tôi xem Thomas Merton là chiếc cầu vững chắc nối
liền Đông và Tây. Từ khi ông qua đời đột ngột, tôi cảm
thấy mình phải chịu một sự mất mát lớn lao. Tôi nghĩ ông
ta đã đóng góp nhiều cho sự hiểu biết và liên hệ thân
mật giữa Phật Giáo Tây Tạng và Thiên Chúa Giáo.
Michael Toms:
Ngài đã nói về lòng từ bi sản sinh ra sự can đảm nội tâm
và an lạc nội tâm. Ngài có thể giải thích thêm về điều
này không?
Đức Đạt Lai
Lạt Ma: Từ bi là quan tâm đến người khác, đến toàn thể
chúng sanh. Và từ bi không phải chỉ là đồng cảm hay
thương hại, mà là ý muốn làm một việc gì đó để giúp đỡ.
Từ bi mở rộng tâm trí của chính bản thân và của người
khác. Từ bi tự động phát sinh cảm giác thấy rằng người
khác là một phần của chính mình. Tôi nghĩ rằng những
điều này rất ích lợi cho chúng ta. Với lòng từ bi thì
không có rào cản; sự lo sợ và nghi ngờ được giảm thiểu,
chính vì thế mà bạn có thêm can đảm và ý chí.
Michael Toms:
Nhiều người cảm thấy hoang mang và như bị dồn ép khi họ
nhìn ra thế giới bên ngoài với bao nhiêu vấn đề rắc rối.
Họ cảm thấy rằng mình không thể làm gì được. Làm sao một
cá nhân nhỏ bé có thể tạo một sự thay đổi trong một thế
giới với quá nhiều rắc rối? Ngài có gì để nói về điều
này chăng?
Đức Đạt Lai
Lạt Ma: Những vấn đề của thế giới ngày nay không phải
đột ngột phát sinh. Chúng có thể đã xuất hiện từ hai năm
trước cho đến hai thế kỷ trước, và rồi ngày hôm nay nó
đưa đến chỗ chúng ta. Vậy điều cần phải làm bây giờ là
giảm thiểu hay giải trừ những vấn đề của chúng ta, và
việc này có thể cũng mất khoảng một trăm năm. Cần phải
có thời gian, vì tính chất của sự thay đổi là trải qua
thời gian. Về căn bản thì nhiều chuyện xấu này chính yếu
là do con người tạo ra. Nếu không muốn những vấn đề này
tồn đọng, chúng ta phải cố gắng thay đổi chúng. Không có
người nào khác ở đây để lo cho chúng, mà chính mỗi người
chúng ta phải đối diện với vấn nạn ấy. Không có cách nào
khác. Mỗi cá nhân phải khởi sự. Trước hết là một người,
rồi những người khác tham dự, cho đến khi có hàng trăm,
hàng ngàn người. Sau cùng là xã hội loài người, cộng
đồng nhân loại. Một sự thay đổi lớn sẽ không diễn ra vì
nỗ lực của một cá nhân, mà chỉ có thể có được bằng nỗ
lực phối hợp của nhiều cá nhân.
Michael Toms:
Ngài thấy sao về những gì xảy ra ở Trung Quốc vào tháng
sáu năm 1989 có liên quan đến những gì xảy ra ở Tây
Tạng? Ngài thấy sao về tương lai của Tây Tạng liên quan
đến biến động đó.
Đức Đạt Lai
Lạt Ma: Trong lúc này chính phủ Trung Quốc có chính sách
cứng rắn nên chính sách của Tây Tạng cũng vậy. Nhưng có
một cái gì khác so với những gì diễn ra ở Trung Quốc.
Tôi nghĩ đó là một sự kiện quan trọng trong lịch sử của
chúng tôi. Một điều gây ấn tượng cho tôi là mặc dù nhân
dân Trung Quốc, đặc biệt là các sinh viên, đã được nuôi
dưỡng và được giáo dục trong xã hội cộng sản, vốn có
tính bạo động, nhưng họ đã thành tâm và nghiêm chỉnh làm
theo chủ trương bất bạo động của Mahatma Gandhi. Đó là
một điều rất đáng chú ý. Đối với tôi điều này đã chứng
minh rằng bất bạo động gần với bản tính của con người,
hay tinh thần con người hơn là những gì mà người ta
thường nghĩ.
Sinh viên
Trung Quốc hoàn toàn bất bạo động trong khi đòi hỏi có
thêm tự do dân chủ và bớt tham nhũng. Tôi thấy điều này
quá đẹp. Và dù trong lúc này họ thua, nhưng tôi nghĩ
rằng họ đã gây chấn động lớn lao trong lòng người dân
Trung Quốc. Với tinh thần mạnh mẽ và động lực thành tâm
của họ, tôi nghĩ đây chỉ là vấn đề thời gian trước khi ý
nguyện của họ thành tựu. Và tôi cầu nguyện cho mục tiêu
của họ. Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới. Là tu
sĩ Phật Giáo, khi tôi cầu nguyện cho chúng sinh, như
vậy, một phần lớn sự cầu nguyện của tôi bao gồm cả Trung
Quốc, và vì nước này có dân số lớn nhất. Ngay cả những
chuyện nhỏ cũng có thể có hiệu ứng trong xứ đó, vì nó
ảnh hưởng đến nhiều người như vậy – hơn một tỷ sinh
linh.
Michael Toms:
Trên đây là cuộc phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma được thực
hiện ở Costa Rica vào tháng sáu năm 1989. Rồi đến tháng
mười năm 1989 ngài đã dẫn đầu đoàn tụng niệm trong lễ
Lhasang truyền thống của Tây Tạng có mục đích cầu phước
cho địa phương. Lễ được cử hành trên núi Tamalpais, thị
trấn Marin, thuộc miền bắc San Francisco, tiểu bang
California, Hoa Kỳ. Có nhiều người nói rằng thiệt hại do
động đất gây ra ở vùng vịnh San Francisco ít hơn đáng kể
so với khả năng tàn phá của nó là vì có cuộc viếng thăm
của ngài ngay trước khi vụ động đất xảy ra.
Tôi đã có cơ
hội hỏi ngài một câu hỏi trong một cuộc họp báo được tổ
chức ngay sau buổi lễ Lhasang. Tôi hỏi ngài về sự đến
với nhau giữa Đông và Tây, và điều này thực sự có ý
nghĩa gì?
Đức Đạt Lai
Lạt Ma: Như tôi đã nói trước đây, những việc này là một
sự thay đổi rất tốt, một sự phát triển tích cực. Ở một
giai đoạn nào đó trong sự phát triển của một xã hội, một
chế độ độc đoán, cứng rắn, có thể hoạt động tốt. Một thí
dụ về điều này là cuộc cách mạng Nga diễn ra và một cuộc
cách mạng cộng sản Trung Hoa. Trong một thời gian nào đó
nó vận hành tốt. Nhưng tôi nghĩ rằng dù chế độ hay lý
tưởng này có tiềm năng xuyên phá chế độ trước nó, nhưng
nó có rất ít để cống hiến như một lối sống mới có ý
nghĩa. Đối với tôi, lý do rất rõ ràng. Những phong trào
cách mạng này phát xuất chính yếu từ sự thù ghét chứ
không phải từ tình yêu.
Cố nhiên,
loài người ngày nay có những tiến bộ về tình thương đồng
loại và quan tâm lẫn nhau. Đối với những người lao động
và những người ít quyền lợi, những tiến bộ này có thể có
vẻ rất tốt. Nhưng hãy so sánh sự thù ghét và quyền lực
với tình thương yêu, so sánh lực thù ghét với sức mạnh
của lòng từ bi. Tôi nghĩ rằng lực thù ghét có thể là sáu
mươi, bảy mươi hay tám mươi phần trăm, còn lòng từ bi
chỉ là hai mươi hoặc ba mươi phần trăm. Vì vậy sự việc
không thể hoạt động bình thường được. Và bây giờ chúng
ta thấy có những người đang nhận thức được tình trạng
này. Người ta bắt buộc phải thay đổi hoặc bắt buộc phải
chấp nhận thực tại theo tính chất như thật của nó. Đó là
lịch sử loài người.
Tôi xem thế
kỷ 20 là một trong những thế kỷ quan trọng nhất trong
lịch sử loài người. Trong thế kỷ này chúng ta thu được
nhiều kinh nghiệm, tốt cũng như xấu. Rốt cuộc, tôi nghĩ
rằng loài người đã có nhiều đầu óc phân biệt hơn, biết
nhận xét sự việc đúng hơn. Khi sự việc trở nên quá nguy
hiểm, rắc rối và đáng sợ, điều này làm cho con người
phát triển ý thức của mình, Vụ thả bom nguyên tử đã đánh
thức ước vọng hòa bình thế giới của loài người. Sau thế
chiến thứ hai nhiều người nghĩ rằng một thế chiến thứ ba
sẽ xảy ra, không thể tránh được. Nhưng vì mối đe dọa của
vũ khí hạt nhân nên người ta có ý thức nhiều hơn. Và đó
là hy vọng của chúng ta.
Về môi trường
thì cũng giống như vậy. Chúng ta thấy môi trường đang bị
phá hủy. Dấu hiệu của sự phá hủy này đã xuất hiện. Điều
này cũng giúp loài người phát triển ý thức. Đối với lãnh
vực tôn giáo, tôi cũng cảm thấy ý thức con người đang
gia tăng. Nhân danh những tôn giáo khác nhau, con người
đã chịu đau khổ và gây nhiều đau khổ cho nhau. Bằng việc
gây dựng ý thức về các tôn giáo khác, chúng ta có thể mở
mắt và mở tâm của mình ra để khoan dung nhìn vào thông
điệp của các tôn giáo khác nhau.
Lời kết: Đức
Đạt Lai Lạt Ma là khuôn mẫu từ bi cho mỗi người chúng
ta. Đây là một người đã mất gia đình, bạn bè và tổ quốc
của mình – hơn một triệu người Tây Tạng đã mất mạng từ
khi người Trung Quốc chiếm đóng vào năm 1959 – và điều
này đã xảy ra với một quốc gia chỉ có dưới năm triệu
dân, nhưng ngài vẫn nêu gương những điều lý tưởng mà
ngài vẫn nói với chúng ta.
Với một xã
hội toàn cầu như ngày nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nói
về sự quan trọng của việc nhận ra tính đồng nhất ở bên
trong tất cả mọi người, không phân biệt tôn giáo, chủng
tộc hay địa vị xã hội của họ. Rõ ràng là nhận thức này
bắt đầu trở nên quen thuộc với mỗi chúng ta. Khi chúng
ta biết thực hành tâm từ bi nhiều hơn trong đời sống
hằng ngày của mình thì thế giới cũng sẽ đổi thay.
Source:
Michael Toms (1998) Buddhism in the West, New
Dimensions, Hay House, California, USA
5. NHỮNG BÌNH
DIỆN CỦA TÂM LINH
^
Bài
giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma
Hai bình
diện tâm linh
Thưa các anh
chị em, tôi muốn nói về đề tài những giá trị tâm linh
qua việc định nghĩa hai bình diện hoạt động tâm linh hay
tôn giáo.
Để bắt đầu
tôi xin nói rằng, mục tiêu chính yếu của con người là
chúng ta muốn có một đời sống hạnh phúc. Tất cả chúng ta
đều muốn có hạnh phúc. Chúng ta đều mưu cầu để đạt được
hạnh phúc, đó là điều tự nhiên. Đó là mục đích trong
cuộc sống của chúng ta. Lý do rất rõ ràng khi không còn
hy vọng với đời sống này, chúng ta trở nên đau khổ, buồn
chán và có thể còn nghĩ đến chuyện tự tử nữa. Vì vậy sự