Bà Caroline Rhys Davids
Người kế thừa và phát
triển Hội Phiên Dịch Kinh Điển Pali tại Anh Quốc
Thích
Nguyên Tạng
Melbourne, Úc Châu 2006
---o0o---
Điều
quan trọng nhất về bà Caronline Augusta Foley Rhys Davids (1858-1942) là
bà là một nhà phê bình. Bà không chấp nhận tất cả những gì ở trong kinh
điển Pali là lời của Đức Phật. Bà tin rằng những đệ tử thừa hưởng giáo
lý của Đức Phật đã truyền lại với những giáo lý mà trong đó có “hình
thức xuyên tạc”. Bà có cách diễn dịch giáo pháp theo cách riêng của mình
mà bà trình bày một cách can đảm. Mặt khác bà đã bày tỏ tinh thần khoan
dung và tiến bộ của Phật Giáo, và sau hết là bà đã cống hiến tài năng về
học thuật của mình cho lý tưởng Phật Giáo.
Vào năm 36 tuổi, cô
Caroline Augusta Foley kết hôn với Thomas William Rhys Davids, 52 tuổi.
Bà là một người chín chắn và độc lập với căn bản xuất sắc về học thuật.
Rhys Davids cũng vậy. Hai người cùng quan tâm đến kinh sách Phật Giáo hệ
Pali. Một người bạn chung của hai người đã trông thấy những tiềm năng
của một cuộc kết hợp giữa hai nhà trí thức lớn, vì vậy đã khuyên họ kết
hôn với nhau. Cuộc hôn nhân đã cho thấy một kết quả hoàn hảo. Ông bà
Rhys Davids có 3 người con, đó là Davids Vivien Brynhilda (1895), Nesta
Enid (1900) và Arthur Rhys Davids (1897), là một phi công chiến đấu đã
tử trận trong thế chiến thứ nhất.
Sinh năm 1858, Caronline
Augusta Foley là một sinh viên xuất sắc ở University College, Luân Đôn,
nơi mà sau này bà được bầu vào ban giám đốc. Là thạc sĩ và tiến sĩ văn
chương, trong một thời gian dài bà là giảng viên tiếng Pali ở Trường
Đông Phương và Phi Châu Học Luân Đôn (London School of Oriental and
African Studies ) và trong một thời gian cũng là giảng viên Triết Học Ấn
Độ ở Đại học Manchester.
Năm 1881, bà cùng với
chồng là Tiến Sĩ Rhys Davids thành lập Hiệp hội Thánh Điển Pàli (Pàli
Text Society) tại Luân Đôn, và đây có thể xem là một tổ chức Phật Giáo
đầu tiên tại Anh quốc với sự tham gia của nhiều học giả nổi tiếng Âu
châu và Á châu, để nghiên cứu, biên soạn, chuyển ngữ và in ấn kinh điển
Phật Giáo bằng tiếng Pàli và Anh ngữ. Bà Rhys Davids đã trở thành người
kế thừa xứng đáng với vai trò Chủ tịch Hội (từ 1922 đến 1942) sau khi
chồng bà qua đời vào năm 1922.
Một học giả hàng đầu
với tài năng đa dạng
Trong tiểu sử tự thuật
nhan đề “Đốt cả hai đầu cây nến” (Both Ends of the Candle), Sir Denison
Ross, giám đốc đầu tiên của Trường Đông Phương và Phi Châu Học Luân Đôn,
viết như sau “ Lúc còn trẻ đã đánh bại đa số người trong môn quần vợt
và môn bi da, bà đã nhiều năm là một học giả Pali hàng đầu, là giảng
viên môn Pali, bà là một bảo vật của trường và đã thu hút được những
sinh viên đến từ nhiều quốc gia khác. Bà đã phải chịu một sự mất mát
kinh khủng khi người con trai của bà tử trận, anh ta là một phi công
chiến đấu xuất sắc của chúng ta và đã được chính phủ tặng Huân Chương
Thập Tự Victoria”.
Bà đã xuất bản rất
nhiều kinh sách PG Pali với các bản dịch tiếng Anh bằng văn xuôi hay
văn vần. Bà có công lớn trong việc biên tập, giải thích những cuốn sách
khó hiểu của Luận Tạng (Abhidharma Pitaka). Tài năng của bà càng nổi bật
qua việc biên tập những tác phẩm khó hiểu như Phân Biệt Luận (Vibhanga);
Phát Thú Luận (Patthana); Song Yếu (Yamaka); Thanh Tịnh
Đạo Luận (Visuddhamagga). Bà cũng dịch sang tiếng Anh một cách trong
sáng những tác phẩm nổi tiếng khác của Luận Tạng như Pháp Tập Luận
(Dhammasangvui); Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhammatthasangaha)
và Luận Sự Luận (Kathavattha), hai cuốn sau bà hợp tác với Swee
Zan Aung, người Miến Điện. Về Kinh Tạng (Sutta Pitaka), hai bản dịch
chính của bà là Tương Ưng Bộ Kinh (The Samyutta Nikaya/ The
Grouped Discourses); và Chuyện Tiền Thân Đức Phật (The Jataka)
thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya).Các bản bịch tiếng Anh văn vần của
bà là Trưởng LãoTăng Kệ (Theragatha) và Trưởng Lão Ni Kệ (Therigatha).
Hai cuốn này được xem là những tuyệt phẩm về văn vần của bà.
Ngoài những kinh sách
do bà dịch và biên tập, bà còn viết những cuốn sách riêng của mình như “Gotama
the Man” ( Đức Phật, một Con Người), và Thích Ca hay nguồn gốc
Phật Giáo (Sakya or Buddhist Origins), cả hai cuốn sách gợi ý rất
nhiều cho giới học giả Tây phương tìm về con người đích thực của Đức Thế
Tôn. Các tác phẩm đáng chú ý khác của bà là
Tâm lý
học Phật Giáo
(Buddhist Psychology); Sự khởi nguyên và phát triển của Tâm lý học Ấn
Độ trong Phật Giáo (The
Birth Of Indian Psychology And Its Development In Buddhism). Ngoài ra,
còn có nhiều bài nghiên cứu khác của bà viết về Phật Giáo đã được
sưu tập lại và xuất bản sau khi bà qua đời qua tuyển tập Lời Người Đi
Đường (Wayfarer’s Words).
Diễn dịch giáo lý
Một trong những lời diễn
dịch giáo lý của bà như sau “ Ít nhất là ba lần kinh sách Pali viết rằng
ngài Xá Lợi Phất (Sariputta), đại đệ tử của Phật Thích Ca, thường nói về
“ ta và tâm của ta” với một tỉ dụ. Ngài nói rằng chúng ta nên kiểm soát
tâm của mình, chứ không để cho mình chịu sự điều khiển của tâm. Cũng
giống như một vị vua có nhiều bộ áo trong tủ, sẽ lấy ra bộ nào cần mặc
vào buổi sáng, bộ nào vào buổi trưa và bộ nào cho buổi tối, rồi khoác
lên người với bộ áo thích hợp, và bộ áo đó không có gì để nói trong việc
này. (những đoạn này trích từ Majjhima Nikaya Sutta, 32 (Trung Bộ
Kinh, Kinh số 32); Samyutta Nikya (Tương Ưng Bộ Kinh); Mahavagga về
Bojjhanga ( Đại Phẩm về Bồ Đề Phần), “ Patisambhida magga” , “
Bojjhanga Katha” ( Bồ Đề Phần Kệ).
Đây là sự một sự phân biệt rõ ràng giữa con người và công cụ của y.
Những công cụ phải được giữ ở chỗ của chúng. Chúng ta lại thấy sự phân
biệt này trong một thí dụ khác, lần này là do Đức Phật nói “ở trong rừng
Jeta, xung quanh Tịnh Xá (nơi Ngài cư trú trong những năm cuối đời) có
những người đang kiếm củi. Đức Phật nói các ông không gọi những thanh
củi này là rừng chứ? vậy hãy xem thân và tâm không phải là các ông,
không phải là chính mình”. Củi được mang đi để đốt, rừng vẫn còn và lại
nở hoa.
“Một lần nữa, trong
hai câu đầu của phẩm Song Yếu (Yamakavagga)
của Kinh Pháp Cú (Dhammapada), chúng ta đọc thấy “
Nếu một người nói hay hành động với tâm ô nhiễm, quả xấu sẽ đi theo
người đó như bánh xe đi theo chân con bò. Nếu người đó nói hay hành động
với tâm thanh tịnh, niềm phúc lạc sẽ đi theo người đó như bóng cây không
rời khỏi cây” (Once more, in
the first two verses of the Twins(Yamaka) chapter of the Dhammapada, you
read: ‘If with corrupted mind he speaks or acts, ill follows him as the
wheel the foot of drawing beast; if with mind serene he speaks or acts,
bliss follows him as shadows goes not from the tree.’).
Nhưng đến lúc có sự
thay đổi trong giáo lý. Vị Thầy và đệ tử của ngài tịch diệt. Các vị Thầy
khác xuất hiện và giống như toàn thể đạo học Ấn Độ, đã chịu nhiều ảnh
hưởng của một phái mới nhiều nghiên cứu về tâm lúc đó đang chiếm ưu thế
và được gọi là Số Luận (Sankhya), trong tiếng Pali là Sankha hoặc
Sankhana. Trong phái này, tâm trí con người đuợc phân tích, cứ như tâm
là một thể vô hình, hay một loạt tiến trình theo một trật tự nào đó,
giống như tiến trình của cơ thể con người. Đó là khởi đầu của một loại
nghiên cứu mà ngày nay chúng ta cũng đã làm và gọi là tâm lý học. Dần
dần phái này ảnh hưởng đến Phật học nhiều như nó đã ảnh hưởng đến chúng
ta. “ Người” được giảm xuống chỉ còn là tâm trí của y. Giống như trong
một cuốn sách ngày nay tôi đọc thấy những chữ “tự ngã hay tâm trí”. Các
vị Thầy Phật Giáo đã đi đến chỗ dùng tâm thay cho tự ngã hay người. Vì
vậy một cuốn kinh (Majjhima Nikaya 43) viết rằng tâm trí là cái hưởng
tất cả những cảm giác, chứ không phải con người hay tự ngã như giáo lý
ban đầu đã nói.
Có đường đi nhưng
không có người đi đường
“Trong Kinh Pháp Cú,
chúng ta thấy mỗi vế gồm hai câu văn vần đã được cho thêm vào một dòng
để nói lên sự quan trọng mới được gán cho tâm: “sự vật là do tâm định
trước, có tâm là cái tốt nhất, là do tâm tạo ra”. Chúng ta có thể thấy
nếu bỏ dòng này đi thì những câu văn vần vẫn có ý nghĩa, và những vế hai
câu sẽ cân hơn.
Trong những câu này rõ
ràng tâm không phải là người nói hay người làm, trong những câu này bộ
áo không làm nên con người, và củi không phải là rừng, Nhưng dòng chữ
được cho thêm vào nói ngược lại. Điều này có vẻ xa cách với những pháp
ngữ đầu tiên của Đức Thế Tôn dành cho các đệ tử “hãy tìm tự ngã”. Nhưng
ngày nay tất cả chúng ta, ở Đông Phương cũng như Tây Phương, bị trói
buộc vào sự áp đặt đường lối của người hay ý thức vào chỗ “người ý thức”.
Tôi luôn luôn thấy điều này trong lời viết và lời nói của người Âu Châu,
và tôi thấy trong các sách Phật Giáo. Điều này nói nhiều đến mức Đường
đạo của vị Thầy được nói đến như là không có người đi trên con đường đạo
đó, mà chỉ có ý tưởng đi trên đường mà thôi. Thực sự giáo lý của các
Tăng sĩ thời sau này là “có đường nhưng không có người đi đường” (‘a Way
is there, but no wayfarer!’) Như vậy nghĩa là thế nào ? con người chỉ có
vì có đường đạo, hay đường đạo chỉ có vì có con người ? Một con đường
được làm ra để không có ai đi cả thì quả là vô ích. Chúng ta hãy trở về
với giáo lý tốt hơn nói về cái tủ áo và rừng cây. Chúng ta hãy làm chủ
của những bộ áo, chúng ta hãy bỏ những thanh củi đi. Rồi chúng ta sẽ
giống như khu rừng mùa xuân bừng nở những bông hoa mới.
Người theo truyền thống
Theravada không chấp nhận lối diễn dịch này, mà vẫn giữ quan điểm của
luận sư Phật Âm (Buddhaghosa) cho rằng Đường Đạo là để cho sắc tướng lăn
ở trên đó.
Tinh thần tiến bộ
của Phật Giáo
Bà Rhys Davids nói về
tinh thần khoan dung và tiến bộ của Phật Giáo như sau:
“Giáo lý Phật Giáo đưa
chúng ta trở lại tận thời kỳ đầu tiên của khoa học Hy Lạp. Giáo lý Phật
giáo không thể được dùng để kiểm soát hay làm lơ những khám phá của
Copernicus và Bruno, Galileo và Newton, Darwin và Spenser mà có thể được
dùng để kích thích và gây cảm hứng cho những khám phá. Không phải là
giáo điều để người ta chấp thủ, chỉ có quy ước, hay để thỉnh thoảng lại
cầu viện để hòa giải với thế gian với những khám phá, và những kết luận
của họ, mà giáo lý nhà Phật phải là một sự tiên tri thúc đẩy họ trong
công việc tìm chân lý của họ.
Nói về những thành quả
của khoa học và tư tưởng hiện đại là một chuyện, còn tuyên bố rằng thế
hệ này đầy tinh thần khoa học và rằng quan điểm và hành vi của người
trung bình được quy định bởi tinh thần khoa học lại là một chuyện khác.
Tình trạng sự việc như vậy chỉ đang ở thời kỳ ấu trĩ của nó, nhưng nó đã
sinh ra và đang lớn lên. Vì vậy mỗi phong trào tư tưởng đối phó mỗi lúc
mỗi nhiều hơn với tinh thần khoa học này, và sẽ đứng vững được hay sụp
đổ phần lớn là theo ý muốn của nó. Và vì vậy tất cả những người nào tự
gọi mình là tín đồ Phật Giáo, hay những người nào muốn truyền bá kiến
thức Phật Giáo, hay ít nhất, tinh thần của giáo lý Phật Giáo, nên nhìn
vào lời tuyên bố cho tinh thần khoa học đó. Thêm nữa, những người nào
muốn theo dõi sự phát triển của tư tưởng nhân loại không thể nào vô tâm
với mức độ mà tâm trí của người Ấn Độ cổ đại đã nói trước về một quan
điểm mà giới tri thức Âu Châu đạt đến một cách chậm chạp và đau đớn….
Hàm ý một sự biến
động về tâm lý
Phật Giáo thời kỳ đầu
và khoa học hiện đại biểu lộ niềm tin vào luật nhân quả phổ quát với
những từ ngữ rất giống nhau. Điều này làm cho chúng ta phải nghiên cứu
thêm để biết có bao nhiêu bằng chứng lịch sử cho thấy sự tiến hóa của
niềm tin luật nhân quả trong những Phật Giáo thời kỳ đầu đi song song
với niềm tin luật nhân quả ở Âu Châu. Sự thiếu liên tục và thiếu ghi
nhận thứ tự thời gian trong kinh sách Ấn Độ cổ đại gây nhiều khó khăn
cho việc nghiên cứu này. Nhưng vẫn có một khối lượng kinh sách Ấn Giáo,
một sự tích tụ những mốc thời gian, được gọi là sáu mươi kinh Upanisad (Áo
Nghĩa Thư) của giáo lý Vệ Đà, trong đó một hình thức phiếm thần giáo
(pantheism) gọi là “Atmanism” hay “Vedantism” được đặt ra, với chính yếu
là những quan điểm cổ xưa về cái mà chúng ta gọi là Nguyên nhân đầu tiên,
Cuối cùng và Cơ hội (First, Final and Occasional Cause). Và chúng ta có
kinh điển PG Pali, được xem là có niên đại trùng với thời kỳ giữa của
sáu mươi bản kinh Ấn Giáo đó, và bác bỏ lý thuyết “ Atman”, dù là đại
ngã hay tiểu ngã.
“Chúng ta không thể nói
đến mức độ nào Phật Giáo như một phong trào chống Ấn Giáo, chống giáo
quyền, đã nảy sinh sự bác bỏ thuyết Atman, tự ngã hay tiếp tục một
truyền thống bác bỏ xưa hơn và rộng hơn. Nhưng sự kiện các nhà thành lập
Phật Giáo trong đời sống xuất gia tu hành đã một mặt đứng ở quan điểm
chống Ấn Giáo, và mặt khác lấy luật nhân quả tự nhiên làm giáo lý chính
yếu của mình, gợi lên ý tưởng đây là một sự biến động tâm lý”.
Trong những đoạn văn
trên, chúng ta thấy bà Caroline Rhys Davids ở đỉnh cao năng lực của bà,
khi bà dành những gì tốt đẹp nhất trong sở học của mình cho lý tưởng
Phật Giáo. Bà làm việc không mỏi mệt cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc
đời, bà từ trần ngày 26 tháng 6 năm 1942, hưởng thọ 85 tuổi, để lại phía
sau mình một tổ chức Phiên dịch kinh điển Pali vững mạnh và có nhiều
đóng góp cho Phật Giáo thế giới đến tận hôm nay.
Tổng
hợp theo tài liệu:
-
The Western Contribution to
Buddhism.William
Peiris (1973). Motilal Banarsidass Publications, Delhi, India
- http://en.wikipedia.org/wiki/Caroline_Rhys_Davids