| ...... ... |
. |
Edward Conze
Một dịch giả Phật Giáo vĩ đại ở
Phương Tây
Thích
Nguyên Tạng
Melbourne, Úc Châu 2006
|

Đại dịch giả Edward Conze |
Tiến sĩ Edward Conze
(1904-1979) là một trong những học giả, dịch giả Phật Giáo vĩ đại nhất ở
Tây Phương. Là nhà nghiên cứu đứng đầu trong tất cả các tông phái Phật
Giáo, ông thông thạo những ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Trung Hoa, Tây Tạng,
Mông Cổ và Nhật Bản. Trong hơn ba mươi năm, ông là giảng viên tâm lý học
ở đại học.
|
|
Edward Conze (đọc theo
tiếng Đức là Eberhart Julius Dietrich Conze) sinh năm 1904 tại thủ đô
Luân Đôn trong một gia đình được hòa lẫn nhiều dòng máu khác nhau giữa
Đức, Pháp và Hà Lan. Cha của ông thuộc tầng lớp quý tộc Đức và Mẹ của
ông thuộc giới “tài phiệt” của Đức. Edward Conze xuất thân từ gia đình
theo Đạo Tin Lành (Protestant) mặc dù về sau mẹ của ông tin theo Ky Tô
Giáo.
Edward Conze chào đời
tại Anh quốc do vì thời gian đó cha của ông làm việc như là một Phó Đại
Sứ của Đức tại xứ sở này, cũng chính điều này mà ông được mang quốc tịch
Anh, một phương tiện cần thiết về sau khi ông quay lại Anh quốc vào năm
1933.
Thuở thiếu thời của ông trải qua rất êm đềm và được giáo
dưỡng trong môi trường tốt. Ông được học ở nhiều Trường Đại
học khác nhau ở Đức và đặc biệt ông chọn khoa ngôn ngữ để
theo đuổi gồm 14 thứ tiếng khác nhau, bao gồm cổ ngữ
Sanskrit. Giống như nhiều người trẻ Âu Châu khác, ông đã tìm
đến Hội Thông Thiên Học (Theosophy) rất sớm. Ông cũng
thích nghiên cứu về thuật chiêm tinh (Astrology) và trở
thành một chiêm tinh gia sắc sảo trong đời ông. Và khi đang
độ tuổi thanh niên, ông đã viết một tập sách với tựa đề là
“Nguyên lý Phủ định (The Principle of Contradiction).
|
|
 |
Trong thời điểm quyền lực của Hitler đang tăng lên, Conze
nhận ra mình có quan điểm đối lập với chủ nghĩa Quốc Xã nên
ông đã gia nhập Đảng Cộng Sản (Communist Party) và
bắt đầu nghiên cứu chủ nghĩa Marx, và về sau ông từng làm
thủ lãnh cho phong trào cộng sản ở Bonn. Năm 1933, ở tuổi
29, ông đến Anh Quốc với hai bàn tay trắng. Ông tự nuôi sống
bằng cách mở lớp dạy Đức Ngữ và gia nhập Đảng Lao Động (Labour
Party). Ông quen biết được nhiều nhân vật nổi tiếng và
giới trí thức trong Đảng phái này. Ông trở nên một người
tích cực hoạt động cho phong trào xã hội tại Anh. Ở tuổi 35, ông
nhận ra mình đang ở trong tình trạng rối loạn tri thức và vỡ mộng về
chính trị. Đời sống hôn nhân của ông cũng thất bại. Trong lúc quá mỏi
mệt cuộc sống như thế ông đã khám phá ra Đạo Phật khi ông bất ngờ đọc
được tập sách “Những hạt thóc còn sót lại trên Những Cánh Đồng Phật”
( Gleanings in Buddha Fields) của Lafcadio Hearn. Tuy nhiên sự tiếp
xúc ý nghĩa đầu tiên của Conze đối với Đạo Phật vẫn là ở tuổi trung niên,
tức là đầu Thế Chiến Thứ Hai và nhất là khi ông đọc các tác phẩm của
Thiền Sư D.T Suzuki. Và từ đó, Edward Conze đã cống hiến trọn đời mình
cho Phật Giáo, nổi bật nhất là phiên dịch và chú giải Kinh Bát Nhã (Prajnaparamita
or Perfection of Wisdom sutras), bộ Kinh nền tảng của Phật Giáo Đại
Thừa. Nhưng Edward Conze không chỉ là một học giả theo chủ nghĩa kinh
viện, lý thuyết suông, mà trong thời gian chiến tranh, ông đã sống và tu
tập thiền định trong một chiếc xe lưu động caravan tại khu rừng New
Forest. Thật vậy, ông đã áp dụng phương pháp thiền tập theo sự hướng dẫn
của Ngài Phật Âm (Buddhaghosa) trong bộ sách Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga)
và ít nhiều ông đã đạt được một vài trình độ khả quan trong kinh nghiệm
hành thiền. |
|

Xem bản
Việt dịch của Chân Pháp |
Sau chiến tranh ông đến định cư ở Oxford và tái hôn với một
phụ nữ thứ hai. Năm 1951, ông khởi sự viết cuốn “
Tinh
Hoa và sự phát triển của Đạo Phật” (Buddhism: Its
Essence and Development, ấn hành năm 1957), quyển sách
làm nổi bật Đạo Phật như một tia sáng tỏa chiếu từ Phương
Đông. Tập sách rất thành công vì được sự tiếp nhận rộng rãi
và hiện nay tác phẩm này vẫn được liên tục tái bản. Trong
sách này, Edward Conze đã viết “một người nghiên cứu muốn
biết chắc giáo lý đích thực của Đức Phật là gì sẽ thấy mình
đụng phải hàng ngàn kinh sách, tất cả đều tự nhận là lời của
Đức Phật, nhưng lại chứa đầy những giáo thuyết khác biệt và
mâu thuẫn với nhau. Một số tác giả có nhiều ảnh hưởng thuộc
phái không theo truyền thống mới đây đã tranh luận rằng
người ta phải tìm giáo lý Phật Giáo đích thực chỉ trong
những gì mà Phật Thích Ca đã giảng dạy khoảng năm 500 trước
Tây Lịch. Ý kiến này đã gây ra những phản ứng gay gắt. Sự
thật là đối với tầng xưa nhất của những kinh sách hiện đang
có, người ta chỉ có thể đạt đến bằng suy luận và võ đoán một
cách không chắc chắn. Tất cả những nỗ lực tái tạo một nền
Phật Giáo Nguyên Thỉ (original Buddhism) này chỉ có một
điểm chung là đều đồng ý rằng giáo lý của Đức Phật chắc chắn
không phải là những gì mà các tín đồ Phật Giáo vẫn hiểu. Thí
dụ, bà Rhys David loại bỏ thuyết vô ngã (not-self) và
tổ chức tu viện của Phật Giáo. Đối với bà, một sự tôn thờ
“Người” (The Man) là giáo lý nguyên thỉ của Phật Giáo.
H.J. Jenning thì thẳng thừng bác bỏ tất cả những đoạn nói
đến luân hồi (reincarnation) trong kinh sách, và ông
nói rằng như vậy là để phục hồi ý nghĩa nguyên thỉ của kinh
sách. Tiến sĩ Paul Dahlke cũng không cần biết đến những
điều huyền bí (mythology) có đầy trong Phật Giáo truyền
thống, và giảm giáo lý của Đức Phật xuống thành một thứ lý
thuyết bất khả tri, duy lý. Trong cuốn sách này tôi mô tả
truyền thống sống động của Phật Giáo qua những thế kỷ, và
tôi thú |
nhận rằng tôi không
biết giáo lý nguyên thỉ của Phật Giáo là cái gì. Nếu xem tất cả lịch sử
Phật Giáo sau thời kỳ đầu là lịch sử của sự thoái hóa trừ một số giáo lý
nguyên thỉ thì như vậy giống như xem một cây sồi (oak tree) là sự thoái
hóa của một hạt sồi. Trong cuốn sách này tôi xem lời dạy của Đức Phật,
là bao gồm tất cả những giáo lý được gắn liền vào giáo lý nguyên thỉ bởi
sự liên tục của lịch sử, và những giáo lý này trình bày những phương
pháp đưa đến sự tu sửa của cá nhân bằng việc giải trừ ngã chấp”.
Nhận
xét Phật Giáo bằng kết quả của tôn giáo này:
 |
Một người cộng tác của
ông là Tiến sĩ Arthurn Waley nói một cách súc tích về sự hiểu biết sâu
xa của ông về Phật Giáo như sau: “Đối với Tiến sĩ Conze, những câu
hỏi mà Phật Giáo đặt ra và trả lời là những câu hỏi sống thực và ông
luôn luôn liên kết những câu hỏi này với lịch sử và với thực tại “
Edward Conze tổng kết
Phật Giáo một cách ngắn gọn như sau: “lúc đầu người ta có thể bị Phật
Giáo thu hút một cách xa xôi, nhưng họ chỉ có thể cảm nhận được giá trị
đích thực của Phật Giáo khi nhận định Phật Giáo bằng những kết quả mà
tôn giáo này sản sinh trong đời sống hằng ngày của chính mình”.
(Although one may originally be attracted by its remoteness, one can
appreciate the real value of Buddhism only when one judges it by the
results it produces in one’s own life from day to day).
Khi nói về “Phật Giáo
Âu Châu” (European Buddhism), Edward Conze viết “các nhà truyền giáo
Dòng Tên của Ky Tô Giáo trong thế kỷ 17 và thế kỷ 18 đã biết khá chính
xác về PG Trung Hoa và Nhật Bản, nhưng một triết gia người Đức, Athur
Schopenhauer, là người đầu tiên làm cho Âu Châu biết về Phật Giáo như
một tín ngưỡng sống thực. Không biết gì về kinh sách Phật Giáo, chỉ được
hướng dẫn bởi triết lý của Kant, một bản dịch tiếng La Tinh từ một bản
dịch tiếng Ba Tư của Áo Nghĩa Thư (Upanishad) của Ấn Giáo và sự thất
vọng với cuộc đời, đến năm 1819, Schopenhauer đã lập một hệ thống triết
lý với chủ trương “Phủ nhận ý chí sống”(Negation of the Will
to live) và xem sự cảm thông là hạnh cứu rỗi độc nhất, và do đó có
khuynh hướng rất giống tinh thần từ bi của Đạo Phật. Những ý tưởng của
Schopenhauer được trình bày một cách sống động và dễ đọc đã có ảnh hưởng
lớn ở Lục địa Âu Châu. Richard Wagner đã có ấn tượng mạnh mẽ với giáo lý
PG và trong những năm gần đây Albert Schweitzer sống một cuộc đời giống
Schopenhauer đã đề ra”.
|
Công
trình của bốn thế hệ:
Trong thế kỷ 19, cuộc
xâm chiếm Á Châu của các thương gia, các quân nhân, và các nhà truyền
giáo Âu Châu được đi kèm bởi sự xâm nhập dần dần của những tư tưởng Á
Châu vào Âu Châu. Sự xâm nhập này có hai hình thức là nghiên cứu một
cách khoa học và tuyên truyền phổ thông. Việc nghiên cứu văn học và mỹ
thuật Phật Giáo đã liên tục trong 120 năm nay không gián đoạn. Trong mỗi
thế hệ, lịch sử Phật Giáo đã thu hút một số đáng kể những học giả có khả
năng. Nhiều người trong số họ, đặc biệt là trong thời kỳ đầu, đã nghiên
cứu Phật Giáo giống như một người quan sát địch thủ của mình, chỉ muốn
chứng minh sự vượt trội của Ky Tô Giáo. Một số ít nghĩ rằng họ phải tìm
hiểu một số tín ngưỡng rất tinh thuần ( faith of supreme purity)
mà Âu Châu có thể học hỏi được. Đa số học giả nghiên cứu tài liệu Phật
Giáo với sự vô tư của một người đang giải một ô chữ. Công trình của bốn
thế hệ có kết quả là việc nghiên cứu Phật Giáo đạt được tiến bộ lớn, dù
vẫn còn nhiều việc phải làm. Về mặt xã hội, môn nghiên cứu Đông Phương ở
Âu Châu gắn liền với chủ nghĩa đế quốc. Với sự suy tàn của chủ nghĩa đế
quốc Âu Châu, môn Đông Phương Học hiện đang gặp khó khăn, và không biết
sẽ ra sao trong tương lai. Ở Liên Xô, việc nghiên cứu Phật Giáo có lẽ đã
không còn, dù trong quá khứ người Nga đã đóng góp rất nhiều cho ngành
này. Có thể là huyền học Phật Giáo không thích hợp với những người theo
biện chứng pháp duy vật.
 |
Năm 1875 diễn ra một sự kiện có tầm quan trọng rất lớn, bà
Blavatsky và Đại tá Olcott thành lập Hội Thông Thiên Học
(Theosophical Society). Những hoạt động của Hội này làm
gia tăng kiến thức về các tôn giáo Á Châu và phục hồi sự tự
tin trong tâm trí đang lay động của chính những người Á Châu.
Lúc đó nền văn minh Âu Châu gồm một sự phối hợp của khoa học
và thương mại của Ky Tô Giáo và chủ nghĩa Quân Phiệt, có vẻ
rất hùng mạnh. Chỉ có một ít người nhận thấy nguy cơ diễn ra
chiến tranh quốc gia và đấu tranh giai cấp. Một số người có
học mỗi lúc mỗi nhiều hơn ở Ấn Độ và Tích Lan, cũng như
những người Nhật cùng thời, cảm thấy rằng họ không còn có
cách nào khác hơn là chấp nhận nền văn minh Âu Châu với tất
cả những chi tiết của nó. Các nhà truyền giáo Ky Tô Giáo
trông đợi một sự theo đạo, cải đạo hàng loạt và mau chóng
của người Á Châu, nhưng trào lưu này đã bất ngờ đảo ngược.
Một số ít người nam nữ thuộc chủng tộc da trắng chiếm ưu thế
ở Nga, Mỹ và Anh quốc, những người Thông Thiên Học, đã xuất
hiện giữa những người dân Ấn Độ và Tích Lan để bày tỏ sự cảm
phục của họ đối với nền minh triết cổ truyền của Đông Phương.
Bà Blavastky nói về Phật Giáo với những lời ca tụng cao nhất,
Đại tá Olcott viết một tập sách “Phật Pháp Vấn
Đáp”(Buddhist Catechism) và A.P. Sinnett xuất bản một
cuốn sách rất thành công trong đó tất cả những loại ý tưởng
huyền bí và hấp dẫn được giới thiệu là “Phật Giáo Bí
Truyền” (Esoteric Buddhism). Huyền thoại về các vị
Mahatma nói rằng các vị lãnh đạo thông thái và bán thiêng
liêng của loài người đang sống trong rặng núi Hy Mã Lạp Sơn
ở Tây Tạng và Ấn Độ, và là những nơi được bao phủ bởi hào
quang trí tuệ siêu nhân. Với sự can thiệp đúng lúc của mình,
Hội Thông Thiên Học đã làm được rất nhiều cho Phật Giáo. Sau
đó Hội này như một tổ chức
|
đã suy thoái vì vật chất
và những hoạt động mờ ám, nhưng vẫn tiếp tục là động lực cho việc nghiên
cứu Phật Giáo và đã gây cảm hứng cho nhiều người tìm hiểu xa hơn. Một
người ở trong Hội Thông Thiên Học là Sir Edwin Arnold, có tác phẩm
trường ca về Phật Thích Ca với nhan đề “ Ánh Sáng Á Châu” ( The Light
of Asia), làm cho nhiều người kính phục Đức Phật về cuộc đời thanh
tịnh và đầy lòng từ bi của Ngài đối với hết thảy chúng sinh.
Đánh
trống Pháp:
Edward Conze viết tiếp:
“Sau năm 1900 một số nhà truyền giáo Phật Giáo từ Á Châu đến hoạt động ở
Luân Đôn và những nơi khác, những không đạt được nhiều thành công. Ở
những thủ đô của Âu Châu như Paris, London và Berlin, những tổ chức
tuyên truyền nhỏ được thành lập. Ở Anh Quốc, với sự lãnh đạo tài năng
của Christmas Humphreys, Hội Phật Giáo đã cho thấy nhiều sáng kiến trong
việc “ đánh trống Pháp” (beating the drum of the Dharma).
Tuy nhiên cho đến lúc này Phật Giáo Âu Châu đã không tìm được chỗ đứng.
Tổ chức Tăng Đoàn là một thành phần thường trực và ổn định trong lịch sử
Phật Giáo. Tăng sĩ và tự viện là một nền móng không thể thiếu của một
phong trào Phật Giáo, có mục tiêu là trở thành một thực tế xã hội sinh
động cụ thể. Một số tín đồ PG Âu Châu muốn xuất gia tu học đã đến Tích
Lan, Trung Hoa và Nhật Bản.
|

|
Việc thiết lập những tu viện Phật Giáo ở Âu Châu gặp những
chướng ngại lớn, nhưng có lẽ không lớn hơn ở Trung Hoa trước
kia. Khi sự phá sản nền văn minh của chúng ta trở nên rõ rệt
hơn, sẽ có thêm nhiều người tìm về nền minh triết quá khứ,
và một số họ sẽ tìm đến hình thức Phật Giáo của nền minh
triết này. Chúng ta chưa biết những người Âu Châu mặc áo
vàng sẽ xuất hiện lần đầu tiên ở đâu và khi nào”.
Edward Conze là người biên tập chính của một bộ hợp tuyển
kinh văn Phật Giáo bao quát và là tác phẩm độc nhất thuộc
loại này, “Kinh Điển Phật Giáo qua các thời đại” (Buddhist
Texts Through the Ages). Đây là phần tiếp theo
tác phẩm của ông Tinh hoa và sự Phát triển của Phật Giáo,
và được chia thành bốn phần. Bà I.B. Horner biên tập phần
thứ nhất về Phật Giáo Pali, phần thứ hai do chính
Edward Conze viết về Phật Giáo Đại Thừa, phần thứ ba
về Mật Giáo do Tiến sĩ David Suellgrove đảm trách và
phần thứ tư gồm những văn bản kinh sách Trung Hoa và Nhật
Bản do Tiến sĩ Arthur Waley biên tập. Tất cả những văn
bản đã được dịch lại từ nguyên văn tiếng tiếng Pali,
Sanskrit, Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản. |
Ba
thời kỳ triết học của Phật Giáo
 |
Trong cuốn sách “Thiền Định Phật Giáo” (Buddhist
Meditation), Edward Conze đã trình bày cả pháp môn thiền
của Nguyên Thỉ lẫn pháp môn thiền của Đại Thừa. Nhưng phần
lớn nội dung của tập sách này được trích dẫn từ “Thanh
Tịnh Đạo Luận” (Visudhimagga) tác phẩm tiếng Pali của
luận sư Buddhaghosa (Phật Âm) mà ông mô tả là “cuốn sách
tuyệt vời gồm 616 trang được viết trong thế kỷ thứ năm”. Ông
nói rằng “giống như tất cả những tác giả ở thế gian này,
Buddhaghosa cũng có những khuyết điểm. Nhưng đó chỉ là những
lỗi nhỏ, và ông đã soạn một trong những tác phẩm đạo học vĩ
đại nhất của loài người. Nếu phải chọn một cuốn sách độc
nhất để mang theo với mình ra một hoang đảo thì đây sẽ là
cuốn sách của tôi” (like all human authors, Buddhaghosa has
his faults. But these are minor irritants, and he has
composed one of the greatest spiritual classics of mankind.
If I had to choose just one book to take with me on a desert
island, this would be my choice)
“Tư Tưởng Phật Giáo Ấn Độ” (Buddhist
Thought in India) là một tác phẩm xuất sắc khác
của ông, nói về ba thời kỳ phát triển của triết học Phật
giáo trong hơn 1100 năm, từ khoảng năm 500 trước Tây lịch
đến năm 600 Tây lịch. Phần thứ nhất được gọi là “Phật
Giáo Cổ Đại” (Archaic Buddhism), tức là những giáo lý
chung cho tất các tăng sĩ trong khoảng triều đại Hoàng đế
Asoka, phần thứ hai và phần thứ ba nói về sự phân phái của
Phật Giáo vào khoảng đầu Tây lịch thành hai phái Nguyên
Thỉ (Hinayana hay Theravada) với Luận Tạng của phái này
và Đại Thừa Phát Triển (Mahayana) với siêu hình học
xuất thế gian. |
Edward Conze là người
có thẩm quyền hàng đầu về Kinh Bát Nhã (Mahaprajanapara Sutra). Trong
tác phẩm “Wisdom Books” ông nói về những kinh sách dung chứa tất cả
những giáo lý cốt tủy của Đại Thừa mà trong nhiều thế kỷ đã được phổ
biến ở Trung Hoa, Nhật Bản, Mông Cổ và Tây Tạng. Ông làm cho những giáo
lý này dễ hiểu bằng cách giải thích tất cả những từ ngữ và đa số những
luận điểm trong Kinh Kim Cương (Diamond
Sutra) và Tâm Kinh Bát Nhã (Heart Sutra). Các nhà
nghiên cứu Phật Giáo nói rằng “đây là chiếc chìa khóa vô giá đưa đến
trí huệ hoàn hảo vốn là điều quan tâm của tất cả những nhà tư tưởng sáng
tạo”(this is an invaluable key to that perfection of wisdom which was
once the concern of every creative thinker.”).
|
Là tín đồ
Phật Giáo trong ba mươi qua, Edward Conze là một trong những
học giả Phật Giáo vĩ đại nhất thế giới. Ông là giáo sư Ấn Độ
học ở Đại Học Washington. Ông có công trong việc thiết lập
một chương trình Tiến sĩ Phật Học. Dù thế nào đi nữa, thành
quả thực sự của ông trên hai mươi năm sau đó là phiên dịch
và sớ giải hoàn tất 30 kinh sách các loại thuộc hệ tư tưởng
Bát Nhã, kể cả hai bản kinh quan trọng nhất của Đại Thừa
Phật Giáo là Tâm Kinh Bát Nhã và Kinh Kim Cang.
Trong hai
thập niên sáu mươi và bảy mươi, ông đã đi diễn thuyết ở
nhiều trường Đại học ở Mỹ, và ông đã được các sinh viên
nhiệt liệt tán dương công đức, nhưng ông lại bị Ban Giám
Hiệu các trường Đại học và một số đồng nghiệp phản đối, do
vì ông từng hoạt động chính trị cho Đảng Cộng Sản trước kia
cũng như sự chỉ trích thẳng thừng của ông về việc người Mỹ
tham chiến tại Việt Nam.
Tiến Sĩ Edward Conze là một con người phức tạp, khó hiểu,
không dễ cho ta có thể đánh giá được toàn bộ những việc làm
ý nghĩa của đời ông. Cũng giống như bao nhiêu người Trung Âu
khác, ông là một người trí thức tị nạn từ Đức quốc, nhưng
ông không phải là hạng người đại diện cho tầng lớp trí thức
ưu thế trong thế kỷ 20, vì chính ông đã phê phán mạnh mẽ về
khuynh hướng này. Ông tự thú nhận là ông theo Chủ Nghĩa
Tinh Hoa (Elitism). |
 |
Trong cuốn tự
truyện của ông với tựa đề là “ Hồi Ký về sự Ngộ Đạo Hiện Đại”
(Memoir of Modern Gnostic) ông tin rằng mọi sự mà ông đã làm được
như thuyết Ngộ Đạo của một người theo theo chủ nghĩa tinh hoa. Ông không
chấp nhận chế độ dân chủ (democracy) lại càng không đồng ý về nữ quyền
(feminism), ông nhất định là người đại diện cho một thế hệ tiền chiến ở
Phương Tây để rồi trở thành người thất chí, mộng vỡ tan tành với chủ
nghĩa Marx theo mô thức của Xô Viết, nhưng ông không đơn giản là bị tan
biến đi cái ảo tưởng khi tham dự các sinh hoạt xã hội. Cuối cùng ở trong
ngõ cụt của đời sống, ông đã khôn ngoan chuyển hóa cái chủ nghĩa duy tâm
không thoả hiệp từ chính trị sang Đạo Phật, một lối thoát, một con đường
đưa ông đến an lạc và tỉnh thức.
 |
Tiến Sĩ Edward Conze được xem là một trong những dịch giả
Phật Học vĩ đại ở Phương Tây có thể so sánh với các Đại Dịch
Giả ở Trung Hoa như Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập (Kumarajiava)
hoặc Pháp Sư Huyền Trang (Hsuan Tsang). Như đã nói, ông
không là một học giả Phật giáo trên sách vở mà là một Phật
tử thuần thành có tu hành thật sự. Ông là một con người tiên
phong, người mở đường, và là một tấm gương sáng ngời cho thế
hệ Phật tử Tây Phương sau ông trong việc học hỏi, nghiên cứu,
dịch thuật và tu tập theo Phật Giáo. Ông đã làm việc không
mệt mỏi và cống hiến hết tài năng của mình cho nền Phật Học
Tây Phương cho đến hơi thở cuối cùng, ông qua đời ngày 24
tháng 9 năm 1979 tại nhà riêng của ông ở Sherborne, thành
phố Dorset, phía Tây Nam Anh Quốc, thọ thế 75 tuổi.
Trong số những tác phẩm khác để lại cho đời của ông là bản
dịch “Hiện Quán Trang Nghiêm Luận” (Abhisamayabankara)
xuất bản 1954; “Tuyển tập Giáo lý Bát Nhã” (Selected
Sayings) xuất bản năm 1955; “Kinh Kim Cương” (Vajracchedika
Prajnaparamita) biên tập và chuyển ngữ năm 1957; “Tiểu
Phẩm Bát Nhã” ( Astasahasrika Prajnaparamita), bản dịch
năm 1958; “ Kinh Điển Phật Giáo”(Buddhist Scriptures)
biên tập năm 1959; “Văn Học Bát Nhã” ( The Prajnaparamita
Literature) xuất bản năm 1960; “Lược sử Phật Giáo” (A
Short History) xuất bản năm 1961; “ Đại Bát Nhã” (
The Large Sutra on Perfect Wisdom) xuất bản 1961; “Thủ
bản Gilgit Tiểu Phẩm Bát Nhã” (The Gilgit Manuscript of
the Astadasasahasika Prajnaparamita) biên tập và dịch năm
1962.
|
Tổng hợp theo tài liệu:
-
William Peiris (1973) The Western Contribution to
Buddhism.(1973).
Motilal Banarsidass Publications, Delhi, India
-
Sangharakshita (1996) Great Buddhists of the Twentieth
Century. Windhorse
-
Retrieved
from "http://en.wikipedia.org/wiki/Edward_Conze"
---o0o---
| Mục lục |
---o0o---
Kỹ thuật vi tính: Hải
Hạnh,
Ðàm
Thanh,
Diệu
Nga,
Tâm
Chánh,
Nguyên
Tâm
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 01-01-06
|
|