Bồ
Tát
Quan
Âm
Trong
Tín
Ngưỡng
Của
Người
Nhật
Bản
Bồ
Tát
Quan
Âm
(Avalokite
svara)
tại
Nhật
Bản
được
biết
qua
danh
hiệu
là
Kannou.
Theo
giáo
nghĩa
của
Phật
giáo
Bắc
truyền
thì
Bồ
Tát
Quan
Âm
là
một
vị
Bồ
Tát
có
oai
thần
lực
bất
khả
tư
nghì,
trong
vô
lượng
kiếp
thời
quá
khứ
đã
chứng
quả
Phật
rồi,
hiệu
là
Chánh
Pháp
Minh
Như
Lai,
nhưng
vì
lòng
thương
tưởng
muốn
cho
chúng
sanh
an
lạc
mà
thị
hiện
làm
Bồ
Tát.
Tại
Nhật
Bản,
tín
đồ
tôn
kính
và
thờ
Bồ
Tát
Quan
Âm
qua
33
hình
tượng
khác
nhau
được
mô
phỏng
theo
trong
kinh
Pháp
Hoa.
Ngài
được
tin
tưởng
là
một
người
có
thể
giải
quyết
hết
tất
cả
mọi
khúc
mắc,
chướng
ngại
và
đem
lại
sự
lợi
lạc
cho
chúng
sanh.
Ngài
được
tin
tưởng
là
một
người
có
lòng
từ
quảng
đại,
có
sức
mạnh
và
thần
lực
vô
biên
để
cứu
giúp
tất
cả
mọi
loài.
Trong
phẩm
thứ
25
của
kinh
Pháp
Hoa
đã
mô
tả
về
phép
thuật
của
Ngài
như
sau
:
"Hoặc
bị
khổ
nạn
vua,
khi
sắp
bị
hành
hình,
do
tưởng
niệm
Quan
Âm,
đao
liền
gãy
từng
đoạn;
hoặc
tù
cấm
xiềng
xích:
tay
chân
bị
gông
cùm,
do
sức
niệm
Quan
Âm,
tháo
mở
được
giải
thoát".
Một
niềm
tin
tưởng
như
vậy
đã
ăn
sâu
vào
lòng
người
dân
Nhật
từ
lúc
Phật
giáo
mới
truyền
vào.
Chúng
ta
sẽ
không
ngạc
nhiên;
bởi
vì
thời
ấy,
cái
hạnh
phúc,
an
lạc
và
tự
do
không
nằm
trong
tay
của
người
dân
thường
mà
thuộc
về
thiên
nhiên
và
người
có
quyền
thế.
Mọi
người
đều
tin
rằng
Bồ
Tát
Quan
Âm
có
thể
vô
hiệu
hóa
hết
tất
cả
mọi
rắc
rối
và
thiên
tai
do
con
người
và
trời
đất
gây
ra.
Điều
này
giải
thích
tại
sao
các
loại
tượng
Quan
Âm
được
tôn
thờ
một
cách
phổ
biến
trên
khắp
đất
nước
Nhật
Bản.
Ngay
cả
đến
thế
kỷ
XII,
đã
có
những
bài
hát
về
Bồ
Tát
Quan
Âm
mà
đến
nay
nó
được
liệt
kê
vào
những
bộ
sưu
tập
dân
ca
của
nước
Nhật.
Chẳng
hạn
như
bài
:
"Lòng
từ
bi
quảng
đại
của
Bồ
Tát
Quan
Âm,
là
chiếc
bè
nổi
lên
trên
biển
Fudaraku,
những
ai
tìm
đến
được
chiếc
bè,
sẽ
được
đưa
đến
nơi
yên
vui...".
Một
vị
thần
Phật
giáo
được
đề
cập
trong
truyện
cổ
của
Nachi
Gongen
(một
trong
ba
thần
theo
tín
ngưỡng
của
Nhật
Bản),
đó
chính
là
Bồ
Tát
Quan
Âm
(BTQÂ).
Vị
Bồ
Tát
này
đã
kết
hợp
một
cách
độc
đáo
với
tín
ngưỡng
dân
gian
ở
Fudaraku
từ
ngày
xưa.
Mối
liên
hệ
mật
thiết
giữa
BTQÂ
và
biển
Fudaraku
đã
khiến
cho
danh
hiệu
của
vị
Bồ
Tát
gắn
liền
với
những
danh
thắng
về
biển
và
ao
hồ
tại
Nhật.
Nổi
tiếng
trong
số
đó
là
tượng
Quan
Âm
thiên
thủ
thiên
nhãn
tại
chùa
Hogon
ở
đảo
Chikubu
và
tượng
Quan
Âm
ở
chùa
Chuzen
nằm
trên
bờ
hồ
Chuzenji
gần
Nikkò.
Gần
vách
đá
ở
Shikoku
là
ngôi
chùa
Kongofuku,
ngôi
chùa
thứ
88
trên
tuyến
đường
du
lịch
đường
biển
Shilkoku,
có
thờ
một
tượng
Quan
Âm
thiên
thủ
thiên
nhãn
rất
lớn.
Hơn
mười
trong
số
88
ngôi
chùa
đều
có
thờ
tượng
Quan
Âm
ngàn
mắt
ngàn
tay,
số
chùa
còn
lại
đều
thờ
tượng
Quan
Âm
với
nhiều
hình
tượng
khác
nhau.
Tương
tự,
có
15
trong
số
53
ngôi
chùa
ở
tuyến
đường
tham
quan
Saigoku
ở
miền
Trung
Nhật
Bản,
đều
có
tượng
Quan
Âm
ngàn
mắt
ngàn
tay,
trong
khi
đó
11
trong
số
33
ngôi
chùa
ở
Kanto,
phía
Đông
Nhật
Bản
cũng
thờ
tượng
Quan
Âm
thiên
thủ
thiên
nhãn.
Nếu
hình
ảnh
Quan
Âm
thiên
thủ
thiên
nhãn
rất
quen
thuộc
với
hầu
hết
các
chùa
miền
duyên
hải
thì
tất
cả
các
chùa
ở
miền
cao
nguyên
cũng
dễ
dàng
tìm
thấy
pho
tượng
đặc
biệt
của
vị
Bồ
Tát
này.
Tuy
nhiên,
đó
là
tượng
Quan
Âm
thập
nhất
diện.
Chúng
ta
sẽ
tìm
thấy
16
trong
33
ngôi
chùa
ở
Saigoku
và
9
trong
88
ngôi
chùa
ở
Bando,
6
trong
33
chùa
ở
Shikoku
đều
có
thờ
tượng
Quan
Âm
mười
một
khuôn
mặt,
gồm
mười
mặt
Bồ
Tát
và
một
mặt
Phật,
mỗi
khuôn
mặt
biểu
lộ
sự
giận
dữ
và
hoan
hỷ
khác
nhau,
hoan
hỷ
trước
cái
thiện
và
phẫn
nộ
trước
cái
ác.
Những
pho
tượng
cổ
PG
ở
miền
Bắc
Nhật
Bản
từ
thế
kỷ
XIII
trở
về
trước,
thực
sự
phần
lớn
là
tượng
Quan
Âm
thập
nhất
diện,
số
ít
còn
lại
là
tượng
Quan
Âm
thiên
thủ
thiên
nhãn.
Nếu
ta
gạt
bỏ
yếu
tố
này
thì
rõ
ràng
ta
rất
khó
khăn
khi
muốn
tìm
hiểu
về
tín
ngưỡng
Quan
Âm
tại
Nhật
Bản.
Ở
Nhật
Bản,
mọi
người
đều
tin
rằng
Fudaraku
là
vùng
đất
làm
phương
tiện
để
truyền
bá,
gây
ảnh
hưởng
rộng
rãi
về
sự
tín
cẩn
và
sùng
bái
Đức
Bồ
Tát
Quan
Âm
tại
Nhật.
Theo
truyền
thuyết,
Fudaraku
(Potalaka)
là
Tịnh
độ
của
Bồ
Tát
Quan
Âm,
là
một
hải
đảo
ở
phía
Nam
Ấn.
Tổ
tiên
người
Nhật
tin
rằng
bán
đảo
theo
truyền
thuyết
ấy
có
tên
là
Tokoyo,
vùng
biển
nằm
cuối
hải
phận
của
Nhật
Bản.
Tokoyo
là
một
cõi
giới
vượt
ra
ngoài
sự
hủy
diệt
của
vô
thường
và
chính
vì
thế
nó
được
kết
hợp
với
ý
tưởng
vĩnh
hằng
và
bất
diệt
của
người
Ấn.
Điều
này
cũng
tương
đồng
với
quan
điểm
của
người
Trung
Hoa
về
bán
đảo
Peng-Lai
của
họ.
Fudaraku
tiêu
biểu
cho
sự
pha
trộn
tín
ngưỡng
của
người
Nhật
ở
Tokoyo,
người
Trung
Quốc
ở
Peng-Lai
và
những
tư
tưởng
của
người
Ấn.
Sự
tôn
kính
và
thờ
phượng
Bồ
Tát
Quan
Âm
tại
Nhật
Bản
là
kết
quả
của
sự
pha
trộn,
ảnh
hưởng
từ
Ấn
Độ
và
Trung
Hoa.
Thật
khó
mà
biết
được
thời
điểm
chính
xác
sự
sùng
bái
Bồ
Tát
Quan
Âm
được
truyền
vào
Nhật
Bản
từ
khi
nào,
nhưng
điều
đó
không
quan
trọng,
điều
đáng
chú
ý
là
tầm
ảnh
hưởng
của
tín
ngưỡng
này
trong
đời
sống
của
người
Nhật
ra
sao.
Theo
sử
gia
Phật
giáo,
ông
Koen
(11-12-1169),
thì
vào
năm
thứ
ba
của
triều
đại
vua
Suiko
(595),
được
ghi
nhận
rằng
tượng
Quan
Âm
thờ
ở
chùa
Hiso
ở
Yoshino
đã
phát
ra
hào
quang.
Pho
tượng
này
bắt
nguồn
từ
một
khúc
gỗ
trầm
hương
xuất
hiện
trên
bờ
biển
của
đảo
Awaij,
người
ta
cho
rằng
nó
trôi
đến
đây
từ
Ấn
Độ.
Hoàng
hậu
bấy
giờ
đã
ra
lệnh
đem
đi
điêu
khắc
thành
pho
tượng
Quan
Âm,
để
đánh
dấu
sự
truyền
bá
Phật
giáo
đến
Nhật
Bản.
Ở
Nhật
Bản,
Bồ
Tát
Quan
Âm
được
tôn
thờ
theo
ba
dạng
:
tượng
Quan
Âm
đứng
trên
bệ
hoa
sen,
Quan
Âm
thờ
chung
với
Bồ
Tát
Thế
Chí
bên
cạnh
đức
Phật
A
Di
Đà
và
Quan
Âm
được
thờ
như
một
vị
thần
trong
tín
ngưỡng
nhân
gian
của
Nhật
Bản.
Mặc
dù
đại
đa
số
quần
chúng
Nhật
Bản
đều
chấp
nhận
quan
điểm
rằng
tượng
Quan
Âm
phải
được
tạc
với
khuôn
mặt
đẹp
và
hiền
từ,
có
dáng
vẻ
như
một
người
nữ;
nhưng
bên
cạnh
đó,
cũng
có
một
số
lớn
tượng
Quan
Âm
có
hình
dáng
rất
dữ
dằn,
với
tay
cầm
chuỗi
hạt
và
nhiều
loại
khí
giới
khác
nhau,
hầu
để
hàng
phục
những
kẻ
ác
độc
muốn
phá
hoại
già
lam.
Loại
tượng
đặc
biệt
này
được
điêu
khắc
lần
đầu
tiên
ở
Nhật
Bản
vào
giữa
thế
kỷ
VIII,
đến
nay
các
nhà
tạc
tượng
vẫn
giữ
được
vẻ
chân
phương
ấy.
Phẩm
Phổ
Môn,
phẩm
25
trong
kinh
Pháp
Hoa
và
danh
hiệu
của
vị
Bồ
Tát
này
được
Phật
tử
Nhật
Bản
thọ
trì
hàng
ngày.
Đặc
biệt
là
thần
chú
Đại
bi,
Tâm
chú
của
Bồ
Tát
Quan
Âm
mà
tất
cả
mọi
Phật
tử
thuộc
Bắc
tông
Phật
giáo
đều
thuộc
nằm
lòng.
Họ
tin
rằng
tất
cả
những
ai
nghe
được
thần
chú
này
sẽ
có
thể
loại
bỏ
những
ác
nghiệp
và
mọi
phiền
não
của
chính
mình.
Ở
Nhật
Bản,
bài
thần
chú
này
cũng
được
sử
dụng
một
cách
phổ
biến.
Tóm
lại,
tín
ngưỡng
Bồ
Tát
Quan
Âm
được
hội
nhập
vào
Nhật
Bản
qua
nhiều
cách
khác
nhau.
Trước
hết,
tầng
lớp
quý
tộc
và
giới
thượng
lưu
tôn
thờ
Ngài
như
một
vị
Phật
của
lòng
từ,
trong
khi
những
người
dân
thường
thờ
cúng
Ngài
qua
phép
màu
diệu
dụng.
Qua
hình
thức
tín
ngưỡng
này,
chúng
ta
thấy
rằng
mọi
tầng
lớp
Phật
tử
xứ
Hoa
Anh
Đào
mong
đợi
ở
Bồ
Tát
Quan
Âm
một
điều
gì
đó
và
dường
như
họ
đã
tìm
thấy
được
điều
ấy.
Theo
S.Gorai
-
Dharma
World,
01-02/1999