Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam tại Úc Châu


...... ... .

 

 

 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại UĐL-TTL
Khoá Tu Học Phật Pháp Úc Châu kỳ thứ 7
(tổ chức tại Kyneton, Victoria, từ thứ năm: 03-01 đến thứ hai : 07-01-2007)
 

 

 

Kinh Sa-Môn Quả
(Samanna-phala-sutta)


Soạn & giảng
: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
(tại Khóa Tu Học Phật Pháp Úc Châu Kỳ 7 ở Kyneton, Victoria, Australia)

 

A. Mở đầu:

Vua A Xà Thế (Ajatasattu) vốn là con trai vua Bình Sa Vương và Hoàng hậu Vi Đề Hi. A Xà Thế chính là người đã hạ ngục và bỏ đói vua cha để đoạt ngôi. Ông còn cùng với Đề Bà Đạt Đa âm mưu hãm hại Phật, nhưng bất thành. Sau khi Đề Bà Đạt Đa qua đời, ông buồn rầu và hối hận về những tội ác mà mình đã làm. Trong một đêm trăng rằm khoảng tháng 10 hay tháng 11 dương lịch, danh y Kỳ Bà (Jivaka Komarabhacca) đã đưa vua A Xà Thế đến viếng thăm Đức Thế Tôn, với hy vọng nhờ ân đức của Phật sẽ giúp cho nhà vua tìm được sự an tĩnh trong tâm hồn.

B. Chánh Kinh Sa Môn Quả:

Cuộc gặp gỡ giữa vua A Xà Thế và Phật diễn ra tại vườn xoài của danh y Kỳ Bà (em cùng cha khác Mẹ với A Xà Thế, vốn là bác sĩ riêng của Bình Sa Vương) ở ngay dưới chân núi Linh Thứu (Griddhakuta). Lần đầu vua tìm đến gặp Phật vào một đêm trăng sáng giữa mùa sen nở, có cung tầng quan tướng đi hộ tống, do danh y Kỳ Bà dẫn đường. Khi gần đến vườn xoài bỗng nhiên vua cảm thấy lạnh gáy và sợ hãi vì cảnh vật quá yên tĩnh. Bác sĩ Kỳ Bà cho vua biết hiện Phật đang cư trú tại vườn xoài của ông với gần một ngàn vị tỳ kheo, vậy mà đến đây vua vẫn nghe yên tĩnh, không một tiếng động, cũng không thấy bóng dáng ai cả. Vua xuống voi, đi bộ đến trước cửa giảng đường, vua thấy đức Phật đang ngồi trên một pháp tòa cao thuyết giảng, trước mặt có mấy trăm đệ tử xuất gia đang ngồi xếp bằng, im lặng, chăm chỉ lắng nghe. Cảnh tượng thật trang nghiêm và đầm ấm. Kỳ Bà bước vào báo tin có vua đến. Ðức Phật bước ra cửa mời vua vào giảng đường, ngồi vào ghế thượng khách. Vua A Xà Thế thắc mắc và hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn, tôi có một thắc mắc: như điều tượng sư, điều mã sư, cũng như loại mưu sinh khác, họ hưởng được kết quả thiết thực hiện tại về những công việc họ làm. Họ giúp cho tự thân, vợ con, cha mẹ được sống trong an lạc, hạnh phúc. Họ dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, và sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, thọ hưởng phước báo an lạc, sau khi chết được thác sanh lên cõi trời. Vậy các vị Sa-môn hiện tại tu tập, có được quả báo gì không?”. Nhân câu hỏi này, mà Đức Phật nói về bản kinh Sa Môn Quả này.

1/ Khôi phục giá trị nhân phẩm của con người: hoa trái đầu tiên mà người sa-môn có thể gặt hái được ngay sau khi xuất gia, là thoát ra được sự kỳ thị giai cấp, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giàu nghèo, và khôi phục được nhân phẩm của mình.

2/ Tinh thần thoải mái, không lo sợ, không ân hận: nhờ gìn giữ năm 250 giới nên vị Sa Môn luôn luôn sống trong tình trạng an ninh, tinh thần thoải mái; không lo sợ, không ân hận vì không làm điều gì sai quấy; không thất vọng lo buồn, vì không tham cầu mong muốn.

3/ Không sợ hãi: vị sa-môn không có tài sản hoặc vật sở hữu gì có giá trị ngoài ba chiếc áo cà-sa và một bình bát. Do đó không có gì để sợ mất, sợ cướp. Không gây thù oán nên không sợ bị ai ám hại. Do đó có thể ngủ một mình trong rừng, dưới một gốc cây trong sự thanh thản, vô ưu, lặng lẽ. Không sợ hãi là một hạnh phúc lớn. Ðó là một loại hoa trái khác mà vị sa-môn có thể gặt hái ngay trong đời hiện tại.

4/ Tự tại, thảnh thơi: vị sa-môn do biết thiểu dục tri túc (ít muốn, biết đủ) nên có nếp sống đơn giản tới mức tối đa. Mỗi ngày chỉ ăn một bữa, không nhà cửa ruộng vườn, không màng giàu sang danh vọng, nên được thong dong, tự tại, thảnh thơi. Tự tại, thảnh thơi là một hạnh phúc lớn. Ðó cũng là một loại hoa trái mà vị sa-môn có thể gặt hái ngay trong đời hiện tại.

5/ Tâm hỷ lạc: nhờ thiền duyệt, vị sa-môn biết cách giữ gìn sáu căn thanh tịnh, không bị sáu trần gây ra phiền não và ô nhiễm trong tâm. Nhờ thiền duyệt, vị sa-môn được tâm hỷ lạc, một niềm vui đầy an lạc, thanh tịnh, siêu thoát, từ sơ thiền đến tứ thiền. Tâm hỷ lạc này còn có một năng lực kỳ diệu trị lành các chứng bệnh suy nhược của cơ thể và tinh thần. Ðây là loại hoa trái quí báu của sự tu học mà vị sa-môn có thể gặt hái được ngay trong đời hiện tại.

6/. Giải thoát: vị sa-môn nhờ an trú tinh cần trong giới luật và chánh niệm mà có định tâm. Dùng năng lực của tâm định, quán chiếu vạn pháp trên thế gian, thấy được tính cách vô thường, vô ngã của muôn vật. Nhờ thấy được tính cách vô thường và vô ngã của muôn vật nên không bị ràng buộc, vướng mắc vào bất cứ sự vật nào trên thế gian. Nhờ không bị vướng mắc nên được giải thoát, thảnh thơi, tự tại. Giải thoát mới là hạnh phúc chân thật, trường tồn, không bao giờ mất, là hoa trái quí báu nhất mà vị sa-môn có thể gặt hái được ngay trong đời hiện tại.

7/ Niềm vui giáo hóa chúng sinh hết khổ được vui: vị sa-môn nhờ giữ gìn giới luật mà tâm được định, nhờ tâm định mà phát sinh trí huệ rộng lớn. Rồi dùng trí huệ bát-nhã đó mà quán chiếu sâu vào tự tánh các pháp, thấy tự tánh của muôn sự muôn vật đều không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm, do đó mà được cái thấy biết thanh tịnh, sáng suốt, không phân biệt. Nhờ dứt trừ được mọi ý thức phân biệt, nên vị sa-môn nhìn đời bằng con mắt bình tĩnh, không lo lắng, không sợ hãi, cỡi trên sóng sinh tử mà an nhiên tự tại đi vào cuộc đời để cứu độ chúng sanh, chỉ bày cho chúng sanh con đường chánh pháp, để chúng sanh cũng được nếm hương vị giải thoát. Giúp đỡ cho người khác hết khổ được vui cũng là một niềm vui lớn cho chính mình. Niềm vui giáo hóa này cũng là một loại hoa trái xinh tươi của sự tu học, vị sa-môn có thể thực hiện được phần nào trong hiện tại và sẽ tiếp tục thực hiện trong tương lai. Các vị sa môn trong khi đi khất thực hằng ngày, có nhiệm vụ hướng dẫn dân chúng đi trên con đường đạo đức, hành động theo chánh pháp để được hạnh phúc giải thoát. Hoa trái của sự tu học không phải chỉ dành riêng cho vị sa-môn hưởng thụ mà là gia tài của cả quốc gia và nhân loại.

D. Phần kết luận:

Bằng những lời đơn giản, Đức Thế Tôn đã soi sáng cho vua A Xà Thế thấy được giá trị chân thật của Chánh Pháp. Đức Thế Tôn đã dựng lại những gì đã ngã xuống, phơi bày những gì đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, soi sáng nơi tối tăm. Sau đó, vua A Xà Thế cầu xin Phật hoan hỷ nhận vua làm đệ tử tại gia của người. Vua A Xà Thế cung kính đảnh lễ dưới chân Phật. Phật mỉm cười chấp thuận, rồi bảo Tôn giả Xá Lợi Phất hướng dẫn vua và hoàng hậu làm lễ quy y Tam Bảo và thọ trì năm giới. Sau lễ quy y, vua từ tạ Phật, xin phép trở về hoàng cung.

Sau lần gặp lần đầu tiên đó, vua A Xà Thế thường đến thăm Phật mà không cần qua sự sắp đặt của bác sĩ Kỳ Bà nữa. Kể từ đó Vua A Xà Thế đã trở thành một ông vua hộ pháp đắc lực cho Đức Phật và giáo đoàn của ngài như vua cha trước kia. Sau khi Phật vào Niết Bàn, Vua A Xà Thế đã cho xây tháp thờ Xá Lợi của Phật, hiện nay nền bảo tháp này vẫn còn ở Thành Tỳ Xá Ly.

Đối với người đệ tử Phật, xuất gia hay tại gia, nên học kỹ bản kinh Sa Môn Quả này và hãy tinh tấn tu tập để đạt được những kết quả, những hoa trái an lạc, hạnh phúc ngay trong đời này và đời sau.

 

 

 Lược theo: Kinh Sa Môn Quả (Pali & Hán Tạng):

- Digha-nikaya 2: Samannaphala-sutta (do HT Minh Châu dịch)
Xem: http://www.quangduc.com/kinhdien/Truongbo/truongbo02.html

- Trường A-Hàm 27 (do TT Tuệ Sỹ dịch)

 Xem: http://www.quangduc.com/kinhdien/223truongaham27.html

 

 

Samanna–phala-sutta

Prepared and presented by Ven. Thich Nguyen Tang
For the classes of Buddhist Yearly Retreat - the Seventh at Campaspe Downs, Kyneton, Victoria, Australia

  

A.   Prolog

King Ajatasattu was a son of King Bimbisara and Queen Vaidehi.  Ajatasattu came to the throne by imprisoning his King Father without providing foods until dead.   He and Devadatta together once had a plot to assassinate Lord Buddha, but could not make it.   Latter, Ajatasattu felt guilty and sad about the bad things he did, especially after Devadatta passed way.  One night of a full moon day in the month of October or November just about (solar calendar) Jivaka Komarabhacca, a famous doctor also his half-blood brother, took Ajatasattu to visit Lord Buddha with the petition for helping him retrieved the calmness feeling. 

         

B.   Main Samanna-phala-sutta

The meeting between Ajatasattu and Lord Buddha happened at a mango plantation of Dr. Jivaka, located at the foot of a mountain named Grirrhakuta.  It was the first time King Ajatasattu came to see Lord Buddha together with his cabinet, soldiers, and concubines, in the evening of a full moon day in season of lotus blossom.  The group was heading closer and closer toward the mango plantation.  Suddenly, King Ajatasattu experienced a dreadful feeling in him while getting in the land of real nature.  It was so quiet!   Even though Dr. Jivaka told the King that Lord Buddha together with his disciples about one thousand total had set the retreat at the plantation, he persistently felt the whole world around him fulfilled with the silence.   Shortly, the King was arrived in.  He jumped down from his elephant and walked toward to the main door of the conference hall.  He saw Lord Buddha sitting at a chair in the high stage teaching the monks who were listening in the concentration.  The view was strictly solemn and thoughtful.  Dr. Jivaka informed Lord Buddha that King Ajatasattu would like to visit.  Buddha came to the door delightfully led the King to the VIP seat.  King Jivaka asked in polite: “Lord Buddha, I am eager to learn. The elephant trainers, the horse trainers as well as others worked in different careers all have received the real returns as expected.  They have helped their wives, children, and parents to maintain the wealthy and happy lives.  In addition, they have donated things to Sramanas and Brahmans.  Surely, the good deeds shall transfer to their next lives.  After dead, they may be reborn in the heaven.  How about the Sramanas, they are practicing well the Teachings, what merit will they receive?”  By this question, Lord Buddha taught Samnna-phala-sutta.

 

1.     Retrieving human value and dignity

    The first crop could harvest is right after became a monk/nun a Sramana will get out of the class discriminations on races, on poverty …to retrieve the human value and dignity.

 

2.     Having pleasant feeling

Because of to be on guard of two hundred fifty precepts, Sramana is always lived in the safe and calm situation; not to be scared, not to feel guilty because of the carefully sowing the seeds; not to feel depressing, desperate, or unsatisfactory because there is less or non of greed within.

 

3.     Not in fear

Sramana has no valuable property, and no attachments beside the only three pieces of kasayas and a bowl, which would lead to the fact that is nothing to loose.  Causing no resentment would minimize the crime.  Therefore, Sramana can sleep in calmness and stillness in the forest, or at the foot of a tree.  Not in fear is a great happiness that is kind of a crop that Sramana may harvest in current life.

 

4.     Living in calmness and freedom

Sramana understands the concept of less longings and restricted possessions giving life at as simple as possible along with eating one meal a day, no home to own, no single property to watch.  Sramana puts away fame and wealth for freedom and calmness.  It is a truthful happiness and could yield in this life as well.

 

5.     Having happy mind

Under any conditions, Sramana can keep the six organs in control when facing with the six objects creating the clean thoughts to limit the defilements in the mind.  Also with the meditation, Sramana could insight via Zen Practice for the attainment of awakening from the first stage thru the forth stage of dhyana meditation.  This kind of happy mind could give the result in a miracle of treatments of body diseases and mental deformation issues.  These great fruits and blossoms also could be reaped in this life.

 

6.     Achieving enlightenment

Because of living in the precepts and the right mindfulness every moment, Sramana utilizes the mind stillness to observe things, seeing all as phenomenal existences.   Understanding that the sentient and insensitive beings are impermanent and “no-self” would help Sramana not to cling on the attachments in any situations.  Because of the mind freedom, Sramana achieves the enlightenment easily.  This is the eternal truthful happiness that could be earned in this life.

 

7.     Having the happiness by the giving and by enlightening others

Because of to be on guard of the precepts, Sramana can still the mind; it is a foundation for building the wisdom to extend into the path of transcendental knowledge.  Equally observing the self-nature of all things as neither to be born nor ended, neither cleaning nor dirty, neither adding nor subtraction, giving the mind with no appearance, no disappearance, no “self”, no “no-self”.  Therefore, Sramana sees life in calm while dipping in waves of birth and dead without fear in order to save and to lead beings to the right path for Nirvana.  The being’s happiness is also self-Sramana happiness.  The happiness by the giving and by enlightening others is the best fruits gathered from the mind cultivation crops could also be achieved in this life either partially or in full.   While on the ways of the daily mendicancy, Sramanas are responsible for awaken beings to live in right morality for the eternal happiness.  Could be considered, the mendicancy is not only for the Buddhist disciples to practice but also for all the folks in five continents to see as a property of mind cultivation.

 

C.   Conclusion

Simply, Lord Buddha had well shown King Ajatasattu a value of the Truth.  Really, Buddha rebuilt what had been collapsed, discovered what had been covered, lighted up what had been darken, and had led people to be in the right path within their conditions.   Afterward, the King begged Buddha to see him as at-home-true Buddhist.  He and his people politely kowtowed to Buddha in the warmness of the compassion.   Sariputa (one of the ten major disciples) was assigned to open the ceremony of Taking Three Refuges in Triratna and Five Precepts for King Ajatasattu and his Queen before their departure for returning home in Royal Palace.

 

After that first face-to-face meeting, King Ajatasattu often visited Buddha without the arrangement of Dr, Jivaka and became the best supporter to Buddhism as his King Father used to.  Just him, King Ajatasattu, assigned to build the Relic Stupa to save and to worship Buddha after Lord Buddha had entered the Nirvana.  This Buddhist historic site is still maintained well in Vaishali Town.

 The Buddhist, who is at-home or at-temple, I suggest, should study and understand this Buddha’s Teachings, Samanna-phala-sutta, in order to yield the wholesome crops for this life and for the next’s.

 

Translated into English by Helen Quang Tue Nguyen

 

 
Work Cited 

Based on Samanna-phala-sutta (Pali & Chinese):

-         Digha-nikaya 2: Samannaphala-sutta (translated by Ven. Thich Minh Chau)

-         http://www.quangduc.com/kinhdien/Truongbo/truongbo02.html

-         Truong A-Ham 27 (translated by Ven. Tue Sy)

-         http://www.quangduc.com/kinhdien/223truongaham27.html

-         More information: www.quangduc.com

 

 

---o0o---

 

Cập nhật 5-1-2008

 


Webmaster: quangduchomepage@yahoo.com

Trở về Mục Lục Khóa học kỳ 7

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ:
quangduchomepage@yahoo.com
Địa chỉ gởi thỈ?:
Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544