|
Một
chút gì trong:
CON ĐƯỜNG HOẰNG PHÁP HIỆN TẠI
HT.Thích
Huyền Tôn
-
Tính Chính Xác Trong Việc Phiên Dịch Kinh
Điển Phật Giáo.
-
Cư Sĩ Úc gốc việt dịch kinh : Khi cư sĩ dịch
kinh, đăng báo quyên góp Phật-tử trên báo chí ! Có hợp pháp
không ? Giáo hội sẽ làm gì ? Nếu là phi pháp !?.
-
Bậc chân Tăng cầu siêu cho người quá cố ! Có
nên cố ý khơi động lệ buồn cho người tang quyến hay không ?
liễu năng tri chi tâm
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Kính bạch chư tôn pháp hữu, hiền hữu,
Kính thưa chư trí thức dịch giả và chư thiện, tín
đạo hữu,
A.
HOẰNG PHÁP :
Nếu coi là “Gia vụ và sự nghiệp” thì, Tụng kinh, Lễ bái, Tác sám,
Thọ trì, Niệm Phật, kinh hành, Chép, in kinh, Thuyết pháp, giảng
dạy, Truyền giới, Phiên dịch, Trước thuật, Làm chùa, Đúc tượng,
Cầu siêu, Cầu an v.v… Tất cả các pháp sự đó, đều là Hoằng Pháp.
Tuy đều cùng mục đích phụng sự Tam Bảo, tế độ
quần sanh ; có khác nhau chăng là việc phụng sự đó, thuần chính
hay bất thuần chính đó thôi.
Toàn vẹn điều đó thì không có gì phải nói !
Nhưng điểm quan trọng nên nói và phải nói trước nhất là vần
đề phiên dịch . Qua quá trình nhiều năm về trước và đã
truyền mãi đến ngày nay ! Luôn cả ngày nay, khó có thể điểm
xuyến hết đựơc chỗ nào sai, chỗ nào đúng ! Dù những đoạn kinh
văn đó, chúng ta đã tụng đọc qua rồi, trừ phi hiểu, và thật tâm
lưu ý; hoặc nhờ lúc giảng dạy ta mới nhận ra.
Năm VL 4836. AL Đinh-dậu (TL1957) Đại Hội Tăng
Già toàn quốc VN có mặt 370 đại biểu tại chùa Linh-Quang
Thừa-thiên. (Tôi có mặt) Chỉ mới thông qua và thống nhất được
lối dịch lời đầu kinh Như Thị Ngã Văn là “Tôi Nghe Như
Vầy” không thêm trước sau chữ nào cả. Và ít việc về y phục,
màu sắc Vàng, Nâu, Lam cho từng giáo phẩm Tăng Ni… Nhưng thời
nay một số ít đệ tử của Cọng-Tăng, đã dịch và in ấn
nào “ Đúng Như Thực Chính Tôi Được Nghe”
mới nghe chừng như ông Dịch nầy nghe, chứ dâu
phải Tôn-Giả A-Nan nghe ? Nào “Như thực tôi nghe” Nào, Chính tôi
nghe như thế nầy…! Đủ kiểu nghe !
Lại nữa, 4 câu kệ Khai Kinh , mỗi vị dịch mỗi
kiểu theo như khuôn mặt của chính dịch giả ??. Mập thì nghe lù
khù ! Ốm thì nghe lòng khòng !...Cứ tha hồ mà khác, chẳng tôn
trọng Diệu lý tí nào cả !. Chừng nào
con đường Hoằng Pháp Tuyên Dương Giáo Nghĩa của Phật Đà mới hợp
nhất và thống nhất ???
Trước khi trình bày những câu ngữ nghĩa mà tôi
cho rằng không thông, không liễu nghĩa. Tôi xin sám hối với chư
phương dịch giả là, tôi không dám chế chỗ kiến giải và nỡ bội
bạc công đức của các quí vị. Nhưng tôi thật xót xa với những ngữ
nghĩa nào sai trái đó. Chính nó đã làm giảm mất đi, “Diệu Lý
Thậm Thâm” của Kinh Điển Phật Đà ! Tệ hơn là dựa theo một lối
dịch của người trước, rồi sửa lại lối dịch mới còn bết hơn cái
đã tệ ! Đã là Khế-Kinh” thì người phiên dịch không được
phép vì danh lợi mà đang tâm làm Chơn Lý bị méo mó ! Dù biết
rằng chơn lý không ai có thể hủy diệt được .
Nếu ai đó, vì nương theo chủ thuyết phi nhân,
hoặc do tà đạo gián điệp vào nhằm phá hoại Phật Pháp, xuyên tạc
giáo lý thì xin thức tỉnh ! Hay sợ ác báo riêng mình mình chịu.
Mỗi khi chúng tôi tụng đọc, cảm thấy như tâm mình
bị rơi vào cái gì đó của tà kiến mà kẻ đó đã giăng ra ! (?).
Trước bổn phận Hoằng Pháp, mà hai giới Hành-Đạo và Hộ-Đạo có
buồn chăng ? Có muốn phù vực cho toàn thiện hơn không?.
Kinh giáo của Phật Đà, nếu coi như nước trong,
thì không nên để nó rơi vào vài hạt bụi ! Dệt một tấm gấm đẹp
không nên đễ lộn vào mấy sợi chỉ thô !
Dịch thuật kinh luận, mà không nhằm vào chỉ
cho nhân sinh thấy được “Tuệ Giác Diệu Minh”của Đạo Phật, mà chỉ
nhằm làm đầy cái trang bìa sau:“Những sách cùng tác giả”
Những cái nhiều nầy có phải là cái bè về giác ngạn hay không? Mong
sao những Phật Kinh… đã dịch, có một lần Đại Kiểm Khán và thống
nhất diệu lý. Nếu sai trái cho vào tàng tháp, hoặc máy nghiền để
hậu lai chén cơm tinh sạch không còn cát sạn ! Thì quí hóa biết
bao.
-Vấn
đề phiên dịch : Là nói dịch từ kinh Hán Tạng ra Việt Văn.
1. Dịch từ Hán
bản Đại Tạng Kinh (100 quyển)
1. Dịch từ Hán
bản, Càn Long Đại Tạng Kinh (168 quyển)
-Điểm cần nói về tính chính xác : Ngay bây giờ
thữ đặc một nghi vấn : Ai có khả năng lập tính chính xác đó ? –Trả
lời là : “Vì thế, nên ngày nay mới hội luận truớc Đại Chúng Tăng,
Ni.” Lại thêm một nạn vấn : Đại chúng hiện diện đây có đủ khả
năng đó không ?
Tôi xin thưa : Đủ khả năng ! Vì trong đây có
nhiều tôn đức, đã thuần đủ tư cách và từng phiên dịch, kinh luận
mà giáo phẩm, học lực hợp pháp cho phép.
Vì lẽ, Trong chúng ta cùng chung nhiệm vụ hoằng
pháo lợi sanh, nên tôi xin nêu ra một ít văn cú, mà theo tôi là
dịch giả ấy đã vi phạm : Y kinh (Phật oan). Ly kinh (ma thuyết)
và cũng đã phạm ít, nhiều trong 5 điều không nên phạm khi dịch.
1)Tên, xứ sở,địa danh (chỉ chú thích) không dịch.
2) Từ đã thành địa phương hóa (việt hóa) không
dich. (Cúng dường kd cho cơm áo/Thâm diệu kd sâu mầu)
3) Càng dịch càng tối nghĩa, không nên dịch. (vd:Hiện
toàn thân kd hiện thân ngay)
4) Xa ý quá. Phạm lỗi Ly! Gần mà vụng.
Phạm lỗi Y!
5) Điển tích, Thuật ngữ, Pháp số , Ẩn từ (phái
chú giải)
-Bài Kệ Nguyện Hương :
Bài Nguyện có
Tất cả là 11 câu.
Nhưng vấn đề là ở câu : 2 và 3 :
Câu : Nguyện Đem Lòng Thành Kính.
2 :
Gởi theo Đám Mây Hương ?
3 : Phưởng Phất khắp mười phương ?
Các câu kế tiếp đều đúng nghĩa.
Tôi bị hỏa mù vào cái nghĩa “Sai Lạc” và “quờ
quạng” nầy cũng khá dài thời gian, cứ nghe lời khen của mấy bậc
đàn anh, nên chìm lĩm tâm trí liễu giải. Nguyện riết rồi mới
chợt hiểu : Lòng thành kính của Tâm vốn là “Biến pháp giới”
không dính gì với thời gian và không gian!
Thì mắc mớ gì lại gởi vô cái “Đám mây hương”có
bền lắm ra khỏi mái chùa nó cũng tan mất tiêu! Dại gì mà gởi vô
đó ? Chưa hết ! Còn “Phưởng phất “ nữa ! Tâm nguyện, trong một
sát-na (nháy mắt) đã biến khắp mười phương ! Mà gá vào cái
phưởng phất nó uốn éo theo cái điệu cà lơ phất phơ, chốc lát …hỏi
được bao lâu ? Quỳ ở đó mà gởi với gắm !? Thật đáng trách, có
không ít dịch giả, gặp các từ : Biến mãn,
遍滿 Phổ
biến,普遍
Phổ cập 普及
thì cứ lẩn quẩn với mấy nghĩa Phưởng-phất, Phảng-phất, Hướng về
!Tại sao không là Biến khắp, Khắp cả, Khắp nơi. Phổ-Cập mà dịch
là Hướng Về, thì ly kinh tuốt tới Cà-đó, Hồi Cương chứ chẳng
phải gần! Dịch mà xa tít như vậy ! Chỉ làm mù mờ, hoen ố kinh
giáo cao siêu của Phật đà, hướng dẫn vào nơi chông gai, hầm hố ,
tội cho lòng cả tin của dàn con chưa tường phương hướng ! Để
thanh thoát tâm tư, và góp lời cho Diệu-lý, tôi xin đổi mấy chữ
: {Gởi Theo Pháp Mây Hương, Biến khắp Cõi Mười
Phương }chứ không “Khói” hay “Phưởng Phất”.gì
cả.
-Bài kệ Quán Tưởng : (
gồm có 6 câu)
Vấn đề chỉ ở câu 2.
-Năng Lễ sở Lễ Tánh Không Tịch
. (Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng)
2.Cảm ứng đạo giao nan tư nghì.
(Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn)
Câu 2 nầy “Cảm ứng đạo giao” Mà dịch là “Đạo
cảm thông”! Đạo cảm thông là Đạo gì ?
Cảm thông và thông cảm dù lý có khác, nhưng nó là
thuật từ của thế gian. Nó chỉ để nói Tính người và Tính người.
Lý tính đó, khác xa diệu vợi với “Cảm ứng đạo giao” Quỳ với 3
cây hương (tâm hương) để quán. Đạo là lý tánh, lấy gì để cảm
thông ? Ai cảm thông ai ? Thông với Phật hay thông với đạo ?
Cảm ứng Đạo Giao,
Bản âm 4 chữ, súc tích nghĩa lý siêu việt, tự nó đã việt hóa
nghĩa âm, cần gì phải uốn nắn ra “Đạo cảm thông” cho nghĩa lý
trở nên sai quấy ! Giữ nguyên như vậy, thêm 3 từ Việt ,”Khó nghĩ
bàn. “Cảm ứng đạo giao khó nghĩ bàn” có phải thuận lý hơn
không!
-Bài tán Lư hương :
(Gồm 6 câu) Vấn đề là ở câu cuối.
Lư Hương Sạ Nhiệt…….Mà
dịch là “Lò hương vừa bén chiên đàn” Thực ra cũng chẳng đúng,
nhưng cũng đành tạm được ! Bén chiên đàn ? Chứ bén… cây Trầm
không đươc sao?
Nhưng thôi, đều tôi muốn luận là câu cuối cùng.
Chư Phật Hiện Toàn Thân.
Mà vị dịch nầy
lại dịch là : “Chư Phật hiện thân ngay” ! Bài tán cũng
thấy in ấn ra quá nhiều. Thực ra mà nói, bản chính văn cũng kỳ
lạ! Không biết Đức Phật có khi nào hiện ra nữa thân chưa ? Mà
ngày nay vị Nho Dịch nầy lại cả gan ra lịnh Phật phải hiện
thân ngay ! (đồng nghĩa hiện ra tức khắc) Nghĩ cùng ngậm
ngùi, Phật vị độ chúng sanh mà giáng trần ! Phật vẫn chưa yên
với mậy cụ “Thầy chùa lửa” nho chùm nầy.
Xin phụ luận về một bài sám : Không rõ từ
lúc nào ở Việt-Nam đã xuất ra một bài kệ :
“Sám Di Đà”, gồm có
50 câu, văn cú thể lục bát, in ấn truyền lưu cũng khá rộng rãi.
Tác giả có thể là người có tiếng “Dịch nhiều” trong làng dịch
kinh điển PG ? Trọng tâm đặt ra bài Sám nầy tôi nghĩ , tác giả
cũng có lòng tốt muốn khuyên người niệm Phật. Nhưng tiếc thay,
lòng tốt không bù lại đủ tội lỗi đã viết quá tào lao ! Lời lẽ
quá tệ chỉ làm cho thức giả chê cười hủy bán “ Văn thể của người
Phật Giáo chí có vậy thôi sao ?!?.
Xin mạn phép trích những cậu văn “bệ rạc” theo
thứ tự, và mời quí vị cùng “đau” trong cái đau của người “Ưa”
sáng tác…dỡ !
1.
Muốn đi có một đường nầy, 2. Nhứt
tâm niệm Phật khó gì thoát ra, 3. Vậy khuyên phải niệm Di-Đà.
4-5-6,Tham thiền quán tưởng pháp nào cũng thua. 7, Di Đà xưa
cũng làm vua, 8,Bỏ ngôi bỏ nước vô chùa mà tu (thấy bà
cố)!.9-10-11-12-13-14-15,vì thương thế giới
bất bình, 16,nên chi đầu Phật mà đành bỏ ngôi. (ông bà)!
17-27,lạ lùng cái cảnh tây phương, 28,Mười phương cõi Phật cõi
nào cũng thua…lạy ngài! Hết ý !
Văn chương thế nầy thì thật khó mà luận bàn !
Phật đi tu mà tiếc cái Ngôi đến nổi “Mà đành” Xin
thầy đừng tiếp tục sáng tác cái kiểu vu khống tội lỗi như vậy,
nếu có đệ tử thổi bợ, thầy nên kiếm cớ ra vườn vọc đất mà chơi,
đừng đặt thêm nhiều mà khổ cho Phật-Tử, Vì Chân Kinh đã quá
nhiều, không ai thuộc hết đâu ! Thưa thầy ạ.
BỘ
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
Quá Cố cư-sĩ BS, Tâm-Minh Lê-đình-Thám dịch
và in năm Tân -Sữu (1961).Bộ kinh đựoc chư tôn Trưởng Lão
Hòa-thượng Tăng, Ni tán thán ! Không có gì đáng gọi là lỗi nặng.
Tuy nhiên cũng cần phải “Bỏ hẳn” những chữ “Tôi” mà hàng
đệ tử xưng với Thế-Tôn ! Tuy có một chữ nhưng nó nằm khắp chỗ
trong toàn bộ kinh !
Đó là chữ “Ngã”
我 .
Dịch chữ nầy phải tùy theo đối tượng mà định nghĩa, với bạn thì
là Tôi, nhưng với Phật, bậc thầy, Thế-tôn , nghĩa phải xưng là
“Con”. Lạ thay ! Toàn bộ kinh vị tiền bối nầy, dịch chữ
ngã giữa hai bên Thầy, Trò đều “Tôi” với nhau hết ?
Một lầm lỗi lớn cho cả một chiều dài
thế hệ ! Chúng ta nên cùng nhất tâm sám hối thay cho chơn linh
cụ ! Và mong rằng , tất cả ai đó, có cơ hội phát tâm tái bản xin
hoan hỷ sửa tất cả chữ “Tôi” về phía đệ tử thưa, vấn thành chữ
CON chắc phước đức tài bồi nầy to lớn lắm vậy.
Một trầm
trọng khác,nhiều dịch giả : Pháp-hoa, Thủy-sám, Phật học phổ
thông, Như : Bốn pháp Tứ-đế, 12 pháp nhơn duyên, 18 pháp
bất cọng, v.v…Thì cứ như là ( 4 món, 12 món, 7 món ,,,,) Sao lạ
vậy ? Tất cả pháp số đều là pháp ! Tại sao biến
đổi chữ “Pháp” thành chữ “Món” cả vậy ?! Pháp Phật
là pháp liễu nghĩa, mà quí tôn dùng chữ có vẻ “tương dưa” như
vậy, làm mất rất nhiều công đức, tụng kinh như tắt ngụm hào
quang của kinh ! Cũng thấy buồn đau cho giá trị liễu nghĩa không
ít !.
Để thư giản một chút, trước khi qua mục B. Cư
Sĩ úc gốc Việt…dịch kinh. Chúng ta lướt qua lối dịch của vần
thơ hay đời Đường. Hay vẫn có khuyết điểm ?
Bài thơ trong Việt Nam Phật
Giáo Sử Lựợc
Nhan đề : Tống Phụng
Đình Pháp Sư Qui An Nam.
Do, Thi-hào Dương-Cư-Nguyên, thay Vua Đường tiễn
tặng Phụng-Đình Pháp Sư trở về quê Nam Việt.
故鄉南越外
Cố hương Nam Việt ngoại
萬里白雲峰
Vạn lý bạch vân phong
經論辭天去
Kinh luân từ thiên khứ
香花入海逢
Hương hoa nhập hải phùng
鷺濤清範徹
Lộ đào thanh phạm triệt
蜃閣化成重
Thận các hóa thành trùng
心到長安陌
Tâm đáo Trường An mạch
交州後夜鍾
Giao Châu hậu dạ chung.
Cố HT Mật Thể dịch : Quê nhà trông cõi Việt,
Mây bạc tít mù xa !
Cửa trời vắng
kinh kệ, Mặt bể nổi hương hoa,
Sóng gợn Cò
in bóng, Thành xây Hến mấy tòa…,
Trường An
lòng quấn quít, Giao Châu chuông đêm tà.
( Tâm đáo….mạch.
Mà dịch, lòng quấn quít cũng hơi tội cho vị Pháp-sư!)
Nguyễn Lang dịch : Cố
hương Việt Nam ấy, Ngàn dặm mây trắng bay,
Cửa trời
vắng kinh kệ, Bể rộng hương hoa đầy,
Bóng Cò in
sóng bạc, Thành quách lung linh xây.
Trường An
lòng tưởng nhớ, Giao Châu chuông canh chày.
(Ấy,tuy là ẩn
nghĩa mà không rõ ràng. Đầy,là có thật sai với ý trạng từ)
Huyền-Tôn dịch :
Quê nhà bên Nam Việt, Mây ngàn
muôn dặm xa,
Hoàng cung
kinh kệ vắng, Biển cả thơm hương hoa.
Hải Âu vờn
sóng bạc, Ảo thành trông nguy nga !
Trường An
trong tâm tương, Chuông Giao Châu đêm tà.
(Tôi chỉ dịch chơi thôi, không so sánh)
Ta thữ diễn cái ý chính của bài từ, mang tính
tiễn đưa, nhưng nó là thơ “Ngũ ngôn bát cù” Thi hào muốn nói:
Quê của Pháp-sư ở thật xa, ngoài nước của chúng tôi (Nam Việt
ngoại).Từ đây về đến đó, muôn trùng xa cách chỉ thấy mây ngùn
ngụt chồng chất như núi (vân phong).Ngài đi rồi trong hoàng cung
vắng lạnh không còn nghe tiếng giảng dạy Phật Pháp của ngải nữa
(từ thiên khứ) Những lời kinh mầu nhiệm lời những hương hoa của
đời nó đã theo ngài làm thơm cho bể cả (nhập hải phùng).Lúc nầy
những con sóng trong xanh, cuộn nhau nổi bọt đùa với bầy Hải-âu
(lộ đào thanh). Những bóng sáng ở đầu sóng và âm u trong cuộn
sóng, hóa ra màu sắc con Hến con Sò, tạo cho ngài cái thấy khúc
xạ ảo (thận các hóa thành).Thành trì và đường sá dọc ngang ở
Trường ở trong lòng ngài(Trường An mạch).Tiếng Hồng chung sau
đêm đang chờ ngài cập bến (Giao châu hậu dạ chung).
Ý thơ như vậy, mà dịch không như vậy. Cố hương
Nam Việt ấy. Ấy là gì ? Dù có ẩn ý, Ấy là nơi đó, cũng không
đại diện cho chữ “ngoại” được ! Đầy là hình thể thật, mặt biển
không có bồng bền hương hoa ! Sai. Lộ Đào là con Hải Âu vờn trên
sóng, con Cò chỉ có mặt ở ruộng đồng. Canh chày ỳ là tàn đêm hay
suốt đêm. Nhưng không hàm ý nỗi chữ “hậu dạ chung” !!!
Đó là những vị xuất xuất chúng, mà vẫn sơ
suất về dịch thuật ! huống gì chúng ta ngày nay, sống với thời
tượng pháp đang lên. Sở dĩ tôi đem dẫn bài từ nầy, là mong sao
chúng ta, chúng tôi phải chín chắn thận trọng vấn đề dịch thuật,
nhất là Dịch Phật Kinh. Nếu vì danh lợi mà nhọc nhằn trong sai
trái, chẳng những mang tội Ly kinh và y kinh, thì chẳng khác gì
bầy con cùng lái chiếc xe “Kho Tàng quí giá” của đấng Cha lành
vút sâu vào hố thẳm!.
B.
Cư Sĩ Úc gốc việt dịch kinh : Khi
cư sĩ dịch kinh, đăng báo quyên góp Phật-tử trên báo chí ! Có
hợp pháp không ? Giáo hội sẽ làm gì ? Nếu là phi pháp !?.
Một chú nhỏ trong GĐPT đem đến mấy quyển sách :
“Bạch Hòa-thương, đây là Q-Minh phát hành miễn phí con đem cho
HT đọc. Tôi cảm ơn chú nhỏ.
Tôi chú ý một quyển sách :
Đinh sĩ Trang – Nguyễn văn Dọng
The
Surangama sutra
Tìm hiểu kinh
Lăng Nghiêm
-Trang 28 tập I :
Mới tập khởi đầu, mà hai cư-sĩ nầy đã viết sai Xuất xứ của kinh.:
Viết, Khoảng thời gian Đức Phật ở tại
tịnh xá Kỳ-viên (Jetavana) thành Xá-Vệ (Sravasti).
Đúng là Phật ở Tại Tinh Xá Kỳ-Hoàn, thành
Thất La Phiệt.
-Trang 36.37… 2 Cư-Sĩ nầy Viết :
“Phật Đáp : Nói như thể quả là vô lý,
nhưng ông lại nói cái tâm của ông nó ở trong thân ông…………………Ví
dụ khi người bịnh ói ra máu, cái tâm phải biết gốc bịnh ói máu
đó do tạng phủ nào đang bị đau chớ ? do bao tử loét hay do phổi
mà ra? Nhưng trên thế gian……”..trong giảng đường mà không
thấy Như-Lai, lại thấy biết mọi việc bên ngoài là
vô lý “.
-Trang 51. “Câu kinh, Phật cáo chúng sanh tùng
vô thỉ lai,chủng chủng điên đảo . Họ phóng tác là ….’.Từ tạo
thiên lập địa đến nay …”.
-Trang 211. Mấy ông
dịch nầy, giải thích về trạng thài chấp của kiến văn lại dùng
:” Hỉ, Nộ, Ái, Ố “ của Nho giáo.
-Suốt 15 trang
323-337 là Phương danh Phật-tử ấn tống kinh Lăng Nghiêm Danh
tánh gồm có Mỹ, Âu, Canada và toàn Úc : -Danh tánh Perth 25 danh,
(không ghi giá tiền) Kế tiếp 394 danh đều ghi tiền. Riêng NSW
Chùa Phước Huệ (dĩ nhiên ẩn danh người đứng đầu) tức là Phật-tử
sư Phước-Huệ ấn tống 500 đô Úc. Công đức lớn nhất.
Xin nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm :
Kinh-văn:阿難,汝亦如是,汝之心靈壹切明了.若汝現前所明了心實在身內,爾時先
hiệp了知內身頗有眾生先見身中後觀外物縱不能見心肝脾胃,爪生髮長筋轉脈搖…
………無有是處.A-Nan,Nhữ
diệc như thị, Nhữ chi tâm linh nhứt thiết minh liễu. Nhược nhữ
hiện tiền sở minh liễu tâm thiệt tại thân nội. Nhĩ thời tiên
hiệp liễu tri nội thân, phả hữu chúng sanh,tiên kiền trung, hậu
quan ngoại vật, túng bất năng kiến tâm can tỳ vị, trảo sanh phát
trường, cân chuyển mạch diêu, thành hiệp minh liễu, như hà bất
tri, tất bất tri nội, vân hà tri ngoại? Thị cố ưng tri, nhữ ngôn
giác liễu năng tri chi tâm, trú tại thân nội ,vô hữu thị xứ.
Xem
Cố Cư-Sĩ Minh-Tâm dịch : “A-Nan, chính ông cũng vậy, Cái tâm của
ông rõ biết hết thảy, nếu hiện nay cái tâm rõ biết ấy thật ở
trong thân thì trước hết nó phải rõ biết trong thân thể. Vậy có
chúng sanh nàotrước thấy bên trong thân rồi sau mới thấy những
vật ở ngoài không?Dầu không thấy tim gan tỳ vị, nhưng móng tay
mọc, tóc dài ra, gân chuyển, mạch nhảy, lẽ phải biết sao lại
không biết? Đã không biết bên trong lại biết bên ngoài?Vậy nên
biết rằng, ông nói cái tâm hay biết hiện ỡ trong thân, thật
không có lẽ nào như vậy,”41.
Nêu vấn đề :
Hai vị Cư-sĩ nầy bản tâm là muốn góp chút hiểu biết để phù trợ
Giáo-Hội trên con đường Hoằng Pháp ! Hay mưu đồ nhằm thao túng
phá hoại Phật Giáo ? Hay cơ hội hóa vần đề phiên dịch, hầu dễ bề
lợi dụng lòng nhiệt tâm của Phật-tử, vì sự thờ ơ cúa các Thầy
lần lần quen lối thành hơp lệ, một mai sẽ biến thành”Công Ty
tìm hiểu kinh điển Đạo Phật” Tôi nhớ thuở Bảy Canh đã chiếm
hữu tất cả cơ đồ và trọn quyền tác oai tác quái PG Úc Châu, thì,
Cư sĩ Dọng nầy đã có lần gởi cho tôi một tập luận về
“Thập Nhị Nhân Duyên” ông viết rằng Phật đã nói sai thứ lớp
của 12 nhân duyên ! Tôi những tưởng cái hiểu ngông cuồng của
cư sĩ nầy chỉ do một thóang “Ảo thiền” chợt phát rồi chợt lặng”
Nào ngờ, nay ông lại ráp nối với LS Trang! Cùng với SƯ chùa
Phước-Huệ, (đóng vai tín hữu hỗ trợ), quyên tiền in kinh nhằm vu
khống lời Phật dạy !!.
Đức Phật, Từ Phụ Thích Ca,
không bao giờ giảng nói với đệ-tử, nhất là Hàng Thánh Giả, mà
dùng những từ thiếu lịch sự, mang nghĩa dằn vặt, miệt thị như
chữ “Vô Lý”. Huống gì, Kinh Lăng Nghiêm là bộ kinh
mà Đức Phật muốn đưa hàng Nhị-Thừa và chúng sanh vuợt qua 40 địa,
để mau lên Đẳng Giác và vào Diệu Giác.
Phật nào có nói, có
dụ những lời ghê tởm “ Ói máu ?! Bao tử loét ?! Lao phổi ?!
trong kinh Lăng Nghiêm mà 2 ông Trang, Dọng nầy lại “Tìm
Hiểu” hướng dẫn một cách “thiếu học hỏi ! xảo hoạt ” đến như
vậy ??. Dù cho sư Phước-Huệ có là tín hữu của 2 ông đi nữa !
Luận kỹ ra, Hai vị nầy,
có tâm lừong gạt Phật-tử và coi thường Giáo Hội ! Nếu hai ông có
tài, có tâm dịch thuật kinh điển ? Dù có giỏi dến đâu, cũng phải
cầu chư tôn hữu học, đủ lịch duyệt, duyệt y cho, phải xin phép
Giáo Hội (không phải GH tư ! cướp ngang sự trưởng thành của một
GH là tư) Trí thức phải hiểu như vậy. hiểu khác lá ác trí thức!.
Mới đủ thẩm quyền in ấn, Về mặt lạc quyên trên báo chí để thu
tiền từ hảo tâm của Phật-tử là một điều hoàn toàn trái phép ! Dù
trong danh sách cúng tiền có tín đồ chùa Phước Huệ, mà chùa tất
có Sư đứng đầu.
Cái điểm nhập nhằng tráo trở là : Bên trong 15 trang cuối thì in
: “Phương Danh Phật Tứ Ấn Tống Kinh Lăng Nghiêm”.(có PD
Phật-tử chùa Phước-Huệ “Dĩ
nhiên chùa phải cỏ chủ là“Sư””Bìa và các trang trong thì in :
Tìm Hiểu Kinh Lăng Nghiêm.
Phải chăng Hai cư-sĩ nầy
muốn ngầm nói : Chúng tôi chỉ “Tìm hiểu kinh Lăng Nghiêm”
mà thôi ! Chứ chúng tôi đâu có dịch kinh Lăng-Nghiêm ! ?.
Nếu là Tìm Hiểu ! Thì, các ông chưa hiểu ! Nếu đã hiểu, và muốn
giới thiệu (khoe) cái hiểu của mình, thì phải tự lo, bỏ tiền túi
ra mà in ấn lấy mới phải ! Cớ sao lại dám xưng danh rồi công
khai lặc quyên trên báo chí, và còn lặc quyên cả Sư chùa Phước
Huệ ? Sư chùa Phước Huệ chắc chưa đọc bản thảo của các ông ? Nếu
đã đọc qua, dù tệ đến tệ , một xu cũng không dám chi, nói gì
500. Vậy duyên gì có sư hợp tác nầy ?!?! Các vị nên biết, Kinh
đỉển Phật Giáo không phải là thị trường “Tương Chao” Để cho các
ông đầu tư kinh doanh.
-
Bậc chân Tăng cầu siêu cho người quá cố ! Có
nên cố ý khơi động lệ buồn cho người tang quyến hay không ?
Bạch các ngài, thua các vị, Cầu siêu là
cầu cho Người đang sắp và đã xả báo thân phàm trược ! Tại sao
lại không niệm 10.20.50 Chú Vãng sanh và hồi hướng …? Tụng trì
Danh hiệu Phật 100-200….
Và các kinh điên Đại
Thừa và hồi hướng ? Cùng với Tang Quyến yên lặng thân tâm cho
thanh tịnh ? Mà lại ưa dùng những bài “Ai Kệ” ! “Bi Vịnh” ! Vãng
Thán” ! Khô cổ cho thầy làm pháp sự ! Bơ phờ bối rối cho Tang
gia !? Nghe giọng đượm đầy bi thảm ! Khơi buồn mạch lệ đau
thương ! Càng thêm tủi phận biệt ly, cô quả ! Rồi thầy y pháp
dạy rằng : “ Con hãy nín đi ! Chí tâm cầu nguyện đi con …” Nín
sao được ? Khi các thầy đang nỗ lực hộ trợ cho chúng con càng
khóc thêm mùi kia mà ? Dạy thì dạy vậy, chứ thầy vẫn cố diễn
nghi điển : Than ôi ! Đầu xanh khăng trắng ngậm ngùi ! Lòng
xót áo gai sùi sụt ! Mong rằng vong giả linh thiêng ! Mặc nhiên
chứng giám ! Hiến trà ! ….(314 pskn).
Thế là tang gia cứ khóc càng to ! Lệ chảy càng
đầy ! Còn thầy thì nghi còn dài, còn lê thê bi thảm ! Âm thanh
của cuộc lễ nào thán vận ! nào mõ chuông đẩu khánh, hòa nhịp
tiếng than, tiếng khóc ! ?? Hương linh nhìn thấy Phật bay lên !
Nhưng bi tình lại kéo xuống ! Chơi vơi ! Siêu thoát chỗ nào ? Đó
là về tín đồ, tín hữu? Còn bậc xuất thế thì sao ?
Nào có thua gì ? Hơn, chưa chắc là kém !
Gậy vàng treo trượng thất, Lời ngọc vắng
thiền đừờng, Con dại nhằm thuốc đắng, Cha già biệt tha phương !
? (175 pskn) Cùng lắm sao không vãn : Chúng còn quỳ dâng
nước ! Thầy tọa cõi Tây Phương ! Có phải nhẹ hơn “ con dại nhằm…biệt
tha phương !
Thảm hơn ! Giờ nầy rất đau lòng ! Vì tôn sư
tuổi đời đã thọ ! Lạp đạo lại cao ! Nên tứ đại bì lao, ngũ suy
nhược !Linh đơn diệu dược, khó chống sứ già, hay diệu dược kỳ bà,
khôn xua thần chết. Tôn sư nay hóa duyên đả hết ! Thầy thần gởi
liên bang, giờ huyển thế đã tàn, Con thân mang tang phục !
Không mặc thì thôi ! Còn đã mặc sao lại than !? (184 pskn).
Lại sầu não hơn : Than ôi ! Một phút vô thường,
Nghìn thu vĩnh biệt, đớn đau chi xiết, thương tiếc vô cùng.
(330 pskn).
Bi thiết quá : Nghê đài nay còn đó, tiếng
thầy bặc âm hao, biết rằng sanh tử huyển, Ly biệt khổ dường bao
! Đã ly gia thoát tục ! Sao còn than ly biệt khổ ? Làm gì ?
Như đã ngộ sanh tử huyển ! Thì nên “Cúi đầu lễ ân cao”
Chứ không nên…khổ dường bao.(182)
Trộm nghĩ, Một bậc thấy xuất thế, mà người xuất
gia lại không biết thầy mình thác hóa về đâu hay sao ? Nếu giới
đức tinh nghiêm, thí nhất định thẳng sanh về Phật quốc ! Còn như,
dang díu trần đời, đua giành sang đọat như bảy canh, thì làm sao
tránh khỏi du lịch Atỳ !
Tóm lại, vô số câu, ước có ngàn lời áo não !
Bi ai cho cả Tăng lẫn tục ! Trong PSKN dịch có, sáng tác có. Sai
cũng không ít ! Nói sai là sai về diệu lý của cú nghĩa. Làm sao
có thể dám phê phán ! Do một bậc đã suốt đời dấng thân vì đạo !
Tuy biết như thế, nhưng liệu PSKN có đúng là một “ Cẩm Nang” để
giải thóat , cứu độ cho liễu sanh thoát tử hay không ? Cái ân
sưu tầm , tuy là một khổ công góp nhặt các bài kệ, vịnh, thán
của các tổ tàu, những lời bi thiết đó, có đựoc xem như là Kinh
Chú và quyết có thần lực, diệu lực Người nghe, Hương Linh nghe
có chắc vãng sanh hay không ? Hay chỉ là một Lễ Nghi có đủ tính
cách rừơm rà, phô diễn mà thôi . Có nên xem là một Phật Kinh
siêu độ thật tiển hay không ? Dù trong đó có niệm Phật ? Một
than thuốc Bổ chỉ toàn là “Lá” (táng vịnh) và chỉ có một “Quả
Táo” (30 câu niệm Phật) phỏng có đủ khỏe cho bịnh không ?
Kính lễ và sám hối ! Những gì muốn giải bày
trăm trang chưa nói hết. Nói thì lỗi ! Không nói thì tội !Nói ra
bị ghét, bị chữơi! Không nói được Tốt, yên lành ! Nhưng mang tội
đồng lõa, để cho “Tượng pháp” có cơ hội tiến nhanh trong thời
ngự trị của “Kiếp Trược”. Kính Lễ Tam
Bảo, Cầu ai sám hối.
|