|



Ai học thuộc Kinh
sẽ được cưới làm chồng
Thích Nguyên Tạng
Bao giờ chúng sanh còn đau khổ còn sanh tử luân
hồi, thì lòng từ ứng hiện của Bồ Tát Quán Âm vẫn biến hiện mãi
mãi để cứu độ dẫn dắt chúng sanh ra khỏi luân hồi đau khổ.
Chuyện này tôi thuật lại theo lời kể của Cố Hòa
Thượng Thích Trí Nghiêm (1911-2003), người mà tôi có phước duyên
được làm thị giả trong thời gian (đầu những năm tám mươi) tôi
hành điệu trong các mùa An Cư Kiết Hạ tại đồi Trại Thủy, Chùa
Hải Đức, Nha Trang. Câu chuyện sau đây được Hòa Thượng kể lại
vào một buổi trưa khi tôi hầu quạt cho ngài tại Am Hoàng Trúc.
Chuyện kể rằng, tại làng nọ ở Trung quốc, dân
chúng không tin Phật pháp vì họ cho đạo này là mê tín. Vì thế mà
Bồ Tát Quán Âm muốn dùng phương tiện để cảm hóa chúng sanh
nghiệp chướng sâu dầy trong xứ sở này, nên Ngài đã hiện thân một
nữ nhân, tay xách giỏ tre, đựng mấy con cá, đi vào thôn xóm rao
bán. Người trong thôn xóm thấy cô gái bán cá có dung mạo đẹp đẽ
dị thường, nên ai cũng say mê và tranh nhau muốn cưới. Người thì
xin cưới về làm dâu, người thì muốn cưới làm vợ, và có ông đòi
cưới về làm người hầu. Người ta bu quanh nơi cô càng lúc càng
đông, nhất là các chàng thanh niên mò theo sát gót. Cả ngày cá
bán không được vì người ta ham mua người chứ không mua cá. Thấy
đã đến lúc, cô nàng lên tiếng: “các anh đông người quá, còn
em đây chỉ có một mình, làm sao làm vợ cho đủ ? Nên em xin đưa
ra một điều kiện, ai đọc thuộc lòng phẩm Phổ Môn (thuộc Kinh
Pháp Hoa) trong vòng ba ngày nhất định em làm vợ người đó.
Ngay lập tức cánh đàn ông trong làng đi khắp xứ tìm phẩm Phổ Môn
về đọc tụng. Sau ba ngày mãn hạn những người đọc thuộc lòng được
bốn năm mươi người. Cô bảo: “Các anh vẫn còn số nhiều quá,
không nói chắc các anh cũng biết, một mình em mà làm vợ cho
nhiều người bất tiện vì nhiều lẽ. Vậy em xin một lần nữa, nếu
anh nào học thuộc lòng quyển Kinh Kim Cang với thời gian năm
ngày, em xin chân thành cưới lấy người ấy làm chồng duy nhất của
đời em”. Thế là một lần nữa bọn đàn ông lại gặp khó khăn, vì
văn tự của kinh này trúc trắc khó đọc, lặp đi lặp lại, trùng
trùng điệp điệp, chưa kể đến nghĩa lý của bản kinh này khó hiểu
khó thấu. Thế nhưng, hết hạn năm ngày, vẫn có được mười người
trúng tuyển. Cô nương xinh đẹp lại lên tiếng: “cũng vẫn bất
tiện lắm thưa các anh, luật pháp hiện hành và luân lý cổ truyền
xứ ta, vẫn chưa cho phép một bà vợ mà cưới một lần mười ông
chồng. Xin các anh một lần chót này nữa thôi, nếu ai đọc thuộc
lòng bộ kinh Pháp Hoa trong bảy ngày chẵn, thời tiện thiếp này
xin trân trọng tuyên bố đem danh dự của kẻ hàng tôm hàng cá này
ra mà đảm bảo giữ đúng lời hứa như đã hứa mấy lần trước”.
Lần này người ta gặp phải cái khó khăn hơn là tìm cho đủ bẩy
quyển và ngồi xếp bằng mà lật từng trang từ đầu chí cuối cho hết
bộ kinh Pháp Hoa cũng đã mất hết bao nhiêu ngày giờ,
huống chi là học thuộc lòng. Một tuần lễ trôi qua, mãn hạn bảy
ngày, vậy mà vẫn có một người đạt được mục đích cuối cùng, vẻ
vang nhất đời, đó là chàng thiếu niên họ Mã. Chàng thông minh
lịch thiệp, xuất thân từ một gia đình giàu sang vọng tộc. Cố
nhiên cô bán cá phải giữ đúng lời hứa. Ngay trong đêm hoa đăng
rực rỡ, yến tiệc linh đình, tân nương bỗng phát cơn đau bụng dữ
dội và ngã lăn ra chết luôn.
Ô hô! Chàng Mã kia tội nghiệp biết dường bao!
Đời người ai tránh khỏi cái chết! Mà chết như thế này là nghĩa
làm sao? Đời sống quá đẹp đẽ như thế này sao mà không đáng sống?
Nhưng sống như thế này thì sống để làm gì? Mã thiếu niên đã
dùng hết tâm lực để học thuộc bộ kinh, để nhận được phần thưởng
xứng đáng nhất là được một tuyệt thế giai nhân, đó là niềm hạnh
phúc của đời chàng. Nhưng niềm hạnh phúc đã chắp cánh bay mất
rồi. Giờ đây còn chăng chỉ là một thứ giả danh hạnh phúc và một
thây chết xanh xao nằm cứng đờ xanh xao như gỗ đá vô tri không
hơn không kém. Ôi nhân sinh là thế ấy, như bóng đèn, như mây nổi,
như gió thổi, như chiêm bao….. Sau khi tống táng xong, chàng ta
tự hận mình là kẻ bạc phước. Chàng thề trọn đời chẳng màng cưới
vợ nữa. Rồi chàng sống một đời sống của những kẻ thất tình; dẫn
thân đây đó như một kẻ cuồng si. Một hôm bất giác tình cờ chàng
gặp một vị lão Tăng mặc áo tím, lão nhận thấy nơi anh chàng này
có bộ dạng âu sầu khổ não nên Ngài mới gạn hỏi. Chàng Mã đem hết
đầu đuôi câu chuyện thương tâm của mình mà thưa trình. Nghe xong
Ngài bảo: cô nàng bán cá xinh đẹp ấy vốn là hóa thân của Bồ Tát
Quán Thế Âm, vì ngài thấy bọn các con không tin Phật pháp nên
mới thị hiện nữ thân để giáo hóa đấy thôi. Trong khế kinh Phật
từng dạy: “Trước lấy sắc dục để câu thúc họ, sau mới khiến họ
vào Phật đạo vậy”. Chàng Mã trở về nhà và thuật lại việc
mình vừa gặp lão Tăng và cho họ biết những gì lão Tăng nói.
Nhưng họ không tin nên họ quật mồ cạy nắp quan tài ra trong quan
không thấy thi hài cô gái nữa. Do đó dân chúng mới tin là Bồ tát
xuất hiện ở giữa đời thường mà chỉ vì vô minh mà họ không thấy
đó thôi, và từ đó Phật pháp nơi làng này được truyền khắp thịnh
hành, ai ai cũng tin Phật và tu niệm. Về thân phận của chàng Mã,
sau khi khám phá sự thật phũ phàng này, chàng như người chợt
tỉnh cơn mơ và cho rằng mình làm người thế tục cũng không còn ý
nghĩa gì nữa, nên chàng lìa bỏ thế tục để xuất gia làm Tăng, rồi
vào ẩn tu trong một hang núi. Về sau người ta đặt tên hang nầy
là Mã Lang động, tức là hang động tu hành chàng họ Mã. Động ấy
đến nay vẫn còn.
Nghe qua câu chuyện thấy được ba vấn đề liên hệ
đến việc tu hành của người Phật tử. Thứ nhất, bao giờ ta chưa
học đạo giải thoát chưa nghe pháp Phật, chưa trì tụng kinh điển
thì nhiễm pháp vẫn lẫy lừng trong tâm, tức là ba độc tánh tham,
sân, si không thể dứt trừ được. Cho nên trong câu chuyện Bồ Tát
mới lấy âm thanh, sắc tướng là đối tượng của lòng tham, là căn
bản phiền não để khiến dụ chúng sanh thức tỉnh.
Thứ hai, dù sống trong đau khổ phiền não nhiễm
trược thế gian, mà tánh giác, tánh bồ đề vẫn sẵn có trong tâm
niệm chúng sanh, do đó anh chàng họ Mã thông minh lịch thiệp kia
là tiêu biểu cho trí huệ, một khi được duyên khơi dậy sẽ dễ dàng
hiển thị giác ngộ chứng đạo giải thoát.
Và cuối cùng là tính chất vô thường cụ thể xảy
ra với tất cả vạn vật trên đời này, đó cũng là hình ảnh giúp anh
chàng họ Mã và tất cả người trong chuyện phải ý thức quay lại
chính mình để một khi đối diện với sự mất còn chết sống của thế
gian sẽ biến thành chất liệu bồ đề, ý thức giải thoát, giác ngộ,
mà không phải bi lụy, đau khổ thường tình trong vô minh phiền
não. Mong thay câu chuyện sẽ cảnh tỉnh chúng ta ngay bây giờ và
mãi mãi về sau.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Viết tại Trường Hạ Pháp Bảo, 7/2006
Thích Nguyên Tạng

Who Could Memorize the
Sutra
Would Be My Husband
(next)
---o0o---
Xem những bài khác của
Thầy Nguyên Tạng
|