Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại UÐL-TTL

 Trường Hạ Pháp Hoa

Tổ chức tại chùa Pháp Hoa, South Australia
10 – 20 /7/2007

---o0o---

 

 

CẢM NHẬN VỀ ÁNH TRĂNG

 

Ánh trăng luôn là nguồn cảm hứng của những người có tâm hồn thi sĩ, tùy theo tâm trạng của thi nhân, thơ trăng quyện lấy tâm  tư tình cảm của tác giả. Đặc biệt trăng trong thơ của các thiền sư và  các vị đạt ngộ thường sử dụng vầng trăng khi thuyết giáo mang một ý nghĩa đặc thù so với vầng trăng trong thơ lãng mạn trữ tình của những thi sĩ còn hệ lụy tình trần. Nhân mùa an cư tu học kỳ bảy tại Adelaide Nam Úc, thử một lần thưởng nguyệt Phật pháp để cảm nhận một cách sâu sắc lời Đức Phật dạy: "Nhất thiết chư pháp giai thị Phật pháp" ( hết thảy các pháp đều là Phật pháp ). Trong sinh hoạt muôn hình vạn trạng hàng ngày của các Phật tử, nếu biết ứng dụng cái thấy biết các pháp như Phật pháp thì cuộc sống sẽ nhẹ nhàng thanh thoát an lạc.

 Cụ Nguyễn Du có câu :

 "Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

 Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường" (Kiều)

 Hai câu thơ tả cảnh nàng Kiều và chàng Thúc Sinh bị phân ly, tâm trạng người trong cuộc như bị lưỡi dao sắc bén cắt ngang làm lòng đau ruột đứt không khác gì mảnh trăng tròn êm đẹp mà ai nỡ xẻ làm đôi.

 Một nhà thơ được mệnh danh là nhà thơ của trăng: Hàn Mạc Tử, không phải ngẫu nhiên suối thơ Hàn Mạc Tử chứa đựng toàn ánh trăng, trăng là đối tượng để tâm tình, khi bản thân nhà thơ đau khổ tột cùng, đau thương vì tật bệnh, bị phụ bạc và cô đơn:

                           Trời hỡi ! nhờ ai cho khỏi đói,

                         Gió trăng có sẵn làm sao ăn?

                    Làm sao giết được người trong mộng

                   Để trả thù duyên kiếp phủ phàng.

Những lúc ấy tất cả đều phủ phàng tan vỡ, chỉ còn lại ánh trăng làm bạn tâm tình chung thủy, chỉ có trăng là vĩnh hằng bất diệt:

                           Chỉ có trăng sao là bất diệt,

                         Cái gì khác nữa thảy đi qua.

Hai nhà thơ của hai thời đại khác nhau đều mượn vầng trăng để phơi bày nỗi đau chia phôi, nhìn trăng mà liên tưởng đến người yêu thương, trăng đã bị trần tục hoá, trăng trong họ thật bi thương ảm đạm, trăng và người chìm sâu trong triền miên vẩn đục.

Ánh trăng trong Phật giáo thì thanh tịnh trong sáng. Đức Phật thường dùng hình ảnh ánh trăng dụ cho tâm tính hiền thiện của con người:

    Ai dùng các hạnh lành

   Làm xóa mờ nghiệp ác

  Chói sáng rực đời này

  Như trăng thoát mây che

                         ( Pháp cú kinh câu 173 )

Nhờ tâm hiền diệu trong sáng như trăng mới có thể dứt ác hành thiện, chỉ có người thực hành các nghiệp thiện không làm các điều ác mới là người đáng tôn kính và rực rỡ nhất trong cuộc đời vì người ấy đã đem lại sự an lạc thanh lương cho những người xung quanh:

Tỳ kheo tuy tuổi nhỏ

Siêng tu giáo pháp Phật

So sánh thế gian này

Như trăng thoát khỏi mây.

                       ( Pháp cú kinh câu 38 )

Chúng Tỳ kheo là Tăng Bảo, một trong ba ngôi báu của thế gian, sở dĩ được tôn xưng chúng trung tôn vì đã tu tập theo giáo lý hướng thượng đạt đến sự thanh tịnh giải thoát giác ngộ, là bậc thiên nhơn chi đạo sư đem Phật pháp soi sáng thế gian khác nào vầng trăng thoát mây soi đường dẫn bước cho nhân loại ra khỏi bóng đêm u tối của tham giận si mê.  

 

Trăng được các vị thiền sư thiền vị hóa, trăng thật thanh thoát, biểu hiện tính tịch diệt tuyệt đối của vạn vật :

 Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác,

                          Trăng trong mây trắng hiện toàn chơn.

Theo tinh thần Đại thừa Phật giáo thì vạn pháp vốn Như Thị, vì tất cả các pháp đều từ chơn tâm hay Như Lai tạng diệu chơn như tánh mà hiện “Trúc biếc hoa vàng cũng không ngoài chân như, Thiền sư đã dùng hình ảnh vầng trăng để chỉ cho diệu chơn như tánh sẵn có nơi tất cả chúng sanh. Bản lai thanh tịnh sáng suốt, thường hằng bất sanh diệt, chỉ vì phiền não vô minh che lấp mà con người quên mất chân tánh nên bị trôi lăn trong luân hồi sanh tử. Chỉ cần xua tan mây mờ phiền não vô minh thì chơn tâm hiển hiện, cũng như ánh trăng trong sáng không bị mây đen che phủ thì hiện rõ hoàn toàn. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Tâm – Phật – Chúng sanh cả ba không sai biệt “Tất cả chúng sanh và mười phương chư Phật đồng một thể tánh bình đẳng, chỉ vì chúng sanh hợp trần bội giác nên làm phàm phu mê muội mới có Phật và chúng sanh sai khác. Chúng sanh đã tự cô phụ bản tâm thanh tịnh sẵn có của chính mình, rồi tùy duyên tuần nghiệp luân hồi trong lục đạo, vì vậy mà Ngài Từ Vân đã hối tiếc cho chúng sanh: “… hết thảy các pháp đều là Phật pháp, mà con không rõ lại theo dòng vô minh, vì thế trong trí Bồ Đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc …”

Văn thơ Việt Nam có câu:

  "Hỡi cô tát nước bên đàng,

             Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

 Trăm sông ngàn suối, chỗ nào có nước đều in hình bóng trăng chỉ vì nước bị khuấy động, lục bình che phủ không nhìn thấy bóng trăng, chỉ cần dọn sạch lục bình, giữ nước lặng trong bóng trăng sẽ hiện, tuy chỉ thấy được bóng trăng nhưng một khi đã biết thế gian có trăng, nương bóng trăng ấy mà thấy được mặt trăng thật ở hư không. Vậy mà chúng ta đã tự múc ánh trăng sẵn có đổ đi một cách không thương tiếc để cam chịu làm kẻ phong trần lang thang trong sanh tử, dùng tánh thấy, nghe, ngửi, biết tìm cầu lục trần ảo ảnh là nguyên nhân vùi chôn con người trong khổ đau nghìn đời:

 Lưỡi vướng vị ngon tai vướng tiếng

 Mắt theo hình sắc mũi theo hương

Lênh đênh làm khách phong trần mãi

Ngày hết quê xa vạn dặm trường.

                       ( Trần Thái Tông  - Nguyễn Lang dịch )

Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật dạy: "Ta cũng như người dùng ngón tay chỉ mặt trăng, các ngươi phải nương ngón tay mà nhìn thấy mặt trăng." Đức Phật dùng hình ảnh mặt trăng để chỉ Diệu chân như tánh sẵn có của chúng sanh, ngón tay chỉ mặt trăng là giáo pháp của Ngài – Suốt 49 năm thuyết pháp Đức Phật đã đưa ra rất nhiều phương pháp để Phật tử nhận biết mặt trăng thật. Phương tiện thì rất nhiều, có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, tùy theo căn duyên của mỗi người chọn cho mình một pháp môn tu học, pháp nào cũng đưa người tu tập đến an lạc giải thoát, nếu tự lực khó thành thì cầu tha lực gia hộ, pháp môn niệm Phật dễ tu dễ chứng, nếu tự lực không ngộ nhập được tự tánh Di Đà thì mượn câu niệm Phật nhờ tha lực của Đức Phật A Di Đà tiếp độ, hào quang của Ngài luôn chiếu khắp chúng sanh  như vầng trăng tỏa sáng thế gian,  Ngài luôn duỗi cánh tay sắc vàng tiếp độ người niệm Phật, ánh trăng tịnh độ luôn tỏa chiếu chúng sanh, Đức Phật A Di Đà thương chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con cũng nhớ mẹ thì lo gì mẹ con không hạnh ngộ ở quê hương cực lạc.

 Nhất niệm A Di Đà

Tịch Chiếu Vô Lượng Quang

Vô sanh vô Lượng Thọ

Đồng Phật vãng Tây phương.

         

CHÙA GIÁC NHIÊN - HẠ 2007
        TKN  Thích nữ Tâm Nhựt.

 

                                                                                                                                                    

 

 

 

---o0o---

 Mục lục

 

---o0o---

Trình bày: An Lạc & Tuệ Minh
Cập nhật 21-7-2007


Webmaster: quangduchomepage@yahoo.com

Trở về trang hình ảnh

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ :
quangduchomepage@yahoo.com
Địa chỉ gởi thỈ?:
Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544