Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam


   

 

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại UÐL-TTL

 Trường Hạ Pháp Hoa

Tổ chức tại chùa Pháp Hoa, South Australia
10 – 20 /7/2007

---o0o---

 

Quí tiếc của Tam Bảo

 

Căn cứ theo luật tạng, vật của tăng có bốn thứ:

  1. Thường trụ thường trụ: có nghĩa là nhà cửa, ruộng vườn, cây cối, người, súc vật, lúa gạo v.v…. vì hình thức chúng giới hạn ngay tại chỗ, không chung ở những chỗ khác. Chỉ được dùng mà không được phân chia đem bán, đem cho nên lặp lại hai lần chữ Thường Trụ.
  2. Mười phương tăng: vật cúng cho chư tăng quen thuộc như các phẩm vật, đồ dùng ăn uống trong chùa thuộc của mười phương tăng không giới hạn tăng ở chùa nào. Luật Thiện Kiến ghi rằng: không thỉnh chuông mà ăn tức ăn không hiệu lệnh, là phạm tội trộm. Vì thế, rõ ràng mười phương tăng đều có phần vậy.
  3. Hiện tiền thường trụ, trong đây có hai loại: a- Vật hiện hữu; b- Tăng chúng có mặt (hiện diện): chỉ vật hiện hữu đem cúng chư tăng tại chỗ mà thôi.
  4. Mười phương hiện tiền Tam Bảo, có nghĩa là đồ vật của vị tăng qua đời; hình thức giống như của thập phương, vì 10 phương hiện tiền tăng được có phần vậy.

Luận Tỳ Bà Sa có nêu: trộm vật của tăng quá cố, ai xử phạm tội căn bản (trọng tội)?

-          Giải: Vì đã làm pháp yết ma, đối giữa chúng tác pháp yết ma xử được. Nếu chưa làm pháp yết ma thì phải khéo đem ra công khai giữa chúng cũng được. Nay qui định rõ vật của tăng quá cố là của mười phương tăng, trước đã làm pháp yết ma thì được, sau yết ma là không được.

Sách Lại Am ghi rằng, bốn vật của Thường trụ này không được lấy một tơ hào, nếu lấy đắc tội rất nặng. Trước Thánh sau Thánh đều dạy răn điều chí thiết. Sơn tăng hoặc ẩn hoặc hiển chưa từng không lấy lời chí thiết này răn dè ý mình. Do e người không thấu hiểu nên có bài kệ cảnh giác rằng:

                  Vật mười phương tăng nặng như sơn
                  Muôn kiếp nghìn đời dễ trả ơn?
                  Nay bàn chả mấy người tin tưởng
                  Ngày kia khó thoát tội hầm chông.

                   Thân người khó được khéo suy lường
                  Sanh ra tội sừng tháng năm trường
                  Tham chi từng hạt gạo đáng thương
                  Sa chân lỡ mất nửa đời lương!  

(Trích Bách Trượng Thanh Quy,  Thích Bảo Lạc dịch xong, sách ấn hành năm 2008)

 

Nhân tiện xin thuật câu chuyện có liên quan đến vật của Tam Bảo để giúp ta suy nghĩ ứng dụng trong sự tu tập.

Vào khoảng năm 1946 (sau đệ nhị thế chiến) ở chùa Chúc Thánh - Hội An (Quảng Nam) có bà vải Bốn Chúng chuyên đi chợ nấu ăn cho Hòa Thượng Tăng Cang Thiện Quả trụ trì các tổ đình Tam Thai – Linh Ứng kiêm Chúc Thánh. Có bất cứ chuyện gì dưới chúng bà đều đem tâu với Hòa Thượng để Hòa Thượng xử, phạt, đánh… Chúng trong chùa lúc đó gồm 20 người ai cũng chẳng ưa bà. Trong số có 3 chú Như Lang, Như Phú, Như Huệ (Hòa Thượng Hội Chủ bây giờ) ưa chọc, và tinh nghịch để trả đũa cho bỏ ghét bà Bốn. Thường bà đi chợ hay mua chuối, hương đèn, giấy vàng cúng miếu Bà (ngũ hành) phía sau chùa. Các chú rình theo dõi xem bà, cúng chuối sao không thấy đem vô chúng ăn, mấy chú bèn chun dưới bàn thờ quan sát. Một hôm như thường lệ bà đem chuối cúng và khấn vái: Con trăm lạy bà, ngàn lạy bà, hôm nay con kiếm được 1đ50 tiền, xin bà gia hộ con kiếm được kha khá để mỗi bữa đi chợ mua chuối cúng bà. Con có xin mấy bà trong phố được 7 đồng, con đem về giao Thầy 5 đồng, con lấy (bớt) 2 đồng. Trăm lạy bà, ngàn lạy bà tha thứ cho con.

 Khấn xong, bà đem giấy vàng đi đốt, 3 chú dưới bàn thờ chun ra bưng nải chuối đem tới dưới gốc cây ngồi thanh toán sạch. Lạy xong, bà không thấy nải chuối đâu, bả nghĩ bà sao linh quá về hưởng vật cúng, nên tìm quanh thấy vỏ chuối, nhưng không biết hỏi ai. Bà rất ấm ức trong lòng, vì đã qua vài ba lần như vậy. Sanh nghi, bà kêu 3 chú hỏi rằng: Các chú có lấy chuối cúng bà không? Các chú chối phăng không nhận. Bà càng thêm điên tiết. Tra mãi không ra, bà đem mách Thầy và quả quyết: Chắc là do ông Huệ chứ không ai vô đây. Nghe vậy, Thầy mỉm cười, vì biết tánh bà nên nói rằng: Việc đó để Thầy xử. Thật ra, Thầy làm lơ luôn. Bởi vì, bà lấy bớt tiền chợ hay tiền cúng chùa là vật của Tam Bảo, lại còn lo hối lộ với thần linh, là một việc làm phi pháp.

Ngoài ra, một câu chuyện khác cũng tại chùa Chúc Thánh. Chuyện như sau: Hòa Thượng Tăng Cang (Thiện Quả) rất có uy tín trong vùng được nhiều người biết tiếng, họ hay thỉnh mời Ngài tới nhà để cúng dường. Một hôm Hòa Thượng đi hóa trai, ở nhà mấy chú thèm xôi lén vào liêu phòng xúc trộm nếp đem nấu xôi. Xôi vừa chín gặp Thầy về. Chúng nghe Thầy về ai cũng sợ liền bưng nồi xôi giấu ngoài miếu thổ thần. Khoảng lúc 11 giờ đêm, bỗng Hòa Thượng kêu mấy chú dậy hỏi: Các ông cúng cái gì ngoài miếu thổ thần không thắp hương, mấy ổng vào thưa Thầy hai lần? Khi nghe hỏi vậy, mấy chú nín khe không ai dám lên tiếng. Trong số có một chú lớn hơn nói nên nói thiệt cho rồi, không dấu Thầy được nữa. Mấy chú cùng bạch: Bạch Thầy, tụi còn thèm xôi, nên có ăn cắp nếp nấu xôi cho mấy anh em ăn để mai đủ sức đi làm việc, nhưng chưa kịp ăn thì gặp Thầy về nên đem để ngoài miếu thổ thần. Vì đêm tối chúng con không đám ra lấy. Thầy bảo: thôi đem vô ăn đi sáng mai sẽ hay. Thế là mấy chú hết cả sợ đem nồi xôi thanh toán ngay tại chỗ, nhưng vẫn lo sợ không rõ hậu quả sẽ ra sao.

Sáng hôm sau, khi công phu xong, quét dọn chung quanh sân vườn rồi dùng điểm tâm như thường lệ. Hòa Thượng chờ cho chúng ăn uống, dọn dẹp rửa chén bát xong và kêu 8 chú lên nằm dài ra đất quất cho mỗi chú 10 roi (roi bằng mây. Mỗi lần quất xuống là một lần căn dặn: Từ nay về sau đừng tái phạm lại nghe chưa?

(Thuật lời kể lại 2 chuyện của H.T. Như Huệ tại trường hạ vào chiều 13 tháng 7 năm 2007.)

Qua câu chuyện thứ nhất trên chúng ta có thể rút tỉa được đôi điều như sau:

-          Bà Vải thân tuy sống ở chùa nhưng tâm không ở chùa, làm những điều không hợp đạo lý, hay nói đúng hơn là rơi vào mê tín và phạm giới. Như bà vẫn tin đốt vàng mã, mặc dù cúng thần đi nữa; cũng như cắt xắn bớt tiền bạc của Tam Bảo đã là một cái tội, lại còn muốn hối lộ với thần linh nữa là tội thứ hai. Việc gì của mấy chú bà cũng đem mách Thầy để Thầy phạt thuộc giới vọng là tội thứ ba.

-          Với một người ở chùa mà tâm đạo mỏng cạn như thế là một trở ngại với chúng, với Thầy, với chùa và rộng hơn nữa đối với đạo. Đối với chúng, bà không giúp đỡ thương mến lại tìm chỗ sơ hở tâu mét Thầy để các chú bị phạt mà có khi do tư kiến của bà họ bị phạt oan. Còn với Thầy hay đối với chùa, người ngoài nhìn vào cách sống đạo ấy hẳn có lời phê phán về Thầy cũng như chùa, thật là bất thuận lợi vô cùng. Đó là chưa kể đến sự ảnh hưởng không tốt cho đạo giáo nữa.

Và câu chuyện thứ hai giúp ta nhìn lại về quá khứ để thấy rõ sinh hoạt thiền môn, cũng như đời sống của tăng sinh vào nửa thế kỷ 20 qua vài nhận xét sau đây:

-          Đời sống nghèo của ngôi chùa quê thiếu thốn mọi mặt, tăng chúng thiếu ăn, thiếu mặc, làm việc cực nhọc; học hành trong điều kiện kham khổ. Hình phạt nặng nề, Thầy Tổ nghiêm khắc… là những trở ngại cho người thiếu ý chí và niềm tin chưa đủ mạnh. Nhưng đó lại là lò rèn người rất hữu hiệu, với những ai bền gan kiên chí, quyết phấn đấu vượt qua ắt đạt đến thành công viên mãn. Như ta thấy một số vị còn tồn tại dưới sự giáo dưỡng nghiêm từ của sư phụ và đời sống khắc khổ của già lam mà sau này ra làm đạo thật đắc lực như quí Ngài Trí Thủ, Thiện Hoa, Trí Hữu Thiện Hòa, Đức Nhuận, Thanh Kiểm, Thiện Siêu, Trí Nghiêm, Đổng Minh… và một số vị đang hành hoạt như H.T. Trí Quang, Thiện Hạnh, Như Huệ.

-          Hòa Thượng Thiện Quả được sắc phong chức Tăng Cang, tức là vị tăng có uy tín được triều đình nể trọng. Ngài còn được tín nhiệm giữ chức vụ trụ trì các tổ đình Chúc Thánh và Tam Thai – Linh Ứng. Đây phải nói Ngài là nhân vật nổi bật trong hàng tăng tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ nói riêng và có ảnh hưởng lớn khắp trong toàn quốc. Điều này cho thấy Ngài là bậc tu hành đạo cao đức trọng, không những được người đương thời nể phục ca ngợi tán dương mà cõi giới vô hình cũng cảm thông mật thùy gia hộ. Chẳng hạn như trong đêm tối thổ thần vào mách bảo Ngài sự việc ở chùa lúc ban chiều, nếu không Ngài làm sao biết được rõ ràng sự kiện mấy chú làm gì khi Hòa Thượng đi vắng.

-          Điều này cho ta nghiệm lại sự tu hành ngày nay không có được như ngày xưa Thầy Tổ đã thành tựu công hạnh. Phần lớn người hành đạo thời hiện đại bị ảnh hưởng nền văn minh khoa học, kỹ thuật, làm cho tâm con người cũng trở nên máy móc, như chỉ được mặt này lại thiếu mặt khác. Đó là mặt tu chứng, hầu như chúng ta yếu kém, bù lại về kỹ thuật, truyền thông (công xảo minh) có thể nói đạt đến một đích điểm cao tột trong thế kỷ hai mươi mốt này.

 Quí tiếc của Tam Bảo là trực tiếp bảo vệ duy trì Phật pháp tồn tại ở thế gian. Cả hai thành phần đệ tử của Phật tại gia và xuất gia cần hành nỗ lực tôi luyện nội tâm phát sáng, đó chính là toàn thành sự nghiệp giác ngộ của người Phật tử chân chánh ở hiện tại và tương lai.

Nam Úc tiết trọng đông
Ngày 14 tháng 7 năm 2007
Sa môn Thích Bảo Lạc

 

 

 

 

 

 

 

---o0o---

 

 Mục lục

 

---o0o---

Trình bày: Vĩnh Thái
Cập nhật 12-7-2007


Webmaster: quangduchomepage@yahoo.com

Trở về trang hình ảnh

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ :
quangduchomepage@yahoo.com
Địa chỉ gởi thỈ?:
Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544