Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh


 

 


(xem lớn hơn)

 

Lược Sử Tổ Sư

PHÁP CHUYÊN –DIỆU NGHIÊM
( 1726 - 1798 )
Khai Sơn Chùa Từ Quang – Phú Yên

 

I.THÂN THẾ:

Hòa thượng họ Trần, sinh giờ Mậu Thìn ngày mồng 2 tháng 4 năm Bính Ngọ (1726) tại làng Cổ Tháp, xã Hoa Châu, phủ Thăng Hoa, tỉnh Quảng Nam (Nay là xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hiếu và thân mẫu là cụ bà họ Nguyễn. Ngay từ nhỏ, Ngài đã không ăn được những thức ăn có huyết tanh. Người chú của Ngài xuất gia có hiệu là Lâm Hoằng đại sư nhìn Ngài và nói với cha mẹ Ngài rằng: “ Đứa bé này có cái tướng của bậc xuất trần thượng sĩ.”

Thuở nhỏ Ngài theo Nho học, năm 18 tuổi thi đỗ và ra làm quan dưới thời chúa Võ Vương -Nguyễn Phúc Khoát. Một hôm  xem tuồng “Tam Trinh Cố Sự” và “Long Hổ Sự Duyên”, Ngài hốt nhiên nhận chân ra lẽ sống cuộc đời, treo ấn từ quan, tìm đường xuất gia học đạo.

II. SỰ NGHIỆP TU HÀNH:

Ngài đến chùa Phước Lâm tại huyện Diên Phước (nay là thị xã Hội An) tỉnh Quảng Nam xin xuất gia và được tổ Thiệt Dinh-Ân Triêm nhận làm đệ tử. Ngày 19 tháng 2 năm Ất Sửu (1745), nhân ngày khánh đản Quan Thế Âm Bồ Tát, Ngài thỉnh cầu tổ Ân Triêm thế phát và được đặt pháp danh Pháp Chuyên, tự Luật Truyền, nối pháp đời 36 tông Lâm Tế Chúc Thánh. Đến tháng 3, Ngài đến chùa Bảo Lâm thọ Cụ Túc giới với Hòa thượng Hải Điện. Từ đó, Ngài tinh cần tu tập nên Bổn sư hài lòng phú pháp hiệu là Diệu Nghiêm.

Sau 5 năm, Ngài xin Bổn sư đến tham học với các vị tổ sư danh tiếng đương thời như: tổ Thiệt Uyên Chí Bảo tại chùa Bảo Lâm-Quảng Ngãi; tổ Thiệt Kiến Liễu Triệt tại chùa Thập Tháp-Bình Định và Ngài đã đọc hết toàn bộ Đại Tạng Kinh do tổng trấn Hà Tiên Mạc Cửu cúng cho chùa Thập Tháp.

Ngài thường đọc tụng kinh Hoa Nghiêm. Một hôm, vào lúc giữa đêm Ngài thấy rõ một việc bèn phát đại nguyện rằng: “ Phàm hễ gặp người, không luận nam nữ già trẻ sang hèn đều giáo hoá quy kính ba ngôi Tam bảo”.

Từ đó, Ngài tùy cơ duyên thuyết pháp. Thể theo nhu cầu của các đạo tràng, Ngài giảng về kinh Địa Tạng, Quy Nguyên, Pháp Hoa, Long Thơ tịnh độ, Sa Di Oai Nghi Tăng Chú v.v.. Khắp các tỉnh Đàng Trong từ Thừa Thiên vào đến Phú Yên, nơi nào cũng có bước chân hoằng hóa của Ngài đặt đến và cũng đều thấm nhuần pháp nhũ của Ngài.

Tháng Giêng năm Quý Sửu (1793), Ngài đến xã Xuân Đài núi Bạch Ngọc thấy núi sông hòa nguyện bèn dựng gậy lập thảo am trụ lại nơi đây. Mãi cho đến năm Đinh Tỵ (1797), Ngài mới chính thức khai sơn chùa Từ Quang tại tỉnh Phú Yên.

Ngày 21 tháng 7 năm Bính Thìn (1796), Ngài khai đàn thuyết giới, truyền giới cho 200 tăng chúng tu học.

Tháng Giêng năm Mậu Ngọ (1798), Hoàng thái hậu thỉnh Ngài về kinh chứng minh lễ đúc đại hồng chung, pháp sự viên thành Ngài được ban ca sa sắc tía. Ngày 15 tháng 5, Ngài trở về Phú Yên tổ chức lễ trai đàn bạt độ và truyền giới cho hơn 100 người.

Sau khi pháp sự viên thành, Ngài biết cơ duyên của mình đến đây đã hết nên nhóm họp đồ chúng và đọc kệ phú pháp:

Lai nhi vị tằng lai
Khứ nhi vị tằng khứ

Khứ lai bổn như như
Như như hoàn lai khứ.

Tạm dịch:

Đến mà chưa từng đến

Đi cũng chẳng từng đi

Đến đi vốn như như

Như như lại đến đi

Ngài an nhiên thị tịch vào ngày 17 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1798), trụ thế 73 thế tuế, trải qua 53 năm tu học và hoằng hóa.

III.ẢNH HƯỞNG ĐẠO ĐỨC:

Hòa thượng Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm là một trong những thiền sư lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ XVIII. Tuy sinh ra trong thời kỳ biến động của cuộc chiến Tây Sơn nhưng với tinh thần của một bậc Sứ giả Như Lai, Ngài đã thắp sáng ngọn đèn chánh pháp trong giai đoạn nhiễu nhương của Dân Tộc. Đồng thời chùa Từ Quang do Ngài khai sơn đã trở thành trung tâm đào tạo Tăng tài cho Phật giáo miền Trung trong suốt 3 thế kỷ qua. Hòa thượng Pháp Chuyên đã đào tạo được một số đệ tử hữu danh như: Toàn Thể Vi Lương Linh Nguyên: Kế thừa trụ trì chùa Từ Quang; Toàn Nhật Vi Bảo Quang Đài: Trụ trì chùa Viên Quang; Toàn Đức Vi Cần Thiệu Long: khai sơn chùa Khánh Long; Toàn Nghĩa Vi Hội Chơn Thường: Khai sơn chùa Thượng Tiên; Toàn Đạo Mật Hạnh: Trụ trì chùa Châu Lâm; Liễu Năng Đức Chất: Khai sơn chùa Phước Sơn; Liễu Diệu Chánh Quang: Khai sơn chùa Triều Tôn tại tỉnh Phú Yên. Trong đó, tiêu biểu nhất là thiền sư Toàn Nhật Quang Đài, một trong những vị thiền Tăng đa văn quảng bác của Phật giáo Việt Nam của thể kỷ XIX.

Ngài đã trước tác hơn 20 tác phẩm có giá trị để lại cho hậu thế. Những tác phẩm của Ngài được phân chia thành 5 thể loại chính là: thơ, văn, chú giải, tự điển và nghi lễ.

a.       Thơ:    có tác phẩm Diệu Nghiêm lão tổ thi tập gồm 25 bài.

b.      Văn :   bao gồm 4 tác phẩm sau:      

- Tam Bảo Biện Hoặc Luận.

- Chiết Nghi Luận Tái Trị.

- Thiện Ac Quy Cảnh Lục.

- Tam Bảo Cố Sự.

c.         Chú giải: bao gồm các tác phẩm sau:

- Báo Ân Kinh Chú Giải.

- Địa Tạng Kinh Yếu Giải.

- Quy Nguyên Trực Chỉ Âm Nghĩa.

-Tỳ Ni Sa Di Oai Nghi Cảnh Sách Âm Chú Yếu Lược.

- Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu Phát Ấn Âm Chú.

                        - Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú Phát Ấn (q. thượng).

- Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú Phát Ấn (q. hạ).

- Quy Sơn Cảnh Sách Chú Thích Ký Lược Âm Phát Ấn Thiên.

- Nhân Sở Đáo Âm Thích Tùy Tạp Lục Thiên.

- A Di Đà Kinh Sớ Sao Sự Nghĩa.

d.         Tự điển: gồm 2 tập tự điển triết học xưa nhất nước ta:

- Tam Giáo Pháp Số.

- Tam Giáo Danh Nghĩa.

e.         Nghi Lễ: gồm 3 tác phẩm sau:

                        - Chư Kinh Sám Nghi.

                        - Hoằng Giới Đại Học Chi Thư.

                   - Phật Tổ Nhất Truyền Đích Thống.

 

 

----o0o---
Trình bày: Thích Như Tịnh

Cập nhật: 5-2008


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Mục Lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544