QUAN ĐIỂM VỀ HÌNH ẢNH ĐỨC PHẬT ĐẢN SINH
Ở NƯỚC TA THỜI PHẬT GIÁO DU NHẬP
Thích Phước Đạt
Theo các nhà nghiên cứu Phật
học, kể từ khi đạo Phật được truyền vào nước ta những năm đầu thế kỷ thứ I
TL, quá trình tiếp biến đạo Phật luôn xảy ra liên tục để thích hợp và thể
nhập vào đời sống sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh người dân nước Việt. Hay
nói cách khác, quá trình tiếp biến ấy diễn tiến theo xu hướng “bản địa
hoá” đạo Phật của cộng đồng người Việt đang sinh sống theo từng thời kỳ
phát triển của xã hội Việt Nam qua mỗi giai đoạn lịch sử.
Thế nên, ngay trong tác phẩm Lý
hoặc luận (Những luận lý để xử lý các mối nghi hoặc, sai lầm về Phật giáo)
của Mâu Tử cũng cho ta một cái nhìn khá đầy đủ quan niệm của nhân dân ta
về hình ảnh Đức Phật như thế nào, để từ đó thấy được diện mạo và đặc trưng
của đạo Phật thời đó, thông qua tình hình sinh hoạt và phát triển tín
ngưỡng tâm linh của cộng đồng người Việt được ghi nhận vào tác phẩm.
Cụ thể, nội dung của tác phẩm
Lý hoặc luận bao gồm 37 điều, vì quan điểm của tác giả cho rằng “xem Phật
kinh chi yếu có 37 phẩm, Đạo Đức kinh có 37 thiên” cho phù hợp với thực
tiễn. Trong đó có 3 điều khởi đầu trình bày về các quan niệm Phật giáo và
9 điều dành cho việc phê phán Đạo giáo, cộng với điều kết thúc cuối cùng,
còn lại 25 điều hoàn toàn dành cho việc xử lý những thắc mắc về quan hệ
giữa Phật giáo và Nho giáo. Theo Nguyễn Lang ghi nhận trong Việt Nam Phật
giáo sử luận thì tác phẩm được bảo lưu trong bộ Hoằng Minh tập do Tăng Hựu
sưu tập, ấn hành vào đầu thế kỷ VI. Các sách Tuỳ chí và Đường chí đều có
nói đến sách này của Mâu Tử 1.
Điểm đáng nói là thông qua nội
dung ở các điều 1 và 2 của Lý hoặc luận, chúng ta thấy hình ảnh Đức Phật
theo quan niệm của người Việt thời du nhập được minh hoạ khá rõ ràng và cụ
thể, phù hợp với tâm thức tín ngưỡng tâm linh của dân ta thời đó. Ngay ở
điều 1, Mâu Tử đã trả lời cội nguồn về Đức Phật đản sinh và xuất gia thành
đạo, sau đó thuyết pháp độ sinh như sau:
“Có người hỏi:
- Phật tử đâu sinh ra? Có tổ
tiên và làng nước gì không? Đã làm được gì, giống loại người nào?
Mâu Tử đáp:
- Giàu thay câu hỏi! Xin đem
dốt nát nói qua điểm chính. Bởi nghe công trạng giáo hoá của Phật, tích
chứa đạo đức, hàng ngàn ức đời, không sao ghi chép. Nhưng khi sắp thành
Phật, thì sinh ở Thiên Trúc, mượn hình nơi vợ vua Bạch Tĩnh. Bà ngủ ngày,
mộng thấy cưỡi voi trắng, thân có sáu ngà, hớn hở thích thú, bèn xúc cảm
mà có thai. Đến tháng Tư mồng tám, Phật theo sườn bên phải của mẹ mà sinh,
đặt chân xuống đất, đi bảy bước giơ tay phải lên, nói: “Trên trời dưới
trời khong có gì hơn Ta!”. Bấy giờ trời đất rung mạnh, trong cung sáng
ngời. Hôm ấy, người ở cung vua cũng sinh ra một đứa con, trong tàu ngựa
trắng cũng cho ngựa con bú; đầy tớ Xa Nặc, ngựa tên là Kiền Trắc. Thái tử
có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, mình cao trượng sáu, thân đều sắc vàng, đỉnh
đầu có nhục kế, má như sư tử, lưỡi che được mặt, tay có ngàn xoáy, cổ sáng
chiếu vàng dặm. Đây là nói qua tướng Phật. Năm 17 tuổi, vua cha bắt lấy
công chúa nước láng giềng làm vợ. Thái tử ngồi thì dời chỗ, nằm thì riêng
giường. Đạo trời rộng sáng mà âm dương thông đồng. Bà có mang con trai,
sáu năm mới sinh. Vua cha trân quý thái tử, dựng cho cung điện, kỹ nữ, đồ
chơi châu báu, đều bày trước mắt. Thái tử không ham thú vui ở đời, muốn
giữ đạo đức. Năm 19 tuổi, ngày mồng tám tháng Tư, nửa đêm gọi Xa Nặc đóng
yên Kiền Trắc vượt thành. Quỷ thần nâng đỡ, bay ra khỏi cung. Hôm sau
không biết ở đâu. Vua cùng quan dân thảy đều sụt sùi, đuổi tới cánh đồng.
Vua bảo: “Khi chưa có con, cha cầu xin thần, nay đã có con, như ngọc như
trân, nên nối ngôi tước, chứ bỏ đi đâu?
Thái tử tâu: Muôn vật vô
thường, có rồi phải mất. Nay muốn học đạo, độ thoát mười phương.
Vua biết thái tử đã kiên quyết,
bèn đứng lên về. Thái tử đi thẳng, suy tư về đạo, sáu năm thì thành Phật.
Sở dĩ Ngài sinh vào tháng Tư mùa Hạ, đó là lúc không nóng, không lạnh, cây
cỏ đơm hoa, cởi áo lông chồn, mặc áo thưa mỏng, là biết trung lữ vậy. Sở
dĩ Phật sinh ở Thiên Trúc là chỗ trung hoà trong trời đất vậy. Kinh do
Phật viết gồm đến 12 bộ hợp tám ức bốn ngàn vạn quyển. Quyển lớn vạn lời
trở xuống, quyển nhỏ ngàn lời trở lên. Phật dạy thiên hạ, cứu vớt giải
thoát nhân dân. Nhân ngày 15 tháng 2 nhập tịch mà đi. Kinh điển và giới
luật tiếp tục tồn tại, noi theo mà làm, cũng đạt vô vi, phúc đến đời sau.
Kẻ giữ năm giới, một tháng sáu ngày trai. Ngày trai giới thì chuyên tâm
vào một ý, hối lỗi mà tự đổi mới. Sa môn giữ 250 giới, hàng ngày trai
giới. Giới ấy không phải cho Ưu bà tắc được nghe vậy. Oai nghi đi đứng
cùng điền lễ ngày xưa không khác. Suốt ngày thâu đêm giảng đạo tụng kinh,
không tham dự việc đời” 2.
Rõ ràng, ngay điều đầu tiên
trong 37 điều của tác phẩm Lý hoặc luận, Mâu Tử đã xác định hình ảnh Đức
Phật Thích Ca đản sinh từ trong huyền sử Phật giáo Ấn Độ được khắc hoạ lại
bằng hình ảnh Đức Phật lịch sử, hiện thân của một con người thật có mặt
trong cuộc đời. Từ địa vị thái tử, nhờ công phu tự thân tu tập, tự thân
hành trì, tự thân chứng ngộ, Ngài trở thành Bậc Giác ngộ giữa đời, được
ghi nhận và mô tả theo tâm thức của người Việt Nam bấy giờ. Các yếu tố
mang tính huyền sử có mặt, chỉ nhằm tô điểm khắc sâu vào tâm thức như báo
hiệu một sự kiện hy hữu là Phật ra đời với nhân cách lớn mà không có bất
kỳ người bình thường nào mang đặc trưng đó. Điều đáng nói các yếu tố huyền
sử được tiếp biến bằng những hình ảnh, chi tiết sống động, được mô tả thật
ấn tượng và diễn đạt theo cách tư duy tín ngưỡng dân gian của quần chúng
người Việt. Hình ảnh, chi tiết “Mượn hình nơi vợ vua Bạch Tĩnh. Bà ngủ
ngày, mộng thấy cưỡi voi trắng, thân có sáu ngà, hớn hở thích thú, bèn xúc
cảm mà có thai”; “mình cao trượng sáu, thân đều sắc vàng, đỉnh đầu có nhục
kế, má như sư tử, lưỡi che được mặt, tay có ngàn xoáy, cổ sáng chiếu vàng
dặm”; “Bà có mang con trai, sáu năm mới sinh”; “Quỷ thần nâng đỡ, bay ra
khỏi cung”; “Khi chưa có con, cha cầu xin thần, nay đã có con, như ngọc
như trân, nên nối ngôi tước, chứ bỏ đi đâu?”. Chính những hình ảnh và chi
tiết mô tả xung quanh sự kiện hy hữu Phật đản sinh ở đời khi đọc lên,
khiến chúng ta có ấn tượng đây là hình ảnh Đức Phật thị hiện được ghi lại
trong các huyền thoại, huyền sử thuộc Kho tàng cổ tích Việt Nam mà bất cứ
người dân nào cũng được mẹ hiền kể chuyện thần tiên khi còn trong nôi, mẹ
ru à…ơ… cho con ngủ. Bằng cách này, người Việt sẽ nhìn nhận và thấy hình
ảnh Đức Phật thật gần gũi và thân thương biết chừng nào! Và như thế, Đức
Phật trong tâm thức người Việt cứ theo lời ru của mẹ mà đi suốt cả cuộc
đời từ khi được cha mẹ sinh ra, lớn lên, trưởng thành mà đóng góp cho đời,
cho đạo. Bởi vì:
“Dù cho đi hết cuộc đời,
Vẫn không đi hết những lời mẹ
ru”.
Trên hết, toàn bộ nội dung của
điều 1 trong 37 điều của tác phẩm không chỉ giới thiệu cuộc đời của Đức
Phật từ khi đản sinh, cho đến sự quyết tâm tu hành, chuyển hoá thân tâm,
xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, để lại cho đời 12 bộ kinh, thực hành
giới định tụê mà còn là cơ sở để thiết lập Phật thể quan thật hiện thực từ
trong đời sống được diễn tiến hàng ngày hàng phút của xã hội Việt Nam bấy
giờ được ghi trong điều 2 của tác phẩm Lý hoặc luận, khi có người hỏi Phật
có nghĩa là gì và được Mâu Tử lý giải và khẳng định:
“… Phật là nguyên tổ của đạo
đức, đầu mối của thần minh. Nói Phật nghĩa là giác, biến hoá nhanh chóng,
phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, nhỏ được, lớn được, tròn được, vuông
được, già được, trẻ được, ẩn được, vuông được, đạp lửa không bỏng, đi dao
không đau, ở dơ không bẩn, gặp hoạ không mắc, muốn đi thì đi, ngồi thì loé
sáng, nên gọi là Phật” 3.
Một quan điểm về Phật thể như
thế sẽ tác động mạnh mẽ vào tâm thức con người trong chiều hướng thăng
tiến, được xây dựng trên nền tảng của nguyên lý đạo đức của con người, là
đầu mối của thần minh, chứ không phải gì khác ngoài hiện thực con người
đang sống. Hay nói cách khác, xuất phát điểm từ con người, vì con người mà
sống theo nguyên lý đạo đức của con người thiết lập mà chuyển hoá thân
tâm, sống tốt đời đẹp đạo. Chính xuất phát từ nhận thức như thế, mà tự
thân mỗi con người luôn nỗ lực nhiệt tâm tự giác sống đúng luật nghi,
phòng hộ các căn, tẩy rửa thân tâm, tỉnh thức để thiết lập các mối quan hệ
giữa người với người, giữa người với môi trường sống của xã hội. Cụ thể là
sống theo nếp sống đạo, trên nền tảng xây dựng đạo đức cuộc sống như điều
1 của Lý hoặc luận vạch định:
“Ngày trai giới thì chuyên tâm
vào một ý, hối lỗi mà tự đổi mới. Sa môn giữ 250 giới, hàng ngày trai
giới. Giới ấy không phải cho Ưu bà tắc được nghe vậy. Oai nghi đi đứng
cùng điển lễ ngày xưa không khác…”.
Một người sống theo nguyên lý
đạo đức thì hoá hiện những phẩm chất cao thượng, sau đó đi đến sự an định
trong tâm thức và thăng tiến trí tuệ, đó là Giác. Một người đã làm hoá
hiện tính giác thì khả năng sáng tạo vô cùng to lớn và có thể làm nhiều
điều kỳ diệu cho chính mình, cho mọi người và cho cả cuộc đời. Do đó, hình
ảnh Đức Phật được Mâu Tử ghi nhận là một con người với vẻ đẹp toàn bích
của đạo đức và các phẩm chất năng lực siêu việt với cách diễn đạt và đầy
quyền năng như là một khát vọng sống. Mục đích là để con người vượt qua
những chướng duyên và khó khăn từ trong cuộc đời. Và như thế, Phật cũng
trở thành nhân vật lý tưởng, một mục tiêu hướng tới mà bất kỳ người nào
sống trên cõi trần này đều có khả năng vươn tới và thành tựu.
Thực tế, nguyên uỷ của nghĩa
Phật là Giác, là tỉnh thức về sự thật con người và thế giới hiện hữu quanh
ta. Có điều, Mâu Tử vào thời đó, ngoài việc nêu Phật là nguyên tổ đạo đức,
đầu mối thần linh, còn triển khai ý nghĩa “Giác” qua một số yếu tính khác
nữa hết sức quyền năng và thần thông như chứng tỏ khả năng vô hạn của con
người là có thể khi “trí tuệ bừng khởi” và soi sáng cho đời từ trong hiện
thực khổ đau cần phải vượt thoát: “biến hoá nhanh chóng, phân thân tán
thể, hoặc còn hoặc mất, nhỏ được, lớn được, tròn được, vuông được, đạp lửa
không bỏng, đi dao không đau, ở dơ không bẩn, gặp hoạ không mắc, muốn đi
thì đi, ngồi thì loé sáng”. Một người Phật tử khi làm được điều này là có
nghĩa thực hiện được mục đích cao cả mà Phật giáo thời đó đề ra như điều
1, Lý hoặc luận ghi: “Phật dạy thiên hạ, cứu vớt giải thoát nhân dân”.
Thế là Phật giáo thời du nhập ở
nước ta cho chúng ta cái nhìn hiện thực, nó tạo sức sống mới để tạo ra mẫu
người Phật tử tự tin về chính bản thân mình. Con người tự nương tựa vào
chính mình mà hoàn thiện bản thân, thành tựu nhân cách, an trú trong sự
bình an nội tại mà thăng tiến trí tuệ. Đó là bản chất của đạo Phật mà Mâu
Tử đề xuất trong Lý hoặc luận được ghi trong điều 3 và 4. Cụ thể là “…
Nhìn không có hình, nghe không có tiếng. Bốn phương là lớn, nó vượt ra
ngoài, tơ hào là nhỏ, nó lọt vào trong” và “… Đạo làm ra muôn vật, ở nhà
có thể dùng thờ cha mẹ, làm chủ nước có thể dùng trị dân, đứng một mình có
thể làm dùng để sửa thân…”. Điều này khẳng định, mục đích tối hậu mà đạo
Phật có mặt ở đời không ngoài ý nghĩa giải quyết các vấn đề khổ đau từ
hiện thực cuộc sống mà con người luôn giáp mặt. Trên hết, đạo Phật luôn
đòi hỏi mọi người Phật tử không chỉ lo hoàn thiện đạo đức bản thân, mà còn
biết sống tốt với những người thân trong gia đình và tham gia tích cực
đóng góp cho đời trong một trọng trách cao quý là “trị nước an dân”.
Kết quả, Phật giáo thời du nhập
nước ta đã góp phần cùng dân tộc tạo ra diện mạo và đặc trưng đạo Phật của
cộng đồng người Việt mà chúng ta có thể nhận diện qua toàn bộ tác phẩm Lý
hoặc luận. Từ một Phật thể quan về Đức Phật đản sinh mà Mâu Tử, đại diện
cho giới Phật tử Việt Nam thời bấy giờ đề xuất, nó đã được nhân dân ta
chung lòng, kề vai sát cánh làm nên kỳ tích lịch sử dân tộc. Đó là mở ra
thời kỳ độc lập tự chủ không chỉ trên biên cương lãnh thổ mà trên các lĩnh
vực khác, kể cả tín ngưỡng tâm linh mà sử sách ghi nhận qua các triều đại
khởi đầu từ chiến thắng Bạch Đằng lịch sử khai sáng ra triều Ngô, kế đến
là Đinh Lê Lý Trần và tiếp nối mãi cho đến hôm nay.
Và điều cuối cùng mà chúng tôi
muốn nói, với quan điểm về hình ảnh Phật đản sinh như thế, chắc chắn chúng
ta sẽ tạo nên những kỳ tích mới mà đạo Phật có thể cùng với dân tộc tham
gia tích cực đóng góp cho xã hội thêm phồn thịnh, nhân dân ngày càng hạnh
phúc, trong bối cảnh đất nước hội nhập thế giới.
1. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật
giáo sử luận (I, II, III) tái bản, NXB Văn Học, Hà Nội, 2000, tr.51.
2. Lê Mạnh Thái, Nghiên cứu về
Mâu Tử, tập II, Tu thư Vạn Hạnh, 1982, tr.510.
3. Sđd, tr.510.
Thích Phước Đạt
(Giác Ngộ số Phật đản PL2551)