Lược Giải
Những Pháp Số Căn Bản
Hạnh Cơ
---o0o---
Số
7
BẢY CHUYỂN THỨC
(thất chuyển thức)
Theo Duy Thức Học, trong tám thức
(sẽ trình bày trong mục “Tám Thức” ở sau)
thì thức a-lại-da là “căn bản thức”; bảy thức còn lại là
mạt-na thức, ý thức, nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức và thân
thức, đều do căn bản thức chuyển biến và biểu hiện ra, cho nên bảy
thức này được gọi là “chuyển thức”.
BẢY ĐIỀU KHÔNG THỂ TRÁNH KHỎI
(thất pháp bất khả tị)
1. Sinh ra đời là điều không thể tránh
khỏi (sinh bất khả tị). Kiếp trước đã tạo nghiệp nhân (dù thiện, dù
bất thiện) thì kiếp này phải sinh ra đời để nhận lấy kết quả của nghiệp,
đó là điều không thể nào tránh khỏi được.
2. Già nua là điều không thể tránh
khỏi (lão bất khả tị). Thân này đã được sinh ra thì phải có lúc già
yếu, đó là điều không thể nào tránh khỏi được.
3. Bệnh là điều không thể tránh khỏi
(bệnh bất khả tị). Thân này đã được sinh ra thì phải có lúc bị đau
bệnh, đó là điều không thể nào tránh khỏi được.
4. Chết là điều không thể tránh khỏi
(tử bất khả tị). Đã có sinh thì phải có tử, đó là điều không thể nào
tránh khỏi được.
5. Quả báo của tội lỗi là điều không
thể tránh khỏi (tội bất khả tị). Đã gây ra những nghiệp nhân tội lỗi
thì phải nhận chịu những quả báo đau khổ, trầm luân, đó là điều không
thể nào tránh khỏi được.
6. Quả báo của thiện nghiệp là điều
không thể tránh khỏi (phúc bất khả tị). Đã tạo ra những nghiệp nhân
tốt lành thì phải hưởng được những quả báo an vui, hạnh phúc, đó là điều
không thể nào tránh khỏi được.
7. Duyên sinh là điều không thể tránh
khỏi (nhân duyên bất khả tị). Tất cả mọi hiện tượng đều do nhân
duyên hòa hợp mà sinh thành, tất cả những sự việc như tốt, xấu, họa,
phúc, giàu, nghèo, sống lâu, chết yểu v.v... cũng không ngoài đạo lí ấy,
đó là điều không thể nào tránh khỏi được.
“Bảy điều không thể tránh khỏi”
trên đây là những sự thật của đời sống, hành giả có thể
dùng để thực tập như là những đề tài quán chiếu trong lúc thiền tập. Các
điều số 1, số 2, số 3 và số 4 sẽ giúp cho hành giả đánh tan được
mọi nỗi lo âu, sợ hãi, chán nản, thất vọng khi đối diện trước những khổ
đau của kiếp sống; các điều số 5 và số 6 sẽ giúp cho hành giả
thấy rõ hậu quả của những hành động của chính mình, đánh tan mọi hoài
nghi, thắc mắc để vững chí, kiên trì (tinh tấn) trong việc chuyển hóa
thân tâm; điều số 7 giúp hành giả phá vỡ màn vô minh từ lâu đã
từng che khuất trí tuệ, thấy rõ chân tướng của thực tại vạn hữu. Một
cách tóm tắt, khi đã ngộ được 7 điều trên đây thì hành giả
tức khắc vượt thoát sinh tử.
BẢY YẾU TỐ GIÁC NGỘ
(thất giác chi - thất giác ý - thất giác
phần
- thất bồ đề phần)
Đây là bảy yếu tố tạo nên quả vị giác
ngộ. Theo kinh Niết Bàn, bảy yếu tố này gồm có:
1. Chánh niệm (niệm giác phần):
thường xuyên an trú trong chánh niệm.
2. Chọn lựa pháp môn (trạch pháp giác
phần - phân biệt giác phần): Chữ “trạch” ở đây có nghĩa là tư
duy và khảo sát. Mọi sự việc ở đời đều có những sự việc thiện và những
sự việc bất thiện, trong nội tâm cũng có những tư tưởng thiện và những
tư tưởng bất thiện. Có dùng trí năng để tư duy và khảo sát thì mới thấy
rõ được cái gì là thiện nên tu tập và cái gì là bất thiện cần phải được
chuyển hóa.
3. Kiên trì (tinh tấn giác phần):
bền chí tu tập, không biếng nhác, không gián đoạn.
4. Vui vẻ (hỉ giác phần): tâm ý
vui vẻ, lời nói ôn hòa, thái độ nhã nhặn.
5. Thư nhẹ (khinh an giác phần):
tâm thư thái, nhẹ nhàng, mọi phiền não, kiến chấp đều rũ bỏ.
6. Tĩnh lặng (định giác phần): tâm
ý hoàn toàn tĩnh lặng, không còn tán loạn, không còn vọng tưởng.
7. Buông bỏ (xả giác phần): rũ bỏ
hết mọi “sở tri”, mọi kiến chấp về ngã và pháp, tâm hoàn toàn trong
sáng, bình đẳng. Vì “sở tri” (hay kiến chấp) thuộc về tư tưởng, tức là
“hành uẩn” trong năm uẩn, cho nên “xả giác phần” ở
đây cũng còn được gọi là “hành xả giác phần”.
Khi công phu tu tập bảy yếu tố này đạt
đến chỗ thuần thục thì tuệ giác bừng sáng, cho nên chúng được gọi là
“bảy yếu tố giác ngộ”.
BẢY PHÁP TÀI
(thất pháp tài - thất thánh tài)
“Pháp tài”
là sự giàu có về tâm linh (khác với sự giàu có về vật chất), là của cải,
vốn liếng tinh thần mà hành giả luôn luôn dùng làm hành trang trên suốt
con đường tu học và phụng sự chúng sinh, cho đến khi đạt được quả vị
giác ngộ. Có bảy thứ pháp tài:
1. Đức tin (tín tài).
Đức tin
là loại của cải căn bản và cần thiết trước nhất mà hành giả phải có. Nó
chính là lương thực để nuôi sống hành giả. Đức tin ở đây không phải là
thứ tín ngưỡng mù quáng, mà là niềm tin tưởng có được do sự quán sát,
phán đoán, nhận định và thực nghiệm; cho nên đã có đức tin thì sẽ có
quyết định hành động, không có đức tin thì sẽ không có gì cả.
2. Chí kiên trì (tinh tấn tài).
Ngọn lửa nung hoài thì hạt bắp trong nồi
sẽ bung ra; ánh sáng mặt trời chiếu rọi hoài thì cái hoa phải nở. Chí
kiên trì (hay đức tinh tấn) đối với người tu học cũng giống
như ngọn lửa đối với nồi bắp hay ánh sáng mặt trời đối với bông hoa, là
năng lượng chính yếu mà nếu được nung nấu một cách bền bỉ, liên tục thì
bông hoa giác ngộ nơi hành giả, một ngày nào đó cũng sẽ nở ra rạng rỡ.
3. Giới luật (giới tài).
Nếu đức tin là lương thực thì
giới luật vừa là sư trưởng, vừa là thiện tri thức, và cũng vừa là y
phục quí báu nhất của người tu học. Nó ngăn ngừa mọi lỗi lầm về cả thân,
khẩu và ý; và do đó, nó còn là chiếc chìa khóa để cho hành giả dùng mở
cánh cửa giác ngộ. (Xin xem lại ý nghĩa và tính chất của
“Giới” trong mục “Ba Môn Học Giải Thoát” ở trước.)
4. Tâm hổ thẹn (tàm quí tài).
Biết hổ thẹn đối với những lỗi lầm của
chính mình (tàm), và
biết hổ thẹn khi thấy mình không siêng năng, trong sạch, tỉnh thức bằng
người khác (quí), đó là hai món đồ trang sức đẹp đẽ nhất của
người tu học. Trong khi tính tự mãn, kiêu ngạo sẽ đưa hành giả xa rời
dần quả vị giác ngộ, thì tâm biết hổ thẹn sẽ đưa hành giả ngày
càng đến gần với
quả vị giác ngộ. Kinh Di Giáo dạy:
“Tâm biết hổ thẹn là món đồ trang sức đẹp nhất trong các món đồ trang
sức. Cũng như cái móc sắt, tâm biết hổ thẹn có thể chế ngự tất cả mọi
lầm lỗi của con người. Bởi vậy, người tu học lúc nào cũng nên biết hổ
thẹn.”
5. Lắng nghe (văn tài).
Lắng nghe
là nghe trong tỉnh thức. Lắng nghe (văn), rồi
suy gẫm, quán chiếu (tư) về điều mình nghe, và đem áp dụng
những điều ấy vào nếp sinh hoạt hằng ngày (tu), đó là ba
phương pháp tu học có năng lực làm phát sinh trí tuệ (tam tuệ học).
“Lắng nghe” ở đây phải được coi là giác quan của người tu học.
Hành giả sử dụng các giác quan của mình một cách tinh thục trong đời
sống thì sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho chính mình và mọi người, mọi
loài. Vì vậy, biết lắng nghe cũng là một trong những hành trang
cần thiết của hành giả trên đường đi đến giác ngộ.
6. Buông bỏ (xả tài).
Buông bỏ
là tiếng dùng để diễn tả đức độ của người khi đạt được tâm bình đẳng,
nghĩa là đã dứt bỏ được những “sở tri”, những thành kiến, cố chấp, phân
biệt tốt xấu, bạn thù, thương ghét v.v.... Có đức xả thì
tâm từ bi trở nên vô cùng rộng lớn; do đó, sự thực hành bố thí của hành
giả sẽ vô cùng lợi lạc và không biên giới. Vì vậy, “xả” chính là
thứ phương tiện chuyên chở tốt nhất để đưa hành giả đi khắp các nẻo
đường phụng sự xã hội, và cuối cùng là đến quả vị giác ngộ.
(Xin xem lại mục “Bốn Tấm Lòng Rộng Lớn” ở trước.)
7. Định và Tuệ (định tuệ tài).
Làm cho sự lãng quên, tâm loạn động dừng
lại (chỉ) thì định lực (định) phát sinh.
Quán chiếu để thấy rõ (quán) chân tướng thực tại thì trí tuệ
(tuệ) phát sinh. Nói cách khác, “định tuệ”
là kết quả có được từ “chỉ quán”; cho nên chỉ quán và định tuệ
lúc nào cũng không rời nhau, và trở nên các thành phần chủ yếu của giác
ngộ. Hay có thể nói một cách chính xác hơn, định tuệ chính là bản
thân của giác ngộ. Hành giả có thể tu tập hết mọi phương pháp,
nhưng nếu không có định tuệ thì quả vị giác ngộ vẫn là một cái gì
hết sức xa vời, không làm sao với tới được. Vậy, định tuệ phải
được coi chính là hơi thở của hành giả. Hành giả nắm giữ định tuệ như
nắm giữ hơi thở của mình.
Bảy thứ pháp tài trên đây cũng được coi là bảy thứ thánh tài, tức là bảy
thứ của cải của các thánh nhân, được liệt kê ở nhiều kinh, và có khác
nhau chút ít. Theo các kinh Bảo Tích và Niết Bàn, chúng
gồm có: tín, giới, văn, tàm, quí, xả, và tuệ (tàm quí được
chia làm hai, và không có tấn). Kinh Pháp Cú: tín, giới, tàm,
quí, văn, bố thí, và tuệ (tàm quí được chia làm hai, không có
tấn và xả, thêm bố thí). Kinh Báo Ân:
tín, tấn, giới, tàm quí, văn xả, nhẫn nhục, và định tuệ (văn
và xả hợp làm một, thêm nhẫn nhục).
BẢY PHÉP BẤT THỐI
(thất bất thối pháp)
“Các vị khất sĩ! Như Lai sẽ chỉ dạy cho
các vị bảy phương pháp để giữ gìn cho chánh pháp và giáo đoàn không bị
suy thoái. Các vị hãy lắng nghe.
“Thứ nhất là các vị nên thường xuyên gặp
mặt nhau trong những buổi họp mặt đông đủ để học hỏi và luận bàn về
chánh pháp.
“Thứ hai là các vị tới với nhau trong
tinh thần hòa hợp và đoàn kết, và chia tay nhau trong tinh thần hòa hợp
và đoàn kết.
“Thứ ba là cùng tôn trọng và sống theo
giới luật và pháp chế một khi những giới luật và pháp chế ấy đã được ban
hành.
“Thứ tư là biết tôn trọng và vâng lời các
bậc trưởng lão có đạo đức và kinh nghiệm trong giáo đoàn.
“Thứ năm là sống một nếp sống thanh đạm
và giản dị, đừng để bị lôi cuốn vào tham dục.
“Thứ sáu là biết quí đời sống tĩnh mặc.
“Thứ bảy là biết an trú trong chánh niệm
để thực hiện an lạc và giải thoát, làm chỗ nương tựa cho các bạn đồng
tu.
“Này các vị khất sĩ! Chừng nào mà các vị
còn thực hiện được bảy điều ấy – gọi là bảy phép bất thối, thì đạo pháp
còn hưng thịnh và giáo đoàn không bị suy thoái. Không một yếu tố nào
bên ngoài có thể phá hoại được giáo đoàn. Chỉ có những phần tử từ bên
trong giáo đoàn mới có thể làm cho giáo đoàn tan rã mà thôi. Các vị
khất sĩ! Khi con sư tử chúa của mọi loài ở chốn sơn lâm ngã quị, không
có một loài nào dám đến ăn thịt nó; chỉ có những con trùng phát sinh từ
bên trong thân thể của sư tử mới ăn thịt được sư tử mà thôi. Các vị hãy
bảo vệ chánh pháp bằng cách sống theo bảy phép bất thối, đừng bao giờ tự
biến mình thành những con trùng trong thân thể của con sư tử.”
(Trích trong Đường Xưa Mây Trắng của
Thích Nhất Hạnh, San Jose, Lá Bối in lần thứ hai - 1992, trang 546 -
547. Hai câu được in chữ đậm trong đoạn trên là chủ ý của soạn
giả.)
BẢY PHÉP HÒA GIẢI
(thất diệt tránh pháp)
“Diệt tránh” nghĩa là dập tắt sự
tranh cãi, xung đột. Trong đời sống tập thể, nhiều khi có những ý kiến
bất đồng về một vấn đề, khiến đưa tới xích mích, tranh cãi, làm mất đi
cái không khí hòa hợp giữa đại chúng. Sự tranh cãi thường xảy ra khi hai
hoặc nhiều người, trong lúc học tập chung, đã có những kiến giải khác
nhau về cùng một vấn đề, hoặc không đồng ý với nhau về việc thực thi một
biện pháp, một kế hoạch, và nhất là khi phải phán quyết hành vi của một
vị nào đó là có tội hay vô tội, hoặc tội nặng hay tội nhẹ, hoặc người
phạm tội không chịu nhận tội v.v... Để tránh xảy ra những trường hợp làm
mất hòa khí như vậy, đại chúng thường áp dụng bảy biện pháp dập tắt
sự tranh cãi (thhất diệt tránh pháp) nhằm đem lại không khí
hòa hợp cho tập thể. Tuy bảy biện pháp này thuộc về giới luật tì kheo và
tì kheo ni, nhưng vì sự ích lợi rộng rãi và thiết thực, chúng có thể
được đem áp dụng trong bất cứ một tăng thân tu học nào. Bảy biện pháp đó
là:
1. Biện pháp “hiện tiền”:
Hai bên bất đồng ý kiến được mời đối diện
trực tiếp tranh luận trước đại chúng, dùng kinh luận hoặc giới luật đối
chiếu để soi rõ vấn đề; từ đó tìm ra các lẽ phải trái, và cùng nhau chấm
dứt tranh cãi.
2. Biện pháp “ức niệm”:
Cho nhân chứng trần thuật những sự việc
đã tuần tự xảy ra, cùng những nguyên cớ nào đã đưa đến sự xung đột hiện
tại; từ đó tìm ra lẽ phải trái để hòa giải xung đột.
3. Biện pháp “bất si”:
Nếu có chứng cớ rằng, hành động trái phép
đã xảy ra khi đương sự đang ở trong tình trạng tâm ý cuồng loạn, hoặc đã
hành động một cách không có ý thức, hoặc đương sự không ngoan cố ngụy
biện để tự bào chữa trong lúc luận tội, thì sẽ không xảy ra sự tranh
cãi.
4. Biện pháp “tự ngôn”:
Không dùng uy lực của đại chúng để áp đảo
tinh thần đương sự, nhưng tạo điều kiện thuận lợi để cho đương sự tự
phản tỉnh và thành thực bộc lộ sự sai quấy của mình. Điều này hết sức
quan trọng vì nó ngăn chận được sự tranh luận ngay từ lúc đầu.
5. Biện pháp “đa ngữ”:
Nếu sự tranh luận đã kéo dài mà không đưa
đến kết quả nào thì đại chúng có thể dùng phương pháp biểu quyết (hoặc
công khai, hoặc bỏ phiếu kín); ý kiến của bên đa số sẽ là ý kiến quyết
định.
6. Biện pháp “tội xử sở”:
Nếu một đương sự quả thật có hành động
lầm lỗi mà cứ chối cãi quanh co, không chịu nhận lỗi, thì đại chúng có
thể dùng phương pháp “yết ma”(1), hỏi ba lần, nếu trong đại chúng không có ai phản đối thì hình phạt sẽ
đương nhiên có hiệu lực đối với đương sự.
7. Biện pháp “thảo phú địa”:
Nếu sự việc quá nghiêm trọng và phức tạp
mà đại chúng thấy lúng túng, không quyết định, thì đại chúng có thể
trình sự việc ấy lên quí vị cao cấp trong hàng giáo phẩm của tu viện
hoặc hội đồng giáo hội để nhờ phán quyết.
Trong khi áp dụng, không nhất thiết là
phải dùng hết cả bảy biện pháp này cùng một lúc, nhưng tùy mỗi trường
hợp, đại chúng có thể dùng một, hoặc hai, hoặc nhiều hơn, miễn sao chấm
dứt được tranh cãi và thực hiện được sự hòa giải, đem lại không khí yên
tĩnh, hòa hợp trong đại chúng.
CHÚ THÍCH
(1) Để hiểu rõ từ ngữ và phương pháp “yết
ma”, xin xem Việt Nam Phật Giáo Sử Luận II của Nguyễn Lang, Lá Bối,
Paris, 1978 - Chương XVII, mục “Giới Pháp”.
---o0o---
[Mục Lục ] [Số 1 ] [Số 2] [Số 3] [Số 4] [Số 5]
[Số 6 ] [Số 7] [Số 8 ] [Số 9 ] [Số
10]
[Những Số Khác -Bảng Tra Danh Số -Tài Liệu Tham Khảo]
---o0o---
Vi tính: Diệu Thiện; Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-03-2005