Lược Giải
Những Pháp Số Căn Bản
Hạnh Cơ
---o0o---
Số 1
MỘT CON ĐƯỜNG (hay MỘT CỖ XE)
(nhất thừa - Phật thừa - nhất Phật thừa)
“Con đường” (hay “cỗ
xe”) là chỉ cho giáo pháp (vì giáo pháp có năng lực đưa con người từ
cõi vô minh đến nơi giác ngộ, cho nên lấy hình ảnh chiếc xe hay
con đường làm ví dụ); “một” là chỉ có một chứ không có
hai, ba bốn, v.v… – tức là duy nhất. Vậy, “một cỗ xe” là
giáo pháp duy nhất đưa đến sự chứng ngộ tuệ giác viên mãn của chư Phật.
Kinh Pháp Hoa (phẩm “Phương Tiện”) nói:
“Chư Phật chỉ dùng một con đường (nhất thừa) để hoá độ
chúng sinh, chứ không có con đường (thừa) nào khác, dù là
hai hay ba…”; hoặc: “Thật ra chỉ có một con đường duy nhất (nhất
Phật thừa), nhưng chư Phật tuỳ căn cơ mà dùng phương tiện, dạy có
ba con đường (tam thừa).”
Các kinh luận thường dùng thuật ngữ này –
nhất thừa – để chỉ cho giáo pháp đại thừa.
MỘT LÀ TẤT CẢ, TẤT CẢ LÀ MỘT
(nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất)
Có thể nói, đây là mệnh đề tóm tắt toàn bộ yếu nghĩa
kinh Hoa Nghiêm. Yếu nghĩa ấy nói về sự tương quan tương duyên
chằng chịt của tất cả mọi sự vật trong vũ trụ: Sự vật này tức là sự vật
kia, sự vật kia tức là sự vật này; một sự vật có mặt trong tất cả mọi sự
vật, tất cả mọi sự vật có mặt trong một sự vật; một sự vật tức là tất cả
các sự vật, tất cả các sự vật tức là một sự vật.
Nguyên lý duyên khởi cho ta thấy rằng, một sự
vật không thể tự nó có mặt, mà đã do vô số các sự vật khác, không phải là
nó, hợp lại cấu thành. Một cuốn sách chẳng hạn, không phải tự nó hiện ra,
nhưng đã do tất cả những cái “không phải là sách” (như giấy, mực,
máy in, nhân công, những vật liệu làm ra giấy, làm ra mực, làm ra máy in,
rồi những thứ đã nuôi sống thợ làm ra giấy, thợ làm mực, thợ in v.v…,
nhiều lắm, cùng khắp vũ trụ, không kể hết được!) hợp lại làm thành. Bởi
vậy, giữa cuốn sách và chiếc máy in không có gì ngăn cách; trong cuốn sách
có mặt tất cả các thứ giấy, mực, máy in v.v…, kia. Hành giả khi đạt được
cái thấy này thì tâm ý tức khắc được giải thoát khỏi những ràng buộc,
những hạn chế của ngã chấp và pháp chấp, chấm dứt khổ đau.
Kinh Hoa Nghiêm (phẩm “Công Đức của Người Mới Phát Tâm
Bồ Đề”) nói: “Cái thấy của vị Bồ-tát phát tâm bồ đề rộng lớn thật không
có giới hạn: không có gì khác nhau giữa thể giới thô lậu và thế giới vi
diệu, vì thô lậu tức là vi diệu; không có gì khác nhau giữa thế giới nhỏ
và thế giới lớn, vì nhỏ tức là lớn; không có gì khác nhau giữa một thế
giới và vô lượng thế giới, vì một tức là vô lượng; không có gì khác nhau
giữa thế giới dơ và thế giới sạch, vì dơ tức là sạch; một thể giới nằm
trong vô lượng thế giới, vô lượng thế giới nằm trong một thế giới; …”
MỘT NIỆM BA NGÀN
(nhất niệm tam thiên)
Trong Phật học, thuật ngữ “một niệm” (nhất
niệm) thường được dùng để chỉ một ý tưởng, một sát na, một khoảnh
khắc, tức là cái khoảng thời gian ngắn nhất. “Ba ngàn” ở đây tức
là ba ngàn thế giới.
“Một niệm ba ngàn” --
nếu nói cho đầy đủ là “trong một niệm có đầy đủ ba ngàn thế giới” –
là một mệnh đề khai triển từ mệnh đề “Một là tất cả, tất cả là một”
ở trên. Đó là một trong những điểm đặc sắc của giáo lý tông Thiên-thai
(Trung-hoa). Vị tổ của tông này, đại sư Trí-Giả (tức Trí-Khải), trong bộ
luận Ma Ha Chỉ Quán, đã chia ra có 10 loại thế giới trong vũ trụ:
-
Địa-ngục: thế giới của đau khổ vô cùng.
-
Ngạ-qủi:
thế giới của đói khát và bẩn thỉu cùng cực.
-
Súc-sinh: thế giới của loài vật, của ngu
si tăm tối.
-
A-tu-la:
thế giới của hận thù, cuồng bạo, chém giết.
-
Người:
thế giới của loài người, hạnh phúc và đau khổ đều có mặt.
-
Trời:
thế giới của an vui, phước đức cao hơn loài người.
-
Thanh-văn: thế giới giải thoát do kết quả
của công phu tu học theo đức Phật mà được giác ngộ.
-
Duyên-giác: thế giới giải thoát do kết quả
của công phu tự mình quán chiếu thực tại mà được giác ngộ, đó là một đức
Phật nhưng không giảng dạy cho kẻ khác.
-
Bồ-tát:
thế giới của những vị luôn luôn đem tình thương yêu, trí hiểu biết, lòng
cởi mở và chí dũng mãnh để phục vụ và giúp ích cho mọi loài, và tinh
tiến tu tập mãi cho đến ngày thành Phật. Nói cách khác, đó là những vị
Phật tương lai.
-
Phật:
thế giới của các bậc giác ngộ và giải thoát hoàn toàn.
Giáo lý tông Thiên-thai nói rằng, mười thế giới ấy
tương dung tương thiếp lẫn nhau, mỗi thế giới đều mang trong nó cả 9 thế
giới kia. Trong thế giới người chẳng hạn, cũng có sự hiện hữu của các thế
giới Địa-ngục, Ngạ-quỉ, Súc-sinh, A-tu-la, Trời, Thanh-văn, Duyên-giác,
Bồ-tát và Phật. Như vậy, trong vũ trụ không phải chỉ có 10 thế giới riêng
lẻ, biệt lập nhau, mà có đến (10x10) 100 thế giới tương quan tương
duyên với nhau. Sự hiện hữu của một thế giới bao hàm sợ hiện hữu của cả
một trăm thế giới.
Lại nữa, tất cả 100 thế giới này đều có cùng chung 10
tính chất. Đó là 10 điều kiện tồn tại của các thế giới mà giáo lý tông
Thiên-thai gọi là 10 “như”,
gồm có: 1) tướng (hình dáng bên ngoài); 2) tánh (cá tính bên
trong); 3) thể (yếu tố hình thành); 4) lực (năng lực nội
tại); 5) tác (tác dụng do năng lực mà có); 6) nhân (nguyên
nhân đưa đến kết quả); 7) duyên (điều kiện giúp cho nhân kết thành
quả); 8) báo (quả báo nối tiếp do nhân, duyên và quả ở trên đem
lại); 10) bổn mạt cứu cánh (từ điều kiện 1 cho đến điều kiện 9,
hoàn toàn đều là “như” -- tức là tất cả đều là không, vì chính
không là bản thể của vạn hữu).
Mỗi thế giới đều có 10 “như”; vậy 100 thế giới có (100x10)
1.000 “như” – cũng tức là 1.000 thế giới tương quan tương duyên với
nhau.
Cả 3.000 thế giới ấy không ra ngoài một niệm, cho nên
gọi là “một niệm ba ngàn”; cũng như kinh Hoa Nghiêm nói, một niệm không
những bao quát cả quá khứ, hiện tại, vị lai, mà còn bao gồm cả không gian
và vật thể. Hay nói cách khác, bất cứ một niệm nào của tâm cũng bao gồm
cả vũ trụ vạn hữu.
MỘT TÂM BA PHÉP QUÁN
(nhất tâm tam quán)
Đây cũng là một yếu nghĩa của giáo lý tông Thiên-thai.
Đại sư Trí-Giả đã phối hợp giáo lý “ba phép quán” (tam quán)
trong kinh Anh Lạc với tư tưởng “không có ngăn cách giữa không
và có” (không hữu vô ngại) của Bồ-Tát Long-Thọ mà lập nên giáo
nghĩa “một tâm ba phép quán”, là một trong những giáo lý nền tảng
của tông Thiên-thai. Ba phép quán là:
1.
Không:
quán niệm rằng tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà có, cho nên chúng
không có bản chất chân thật, tất cả đều là không.
2.
Giả:
quán niệm rằng tất cả mọi sự vật đều biến đổi luôn luôn (vô thường),
không có tính đồng nhất; tuy chúng có hiện hữu, nhưng sự hiện hữu của
chúng chỉ là giả tạm, không có gì tồn tại vĩnh viễn.
3.
Trung đạo:
quán niệm rằng tất cả mọi hiện tượng vừa là không mà cũng vừa là
giả, đồng thời, không phải là không mà cũng không phải là
giả.
Ba phép quán này, nếu quán niệm một cách có thứ tự --
trước hết là quán niệm về không, thứ đến là về giả, sau cùng
là về trung – thì gọi là “thứ đệ tam quán”; nhưng đó không
phải là chủ trương của tông Thiên-thai. Đại sư Trí-Giả của tông
Thiên-thai đã phát triển ba phép quán trên đây đến chỗ viên dung, không
ngăn cách, không thứ tự trước sau, vượt tất cả khái niệm: trong một
phép quán gồm đủ cả ba phép quán, cho nên gọi là “nhất tâm tam
quán” – hay cũng gọi là “viên dung tam quán”, “bất thứ đệ tam
quán”, “bất khả tư nghị tam quán”.
Ba phép quán trên đây là ba chân lý của tông
Thiên-thai: chân lý của Không, chân lý của Giả, và chân lý
của Trung đạo. Ba chân lý này không cách biệt nhau mà dung nhiếp
nhau, ba trong một, một trong ba. Mỗi một trong ba đều có giá trị toàn
diện. Vậy, “một tâm ba phép quán” là phép quán niệm như sau:
-
Khi quán
niệm về không, một cái đã là không thì tất cả cũng đều là không;
cả giả và trung cũng đều không (nhất không nhất thiết
không).
-
Khi quán
niệm về giả, một cái đã là giả thì tất cả cũng đều là giả; cả
không và trung cũng đều giả (nhất giả nhất thiết giả).
-
Khi quán
niệm về trung, một cái đã là trung thì tất cả cũng đều là trung;
cả không và giả cũng đều trung (nhất trung nhất thiết
trung).
Cũng cần nói thêm, “trung” không có nghĩa là ở
giữa hai, mà là ở trên, vượt cả hai; cũng có thể nói nó là cả hai.
“Trung” chính là thực tướng, gồm có không tướng và giả tướng.
Cả ba chân lý: không, giả và trung luôn luôn hợp nhất, dung
hoà và bao hàm lẫn nhau.
---o0o---
[Mục Lục ] [Số 1 ] [Số 2] [Số 3] [Số 4] [Số 5]
[Số 6 ] [Số 7] [Số 8 ] [Số 9 ] [Số
10]
[Những Số Khác -Bảng Tra Danh Số -Tài Liệu Tham Khảo]
---o0o---
Vi tính: Diệu Thiện; Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-03-2005