Vấn Đề Giai Cấp
Đức Phật Siddhattha Gotama đang ngự trong thành Savatthi
(Sravasti, Xá Vệ), Ấn Độ, tại Kỳ Viện Tịnh Xá của Trưởng Giả
Anathapindika, Cấp Cô Độc. Vào lúc ấy Đại Đức Ananda, vị đệ
tử trung kiên và là thị giả chuyên cần nhất của Đức Bổn Sư
cũng ngụ tại ngôi tự viện ấy. Ngày nọ, như thường lệ,
Trưởng Lão Ananda y phục chỉnh tề, tay ôm bình bát, chân thong dong
đều đặn từng bước, và mắt nhìn xuống, đi vào thành Savatthi.
Khi đã thọ vừa đủ vật thực để đỡ dạ, Ngài tìm ẩn
vào một nơi yên tĩnh để độ ngọ. Thọ thực xong, Ngài tìm
nước và thấy một cái giếng bên đàng. Vào lúc ấy có một
thiếu nữ thuộc giai cấp Chandala (chăn đà la) tên Prakrti, cũng đến
giếng ấy gánh nước. Đại Đức Ananda đến gần đùng lại,
mắt nhìn xuống đãt, hai tay ôm bát. Và câu chuyện đối thoại
xảy diễn như sau:
Prakrti: Bạch Sư, cần dùng chi?
Đại Đức: Xin cho tôi chút nước để giải khát
- Tôi là người thuộc gia cấp Chandala (chăn đà
la), không ai dùng nước của chúng tôi.
- Tôi chỉ muốn xin chút nước uống để giải
khát. Nước làm đở khát cho tất cả mọi người, dầu người
thuộc về giai cấp, đẳng cấp hay chủng tộc nào.
- Sư không biết rằng trong xứ có hai giai cấp:
cấp cao và cấp thấp sao? Tôi thuộc về giai cấp thấp.
- Vấn đề giai cấp là cái gì rõ ràng không quan
trọng đói với tôi. Tôi không mảy may bận tâm đến việc
này. Tôi chỉ cần chút nước để giải khát.
- Làm thế nào tôi, một hạng gái hạng chăn đà
la, có thể dâng nước đến Sư? Chí đến cái bóng của chúng
tôi, người ở giai cấp cao còn không dám giẫm chân lên. Họ
tránh chúng tôi, hất hủi chúng tôi, và nếu bất chợt thấy chúng
tôi thì họ mau mau đi rửa mặt với nước thơm và than vãn:
Bất hạnh thay! hôm nay chúng ta lại gặp một người thuộc hạng
cùng đinh. Họ khinh rẻ chúng tôi và có những thái độ
khinh khi như vậy.
- Tôi không biết giai cấp cao hay giai cấp thấp, cô
cũng là một con người như tôi. Tất cả mọi người đều là
người như nhau. Tất cả đều cùng chung thuộc về chủng tộc
loài người. Tất cả đều có một đầu, hai mắt , hai tai, một
miệng và một mũi v.v... Máu chảy trong huyết quản của mọi
người đều có màu đỏ như nhau, không phải đen. Có gì khác
biệt? Có gì để có thể phân chia?
- Đúng vậy, bạch Sư, về phần vật chất thì
không có gì khác biệt. Tuy nhiên, người ở giai cấp và địa
vị cao sang, họ đã tạo thiện nghiệp và vun bồi phước báo nên tái
sanh vào gia đình cao cấp. Chúng tôi đã tạo nghiệp bất thiện
nên sanh vào giai cấp cùng đinh, làm người khốn khổ cơ hàn, cặn
bã của xã hội, phải chịu số phận bị khinh khi ruồng rẩy.
- Dầu sao, Đức Bổn Sư, bậc Toàn Giác Tói
Thượng, Thầy tôi, có ban truyền bức thông điệp cao quý như sau:
Là cùng đinh không phải do sanh trưởng,
Không phải do sanh trưởng là bà la môn,
Do hành động ta trở thành cùng đinh,
Do hành động ta trở thành bà la môn. (Sutta-nipata,
135).
Tôi không quan tâm đến cái được gọi là giai
cấp chút nào, xin cho tôi chút nước vì hiện tôi đang cần giải
khát.
Prakrit nói không ra lời, miệng nghậm cứng như câm.
Người thiếu nữ sợ hải, cúi xuống nghiêng mình tới
trước, run rẩy trịnh trọng dâng nước đến Ngài Ananda, sớt ra từ
trong cái chậu, và tim nàng bắt đầu đập, càng lúc càng mau.
Nhà Sư hớp nước với lòng biết ơn nồng hậu trong khi Prakrti
ngạc nhiên đứng nhìn. Rồi Đại Đức Ananda trở về tịnh xá.
Nhưng Prakrti thì ngẩn người, nhớ lại giọng nói dịu
hiền của nhà sư, nàng đắm đuối say mê phẩm cách cao đẹp và
tướng mạo oai nghiêm của vị đạo sĩ đến độ ngây ngất sững
sờ, vô cùng kinh ngạc. Xin cho tôi chút nước, xin cho tôi
chút nước. Tiếng nói êm dịu nhẹ nhàng dễ cảm, Âng ấy
nói chuyện với ta hiền hòa thanh nhã làm sao! Ôi, con người đẹp
đẽ lạ thường, phong độ cao quý vô cùng! Tại sao ông ấy lại
đến với người cho gái chăn đà la? Có phải ta là người con
gái duy nhất trong thành Savatthi này không? Có phải đây là cái
giếng duy nhất trong thành này không? Y phục của ta không nói
lên giai cấp của ta hay sao? Người lạ mặt kỳ diệu khác
thường ấy là ai? Từ đâu ông ta đến đây? Rồi ông sẽ
đi đâu? ?, mà ông ấy sẽ còn trở lại xin nước uống nữa
chăng? Nàng tiếp tục ngẩn ngơ mơ mộng một cách buồn
thảm.
Tâm nàng mãi vơ vẩn đăm chiêu với những ý nghĩ
trên trong khi thơ thẩn từng bước trên đường về nhà.
Đến nhà, nàng đặt bầu nước xuống bỏ qua một
bên, rồi vội vã đi tìm mẹ, một bà phù thủy có nhiều bùa phép
và van xin mẹ làm bùa chú bỏ cho ông sư.
Ba mẹ: Có gì làm phật ý con, cái gì làm cho con đau
khổ, nhà sư ấy là ai?
Prakrti: Xin cho tôi chút nước, xin cho tôi chút
nước, xin cho tôi chút nước - Mẹ ơi, trước đây con chưa
từng nghe một giọng nói dịu hiền thanh nhã như vậy.
- Người mà xin con nước chắc phải thuộc gia cấp
của chúng ta.
- Dạ không đâu, đó là một thanh niên đẽp trai
tươi tắn lạ thường, đầu cạo trọc, mình đắp y vàng, tay ôm bình
bát, rõ thật là thanh nhã trang nghiêm.
- Con nói gì bậy bạ vậy. Làm thế nào một
người đầu cạo trọc lại có thể đẹp trai, tươi tắn? Con biết
không, người ta cạo đầu là để làm cho không còn vẻ đẹp hay
duyên dáng gì nữa?
- Con không biết điều đó, thưa mẹ, người ấy
dễ thương, duyên dáng làm sao. Ông ta là hiện thân của lòng
từ mẫn và khiêm tốn, của phẩm cách thanh tao và trang nhã.
- Ông ấy có phải là người thuộc giai cấp của
chúng ta không?
- Dạ phải, ông nói con cũng thuộc giai cấp của
ông.
- Đó là giai cấp nào vậy con?
- Giai cấp loài người.
- Con có phỉnh lừa ông ta và không nói rõ giai
cấp của mình không?
- Con nói với ông con là hạng chăn đà la, nhưng
ông ta không chịu tin con. Ông cứ xin nước hoài, và tuyên bố
rằng người ta là bà la môn hay cùng đinh do hành động của mình
chớ không phải vì sanh trưởng trong một gia đình nào. Rồi ông
nói thêm về tự do và phẩm cách con người. Từ bấy lâu nay
con lầm lạc ngỡ mình là kẻ có tội phải chịu khốn khổ
bần cùng, nay nhờ ông con được biết rằng mình cũng thuộc xã hội
loài người, và cũng được un đúc từ cái khuôn nhân loại.
Ông ta cho con ánh sáng, ông là ánh sáng của con.
Xin cho tôi chút nước, xin cho tôi chút
nước. Ôi, giọng nói êm dịu hiền hòa làm sao!
- Này Prakrti con, người ta được sanh vào giai cấp
ăn trên ngồi trước vì trong quá khứ họ đã tạo nghiệp tốt.
Còn chúng mình thì sanh vào giai cấp chăn đà la, hạng cùng
đinh, cũng do hậu quả của những nghiệp chẳng lành mà mình đã gieo
trong quá khứ.
- Không phải vậy đâu thưa mẹ, không phải tất
cả đều do nghiệp báo. Chính xã hội loài người đã sắp xếp,
đóng dấu, dán nhãn lên, rồi gọi chúng ta là cùng đinh, chính con
người tạo sự phân chia giả tạo ấy. Không sao đâu, con muốn
biết chàng thanh niên ấy là ai, tên họ và làm nghề gì.
- Theo cách con mô tả, này con, mẹ tin rằng ông
ấy là đệ tử của Đức Phật Gotama (Cồ Đàm), ông là một
người thuộc dòng Sakya (Thích Ca). Mẹ nghe rằng tên ông ta là
Ananda. Ông là một tỳ khưu, một tu sĩ, người đã từ bỏ thế
gian cùng với những lạc thú và tiện nghi trần tục.
- Này mẹ yêu dấu, con van xin mẹ, con không thể
sống mà không có người ấy. Con phải có ông ta. Xin mẹ
hãy dùng tất cả bùa chú và phù phép, hãy tận dụng mọi quyền
năng thần thông của mẹ, và đüa Ananda về con. Nếu không
được vậy con sẽ nhịn đói đến chết, và mẹ sẽ mất đứa con duy
nhất.
- Này con yêu dấu, con có biết không rằng Vua xứ
Kosala (Câu Tất La) của chúng ta là một thí chủ nhiệt thành của
Đức Phật Gotama? Nếu hay được rằng con say mê và khao khát
muốn được Ananda, ắt vua sẽ tiêu diệt toàn thể cộng đòng Chandala
(chăn đà la). Con có muốn vua làm điều ấy không?
- Thưa mẹ, con van xin, mẹ hãy đọc lên câu thần
chú, và ông ấy sẽ đến. Nếu không có ông, con sẽ không thể
sống nữa.
- Này Prakrti con, Đức Phật, đấng Toàn Thiện,
đã diệt trừ mọi dục vọng và ô nhiễm. Ngài là bậc Tôn Sư
tối thượng. Bùa phép của Ngài cao cường hơn tất cả những
người khác. Thần chú của Ngài trội hơn bất cứ ai. Tuy
nhiên, mẹ sẽ tận lực cố gắng cho con, đứa con yêu quý nhất
đời của mẹ, chớ nên kêu gào than khóc nữa, và hãy đi ăn đi.
Để đáp lại lời van xin khẩn thiết của người con
gái duy nhất, bà mẹ nhúm một bếp lửa với phân bò khô ngoài
sân, ngồi lại một bên với 108 cành hoa arka và bắt đầu đọc thần
chú. Và trong khi ấy bà luôn luôn ném hoa, hết cái này đến
cái khác, vào ngọn lửa, mỗi lần ném một cành hoa thì miệng đọc
thần chú.
Đại Đức Ananda không thể cưỡng lại năng lực,
sức quyến rũ mãnh liệt, của bùa phép. Ngài rời bỏ tịnh
thất của tu viện, quên hẳn lối sống mình đã chọn, và thẳng tiến
đến nhà của người thiếu nữ Chandala (chăn đà la). Bà mẹ
trông thấy vị đạo sĩ tiến đến gần nhà, bảo con gái dọn sẵn một
chỗ ngồi. Vừa lúc Prakrti sắp xếp xong thì nhà sư vô nhà và
ngồi xuống trên chỗ đã dọn sẵn. Ngài lưu ỳ đến những nụ
cười quyến rũ của Prakrti và thuận chiều hướng về những cám
dỗ của bà mẹ. Ngày đã về chiều. Vầng thái dương dần
dần lặn chìm xuống dưới chân trời phương Tây, và bầu không khí
im lìm lặng lẽ, trang trọng bao trùm khắp nơi. Nhà sư cảm nghe
ngột ngạt, lạc lối và lúng túng. Ngài liền nghĩ đến Đức
Phật, ngưỡng nguyện trong lòng Ngưỡng mong Đức Bổn Sư Từ
Mẫn và Trí Tuệ mở lòng trắc ẩn cứu con ra khỏi hiểm họa
này.
Lúc bấy giờ Đức Phật Toàn Trí, với nhãn quan của
một vị Phật, nhình thấy tình thế nguy ngập của người đệ tử trung
thành, và với lòng bi mẫn vô lượng vô biên, Ngài đọc chú
Buddhamantra, những câu có ý nghĩa như sau:
Nếu có một biển hồ trong suốt, không một đốm
nhỏ bọn nhơ, hoàn toàn im lặng, và người vào đó được châu
toàn, tất cả hiểm họa, mọi nổi kinh sợ và run rẩy đều biến tan,
thì hồ đó là Niết Bàn mà chư thiên và tất cả hành giả và
các bậc Thánh Nhân, đều sùnh kính. Do oai lực của chân lỳ
các lời nay, ước nguyện mọi điều lành đến với tỳ khưu
Ananda.
Câu chú hoàn toàn khắc phục bùa phép của bà phù
thủy, và Ngài Ananda được cứu thoát khỏi tai họa khủng khiếp,
quyết định mau mau trở về tịnh thất. Prakrti rất đau lòng xót
dạ và thất vọng một cách chua cay, nhưng không từ bỏ nỗi lòng
đối với nhà sư. Sáng hôm sau nàng sửa soạn, ăn mặc tươm
tất với những đồ trang sức lộng lẫy nhất của mình và chờ sẵn
trên con đường mà thường ngày Trưởng Lão Ananda phải trải qua
để vào thành Savatthi trì bình. Và trong khi Ngài lặng lẽ tiến
hành buổi đi bát thì Prakrti bước liền theo chân, từ nhà này đến
nhà kia, dân chúng lấy làm ngạc nhiên nhìn thấy cảnh tượng kỳ
lạ này.
Ngài Ananda hoàn toàn lúng túng, bươn bả quay bước
trở về tịnh thất, luôn luôn có Prakrti theo sau, và thuật lại đầu
đuôi câu chuyện với Đức Bổn Sư.
Lúc ấy Prakrti đứng trước cổng chùa, Đấng Đại Bi
cho vời nàng vào. Với cặp mắt nhìn xuống nàng đi vào, đảnh
lễ Đức Thế Tôn và chấp tay ngồi lại một bên.
Ròi Đấng Đại Bi nhỏ nhẹ hỏi cô gái Chandala (chăn
đà la), cô muốn làm gì với Đại Đức Ananda.
Một cách giản dị và ngây thơ, Prakrti bộc lộ tất cả
những khát vọng mà nàng ấp ủ sâu kín trong lòng. Đức Tôn
Sư bảo: Này Prakrti, con hãy về nhà xin phép cha mẹ trước
đi.
Nàng vội vã đi nhanh về nhà rồi quày quả trở lại
với sự đồng ý của cha mẹ. Một lần nữa Đức Phật mở
lời:
Đức Phật: Này Prakrti, có rất nhiều thanh niên trong
thành Savatthi. Tại sao con chỉ thương có một mình Ananda là một
thầy tỳ khưu, người đã từ bỏ nếp sống tại gia?
Prakrti: Con ưa thích và thương yêu ông ấy với tất
cả tấm lòng. Ông ấy đem ánh sáng lại cho người con gái đã
mãi sống trong đêm tối. Chính ông dạy con rằng con là mốt con
người, không phải nô lệ, và như ai nấy, con cũng có thể hưởng
quyền làm người. Ông là ánh sáng mắt con, là niềm hy vọng
cho tất cả những ước mơ của con, là dòng suối đời con. Con
muốn ông. Con không thể sống mà không có ông.
- Như vậy, nếu muốn được ông ấy, con phải làm
những gì Như lai bảo con làm.
- Để có thể được Ananda, kính bạch Ngài, con
sẽ làm tất cả những gì Ngài muốn con làm.
- Nếu con cạo trọc đàu và khoác lên mình tấm y
vàng như Ananda, con sẽ được ông ấy.
- Chắc chắn con sẽ làm y như lời Ngài bảo.
Bạch ngài, con đi gắp về nhà và sẽ trở lại liền, đàu cạo
trọc và đắp y vàng.
Prakrti đi nhanh về nhà, và giải thích đầu đuôi cho
mẹ. Nghe vậy bà mẹ nổi cơn giận dữ.
- Này con yêu dấu, con điên rồi sao? Con có
còn tỉnh táo không, hay đã mất trí rồi?
- Này mẹ, xin mẹ vui lòng cạo đầu cho con, nếu
không con sẽ tự quyên sinh.
- Con là con gái ngu. Tóc là trang điểm tốt
nhất của người đàn bà. Cạo tóc đi con sẽ xấu xí , khó coi.
Trong toàn thể khu thành Savatthi này không có người con gái
nào dễ thương và duyên dáng như con. Này con yêu dấu của mẹ,
hãy nhẫn nại, mẹ sẽ tìm cho con một người chồng xứng đáng.
- Con không cần ai khác, chỉ muốn Ananda của con.
Đối với con, ông ấy đẹp đẽ sáng ngời, ông ấy duyên
dáng dễ thương, có giọng nói nhỏ nhẹ dịu hiền và phong độ thanh
tao nhã nhặn, dễ mến làm sao. Ông ấy là trọn cuộc sống của
con, là kho tàng bảo vật, là tất cả trong đời con.
- Thôi, hãy đi ăn đi, đụng để chết đói bây
giờ.
- Này mẹ, con sẽ nhịn ăn đến chừng nào mẹ
cạo đầu cho con.
Sợ con chết đói, bà mẹ liền cạo đầu cho con.
- Bây giờ con giống y như một sư cô. Con sẽ
bị mấy ông đạo sĩ và thầy của họ, Đức Phật Gotama, lường gạt.
Họ có bùa phép cao cường kỳ diệu để quyến dụ những
người như con. (Chính lòng từ bi vô lượng vô biên của Đức
Phật đã cảm hóa và làm cho người ta về với Ngài, chớ không
có sự cám dỗ khuyến dụ hay gian manh xảo quyệt lường gạt nào.)
- Không hề gì đâu mẹ, dầu ra sao thì ra, nếu có
được Ananda của con, là con bằng lòng vui vẻ lắm rồi. Con không
cần gì khác. Giờ con đi Tịnh Xá Jetavana (Kỳ Viên).
- Muốn làm gì thì làm; con sẽ ăn năn hối tiếc
vì sự điên rồ trầm trọng này.
Cạo đầu xong, Prakrti vội vã trở lại chùa, đảnh lễ
Đức Phật và ngồi lại một bên. Lúc ấy cũng có nhiều vị
sư, kể cả Ngài Ananda, đã hội về hầu Phật.
Prakrti: Bạch hóa Đức Thế Tôn, con đã làm đúng theo
lời Ngài bảo. Như đã hứa, xin Ngài cho con Ananda.
Đức Phật: Trước khi được Ananda, con phải trả lời
những câu hỏi của Như Lai.
- Xin vâng, con sẽ giải đáp những câu hỏi của
Ngài.
- Con yêu thương Ananda lắm. Văy cái gì của
nhà sư ấy đã làm cho con đắm đuối say mê?
- Toàn thân ông ấy, các bộ phận và tất cả
những gì trong thân thể ông ấy đều rất vừa lòng con. Chính
cái nhìn của ông là giọt thuốc nhỏ vào, làm cho mắt con sáng tỏ.
Giọng nói của ông làm cho con đắm đuối say mê, ông là tất
cả cho con.
- Này Prakrti con, tất cả những gì con thấy và
tất cả những gì làm con mê hồn là bề ngoài của lớp da.
Sắc đẹp chỉ mỏng manh như lớp da, nông cạn và phù du tạm
bợ. Thân thể chúng ta không phải làm bằng vàng, bằng ngọc,
bằng hột xoàn hay một loại kim cương nào khác. Trong thân này
có: tóc, móng, răng, da, thịt, gân, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước
mắt, chất nhờn, nước miếng, nước mũi, nước tiểu, phẩn.
Phía sau bức hình đẹp đẽ, cái sắc đẹp bề ngoài ấy, là
một cơ thể đầy thương tích, không có chi là ổn định vững bền
và thường còn. Thành trì này được tạo dựng bằng xương,
máu và bắp thịt bên ngoài, trong đó tích trữ tuổi già, bịnh tật
và chết chóc, kiêu hãnh, ngã mạn và phỉ báng kẻ khác (1).
Nếu, vì một lý do nào, những gì ở bên trong được phơi bày
ra ngoài, như một cái gối bị lộn ngược, chắc chắn cần phải có
một người cầm roi đứng đó để rượt đuổi bầy quạ và chó,
đến đó cả đoàn cả lũ rất đông. Khát vọng say mê là do
lòng ham muốn ích kỷ.
Trìu mến sanh sầu muộn,
Trìu mến sanh lo sợ,
Người đã dập tắt hoàn toàn lòng trìu mến,
Không còn sầu muộn, còn gì lo sợ? (2)
- Từ ngày bắt đầu thương Ananda, con đã chịu
trăm phần đau khổ, mất ăn, mất ngủ, than vắn thở dài, nỉ non khóc
kể, rên rỉ bi ai - những điều ấy làm cho con vô cùng sầu muộn.
Giờ đây, hãy suy tư sáng suốt, nghĩ lại xem cơ thể của Ananda
có phải là cái gì đáng được trìu mến bám níu không? Có
phải là cái gì đáng được ta hân hoan ôm giữ không? Là
cái gì đáng được khát khao ham muốn một cách tuyệt vọng không?
Tất cả mọi sự vật là vậy, khi ta vừa bám vào thì nó đã
hư hoại, suy tàn và phân tán. Tất cả những vật được cấu
tạo là như thế, trong khi ta thèm khát ham muốn thì nó đã mục thúi
và phai tàn.
- Kính bạch Đức Thế Tôn, những lời của Ngài,
xác đáng và đùng chân lý, đem lại cho con nhiều an ủi. Mọi
việc đã sáng tỏ, kính xin Ngài cho con xuất gia.
- Được, này Prakrti, Giáo Hội của Như Lai rộng
mở cho tất cả, không phân biệt giai cấp, màu da, bộ lạc, chủng
tộc hay nam nữ. Giáo Hội của Như Lai tựa hồ như biển cả mênh
mông, dường như nước trong các dòng sông Ganga, Yamuna, Sindu, Aciravati,
đều tuôn chảy vào đại dương và mất đi lai lịch của nó.
Cùng thế ấy những người từ các giai cấp và bộ lạc khác
nhau, từ các nẻo đường khác nhau trong đời sống, đều gia nhập
vào Giáo Hội của Như Lai, và rồi ý niệm về giai cấp, đẳng cấp,
bộ lạc và những phân biệt khác đều phai mờ và tan biến.
Trong đại dương, này Prakrti, chỉ có một vị, và đó là vị mặn
của muối. Trong Giáo Hội của Như Lai cũng dường như thế ấy,
chỉ có một vị, và đó là vị Giải Thoát.
Ehi tvam bhikkhuni, cara brahma cariyam
Hãy đến đây, này tỳ khưu ni, sống đời thánh
thiện.
Đức Thế Tôn gọi nàng vào như thế ấy, và Prakrti
trở thành hội viên của Giáo Hội Tỳ Khưu Ni.
Ròi Đấng Đại Từ Bi thuyết giảng cho nàng khía cạnh
đơn giản của Giáo Pháp bằng những lời lẽ dễ hiểu. Nàng
đặt niềm tin vững chắc nơi Tam Bảo, Tri-ratna: Phật, Pháp, Tăng
(Buddha, Dhamma và Sangha). Sau đó, Đức Bổn Sư giải thích cho nàng
Tứ Diệu Đế - bốn chân lý vĩnh cửu về sự đau khổ hay bất toại
nguyện, về nguồn gốc của đau khổ, sự chấm dứt đau khổ, và con
đường dẫn đến chấm dứt đau khổ, và Đấng Toàn Giác ban cho
nàng món quà Giải Thoát, nâng cao con người, từ bùn lầy suy thoái
và điêu tàn đến tình trạng an lạc thanh bình, giác ngộ và Niết
Bàn.
Phương cách trình bày rõ ràng dễ hiểu của Đức
Bổn Sư thấm nhuần, ăn sâu vào tận đáy lòng của thiếu nữ và
đổi hẳn cái nhìn toàn diện của nàng. Nàng khấu đầu đảnh
lễ dưới chân Đấng Toàn Giác Tối Thượng và xin sám hối về
những lỗi lầm của người con gái si mê và không được dạy dỗ.
Sự xuất gia của người con gái Chandala (chăn đà la)
làm cho vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) xứ Kosala (Câu Tát La) vô cùng bối
rối và các thân hào nhân sĩ trong thành Savatthi (Xá Vệ) xôn xao
nổi dậy. Họ không thể bỏ qua chuyện một người trong gia đình
Chandala (chăn đà la) mà được xuất gia, gia nhập vào Giáo Hội
Thiêng Liêng của Đức Phật. Không thể dung tha, họ kéo nhau
đến chùa để hội thảo và tranh luận về vấn đề tối trọng yếu
này, một vấn đề vi phạm đến thanh danh và uy tín của họ, nhưng
Đức Phật thì rõ ràng thản nhiên. Ngài luôn luôn phủ nhận
hệ thống phân chia giai cấp một cách không thể lầm lẫn. Ngài
là vị giáo chủ duy nhất đã cố gắng pha trộn chung trong tinh thần
khoan dung đại độ và thuận hảo điều hòa những người mà trước
kia đã bị ruồn bỏ vì tình trạng ngu đàn của sự phân chia giai cấp.
Đức Thế Tôn nhẫn nại lắng nghe những lời phiền
trách của họ, rồi bắt đầu thuật lại câu chuyện quá khứ của
Prakrti:
Vào thủa xưa, ở Ấn Độ có một làng Chandala
(chăn đà la) bên cạnh sông Ganga (Hằng). Vị trưởng làng tên
là Trishanku. Ông này có người con trai đẹp đẽ lạ thường
tên Sardulakarna, lão thông thâm sâu ba bộ kinh Veda (Phệ Đà) và
những ngành học vấn khác. Người cha rất ước muốn cho con
mình cưới một cô gái xinh đẹp và minh mẫn. Biết trong làng
có một thiếu nữ đặc biệt dễ mến, tên Prakrti, con người bà la
môn tên Pushkarasari, ông đến bàn thảo vấn đề với người cha cô
ấy. Ông bà la môn nổi giận rầy la thậm tệ người cha của
thanh niên và từ chối lời cầu hôn.
Trishanku nhẫn nại giải thích vấn đề như sau: Thưa
Ông, tất cả mọi người, dầu ở đâu, nghèo hay giàu, có học hay
vô học thức, xấu xí hay xinh đẹp, dầu đen hay dầu trắng, tất cả
đều cùng chung thuộc về một xã hội loài người, chung thuộc
về một chủng tộc nhân loại. Giai cấp và đẳng cấp là những
phân chia do con người giả tạo.
Lời giải thích hùng biện ấy hoàn toàn thuyết
phục người bà la môn. Ông đòng ý gả con, Prakrti cho
Sardulakarna, con ông Trishanku.
Và Đức Phật nói tiếp:
Prakrti, vị tỳ khưu trước mặt chúng ta đây, là
con gái người bà la môn, trước kia cũng có tên Prakrti.
Sardulakarna là tỳ khưu Ananda ngày nay, và chính Như Lai là
Trishanku, viên trưởng làng, Tù Trưởng Chăn Đà La.
Vua Pasenadi cùng đoàn tùy tùng chăm chỉ lắng nghe câu
chuyện quá khứ, lấy làm kinh ngạc, không nói được một lời,
cùng nhau đảnh lễ Đức Phật và chư Tăng rồi lặng lẽ lui gót
trở về.
Chú thích:
(1) Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 150.
(2) Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 213.
Trích từ quyển Phật Giáo, Nhìn Toàn Diện
của dịch giả Phạm Kim Khánh, Sài Gòn, Việt Nam, 1996. (Nguyên tác:
The Spectrum of Buddhism tác giả Piyadassi Mahathera).