Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Mật Tông


......... .

 

 

PHÁP VÀ SỰ SÁNG TẠO
|

Nguyên tác: Trungpa Rinpoche
Hiệu đính bản Việt Ngữ: Karunasham

---o0o---


Mục Lục


1- Pháp thưởng thức, nghệ thuật chân chính
2- Khám phá sự thanh lịch
3- Mặt trời phương đông lớn
4- Lòng tử tế nguyên thủy
5- Thiền định
6- Nghệ thuật trong đời sống hằng ngày
7- Sự thật bình thường
8- Khoảng lặng (thời chuyển tiếp)
9- Tô điểm thế giới
10- Quan kiến mới
11- Quá trình trực nhận
12- Hiện hữu và phóng chiếu
13- Những chân trời đã mất
14- Cho đi
15- Tinh thần hài hước hiện hữu tự chính nó
16- Sự quá đỗi
17- Trí huệ điên
18- 5 Phong cách biểu lộ sự sáng tạo
19- Thế giới con người
20- Sự mầu nhiệm không chọn lựa
21- Nét sổ thẳng
22- Hoạt động không gây hấn
23- Trạng thái tâm thức
24- Lý có ba (Trời - Ðất - Người)
25- Sự phong phú vô tận
26- Trở lại điểm khởi hành
27- Nghệ thuật bắt đầu tại gia
 

 

Chương 1:

Pháp –Nghệ Thuật Thưởng Thức Chân Chính 

Thành ngữ « Pháp Nghệ Thuật Thưởng Thức Chân Chính » không có nghĩa tượng trưng cho những biểu tượng hay nhận định về bánh xe cuộc đời hoặc lịch sử Đức Phật Gautama; ở đây muốn nói đến nghệ thuật phóng xuất trạng thái tâm thức nơi người nghệ sĩ, có thể gọi những phóng xuất trạng thái Thiền định trực tiếp trong sáng tạo không bám víu vào tư tưởng hay thiên kiến.

Trong nghệ thuật, khó khăn nền tảng là khuynh hướng cố tách rời nghệ sĩ ra khỏi công chúng, sau đó gắng sức trao truyền thông điệp từ người này sang người khác. Trong điều kiện này, nghệ thuật trở thành chủ nghĩa phô bày. Một tia chớp thần tình nào đó lôi cuốn để có thể đặt nó lên giấy loè mắt thiên hạ hay kích thích lòng hăng hái. Trong khi một nghệ sĩ từng chi tiết có thể tính toán chọn công đoạn để gây tác động tính thẩm mỹ cho người khác. Nhưng dù thiện ý hay kỹ thuật, hai tiếp cận này lúc nào cũng cùng đồng hành với sự vụng về của dạng thức tự gây hấn và người khác.

Đối với nghệ thuật thưởng thức trong thiền định, người nghệ sĩ đồng thời thể hiện vai trò: « Vừa sáng tạo vừa thưởng thức ». Vì quan kiến không thể tách rời cách vận hành, cho nên chúng ta không sợ hãi sự vụng về cũng như không sợ mất khả năng đạt đến mục tiêu. Người nghệ sĩ đơn giản sáng tạo một bức tranh, một bài thơ, một bản nhạc v... v... bình thường nhất của cuộc sống. Như thế bất kỳ người nào vẫn có thể sử dụng cây cọ trong trạng thái tâm thức thưởng thức nghệ thuật để hình thành tác phẫm. Rất có thể, nhưng nên thận trọng vì không khéo lại là hành động theo may rủi, vì trong nghệ thuật cũng như cuộc sống cần thiết phải phát triển những khả năng hòa điệu sự hiểu biết và trực nhận truyền thống được trao truyền.

Thông điệp được tóm tắt bằng cách thưởng thức bản chất những sự việc như chúng là... không cần thiết đấu tranh đấu tư tưởng và nỗi sợ hãi. Khi chọn thái độ trong những sự việc, chúng ta học cách sử dụng những chất liệu hay học tập phong thái của vị thầy hoàn thiện, còn lại chính là giây phút sáng tạo nghệ thuật với tình cảm tin tưởng trọn vẹn ngự trị.

Nhưng đừng cố bỏ rơi sự tự gây hấn hay miễn cưỡng tạo dáng vẽ không gây hấn để loè mắt người với ý định cố cho nó vận hành không gây hấn. Trong khi sự việc thật đơn giản, chỉ cần rõ biết nghệ thuật chân chính « Pháp - Nghệ Thuật Thưởng Thức Chân Chính » chính là hành động không gây hấn.

 

Chương 2

Khám phá sự thanh lịch

Chúng ta phải thẳng thắng, chân chính và có đôi chân thật vững trên mặt đất; vậy phải thật sự thưởng thức những sự việc những chúng là... Vì trong bản nhiên chúng đã quá đẹp, quá tuyệt vời nhưng để nhạy cảm với chúng cần phải có thời gian và kỷ luật, thực sự cần rất nhiều kỷ luật. 

Khi khám phá tôi là một Tulku (từ Tây tạng có nghĩa tái sinh của vị thầy vừa qua), lúc tôi mới vừa mười bẩy tháng. Theo truyền thống Tây tạng tôi được giữ chức trụ trì những tu viện ở Surmang. Lúc mười sáu tuổi, người ta giao tôi đảm nhận vùng Surmang có khoảng 40 ngàn cư dân sinh sống.

Lãnh địa bao trùm một phần lớn Tây tạng, có thể gần bằng diện tích bang Vermont. Cư dân nơi này có cuộc sống rất hạnh phúc và trù phú. Kinh tế của vùng đặt nền tảng trên việc buôn bán gỗ xây dựng về những vùng cao vì chúng tôi sinh sống trên cao độ hơn 5 ngàn mét, và nơi này không tìm thấy bất cứ cây cốI nào có thể sử dụng để xây dựng nhà cửa hay những khác. Với cao độ này chỉ tồn tại những cây con, những bụi liễu bách nhỏ và đỗ quyên lùn v.. v...

Để điều hành làng mạc và vượt qua những khó khăn, người ta sinh sống bằng cách trồng trọt và chăn nuôi. Mỗi cư dân đều có đàn thú riêng người Pháp gọi là những con Yak. Từ Yak là tên gọi con đực còn con cái thì gọi là Dri.

Chúng tôi xuất khẩu rất nhiều bơ từ những con Dri và những đàn trừu lớn hợp thành những tài nguyên bao la và phong phú. Làng chúng tôi nằm ở ranh giới giữa độ cao và thấp và hàng xuất khẩu gồm nhiều sản phẫm đa dạng. Nhưng theo quan điểm địa lý, thật sự không có đất cao hay thấp ở độ cao hơn 5 ngàn mét với những vùng núi non, thung lũng, cao nguyên với những bải chăn thả.

Ở đây chúng tôi sản xuất thịt hảo hạng và những đàn trâu khoẻ mạnh (Dri và Yak). Người ta nói rằng sữa ở Tây tạng riêng vùng này thật tốt, yaourt, phó mát và bơ được xem như ngon nhất và việc sản xuất phó mát không giống như Tây phương. Công đoạn chế biến là một trong những công đoạn của việc vắt sữa sau mùa cừu cắt lông, và phó mát là một trong những nguồn thực phẫm chính yếu. Có dạng phó mát được chế biến bằng khoai ngọt được nghiền thành bột. Như thế có nghĩa ở Tây tạng chỉ có mấy nguồn thực phẩm là chủ yếu. Chúng tôi cũng dùng những hạt chưa chín thật tươi mát làm thực phẩm. Điều này nối liền với truyền thống hái trà xanh trước khi đến tuổi già cỗi như người ta thực hiện cho vài loại trà Nhật và Trung Quốc. Trà có tên gọi « bột thuốc súng Anh quốc cũng được hái trước khi già, nó thật tươi và thật mịn. Vì thế có rất nhiều hương vị và rất tốt cho sức khoẻ.

Nơi tôi ở cũng có những hồ nước mặn. Trong vùng Surmang muối lấy từ những hồ này không có chất lượng cao và gọi là muối đỏ. Có nhiều nơi vài hồ cận kề thành một quần thể diện tích lên đến gần 50 héc ta. Họ rút muối từ hồ sấy khô và chúng tôi cũng xuất khẩu muối, nhờ thế cả vùng được nuôi sống.

Để đảm bảo cho sinh kế, những tu viện làm những việc như gây quỹ khi có lễ hội hay đình đám. Những buổi lễ này có thể kéo dài đến 10 ngày và người ta gây quỹ cho những nhu cầu buỗi lễ. Khi quỹ được quyên, dân chúng dâng lễ vật cho các sư và đồng thời cúng dường cho chánh điện, quỹ này có thể được trị giá, ví dụ: 75 con cừu và vài cây số cánh đồng đại mạch hay lúa mì. Một người hay một nhóm được đề cử lập thành ban quản lý để đảm bảo buổi lễ được diễn tiến hoàn hảo.

Trong cái nhìn này, sự tuyên truyền của người Trung quốc hoàn toàn sai lầm. Họ cố tình bóp méo sự việc bằng cách tuyên truyền: « Chúng tôi lợi dụng để bóc lột nông dân bằng cách ép họ dâng cúng cho tu viện ». Điều này quả thật không đúng. Tôi nghĩ quả thật rất khó để nói lên sự thật một cách chính xác. Nhưng với những kỷ niệm khi tôi đãm trách việc tổ chức quyên góp, sự việc được diễn tiến theo cách khác. Đồng thời việc quyên góp người ta tổ chức những buổi thảo luận tại tu viện. Trong trường hợp này, quỹ được gây ra không giống như mang số tiền lớn bỏ vào nhà băng hay một dạng nào khác tương tự. Có thể hiểu có rất nhiều héc ta đang cho hạt, rất nhiều thú để vắt sữa hay lấy len và từ đó bảo đảm việc sinh kế của cộng đồng.

Có thể bạn thắc mắc tại sao tôi lại kể ra những chi tiết về sinh hoạt chúng tôi ở Tây tạng. Chỉ vì tôi có cảm tưởng, chúng liên quan mật thiết với hoàn cảnh Bắc Mỹ. Thật ra ở Bắc Mỹ khi tốt nghiệp đại học, người ta thường rời khỏi gia đình, và việc ra riêng trước khi chấm dứt chương trình học là chuyện dĩ nhiên và gia đình không còn ý nghĩa. Người ta bắt đầu sống với mớ hành trang được trang bị từ học đường xã hội và tìm một việc làm như: Thư ký, quản lý và tất cả mọi thứ... tùy theo khả năng. Như thế thiết lập mối quan hệ hoàn toàn xa lạ với cuộc sống thực sự đang hiện hữu. Từ quan niệm này, không thể nhìn thấy những sự việc xảy ra như thế nào. Chúng được thực hiện từ đâu.

Người ta phát minh ra nó như thế nào?. Người ta say đắm một bức tranh có giá trị và sẵn sàng mua mà không cần biết quá trình sáng tạo thế nào. Người ta mua một tấm thảm, nhưng công đoạn sáng tạo và dệt những tấm thảm hoàn toàn xa lạ. Vì khi có gì không ổn, thông thường chúng ta cứ việc gọi những nhà chuyên môn đến tư vấn.

Nghệ thuật Pháp thật sự không liên quan đến sự kiện phải là nghệ sĩ hay phải vẽ một đống tranh, sáng tác nhạc hay trình diễn. Cũng không phải đạt đến đỉnh cao của năng khiếu thẫm mỹ. Người ta nói điều này gây ra vấn đề, và cũng là trường hợp ở Tây tạng. Nếu không được phong chức trưỡng làng, rất có thể sẽ không biết cách vận hành những sự kiện. Thật rất khó khăn khi cho rằng tôi hành động như vài người trong các bạn. Có thể nói: « Chúng ta vinh danh buỗi lễ này; tại sao lại chuẩn bị những món ăn này, điều gì không ổn xảy ra?. Điều này có thể làm tôi cáu giận ». Để chứng minh chức năng trưỡng làng thực tiển tôi phải biết một phần của vấn đề; như trong buổi lễ thật trang nghiêm, thật hoàn hảo về phương diện thành công và người trưỡng làng cần quan tâm đến hoàn cảnh kinh tế và tâm trạng dân chúng.

Vấn đề là biết làm sao sắp xếp cuộc sống để có thể sáng tạo những sự việc tuyệt vời nhưng không lệ thuộc hay làm tăng sự đau khổ cho người khác. Trên bình diện thực hành đây là ý chính. Nếu đi xa hơn, cần có quan niệm về nghệ thuật chân chính hay Pháp thưởng thức. Có nghĩa khám phá: Sự thanh lịch và Pháp thưởng thức có thể là hai chủ đề nhẹ nhàng và hoàn toàn khác nhau. Pháp thưởng thức đến trước khám phá sự thanh lịch sẽ đến sau. Pháp thưởng thức không liên quan đến năng khiếu dàn dựng hay tài năng ngoại hạng tạo tác chương trình hoàn toàn kỳ diệu. Ngược lại, Pháp thưởng thức là khám phá sự thanh lịch. Trong truyền thống Phật học đây là vấn đề trạng thái của tâm thức

Nghệ sĩ không nhất thiết chỉ biết sáng tạo hoặc nhìn hay nghe một tác phẫm, và sáng tạo tác nghệ thuật thực sự là quá trình hết sức nghiêm túc. Vì dụ, để thực hiện bức họa bằng chu sa, phải nghiền chu sa thành bột; để tạo ra màu xanh phải biết hái những nhánh cỏ riêng biệt hay tán bột những viên đá dưới hầm sâu để có màu xanh đặc trưng. Cần thiết gạn lọc những quặng trong đất để có được màu cam sáng, hay cạo bồ hóng, lấy nhựa cây để chế mực...

Trước khi đi vào thế giới thanh tao của nghệ sĩ, người ta phải biết từ khước sự đau khổ và nghèo túng để sáng tạo. Như dùng những bông hoa để tạo thành tác phẩm nhỏ trong nghệ thuật cắm hoa, phải biết những đóa hoa này không thể từ trên trời do Thượng đế ném xuống. Chúng cần có đất thịt, đất mùn và phân; chúng phải được bảo vệ khỏi những mưa gió để có thể sáng tạo những hoa cúc, hồng hay cẩm chướng... tuyệt đẹp.

Trong thế giới tân tiến Hoa kỳ chỉ cần đi đến tiệm mua những đồ vật và mang về (tất cả được sản xuất sẵn theo công nghệ). Thật không thể là thái độ lành mạnh và hoàn toàn sự vắng bặt tính thanh lịch. Cần biết những đồ vật được chế tạo từ chất liệu gì, làm sao có thể sản xuất và được làm ra từ địa phương nào?. Làm sao có thể đẹp rực rỡ như thế và cái gì làm cho nó đến mức tuyệt mỹ, nhưng giờ đây con người lại có khuynh hướng coi thường khía cạnh này.

Có thể người ta khởi hành với mùa xuân không màng vượt qua mùa hè, ngay cả mùa thu và mùa gặt thì còn xa. Có thể nói như vậy mà không sợ lầm lẫn. Dù là nghệ sĩ nổi danh đã mang lại cái gì đó cho thế giới hay đơn giản chỉ mới vào nghề, phải nhận ra điểm nào thật khó khơi mào cho tất cả quá trình. Có nghĩa cần làm việc đồng thời với đất, con đường, nhân và quả. Đương nhiên đây không phải là công việc nhàn hạ.

Khi lái xe thật lâu trên xa lộ, cảm thấy mệt mỏi và lạnh lùng vượt qua những bảng hiệu « nhà hàng, khách sạn... », bởi vì chúng ta có khuynh hướng quên mình có quyền tắt máy xe để vào khách sạn ăn, ngủ, vui đùa và lên sáng mai có thể tiếp tục hành trình. Chúng ta quên rằng mình có quyền sử dụng thế giới riêng tư trong những dạng hình như thế. Nhưng dù vậy phải có một chút tôn trọng những ai làm việc cực nhọc trong những hoàn cảnh này. Chúng ta không thể hài lòng nói: « Tất cả đều trôi chảy, thế giới thật thực tiển và tại sao không biết lợi dụng hoàn cảnh vì tôi có tiền ».

Nói chung, một tiệm buôn đặt giá bán theo số lượng công việc đã đầu tư và vào vật liệu sản xuất. Chúng ta thường không nghĩ đến điều này và cứ như anh chàng tử tế vô tư, bình thường, ngây thơ có thể nói với những bạn: « khách sạn này rẻ hơn ». Nhưng tại sao nó rẻ hơn?. Vì công trình tiền chế đơn giản. Với những khách sạn đắt vì công việc khó khăn hơn; người ta phải đặt vào đó nhiều cố gắng với năng xuất cao để mang lại sự hoành tráng và hiệu năng cao. Nhưng thông thường chúng ta không quan tâm đến khía cạnh thực tế này.

Bạn biết không, thời Trung Cổ đã mang lại những tác phẫm nghệ thuật ngoại hạng trong lãnh vực âm nhạc, hội họa, chế tạo nhạc cụ. Vào thời gian này, một vài nhà nghệ sĩ lớn chỉ nổi danh sau khi chết, họ đã làm việc với tất cả sự sống động, nỗ lực hài hòa công việc mà không nghĩ mình đạt đến sự nổi tiếng. Khi đến đích, họ hoàn toàn hài lòng, thỏa mãn. Nhưng cũng có thể họ cảm nhận sự mệt mỏi và cuối cùng biến mất khỏi cuộc đời trong âm thầm lặng lẽ, như thiên tài Mozart chẳng hạn.

Nghệ thuật có thể là công việc thuộc về lãnh vực thủ công. Tất cả đều được làm bằng tay và ăn sâu vào hiện thực. Chính nhờ thế khám phá ra tính thanh lịch, cái đẹp và sự thật (Chân - Thiện - Mỹ) trong công việc, vì hiểu được năng lượng tích cực và những đam mê cần thiết để chế tạo hay phô bày những gì tốt nhất cho cuộc sống rất cần có cho việc sáng tạo một bản nhạc hay bức tranh làm người xem hay thưởng thức tưởng chừng như gần ngạt thở, tuy người sáng tạo không có dự định làm cho ai ngây ngất lúc khởi sự tạo sinh.

Ai đó mong muốn trở thành nghệ sĩ trong điều kiện tất cả mọi thứ đều hoàn hảo; nhưng không thể đạt được như vậy, quả thật ngây ngô khi nghĩ như thế. Trước tiên chú ý vào hiện thực?. Học ăn uống, nói năng đàng hoàng nghiêm túc trong sự thanh lịch mà không cứng ngắt. Biết nấu bếp ngon, lau nhà hay phòng ở một cách tận tình, kể cả biết ăn mặc thế nào có thể xem là thanh lịch.

Trước tiên làm việc với những cơ bản hiện thực. Xa hơn nữa, cần đến cái gì đó nhiều chất liệu nhân bản hơn. Sau đó, có thể bắt đầu sáng tạo một thế giới làm tác phẫm nòng cốt. Điều này xảy ra tương tự với truyền thống Phật học Kagyü dòng tu chúng tôi. Con đường thì vời vợi, cam go và không ai có thể hoàn thiện trong một sớm một chiều. Tuy ngườI ta vẫn có thể phát minh một trò chơi mới đầy tính hấp dẫn trong vòng một đêm. Một ý tưởng tuyệt vời nào đó chợt xuất hiện và ngày hôm sau một phát minh mới ra đời, sản phẩm được tung ra sau quá trình sản xuất và họ trở thành đại phú gia. Điều này có thể xảy ra nhưng không thể xem nó như sự vận hành chân chính. Thông thường chúng ta lẫn tránh phần lớn quá trình đào tạo, kỷ luật và hiện thực. Thường thường, khi sản xuất một công việc nghệ thuật mang tính cách tốc hành để làm giàu thật rất nhanh sau đó họ lại muốn tự tử vì buồn chán.

Vì thế chúng ta phải thật thẳng thẳng, chân chính và có đôi chân đặt vững trên mặt đất; phải thật sự biết thưởng thức những sự việc như chúng là. Chúng quả thật đẹp, thật tuyệt vời. Nhưng để có được sự nhạy cảm sống động điều tiên quyết là cần có thời gian, kỷ luật và thật nhiều kỷ luật. 

 

Chương 3 

Mặt Trời Phương Đông Lớn 

Chờ đợi giây phút hợp thời - Chờ đợi Tư Tưởng Đầu Tiên đến rợn người; nhưng không có gì xảy ra. Chúng ta có khuynh hướng bỏ rơi tất cả hay không cố phát minh trạng thái nhân tạo gượng ép. Vẫn không có gì xuất hiện. Thế rồi có cái gì đó khác lạ như là sự phân tâm. Ngay giây phút này nên quay trở lại sự không chờ đợi. Thế là xong, vì tất cả đã từng hiện hữu trong cái chắng mong cầu.

 

Hình như sự tiến triển Pháp Nghe Nhìn không gì có thể gọi là siêu việt. Vì chỉ cần làm việc với mình và người khác và cả hai hoạt động cần phối hợp đồng thời. Công việc với mình dẫn đến sự tự thanh lịch. Làm việc với người làm sống lại niềm vui trong tất cả mọi người. Hai khía cạnh hội tụ: « Sự thanh lịch và niềm vui » mang đến nền tảng tình cảm phong phú và đầy tử tế được gọi là Mặt Trời Phương Đông Lớn. Đương nhiên cần rõ biết sáng tỏ nghệ thuật làm nổi bật lòng tử tế và phẫm cách trong từng hoàn cảnh. Điều này hình như là yếu lý của nghệ thuật thưởng thức khoảng lặng (Thiền Định).

Truyền thống lâu đời Shambala ứng dụng cho cả ngày nay và thường sử dụng thuật ngữ Mặt Trời Phương Đông Lớn. Thuật ngữ Mặt Trời Phương Ðông Lớn tương ứng cho những nguyên lý chính xác.

Lớn có nghĩa sức mạnh, năng lượng và quyền năng thức dậy trong chúng ta. Có nghĩa không còn sợ hãi, nuối tiếc khi biểu lộ hay trình bày nghệ thuật biểu lộ cách sống. Quyền năng này thật táo bạo và đầy ngạc nhiên. Nếu nhút nhát sẽ rất khó khăn khi sử dụng đồ vật ngay cả việc nghĩ đến sờ mó hay sắp đặt và khó khăn hơn để sắp xếp cuộc sống trong trật tự vận hành tất nhiên; nhưng chúng ta sợ hãi tất cả những điều này. Vậy lòng dũng cảm là vắng bặt sự sợ hãi căn để để có thể phát sinh niềm hoan hỉ sẵn có (nội hỉ). Quả thật chúng ta ngây ngất một cách hồn nhiên khi nhận ra dạng sức mạnh và năng lượng xuất hiện (Drala) sẵn có trong chúng ta. Vì thế có thể di chuyển và hành động tự do trong mọi thế giới quan (trạng thái Đại thế Chí) không cần tìm cách thay đổi; vì qua nghệ thuật chân chính sẽ hài lòng biểu lộ và khám phá những gì phải là... một cách đơn giản nhất.

Phương Đông dẫn đến quan niệm tỉnh thức. Hướng dấn thân vào hay hướng đi sẵn có ở phía trước, và tất cả đều hiển nhiên. Ở đây, từ phương Đông không nhất thiết chỉ phương hướng thuộc về địa lý, mà là nơi bao quát để có thể mở rộng đôi mắt và thật dũng cảm nhìn về phía trước. Đơn giản phương Đông đơn độc không thiên vị hay dựa vào cái khác; nó hàm ý hay có thể nói là biểu tượng thể hiện trạng thái tỉnh thức nền tảng.

Bước qua phạm trù thứ ba Mặt Trời. Mặt trời gợi ý đến ánh sáng rực rỡ thấm nhuần tất cả và vận hành không một mảy may phân biệt. Đó là lòng tử tế hiện hữu trong hoàn cảnh và thế giới chính mình; nó tự biểu lộ mà không hề do dự, không hối tiếc và nghi ngờ. Mặt trời tượng trưng cho sự vắng bặt sức ì và bao gồm khái niệm ân sũng đang tưới xuống để sáng tạo thế giới thiêng liêng. Mặt trời cũng là sự sáng tỏ và vắng bặt nghi ngờ (tâm nghi).

Cả ba phạm trù là bản chất của Mặt Trời Phương Đông Lớn. Có thể nói là biểu tượng biểu hiện sự giải thoát khỏi chính mình (tổ kén hay sức ì) và làm tăng giá trị sự thanh lịch vũ trụ cùng hiện hữu trong cuộc sống cũng như trong nghệ thuật. Tương phản lại là khái niệm mặt trời lặn tương ứng với sự thèm ngủ vùi hay nằm lì trong tổ kén (sức ì). Mặt trời lặn, đương nhiên muốn ngủ. Muốn quay về bụng mẹ, muốn thoái lui để có thể núp sau những vầng mây đen. Điều này nói rằng sự đã mất đi sự dũng cảm để sống hoàn toàn trong sự hèn nhát.

Đồng thời xung đột mất đi và từ chối rời khỏi thế giới vì tin vào sự trường tốn bất biến và thân vật lý không tàn lụi; chúng ta cố bám vào sự sinh tồn và lúc nào cũng tìm kiếm những người tạm gọi biết dự đoán về cái chết!. Chúng ta muốn biết trong tương lai mình sẽ thành đạt đến đâu, sống có trường thọ!, con cái như thế nào!!. Có nghĩa thế giới mặt trời lặn đặt nền trên thái độ tâm lý sợ hãi. Nổi sợ bất biến và đưa đến con đường tự hũy diệt.

Những ví dụ về nghệ thuật mặt trời lặn không thiếu. Một vài dạng thức đặt nền tảng trên nhu cầu giải trí. Khi cảm thấy đau khổ và trầm uất bèn cố sáng chế tinh thần hài hước nhân tạo, thực hiện một dạng thức tâm thức tiền chế. Thực ra sự cố gắng này chỉ dẫn đến dạng thức trầm uất cực độ. Phản ứng khôi hài có thể xoa dịu trong vài giây nhưng vầng mây đen luôn là đà che phủ. Ðây là không khí nặng nề của người bị cơn trầm uất gặm nhấm. Do đó, người giàu sẽ chi tiêu nhiều hơn để lên dây cót cho tinh thần và cuối cùng nhận ra họ càng phung phí lại càng rơi vào bi kịch. Sự tôn trọng và thưởng thức cuộc sống không bao giờ hiện hữu trong thế giới mặt trời lặn. Sự tôn trọng duy nhất có thể nhận thấy là lòng bác ái của những người cố tranh đấu cho cái chết mà không hiểu gì cả. Với câu nói này tôi e ngại mình hơi thiên vị; nhưng thực sự tuyệt đối không có gì gọi là tích cực để nói về mặt trời lặn. Duy chỉ một điều không vô ích, trong sự quyết định phân biệt rõ rang trắng hay đen có thể nhận ra là không hề tồn tại chút ít nghi ngờ nào về thế giới của sự trầm uất.

Thật hiển nhiên quan kiến Mặt Trời Phương Đông Lớn không có nghĩa người tốt luôn là kẻ chiến thắng trên sân khấu hay trên màn ảnh (kết thúc có hậu). Tất cả không đơn giản như thế. Theo truyền thống Phật học, những vấn đề về Bồ Tát Đạo Vĩ Đại mang thân hiến cho muôn loài thưởng thức để tái thực hiện chu kỳ vận hành, và điều này không đặt thành vấn đề và có thể chấp nhận. Tương tự trong Kinh Thánh tương ứng với sự treo mình trên thập tự và việc phục sinh. Đối kháng giữa Mặt Trời Phương Đông Lớn và mặt trời lặn không có nghĩa mang lại chiến thắng cho thân vật lý; đúng hơn là bảo đảm tính liên tục tâm lý đặt nền tảng trên quan kiến không thiên vị.

Ba phạm trù: Lớn - Phương Đông - Mặt Trời dẫn đến sự tỉnh thức tự vực dậy. Dù vậy cần minh định giữa mặt trời mọc và Mặt Trời Phương Đông Lớn. Mặt trời mọc như em bé có đầy đủ tiềm năng - Mặt Trời Phương Đông Lớn đã phát triển trọn vẹn và đi đến chín mùi. Mặt trời mọc là mặt trời bé con - Mặt Trời Phương Đông Lớn dẫn đến nhận định về đức tin trọn vẹn phát triển trên hết và tận cùng. Trong Phật học Mặt trời Phương Đông Lớn được so sánh như Phật tính đã hiện diện và phát triển trọn vẹn và không gì có thể dẫn đến Phật tính vì chúng ta thực sự đã hoàn toàn tỉnh thức ngay trong từng sát na.

Nguyên lý Mặt Trời Phương Đông Lớn có ba thuộc tính biểu hiện:

1- Trước tiên là: Làm hòa, thấm nhuần từ lòng tin (chánh tín) và nhân phẫm - có nghĩa không còn tự gây hấn. Công việc chủ yếu của nghệ thuật là vắng bặt sự gây hấn. Đôi khi có thể sự thanh lịch và phẫm cách tỏa ra làm xáo trộn gần như sự đe dọa, không cần biết nó có liên quan gì đến mối gây hấn nào đó trong tác phẫm. Đơn giản chỉ vì sợ hãi do thiếu lòng can đảm. Vì thế không nên đồng hóa mình như tác phẫm gây hấn hoành tráng đầy vẽ hoang mang.

2- Thuộc tính biểu hiện thứ hai là: Hướng dẫn kỹ thuật về con đường. Nghệ nhân bắt đầu có vài trình độ minh triết về rõ biết phân biện khi thực hiện chọn lựa giữa hoàn cảnh lành mạnh và không lành mạnh. Thay vì hành động vô tư và đón nhận tất cả, ở đây cần phân biện vận hành để hướng dẫn kỹ thuật con đường trên quan kiến về Mặt Trời Phương Đông Lớn.

Chúng ta có thể xem sự chỉ định con đường như: “ Tư tưởng đầu tiên - Tư tưởng tuyệt vời ”. Trên bình diện niên đại, tư tưởng đầu tiên không nhất thiết là tư tưởng tuyệt vời; thật ra nó có thể còn tệ hơn và ở đây, tư tưởng đầu tiên là sự tươi mát, tự do, và thong dong. Khởi đầu là dạng thức thưởng thức khoảng lặng. Sau đó sự biểu lộ khoảng lặng khởi sinh tư tưởng đầu tiên. Không có gì mơ hồ, ngược lại thật rõ nét và cực kỳ xác định và có đầy đủ quyền năng phân biện. Ví dụ đứng trước tờ giấy, mực và cây cọ - thế là chúng ta phóng chiếu quan kiến Mặt Trời Phương Đông Lớn.

Ban đầu, rất có thể không một tư tưởng nhỏ nào dấy lên. Chúng ta chờ đợi giây phút thích hợp, tư tưởng đầu tiên thô tục hay vi tế dấy lên nhưng vẫn không gì xảy ra. Chúng ta khởi sinh khuynh hướng bỏ rơi tất cả hay không cố phát minh một trò chơi nhân tạo nào đó. Nhưng vẫn không gì xảy ra. Thế rồi cái gì đó như là sự phân tâm và ngay giây phút này cần quay trở lại sự không chờ đợi. Thế là xong, vì tất cả đã từng hiện hữu trong cái chẳng mong cầu. Với sự dao động chập chờn của khoảng lặng ta chạm đến tư tưởng đầu tiên. Từ đó phát sinh lòng tin và phẫm cách trong thao tác từ đường nét cọ, nét vẽ, thể hiện thư pháp. Tất cả điều này cũng ứng dụng nhạc sĩ, nhiếp ảnh gia, nói chung tất cả những người được xem là nghệ sĩ. Thể hiện hướng dẫn kỷ thuật con đường là nguyên lý chỉ đạo để có thể học làm sao có thể nhìn hoàn cảnh ngay lập tức trên bình diện: “ Tư tưởng đầu tiên – tư tưởng tuyệt vời ”.

3- Thuộc tính biểu hiện thứ ba mệnh danh là: Chiến thắng ba thế giới. Trước tiên, điều này hình có vẽ hơi bí mật, nhưng cần xem lại khái niệm chiến thắng. Nói chung, danh từ chiến thắng gợi ý khả năng lấn lướt ai đó bằng bạo lực hiện hành. Nhưng với tâm thức thuần khiết tranh đấu hay hiểu biết theo quan kiến Mặt Trời Phương Đông Lớn, khái niệm chiến thắng là tình cảm tự nhiên hiện hữu không cần đến thách thức và đối thủ.

Vì sự hối tiếc và lười biếng mất đi, bắt đầu biết thưởng thức cá tính thiêng liêng của thế giới. Tất cả đã đầy đủ và cực kỳ lành mạnh, không có gì khó khăn hay chướng ngại. Ba thế giới trời - đất và con người, cũng có nghĩa thân, lời và ý. Và cần thắng lợi toàn diện những trầm uất tất cả ba thế giới này.

Tóm lại, khái niệm Mặt Trời Phương Đông Lớn kết hợp ba thành phần:

Thứ nhất: Cảm nhận riêng mình tình cảm tử tế.

Thứ hai: Đã sẵn có tính liêm khiết có thể phóng chiếu vào công chúng, khách hàng hay cuộc sống. Như thế tự thiết lập đức tin lớn « Lòng tử tế - Liêm khiết - Chánh tín ».

Thứ ba: Khi tất cả điều này ngự trị, có thể sáng tạo những gì được xem gọi là cộng đồng tỉnh thức nhờ vào những tác phẫm nghệ thuật, vào sức khoẻ tâm thức lành mạnh nền tảng và người nghệ sĩ bắt đầu đi vào thực hành tọa thiền. Quả thật vô ích khi cho rằng phải lồng thiền định vào một hình thức nào đó.

Khởi đầu ở phương Tây, nghệ thuật luôn được gợi hứng từ Mặt Trời Phương Đông Lớn. Quan kiến này không chỉ dừng lại ở nghệ thuật, nó được lan toả vào cách sống. Thế rồi trong cuộc sống chúng ta từ từ đánh mất vì phẫm cách bị xáo trộn. Người ta nhìn phẫm cách thuần khiết như được vun trồng cho người giàu có, và không có chổ cho đẳng cấp khác. Những gia đình quí tộc đưọc thụ hưỡng nhiều hơn nông dân, vì thế hoàn cảnh kinh tế dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp. Sau đó khái niệm xuất hiện dân chủ tất cả mọi người phải bình đẳng. Điều này có nghĩa đi đến ý niệm bãi bỏ thứ bậc (đấu tranh giai cấp). Thế là nền tảng bình đẳng được hình thành bằng vũ lực.

Ngày nay nói chung, tôi tin rằng vài nghệ sĩ tân thời tốt và lành mạnh và quan kiến Mặt Trời Phương Đông Lớn là gợi hứng lớn cho đại tác phẫm của. Nhưng những nghệ sĩ này lại rất hiếm hoi. Người ta chỉ tìm thấy một vài người trong giới nghệ thuật. Bạn cũng nên khám phá họ là ai, nếu không lại tiếp tục đi vào sự phân biệt giữa cái tốt và xấu, hạnh phúc và buồn bã.

Theo tôi, thực sự khuynh hướng này không nghịch lại phong cách Mặt Trời Phương Đông Lớn và điều này đã bắt đầu tái lập. Nếu quan sát thập niên 60 cũng như đầu thập niên 70 tuyệt đối không có gì xảy ra. Mọi người đều có khuynh hướng ngã về mặt trời lặn. Ngày nay có sự quay trở lại thiết lập cán cân quân bình. Ở Hoa Kỳ vào thập niên 20 nhiều điều thú vị đã khởi động. Người ta không cần biết những gì đã làm, nhưng cảm thấy thoải mái với những sự kiện vừa vượt qua. Người ta biết lèo lái cuộc sống và sáng tạo những tác phẫm nghệ thuật. Than ôi nhưng nghệ thuật không phải chỉ cần đầu tư vốn vì chính nó sẽ hợp thành trở lực cho người nghệ sĩ và không để lại cho chúng ta chất liệu gợi hứng nào để làm việc.

Truyền thống Nhật bản không phải là những gì sót lại của những gì gọi là quan kiến mặt trời lặn. Trường phái Ikébana nơi tôi đã học có thể nói là thuộc về trường phái mặt trời lặn, hoàn cảnh vừa hối tiếc và đồng thời tôn kính. Chủ yếu trước tiên là làm việc cho chính sự phát triển của mình trước khi dấn thân vào bất cứ việc làm nào khác. Chúng ta không thể làm hơn gì điều này, khởi sự cần có một vài lãnh hội về quan kiến Mặt Trời Phương Đông Lớn sau đó theo học những vị thầy tùy thuộc vào những nguyên lý riêng biệt và hình như đây là cách duy nhất. Thật không có thánh địa nào cho những nhà nghệ thuật cắm hoa, hay dạng thức nghệ thuật nào khác do yêu thích thực hành mà cần phải tìm bên trong chính mình.

Khi vun trồng quan kiến Mặt Trời Phương Đông Lớn, theo tôi đồng thời đặt nặng vào sự hài hòa giữa truyền thống Tây phương và Đông phương. Vì thế để gợi hứng cho những học trò người Mỹ, tôi làm việc với họ bằmg nhiều cách. Tôi dạy họ mua cà vạt đẹp, bộ côm-lê thích hợp, những khuy áo măng - sét, giày vớ và nói « Vâng, thưa Ông » - « Ông cho phép? »... Tôi hướng dẫn họ cư xử như những con người tử tế. Trên bình diện nghệ thuật cũng cần như thế. Phải có được vài lãnh hội về yên lặng kết hợp nền tảng Phật học Á đông mà vẫn giữ quan kiến của thế giới Tây phương vì chính bản thân nó vẫn đáng kể.

Có rất nhiều sự kiện lớn xảy ra ở Tây Phương, nhưng gần đây mọi người miệt mài gác lại một bên và biến mọi truyền thống trở thành trò đùa, manh mún ra và biến thành vũ trụ Coca-Cola. Khi hành động như thế chắc chắn sẽ có những trở ngại. Cho dù như thế nào đi nữa cũng không nên bỏ rơi quan kiến và phẫm chất Tây phương và tôi không tin sẽ có vấn đề.

Nói một cách tri thức hóa vẫn nên có Mặt Trời Phương Đông Lớn phương Tây. Tôi biết đây là sự mâu thuẫn; nhưng nếu nói mặt trời mọc ở phương Tây, thế thì thật ngu xuẩn. Nhưng phương Tây vẫn là phương Tây, do đó mặt trời cũng có thể mọc ở phương Tây hay cái gì đó na ná. Những nghệ sĩ lớn và sáng chói Tây phương đối với tôi là nguồn gợi hứng to lớn. Vì thế tôi đang ở đây, ở Tây phương và có sự trìu mến bao la cho thế giới nơi mình đang sống.

 

Chương 4 

Lòng Tử Tế Nguyên Thủy  

Mặt Trời Phương Ðông Lớn đại diện cho khái niệm tỉnh thức là năng lượng hay tính chiếu sáng và sự sáng tỏ. Chủ yếu những phẩm chất này tương đương với trạng thái tâm thức nền tảng và quan kiến nghệ thuật thưởng thức người nghệ sĩ cần có. Nếu không có quan kiến hay tâm thức này có nguy cơ với những vấn đề xuất hiện (hệ lụy) và những chướng ngại xuất hiện trên đường. 

Ban đầu quan kiến Mặt Trời Phương Ðông Lớn có cái gì đó hình như hơi cực đoan, đầy nét phân biệt. Thế nên cần cắt bỏ những khuynh hướng thỏa mãn bản năng cho rằng: “ Sẽ có cái gì đó dấy lên từ trải nghiệm! ”. Quan kiến Mặt Trời Phương Ðông Lớn dỉ nhiên không trừ bỏ sự rộng mở tâm thức vì chính xác đây là trạng thái rộng mở và tỉnh thức toàn diện. Ý nghĩa Mặt Trời Phương Ðông Lớn là trạng thái rộng mở hay còn gọi là sáng tỏ tỉnh thức hay sự sáng tỏ rõ biết. Nhưng để giử được tính rộng mở cần quan sát với đôi mắt trong cái nhìn không thiên vị và nhất quyết không hài lòng với cái nhìn thoáng qua hay bằng nửa mắt (cưỡi ngựa xem hoa). Ðó là điều rất quan trọng, khi tâm thức đi cùng cái nhìn rộng mở (không thiên vị hay phân biệt) có thể hành động rõ nét trong sự phân biện và hoàn cảnh sáng tỏ trong hành sử từ ngay giây phút này; và chấp nhận vài sự kiện và dứt khoát từ chối những sự kiện không phù hợp với con đường. Thực sự hoàn toàn có thể (khả dĩ) khi hiện hữu từng giây phút (sát na) và thuận theo hoàn cảnh. Từ phương thức này, có thể đề cập ngay chủ đề thảo luận khi biết những thành quả sáng giá hay rũi ro trong lầm lẫn ngay tức khắc.

Một con người tỉnh thức, hiện hữu thường trực có thể đùa cợt với những hoàn cảnh hiện hữu. Và đó chính là sức mạnh của tâm thức trong sáng và chính là nền tảng rộng mở thực sự. Một khi nhìn thấy Mặt Trời Phương Ðông Lớn với tất cả sự rực rở, có nghĩa có thể bắt đầu vun trồng sự không tự gây hấn. Thế là không còn gây hấn với chính mình nữa. Nói chung có thể rút ra những trải nghiệm từ những đau khổ trong cuốc sống hơn là diệt mất sự khổ vì thực sự chúng ta không hề diệt bất cứ điều gì.

Những biểu lộ tự gây hấn là phiên bản mặt trời chiều theo lăng kính tiêu cực được trang bị và cái chúng ta gọi là sự tư hữu hay nghệ thuật hóa theo định kiến. Vì sự thoả mãn trong cái gọi là nghệ thuật chúng ta đeo đuổi như muốn năm bắt bóng của việc không có. Cuối cùng mệt mõi vì cái không thực, chúng ta sẵn sang bỏ cuộc để chạy theo nắm bắt ảo ảnh. Vậy có thể nói rằng: “ Khi không còn tự gây hấn rất ư quan trọng và trên tất cả mọi phương diện ”. Có thể đặt câu hỏi: Cái gì làm chúng ta mù lòa?. Câu trả lời có thể là: “ Sự gây hấn làm mù lòa đến nổi không thể sáng tạo những tác phẫm của pháp (Dharma) nhìn (quan kiến) ”. Vậy chính sự tự gây hấn ngăn nhận sờ mó (va chạm) thưởng thức mùi vị hay ngắm nhìn pháp trong Tinh Thần Nghệ Thuật (gout) với pháp nghe nhìn trong tinh thần thưởng thức.

Vì thế, khi căng thẳng thường phát sinh khuynh hướng gây hấn với chính mình và người khác. Cho nên quả thật không thể hài lòng về chính mình, về thế giới và công việc để cuối cùng có thể nhận ra không gì có giá trị. Khi cái gì đó tiêu cực xảy ra chúng ta bị trì trệ và gây ra những hệ lụy (dấu vết) thật cá nhân để trở thành gây hấn và tự co cụm lại.

Sự gây hấn quả thật cũng có thể đem lại tác phẫm ngoại hạng, nhưng nghệ thuật như thế sẽ làm ô nhiễm thế giới thay vì xuất sinh cái gì đó tươi mát và lành mạnh. Lòng Tử Tế Nguyên Thủy được so sánh như sự kết hợp của bông hoa dại trên thảm cỏ hoang dã và chính sự tương phản tạo ra nét hài hòa tuyệt vời. Tất cả đều tự cân bằng trong sự táo bạo và mời mọc cái nhìn. Ðó chính là sự kết hợp theo nguyên lý tạo thành phẩm chất của Lòng Tử Tế Nguyên Thủy.

Nó tự đứng vững bằng chính nó không cần thông qua thiền định. Ðứng vững một cách tức thời theo phong thái Lòng Tử Tế Nguyên Thủy đồng với phẩm chất Trời - Ðất - Con người cùng nhau hiện hữu bao gồm sự rộng lượng và lòng dũng cảm. Tất cả nhịp nhàng xoay tròn trong quy luật bốn mùa vận hành tuần tự, làm gợi lại nguyên lý Mandala mà mỗi thành phần tuy khác biệt nhưng đồng vận hành với nhau trong điệu luân vũ vũ trụ, điều này giải thích tại sao tất cả tự hài hòa một cách tốt đẹp. Thế là bắt đầu cảm thấy thoải mái trong sự hiện hữu của Lòng Tử Tế Nguyên Thủy. Vì thế không nên sợ hãi cuộc sống vì nó chưa hề làm chúng ta rơi vào cơn trầm uất mãn tính và trạng thái không ràng buộc tự xuất hiện. Thế là khả năng yêu thích nghệ thuật và những sáng kiến đồng thức dậy trong sự không ràng buộc trung tính (trạng thái không thiên vị) cũng có thể gọi là trạng thái phi nhị nguyên tính hay bất nhị...

Không cần thiết như nhiều người cố gắng thực hiện phong thái không ràng buộc, như cố phóng xuất tình trạng táo bón kinh niên để càng thêm rối loạn tâm thức. Ở đây không giống như phải uống thuốc xổ cho thông đại trường; tất cả trôi chảy tự nhiên thong suốt trong dòng chảy nào đó khi thấu suốt lòng tin trong tinh thần Lòng Tử Tế Nguyên Thủy đầy sáng tạo.

Thường thì không có một tư tưởng nào xuất hiện lúc ban đầu và sự gợi hứng còn đang đến. Không cần quan tâm, thậm chí nếu không có tư tưởng nào dấy lên hay có cảm tưởng sự gợi hứng đang cạn kiệt, chỉ cần nghĩ ngơi trong chốc lát gần như sẵn sàng buông rơi tất cả mọi thứ - Thế là Lòng Tử Tế Nguyên Thủy thức dậy hoàn toàn trong Tâm Thức Nghĩ Ngơi, nhưng đây không có nghĩa nhận định hay lý thuyết đơn thuần triết học mà tự nó thật sự xảy ra cái gì đó trong trạng thái tâm thức, vì Lòng Tử Tế Nguyên Thủy dính liền với tâm rộng lượng (rộng mở) và tình cảm tự tín nhiệm và con đường.

Khi tình cảm biểu lộ làm phát sinh sự hài hòa. Nhưng nếu không có chánh tín chắc chắn sự hài hòa không thể xuất hiện. Thật quá tuyệt vời khi tất cả đều hài hòa và chúng ta cùng làm việc với nó. Nhưng nói rằng tất cả phải được thực hiện, thế là chẳng thể hòa điệu vì khi bị ức chế hay công thức hóa đương nhiên nó rơi trở lại thế giới hình tướng hay chủ nghĩa mô hình (hiện tượng).

Cho nên nhiều ngườI tham dự cuộc hội thảo về sự hài hòa và khi ra khỏi phòng đã mang theo cùng trạng thái. Thật quá buồn thảm. Trong điều kiện này vẫn chưa thể rời xa quan kiến mặt trời lặn với tất cả những gì còn đầy nét nguyên sơ. Như thế có nghĩa không đơn thuần hiểu biết mà cần thực sự sống để có được những trải nghiệm chân chính.

Có nghĩa sự hài hòa cần liên hệ đến tình cảm phong phú hay giàu có (tinh thần rộng mở), như hai mặt đồng tiền - một mặt là sự hài hòa và mặt còn lại là tình cảm như không gian rộng mở. Sự hài hòa thật sự có thể giống như tính cách khiêm tốn của căn nhà Do thái và Nhật bản. Nói chung có thể cho rằng đây là mái ấm Shambala hay mái ấm Mặt Trời Phương Ðông Lớn. Cùng một dạng thức hài hòa có thể ứng dụng rất tốt vào nghệ thuật thưởng thức. Khi sự hài hòa ngự trị trọn vẹn, niềm nội hỉ sẽ tự xuất hiện với lý do thật đơn giản: “ Không còn tranh đấu để cố làm mình tự hiện hữu và đây cũng là dạng thức để sáng tạo cộng đồng tỉnh thức ”.

Chỉ cần hiện hữu với tinh thần hài hòa và tính hiếu kỳ với những điểm vừa đề cập. Vì thế chúng ta sáng tạo cộng đồng tỉnh thức dựa vào nghệ thuật và tâm thức lành mạnh. Ðương nhiên thiền định là sự thực hành có tầm quan trọng lớn lao. Tôi cúi mình nhân danh Trời - Ðất - Con người để nói lên sự thật này.

 

Chương 5  

Thiền Ðịnh Hay Nghệ Thuật Thưởng Thức Khoảng Lặng 

Khoảng lặng = Không còn bị ràng buộc bởi phô diễn và như thế trôi theo thời gian trong tự do không ngăn ngại (Liên tục tính trong khoảng lặng không phô diễn). Như thế có nghĩa tư tưỡng vẫn còn đó nhưng nó không làm cho chúng ta khổ não vì hoang tưởng và không rõ biết phân biện. 

Sự sáng tỏ rõ biết rất quan trọng. Nhất là phải rõ biết chúng ta đang ở ngay tại đây không ở đâu hết. Ngay tại đây một cách tức thời và là một người hoàn toàn bình thường và tầm thường. Hãy nhớ ở đây không đâu hết. Vì thế tại sao không hiện hữu ngay tức khắc mà lại nghĩ đến một thần bí nào ngoài sự thật.

Sự tiếp cận: Nghệ thuật thưởng thức Phật học dính liền với những sự kiện và nghệ sĩ hay nghệ nhân lúc nào cũng chỉ là thực tập viên. Ngay cả vị thầy thật hoàn thiện cũng chỉ tự xem mình như người mới học trò. Thường thì những ai đã dán nhản khuôn mẫu cuối cùng như sự hoàn thiện tuyệt đối (tự cho mình là Phật), sẽ kéo theo cuộc sống buông trôi tùy tiện theo bản năng và trở thành trâng tráo, gây hấn và buông mình theo tri thức lầm lẫn.

Nói đến nghệ thuật có nghĩa nói đến hình tướng cần thiết để có thể dựa vào đó làm việc cũng như thực hành thiền định. Nhưng làm sao có thể biết đâu là hình tướng và thiền định có thể kết hợp như thế nào?. Theo đức Phật, hiển nhiên câu trả lời hình tướng không có thật, cũng như pháp không có thật. Vì thế hình tướng và pháp mới có thể kết hợp với nhau. Như trét phó mát lên bánh mì, chúng ta không thể phân biệt đâu là bánh mì và phó mát. Vì thế cần thiết giử tư tưởng không bị lôi kéo của thức phô diễn để thành công sự tự pha trộn này. Không có ai, thực sự không một ai có thể trở thành nghệ nhân tốt hay nghê sĩ giỏi mà không cần thiết lập quan hệ tư duy về khoảng lặng.

Thiền định (tư duy về khoảng lặng) là muốn nói về Shamatha -Vipashyana chứ không phải nói về những chuyến đi săn hay câu cá trong yên lặng. Ở đây nói đến tọa thiền có nghĩa thưởng thức sự không ràng buộc bởi phô diễn. Tọa thiền là mãnh đất căn bản, là sống trong khoảng lặng thường trực một cách tự nhiên không gượng ép. Nhưng muốn nói gì khi dùng thuật ngữ “ Tọa thiền? ”. Thí dụ, Beethoven, Le Greco hay Mozart những nhạc sĩ tôi thích và tin chắc họ đều sống trong thiền định (thưởng thức khoảng lặng). Tất nhiên họ thiền định theo nghĩa: “ Sống trong tâm thức rỗng lặng - trong trạng thái thưởng thức niềm nội hỉ trước khi bắt tay vào việc sáng tạo ”. Nói cách khác, sẽ không đạt được những gì gọi là có nghĩa khi tất cả những thể hiện đều là thức phô diễn và sự tưởng tượng. Như đi chợ về buông mình trên ghế, ù lì tại bàn ăn để viết kịch bản, quả thật không thể gọi đó là tinh thần nghệ thuật.

Thật sự cần thiết để đi vào trạng thái vô tâm (không tích chứa) theo thuật ngữ Phật học. Từ nền tảng này tình cảm hiện hữu, rộng mở... và cái đang là bắt đầu tự phát triển. Thành ngữ đang là... có thể đúng hơn từ hiện hữu vì có cái gì đó đang liên tục tiếp diễn (liên tục tính, sự thật tiếp tục chuyển động không giới hạn trong hình tướng). Nên cho dù là thiền định hay không, nhưng khi làm bếp hay rửa chén chính là những gì đang xảy ra và truyền thống Phật học gọi điều này là sáng tỏ rõ biết cái đang là...

Sự sáng tỏ rõ biết dẫn đến cái đang là... có nghĩa: “ Thành phần mấu chốt thật dũng mãnh và chính là điều chính yếu cực kỳ quan trọng. Nó thẫm thấu tất cả, cho dù đang làm gì hay cái gì đó xảy ra vẫn không có sự chia chẻ giữa ta và phương tiện biểu lộ hình tướng ”. Thí dụ, ngay giây phút đặt mông ngồi xuống đất, có nghĩa cái đang là hiện diện... chúng ta đang hiện diện ở đây, ngay tại đây. Thực sự hiện diện và sự hiện diện chuyển động từng sát na trong khoảng lặng!. Dạng thức rõ biết sáng tỏ này cực kỳ quan trọng.

Chúng ta ở đây chứ không đâu khác. Ở ngay đây, tại sao không hiện hữu ngay tại đây và tình cảm về cái đang là... hiện hữu hay sáng tỏ rõ biết gọi là kết quả thực hành (hậu thiền định) sẽ đến sau không cần chờ đợi. Trong suốt quá trình thiền định chúng ta không nên bay là đà (nghiện ngập hay sống trong ảo giác). Chỉ đơn giản ngồi, tự đồng hóa mình với hơi thở và không quan tâm. Cần thiết là cắt đứt buộc ràng của những tư tưởng phô diễn. Ðiều quan trọng những gì thực hiện nên có tính cách thủ công, rỏ nét và liên tục trong thực hành hậu thiền định, chúng ta ở đây hoàn toàn rõ nét trong liên tục tính. Hiển lộ ở đây ngay trong hành động chải đầu, ủi áo quần, đi dạo, đi câu.... đều biểu lộ cái đang là... và khi thực hành nghệ thuật chỉ cần thể hiện một dạng thức không nhất thiết phảI thể hiện đủ mọi dạng thức dẫn dụ. Duy nhất là một và một trong sự duy nhất.

Ðơn giản biến những hành động trở thành không vấn đề, không ồn ào, náo nhiệt, đánh trống khua chông hay vỗ ngực xưng tên. Nhất là không cần thiết đấu đá hay tranh cãi với bất kỳ ai, cố tránh những tư tưỡng trở thành giáo chủ hay chúa tể thế giới. Vì đó được xem là hành động của Ma vương ba tuần (Sự tham vọng của thế giới Asura). Hãy hài lòng là chính mình và biểu lộ một cách rất rất giản dị, hồn nhiên đồng thời với thiền định không gây hấn như đứa con ngoan của đức Phật.

Càng thiền định, có nghĩa đang thể hiện tác phẫm riêng mình, có nghĩa đường ranh giữa thiền định và thực hành nghệ thuật, giữa hành động và rộng mở tự động lu mờ. Và đây chính là những gì các nghệ nhân quá khứ đã trải nghiệm sâu sắc. Như thế có nghĩa tư tưỡng vẫn còn đó nhưng nó không làm cho chúng ta khổ não vì hoang tưỡng và không rõ biết phân biện.

Tiếp cận nghệ thuật Phật học không nên bám chắc vào cảm xúc gây hấn vì cho nó là thật và không cần phải diệt bỏ (sát sinh - tiêu diệt bất cứ cái gì). Hay rơi vào cảm thọ sáu giác quan. Tính gây hấn kéo theo sự tranh chấp danh vọng, tiền bạc, so sánh, bất thỏa nguyện, kích động và một đống những sự kiện khác. Khi vắng bặt gây hấn dẫn đến niềm hoan hỉ, sự rộng mở và điệu luân vũ (sự hài hòa) thức dậy trong ta. Ở đây không nói đến niềm vui do hoang tưỡng tất cả đều là tình thương và ánh sáng. Nơi sẽ bơi trong đại dương đầy mật ngọt. Niềm hoan hỉ ở đây (nội hỉ) là niềm vui trọn vẹn xuất phát tự nhiên từ bên trong theo chiều hướng có thể sờ mó và thưởng thức những sự việc

Chúng ta có thể thưỡng thức những bông hoa tuyệt đẹp bên đường trong hài hòa tổng thể, không cần thiết mang chúng về trưng bày trong phòng khách hay phòng ăn... Thế nên cần thiết có một tình cảm thực sự phong phú giàu có tõa ra trong viễn ảnh không gây hấn và vắng bặt tâm chiếm hữu.

Ở những thành phố lớn, nhiều người đi ngắm cửa hàng thường xuyên và cảm thấy đau khổ cự kỳ chỉ vì không thể mua bất cứ thứ gì cho thỏa nguyện. Một số người khác hoàn toàn ngược lại, họ chỉ thích ngắm nhìn những món đồ xinh xắn. Có thể nói đây là sự khác biệt nền tảng giữa mong muốn thỏa mãn và tinh thần thưỡng thức. Và sự gây hấn quả thực thâm căn cố đế và bắt rễ quá sâu vào tâm thức; vì thế sự giận dữ giống như Plasma nóng chảy ở trung tâm quả đất. Nó nóng chảy từ vô thủy và lúc nào cũng chuẩn bị phun trào lên mặt đất (đây là sự mô phỏng tính cách gây hấn để dễ nhận dạng). Thế nên đừng cố tiêu diệt (sát sinh) hay mời mọc những gì gọi là chất liệu tạo thành con đường. Ðó chỉ là hình thức sưu tầm những chất thải, những viên đá, cây cỏ tích chứa tất cả đam mê, gây hấn, vô minh. Cũng có nghĩa, xem như nếu không có chúng sẽ không có con đường.

Thật là vô ích và uổng phí khi xây dựng con đường như xa lộ và cố thực hiện thật bóng láng để bánh xe dễ dàng trượt lên đó. Ðó là sự khác biệt giữa con đường Phật học và con đường mệnh danh chủ nghĩa vật chất Hoa kỳ (Mô hình hoá biểu tượng theo công thức cứng ngắt) và cũng cần biết có rất nhiều dạng thức gây hấn:

- Dạng thức đơm đặt nhiều vấn đề và muốn những điều này được phô bày.

- Dạng thức ganh đua (tâm ganh tị) với những thành công của người khác trong cuộc sống.

- Dạng thức gây hấn tự ám ảnh (tự kỷ ám thị) để cố quên đi bản phác thảo hay phương tiện làm việc, đôi khi đánh mất cả dòng tư tưởng (lạc không).

Hơn nữa, nghệ thuật thường được xem như sự tự phát tiết những ẩn ức hay dồn nén. Thái độ này hoàn toàn sai lầm. Nghệ thuật không thể xem như lối thoát hay phương tiện chỉ để bình ổn tâm lý hay lấy lại thăng bằng:" Tôi không có gì làm vì thế cảm thấy sự trầm uất mơ hồ, thế thì tại sao không thử nắn chiếc bình gốm hay làm một hành động vị nghệ thuật?. Quả là ý kiến hay, tuyệt vời để thư giản! ”. Quả thật tội lỗi khi xem công việc của nghệ nhân với quan niệm như thế. Trong nghệ thuật cần phải nghiêm túc với tinh thần thưởng thức. Nghệ thuật vô tận trong bình thường tính (bình thường tâm thị đạo) và là phương tiện tự diễn đạt đặt nền tảng trên hoàn toàn đơn giản và trực tiếp.

Ðôi khi sự sợ hãi những chướng ngại mãi dấy lên nhưng điều này vẫn không thể ngăn chận bước tiến. Nhưng nếu chờ đợi có cái gì đó xảy ra như tác phẩm cần hình thành theo mốc thời gian hay phải hoàn chỉnh tuyệt đối thường dẫn đến kết quả ngược lại và thất bại hoàn toàn trong nghệ thuật thưởng thức.

Quan sát vai trò tọa thiền trong trực nhận nghệ thuật thưởng thức, phải hiểu thiền định làm chúng ta thay đổi như thế nào về quan hệ với thế giới. Làm sao có thể thay đổi hệ thống thính thị và ngôn ngữ. Phải biết cách ứng xử và làm việc với những giác quan hay cảm xúc được gợi hứng từ nền tảng Phật giáo xa xưa (Tinh thần cổ Phật). Và có thể gọi những điều này là thuộc về Phật tính.

Ðể bắt đầu, điều quan trọng trước tiên đặt trước mặt tờ giấy trắng với ý nghĩa thỏa thuận tự mở rộng và buông xả. Tiếp cận Phật học về nghệ thuật không nhằm làm chủ những bí mật năm gia đình chư Phật, mà chỉ để có được tình cảm rộng mở và quan kiến hoàn toàn tinh sạch. Như thế tài năng nghệ thuật và khái niệm rộng mở trong không gian nhìn ngắm đã sẵn sàng; thật vô ích khi muốn vun trồng hay cố sáng tạo ra cái gì đó. Vì tất cả sẽ xảy ra thật tự nhiên và đơn giản trong khoảng lặng hay trong quan kiến không thiên vị.

Theo Tantra nghệ thuật không chỉ thuần khiết thu hẹp ở tính thẫm mỹ; và là phương thức đơn giản tiếp cận tài năng và trực nhận nghệ thuật như những hiện tượng tự nhiên. Ðiều này nên tập trung trở lại nhiều hơn vào môi trường chung quanh làm nẩy sinh tình cảm tin chắc vào không gian hiện hữu không đòi hỏi điều kiện vì đó là môi trường vô điều kiện hay không thiên vị.

Thế giới đã tự do, thật sự tự do trong tự nhiên. Ðương nhiên, những câu hỏi và sự hoang mang vẫn mãi dấy lên suốt trong cuộc sống. Vẫn đeo đẳng vì niềm tin vào thế giới hiện tượng không tàn lụi, trong khi sự thực giống như tờ giấy trắng hay tấm toan tinh khiết. Từ những do dự có thể thực hiện hành động đầu tiên. Có thể là bức tranh tranh hay bức vẽ thể hiện tinh thần sáng tạo tuy không hoàn chỉnh theo khuôn sáo. Chúng ta đã không ngừng sáng tạo, tái sáng tạo từng giây phút và đi từ hình ảnh vừa sáng tạo để tự hoàn thiện.

Ðiều này dính liền với lòng tin (chánh tín), cần cực kỳ nhạy cảm và tỉnh thức. Ðây là từ đúng nhất đến từ tâm thức là: “ Tỉnh thức ”. Ðồng thời cần thể hiện những sự việc trong sự chín mùi của tâm thức (tính quyết định). Dù sao đi nữa điều này không có nghĩa dùng bản ngã cá nhân can thiệp vào; nên thuần khiết là quả của trải nghiệm và sự gợi hứng trong tinh thần thưởng thức nghệ thuật. Nói chung, chúng ta đầu tư rất nhiều đam mê để mong muốn trở thành nghệ sĩ. Ðương nhiên vấn đề này hoàn toàn bế tắt vì một khi trở thành “ nghệ sĩ ”, chúng ta thường có khuynh hướng biến đổi tự nhiên tính thành quy luật hay giáo điều để tự bảo vệ, phòng thủ lãnh thổ vừa tư hữu (cho rằng mình phát kiến ra chân lý). Tham gia trò chơi này (dựng rào phòng thủ) sẽ chạm vô số vấn đề khó khăn trong giao tiếp với mình và người khác.

Nhiều nghệ sĩ thích tính cách độc đáo. “ Nhưng họ không thể tiếp cận nghệ thuật thưởng thức vì quan niệm cố hữu là một nghệ sĩ nên có vẽ điên điên hay lập dị ”. Nếu làm sáng tỏ quan niệm này; họ sẽ im như thóc để phản đối và cố thủ với vài người bạn chọn lọc kỹ lưỡng cùng điên loạn như nhau; vì không muốn tiếp xúc với ai không tán đồng vẽ ngông nghênh tự đại biểu lộ tính độc tôn của bản ngã. Dạng thức tiếp cận này thường hay gặp và được gọi là chủ nghĩa vật chất tâm linh. Có thể đây cũng là cơ hội để có thể đề cấp đến chủ nghĩa vật chất trong nghệ thuật. Ở nghệ sĩ, sự thiếu kiên nhẫn có thể gây ra nhiều vấn đề vì nó ngăn cản chúng ta nhìn mọi sự như tờ giấy trắng hay tấm toan trước mặt (TTNT hay bạch tịnh thức)...

Có thể hình dung mãnh vải đã được sơn hay vẽ. Khi không còn gì để vẽ hay không còn chất liệu gì khác để sáng tạo, quan kiến nghệ sĩ sẽ hoàn toàn méo mó vì nó không phải là sự thật được mô phỏng; đó chỉ là sự tưởng tượng được miễn cưỡng gợi hứng từ thèm muốn (thế giới ngạ quỷ) của chính mình hay những người thân cận (thế giới tưởng), thành quả đạt được chỉ là những tạp nham bá láp và thành ngữ phân chó đúng nhất trong trường hợp này.

Cũng có thể gọi đây chính là nghệ thuật hung bạo hay nghệ thuật thưởng thức bị hiếp dâm. Các bạn có thể liên hệ đến hình ảnh người nghệ sĩ ngồi vò đầu bức óc để tìm gợi hứng từ ý kiến thô thiển của vài người thân cận, hay từ những tán dương của những ai thích thú và là những chiến hữu. Ngay trong sự hung bạo, cho dù nghệ thuật trình bày theo dạng “ nước sốt Zen ” được pha trộn với vài lát hòa bình nó vẫn tuyệt đối là vô minh. Có thể gọi đây là ma thuật đen, pháp thuật hay tà pháp ngoại đạo dùng để quấy nhiễu con người hơn là giúp họ thoát khổ. Vì thế điều cần thiết là nên thận trọng.

Công cuộc sáng tạo nghệ thuật thưởng thức có thể có rất nhiều hệ lụy. Vì phương tiện diễn tả lúc nào cũng mãnh liệt. Nghệ thuật chứa đựng quyền năng và có tầm quan trọng lạ lùng vì chính nó định đoạt cuộc đời nhiều người với hai khả năng: “ Thực hiện ma thuật đen loè mắt thiên hạ hay sáng tạo tâm thức lành mạnh cơ bản; cho nên cần thận trọng gấp đôi vì nghệ thuật thưởng thức khoảng lặng chỉ cho phép lựa chọn một trong hai vấn đề ”. 

 

Chương 6 

Nghệ Thuật Thưởng Thức Trong Cuộc Sống Hằng Ngày 

Thực hành rõ biết tỉnh thức không chỉ thu gọn hay giới hạn trong thiền định ngồi chết một chổ hoặc đơn thuần trong hành động. Thực hành thực sự là học cách cư xử như một người thuần chất trong tinh thần gợi hứng từ nghệ thuật thưởng thức và đây là những gì được gọi là phẩm chất nghệ sĩ. 

Thực hành rõ biết tỉnh thức được gọi là Vipashyana từ Phạn ngữ đồng nghĩa cần tính nhạy cảm và khéo léo trong tổng thể; vì sự thực hành này cực kỳ tâm lý có thể cung cấp nhiều chất liệu mới lạ trong nghệ thuật thưởng thức khi biết sử dụng những gì sẵn có trong thực tại diễn tiến.

Có thể đã băt đầu làm quen và sờ mó được tâm thức này trong sinh hoạt hằng ngày. Chúng ta quây quần với những kỹ thuật (phương tiện) trải nghiệm tài năng và nghệ thuật thưởng thức để phát huy Chân - Thiện - Mỹ trong cuộc sống. Sự chú ý được giả định là tinh thần, bổn phận và gò bó ngay từ bước đầu tập huấn. Vì thế bắt buộc phải thực hành sự chú ý thật chính xác và rõ ràng. Nhưng trong chú ý nên ít căng thẳng chừng nào tốt chừng nấy... Chúng ta chỉ cần sờ mó trong giới hạn hơi thở và tinh thần tự do (rộng mở). Từ đó sẽ nhận biết ranh giới tối thiểu sự bó buộc cần gìn giử là không còn ranh giới. Những gì được gọi là tỉnh thức rõ biết, đơn giản là biết thưởng thức khoảng lặng (chánh tư duy) và tự nhận biết giới hạn trong khoảng lặng (Trì giới), khi ấy chúng ta tự nhận ra rằng: Quả thực không có gì làm phiền vì thực chất chúng ta chưa hề bị bất cứ giới hạn hay giáo điều nào trói buộc.

Qua thực hành rõ biết tỉnh thức, có thể bắt đầu đơn giản chỉ là biết lắng nghe sự thật từ bên trong hay bên ngoài thế giới hiện tượng. Nhận định được tinh thần nghệ sĩ quả thật quan trọng và hình như rất cần thiết để thể hiện trong giai đoạn này. Nói đến nghệ thuật, có thể chỉ biểu lộ sắc đẹp tự nhiên, ngây ngất về thế giới đang sống hay mĩa mai tính dung tục dưới dạng thức thơ ca, tranh ảnh, âm nhạc... Có thể nói, đây là dạng thức nghệ thuật có chủ tâm theo chiều hướng nào đó để mê hoặc mình và người khác trong chủ thuyết không chính thống. Trước tiên không thể thực hiện cho chính mình vì nó phát sinh để phô bày cho dù người nghệ sĩ có đầy đủ tính chất thẳng thắng hay chân chính. Có thể cho rằng làm thơ chỉ vì thích thế thôi. Nhưng nếu như vậy, tại sao lại viết trên giấy đề ngày tháng và đọc hay ngâm nga khắp cả mọi chốn mọi nơi?.

Tuy vậy, khi phát sinh nhu cầu giao phó công việc nghệ thuật trên giấy bút, vẫn có thể phát kiến khuynh hướng rõ biết về chính mình. “ Nếu tự ý viết ý kiến này, có thể ngẫu nhiên rơi đúng vào ai đó về sau và có thể họ có hướng tư duy về điều tốt ”.

 

Cho dù nghệ sĩ sống trong sự thẳng thắng và chân chính nhưng những va chạm nho nhỏ lúc nào cũng hiện diện. Vì khi tiếp cận nghệ thuật theo quan điểm luận lý học, tất cả trở thành áp bức và mọi người sống trong tinh thần nô lệ và mê tín. Thế nên nhất định không quỵ ngã dưới bẫy rập của tri thức và phơi bày một vài centimét, một phần góc cạnh công việc và đích nhắm không phải tự thỏa mãn bản năng hay phục vụ bản ngã và sự kiêu ngạo. Vì thế cứ thế mà đi, thản nhiên mà đi, đơn giản đi trên con đường không mức đến.

Cũng nên tiếp cận theo lối này có thể bớt hoang mang hơn hay dễ dàng vượt qua mâu thuẫn nội tại. Người nghệ sĩ cần chứng tỏ công việc đang làm và xem như còn thiếu thành tín cho đến khi nào đã thông suốt kỷ luật và sự đào tạo hoàn toàn thuộc về mình và có thể tùy nghi làm hòa với chúng. Chắc chắn nên ứng dụng điều vào tất cả dạng thức thuộc về nghệ thuật thưởng thức. Sự đào tạo và kỷ luật chắc chắn sẽ hấp thụ trọn vẹn; và chúng ta được tất cả một cách hoàn hảo, chỉ cần biết quyết định làm sao để trình bày sự thật diễn tiến cho trong sáng và đầy đủ phẩm chất của Lòng Tử Tế Nguyên Thủy.

Như minh triết truyền thừa của dòng khẩu truyền, người giữ gìn kỹ thuật truyền trao riêng biệt, phải rõ biết những thao tác về uy lực để khẳng định làm thế nào có thể phổ biến cho thế hệ kế tục và mai sau. Nghệ thuật trải nghiệm thiền định (thưởng thức khoảng lặng hay chánh tư duy) có thể được gọi là nghệ thuật chân chính; vì nó không được thiết lập để loan truyền hay triển lãm hoặc quảng bá tinh thần giải thoát đơm đặt. Ngược lại là quá trình liên tục phát triển khi bắt đầu biết thưởng thức môi trường đang sống cho dù tốt hay xấu, thành công hay thất bại, đẹp tuyệt vời hay hoàn toàn ngược lại. Hiểu được như thế, nghệ thuật thưởng thức như khả năng thuộc về cái nhìn trong cá tính duy nhất về sự trải nghiệm thường trực (thường trụ tam bảo).

Tuy nhiên, trong cuộc sống không ngừng lập lại cùng động tác như: đánh răng, chải đầu, chuẩn bị ăn sáng... Nhưng sự lặp lại một cách hiển nhiên từ ngày này qua ngày khác có cái gì đó như là tính cách duy nhất. Tính thân mật tự nhiên tự hình thành trong những thói quen hằng ngày, bao gồm nghệ thuật tính tự đan xen; vì thế nó được gọi là Nghệ Thuật Trong Cuộc Sống Hằng Ngày hay làm thế nào có thể tử tế với đồ vật.

Nhưng để trở thành nghệ sĩ chân chính, một trong những chướng ngại cần vượt qua chính là lòng gây hấn. Chúng ta thường có thái độ tự gây hấn vì cho rằng tất cả đều như nhau và không hề màng đến những khác biệt nếu có. Cuối cùng cho rằng lúc nào cũng có một âm mưu trong thế giới đang sống và tự nói: “ Thật vô ích nếu mãi cố tình dàn xếp những sự việc. Thật vô ích khi chú ý đến những chi tiết. Tất cả chỉ đều như thế và thật đáng chán Bof! ”.  

Ðây là thái độ của những người theo thuyết vô chính phủ, du đảng đường phố hay từ những người tán thành việc tạo dáng vẽ chán chường ngụy trang cho sự rỗng tuếch đầy vô vị. Nhưng thái độ khởi sinh từ tính thô lỗ không thể là chiều hướng nghệ thuật thưởng thức trong cuộc sống. Vì nó đặc trưng cho sự ngu xuẩn (vô minh), vô cùng mù quáng và hoàn toàn gạt bỏ những gì được xem là tế nhị và đầy thú vị của cuộc sống.

Cần phải biết chỉ cần thoáng nhìn tâm gây hấn dù chỉ một phần, chính nó sẽ tự động làm chúng ta đóng băng trong tổ kén. Nó phát sinh nhận định: “ Quả thật vô ích khi tỉ mỉ hay cố gắng lặp lại sự thiết lập quan hệ với từng sự việc ”. Tuy nhiên không bao giờ chúng ta đánh mất khả năng ngắm nhìn hoàn cảnh sáng tỏ, tuy rằng có thể cần phải lặp lại lần thứ hai, thứ ba hay thứ tư...; dù vậy sự gây hấn vẫn cố tình loại bỏ khả năng bền bỉ, chờ đợi (nhẫn nhục) sự thật trải nghiệm cần thiết. Vậy có thể nói một cách không lầm lẫn: “ Gây hấn và thiếu kiên nhẫn là cội nguồn của sự thô lỗ phi nghệ thuật tính ”. Có thể nói: “ Trong trải nghiệm rõ biết tỉnh thức nhờ vào lòng kiên nhẫn, bền bỉ và chờ đợi (Nhẫn nhục Ba la mật) sẽ nhìn ra được bóng dáng kẻ rình rập ”.

Chúng ta từ chối sự mãn nguyện; và chỉ cần chút xíu chú ý để thưởng thức sự trải nghiệm hay bóng dáng của nó, có nghĩa những gì bao bọc tạo thành hào quang sáng chói, như thế đã là biết thưởng thức đỉnh cao nhất của cuộc sống và cách nó tự vận hành. Như thế có nghĩa thực hành rõ biết tỉnh thức không phải chỉ ngồi lì và gọi đó là thiền định hay chỉ đơn giản đi sâu vào hành động. Ngay tại đây, nên xem như đang thực tập ngoại hạng để khám phá làm sao có thể hành xử như một con người có thần cảm (trực nhận) nhạy cảm với thần cảm và cũng chính là ý nghĩa của người nghệ sĩ.

Những nghệ sĩ lựa chọn khuynh hướng tự biểu lộ để trình bày cách sống xuyên qua tác phẩm. Ngược lại, thực hành rõ biết tỉnh thức cho phép tự mở rộng hoàn toàn với tất cả tiềm năng sẵn có và không cần nhiều đến sự gợi hứng. Và thực sự không cần thiết trang bị tận răng những thuật ngữ, sáo ngữ hay những sự khéo léo trong cư xử với đủ mọi dạng thức để sáng tạo những công trình thuộc về nghệ thuật, thi ca, hội họa, âm nhạc...

Có lẽ chỉ cần nói lên trải nghiệm đã nhận được qua thực tế hơn kể lể về nó, vì vui đùa hay phỏng họa cũng thế thôi. Một khi thoát khỏi những vũng nước tù đọng tất nhiên sẽ phóng xuất bằng tất cả dạng thức năng lượng tích cực. Như thử thách lần đầu được tự do, sáng tỏ và có được tài nguyên phong phú, sẽ trực nhận lập tức và việc sáng tạo kế tục không còn đặt thành vấn đề. Nó đến rất tự nhiên và thật đơn giản. Dù vậy, nếu quá dè dặt và mãi cho rằng: “ Tôi không thể làm một bài thơ. Tôi chưa từng viết cũng không thể vẽ vòng tròn hay tôi không thể hát... ”. Tất cả điều này chỉ là sự do dự vì sợ hãi hay không tin vào chính mình (Chánh tín).

Tất cả những điều trên không liên quan gì đến tài năng thể hiện và động cơ nghiệp vụ thực sự không phải là chướng ngại; mà đó là sự tự gây hấn trong tâm lý lúc hành động. Trong cuộc sống hằng ngày cũng thế, thay vì từ khước những gì xảy ra và lấy đó làm lối sống rỗng tuếch (lạc không), có thể chú ý vào những gì tích cực hơn và chuyển hóa thành trạng thái được minh chứng. Ví dụ: Thưởng thức cái đẹp của nghệ thuật từ chiều hướng thuật ngữ tiên nghiệm trở thành thực hành rõ biết tỉnh thức thực sự hay Vipashyana (biến năng lượng tiêu cực thành tích cực còn gọi là chuyển hóa tâm).

Có rất nhiều danh từ dùng để định nghĩa Bồ tát đạo: “ Người khách lớn - con thuyền - chiếc cầu - xa lộ - con đường - núi non - trái đất... Tất cả những tên gọi này đều là những đường nét tương tác với hình ảnh con người ”. Như thế có nghĩa chúng ta có rất nhiều tiềm năng và những tiềm năng này có thể ứng dụng vào bước đầu thực hành thiền định Vipashyana; không cần bắt đầu ở nấc thang cố định hay những gì gọi là vĩ đại hay cao cả. Có thể chúng ta không có nhiều tiền, không có nhiều không gian và sự trải nghiệm sâu sắc, nhưng ít ra có thể mở đầu trên bình diện thực hành; có nghĩa gây cảm ứng với tiềm năng sẵn có để đánh thức Lòng Tử Tế Nguyên Thủy trong khoảng lặng.

Chúng ta có thể bắt đầu với khả năng trải nghiệm Vipashyana, có nghĩa cuộc sống hằng ngày là công việc nghệ thuật hoàn hảo nếu chỉ xem xét nó theo quan điểm không còn tự gây hấn. Khía cạnh này cực kỳ mấu chốt và đơn giản, nhất là để vượt qua sự vụng về và tính thô lỗ. Cần ghi nhớ tính vụng về hay thô lỗ ở đây không có nghĩa dung tục mà nói về tính vụng về, thô lỗ nền tảng trong tính chất thô của hiện tượng.

Sự gây hấn hoàn toàn phi nghệ thuật tính. Khi trạng thái tâm thức không còn gây hấn sẽ phong phú đầy tài nguyên và sự trực nhận tự xuất hiện. Ngược lại, khi giận dữ hay căng thẳng tuy đơn giản chỉ là cơn giận thông thường cũng là những nguyên nhân loại trừ tất cả cơ hội tương tác với những gì hiện hữu trong cuộc sống và thui chột tiềm năng nghệ thuật.

Tất cả sẽ biến mất khi nổi cáu, hay đòi hỏi sự ứng tác phải dấy lên; Nó trở thành những điều vướng mắc khi cố tình vất bỏ ra cửa sổ hay muốn loại trừ những gì gọi là bực bội hay khó chịu. Có thể nhìn một người nổi nóng trở về nhà và không tìm ra phương tiện để phát tiết cơn giận. Thế là bắt đầu quăng bàn đập ghế. Ðây là cách hành động khá thê thảm vắng bặt nghệ thuật tính tối thiểu có thể có. Dù sao đi nữa, cần biết phân biệt giữa cơn giận và lòng gây hấn. Nếu quan hệ được thiết lập bằng cơn giận và được gợi hứng bằng một bài thơ, điều này vẫn giả định hay mô phỏng có tính rộng lượng hay ít ra trong một trình độ rõ biết tỉnh thức nào đó.

Nghệ thuật thưởng thức không có nghĩa giảm thiểu sự sáng tạo những vật dụng đẹp đẻ. Nghệ thuật là tất cả những gì dễ bảo đầy phong phú, nghệ thuật trong cuộc sống hằng ngày chính là trải nghiệm rõ biết tỉnh thức và hành động chuyển hóa sự gây hấn là nguồn gốc tất cả tài năng nghệ thuật có thể mô phỏng được từ vô hình tướng thể hiện thành hình tướng trong sự thật như thế... 

Tư Tưởng Ðến Sau 

Thân thể này -

Ồ thật quí giá,

Và rất khó khăn lập lại biểu tượng này.

Một sự thật chưa từng ai nghĩ đến,

Nắng vàng rơi cả lá cũng vàng ươm.

Thân thể này -

Ồ! điện đền quí giá,

Nơi linh thiêng hiền triết đã từng qua.

Sao cát bụi lại làm hoen ố,

Những diễn phô phủ áo trần ai.

Và huyền thoại phủ lên sự thật,

Thần thoại nào vây kín những bình an.

Tôi và bạn đồng hành nhưng riêng lẽ,

Cùng kinh qua những sự kiện giản đơn.

Cùng sánh bước trên đường không pha trộn,

Chẳng bán mua những câu chuyện diệu kỳ.

Từ sức sống chân thật đầy mật ngọt,

Cùng giử gìn dòng suối mát đời trao.

Không thể tránh đôi khi còn sai bước,

Những ngọt ngào cám dỗ trần gian.

Những chẳng hề hối tiếc với gian nan,

Kể từ lúc nhận ra mình hiện hữu.

Nắm tay nhau cùng nhau dạo bước đồng xanh,

Và cùng sống trong đắng cay trải nghiệm.

Khoảng trời cao rộng mở tấm lòng trao,

Ðồng yên lặng để trang hoàng cho cuộc sống.

 

Chương 7 

Sự Thật Bình Thường 

Người ta thường nghĩ rằng: "Chủ nghĩa biểu tượng bên ngoài là sự thật (chấp tướng) giống như bảng hướng dẫn, chỉ đường và ngay cả tôn giáo cũng có nghĩa như thế. Thực ra không phải vậy, chủ nghĩa biểu tượng lúc nào cũng dính liền với bản thể bên trong và từ đây có thể nhận ra chính hình tướng là biểu tượng lớn nhất đại diện cho tâm thức và có thể xem chủ nghĩa biểu tượng đại diện cho những trải nghiệm sâu sắc của tâm thức ”. 

Thông thường chúng ta không thích nghe giọng mình trên máy ghi âm hoặc nhìn mình trên ảnh, điều này có thể làm mất tự nhiên hay xấu hỗ. Chúng ta cho rằng những bức ảnh ghi lại không được tốt hay thiếu trung thực, nhưng thực sự vì lo sợ người chụp ảnh trực nhận mình qua biểu tượng.

Tuy vậy từ yếu điểm này, cần quan sát thêm một chút về những phản ứng tự vệ vừa nói. Thân xác đại diện hay là bức biếm họa về chính mình hay những sự vật là biểu trưng hình ảnh biếm họa chính nó. Có thể gọi đó là chủ nghĩa biểu tượng đại diện. Nhưng chủ nghĩa biểu tượng tự trải nghiệm không cần hình thức đại diện nào khác ngoài chính nó.

Ví dụ: Khi sáng tạo một biểu tượng thuộc về thị giác, trước tiên nó xuất hiện và những nhận định hay ý nghĩa sẽ đến sau (những giải thích). Ðó chính là những gì nó là... và chỉ đại diện cho chính nó; như khi trang trí căn phòng (điều này đập ngay vào mắt). Sau đó, nhiều người có thể trình bày những cảm tưởng, những quan niệm hay quan kiến về siêu hình học về mô hình trang trí. Như thế có nghĩa sự phô diễn về biểu tượng sẽ đến sau (truyền thuyết sẽ đến sau khi hiện tượng xuất hiện).

Như thế, những gì liên quan và chính chúng ta là biểu tượng đại diện cho tâm thức. Có nghĩa chủ nghĩa biểu tượng đặt nền tảng trên trải nghiệm cá nhân và trực tiếp trong cuộc sống, đau khổ, khoái lạc và những gì còn lại. Trong quan kiến này, chủ nghĩa biểu tượng đại diện cho trạng thái tâm thức không cần minh chứng, vì chính nó đã nói lên tất cả những gì gọi là sự thực.

Ðể bắt đầu, trước khi nhận ra điều gì trên bất cứ chủ đề nào, chúng ta phải có động cơ (motivation); và nếu nhìn toàn thể vụ trụ đơn giản như nhìn một tấm toan trắng, một mảnh gỗ hay đất sét, vậy đâu là những quan hệ với chính mình và tấm toan hay đất sét là những vật thể bất động (làm nền) không có gì gọi là đặc trưng hay tham vọng cá nhân sẽ trở thành bức tranh hay tác phẫm điêu khắc (trung tính). Là con người, chúng ta tin chắc vào những nhận định trên, tin chắc về cách thưởng thức cuộc sống hay trên mô hình tự lãnh hội những trải nghiệm. Nhưng nếu bị bó buộc trong mâu thuẫn: “ Vừa muốn hiểu nhưng đồng thờI muốn tái lập trật tự vũ trụ theo mong ước cuồng vọng ”. Như thế có thể hiểu nền tảng chủ nghĩa biểu tượng theo hai cách: “ Hữu ngã hay vô ngã ”:

- Chủ nghĩa biểu tượng hữu ngã là sự khẳng định liên tục chính mình hiện hữu bất biến, có nghĩa khi biểu tượng hình thành (thế giới vật chất) tất nhiên được xem là hiện hữu và thế giới hiện hữu không hũy hoại (chấp ngã) và là chủ nghĩa danh tướng hay nhất nguyên (cái học bên ngoài).

- Vì thế Phật học nền tảng đề nghị chủ nghĩa vô ngã (không lệ thuộc vào hình thức) hay bất nhị (duy do tâm tạo), có nghĩa chúng ta không hiện hữu trên hình tướng hay không lệ thuộc vào biểu tượng (thân trống rỗng hay thân Kim cang). Quả thật là một cú sốc và tự hỏi: “ Làm sao để vượt qua điều này? ”. Sự thực không cần vượt qua mà ngược lại chỉ cần đi thẳngvào nó.

Gọi là chủ nghĩa vô ngã, có nghĩa nhận định rõ những gì hợp thành (nhân duyên) cuộc sống... sinh, lão, bệnh, tử, hôn nhân, áp phe, giáo dục đều đặt nền tảng trên dạng thức chủ nghĩa biểu tượng (hình tướng). Rất có thể không giống những hình ảnh sống động xuất hiện khi đi vào trạng thái tâm thức huyền bí; nơi những hào quang nhảy múa với biểu tượng ở giữa.

Theo quan điểm vô ngã. Dạng thức trực nhận mô hình được xem như tầm phào, có thể đó là những dấu hiệu cảnh báo chúng ta cần nghĩ ngơi hay dành thời gian uống tách cà phê cho đở trống trải. Có nghĩa không cần thiết lao vào những cuộc phiêu lưu cao ngạo đầy sắc màu, những bùng nổ vũ trụ nơi những luồng sóng muôn màu dồn dập, quán những linh ảnh đầy ảo diệu và sống động hay đi tìm những thông điệp nhiệm mầu. Sự thật tất cả những điều này đối nghịch và ngăn cản sự cảm thông trực tiếp với chủ nghĩa biểu tượng.

Kỷ luật phi hình tướng Phật học không tôn vinh tham vọng về điều này hay khẳng định điều kia. Ðơn giản là cứ bước đi và không cần từ chối Thượng đế. Thực ra điều trước tiên là thử tiếp cận sự thật một cách đơn giản như con rùa di chuyển với chiếc mai nặng nề trên lưng; con bò cái ăn trong bải cỏ xanh và thản nhiên làm rơi vãi những đống phân sau những bước đi tà tà; con bồ câu gây tiếng động riêng biệt “ gruu... gruu... ” sống trên mái nhà cao. Mỗi việc mỗi chỗ và quả không cần thiết để trở thành người vĩ đại hay có chức vị to lớn áp đặt luật lệ buộc người khác tuân thủ. Những sự vật cứ như chúng là... bình thường và đơn giản. Thoáng nhìn sự tiếp cận này có vẻ thật giản đơn, nhưng cực kỳ sâu sắc khi đã có sự trải nghiệm chân chính.

Chủ nghĩa biểu tượng thông thường đến dưới dạng những thông điệp. Ở đây là mối quan hệ đơn giản và bình đẳng: “ Tôi và thế giới của tôi ” và chúng ta có thể quên: Trời, thượng đế - điều này, điều khác - chàng hay nàng... Nếu diễn trình diễn tiến cứ` thế và không có những gì phức tạp xảy ra, có nghĩa không có Người Anh Cả chăn dắt trông chừng trong suốt cuộc sống. Tất cả dạng thức biểu tượng tự biểu lộ theo cách của nó; cho dù tin hay không nhưng biểu tượng sâu đậm, dũng mãnh nhất trong cuộc sống vẫn là sự đau khổ.

Biểu tượng đau khổ rất quan trọng vì đó là sự thực lớn nhất. Những lời phàn nàn được trình bày ở đây không ở trên hay đằng kia; chúng dấy lên ngay ở đây giữa nơi đang sống, hiện hữu ngay trên sự thật đang chuyển động     (vô thường). Chúng ta không bao giờ sống dưới đất hay trên cao; và điều này đã từng làm nhiều người mê mẫn vì tin người Tây Tạng có thể bay bổng!!!. Có một người Anh lớn tuổi kỳ quặc viết cho tôi, ông sẽ tuyên bố vào một ngày đẹp trời nào đó về tham vọng thiết lập phòng thí nghiệm, trong đó những người Tây Tạng sẽ bay bổng sau cửa kính. Và dự án này đã không thành công, quả thật may mắn. Cám ơn thánh thần và ma quỷ!!!.

Có thể nói, đau khổ nền tảng là mãnh đất cực kỳ dũng mãnh hợp thành thái độ căn bản của con người đối diện với chủ nghĩa biểu tượng. Có thể nói chủ nghĩa biểu tượng duy nhất và ngay tức khắc là có thể trải nghiệm đau khổ thực sự. Ðây là thông điệp trực tiếp cảnh báo cho chúng ta đang mãi tìm kiếm đủ dạng thức khoái lạc. Khi công cuộc tìm kiếm khoái lạc đã trở thành vấn đề, điều này có nghĩa hình thành điểm mốc nối liền chúng ta với sự đau khổ.

Ðôi khi, cảm thấy tương đối thoải mái không có lý do gì để than phiền. Nhưng lại muốn thỏa mãn hơn nữa, như xem phim nhưng phim lại quá tồi; thế là quyết định ăn nhà hàng, bửa ăn lại quá dở. Hay ngược lại, phim xuất sắc và bửa ăn thật ngon miệng!. Tuy nhiên tất cả điều này thực sự chỉ là những biểu lộ nền tảng của đau khổ.

Sự đau khổ hiện hữu trong tâm thức cực kỳ mãnh liệt và rất khó biến mất, chúng ta cảm thấy như bị cuộc đời giam hãm không thể thoát khỏi những ràng buộc vào những hệ lụy, thấy mình bị dồn tận cuối chân tường và từ chối nhìn sự thật gầ