Toàn văn bộ Luật này chia làm hai phần,
đề mục
và giải
thích bản
văn.
PHẦN
ÐẦU
LÀ ÐỀ
MỤC
TỨ
PHẦN
GIỚI
BỔN
- Giải
thích
đề
mục của
bộ
Luật
này là phỏng
theo giới
Phạm
võng nghĩa
sớ,
lược
thuật
theo ba lớp
huyền
nghĩa
:
– Giải thích tên gọi.
– Trình bày bản thể.
– Ðịnh liệu vấn
đề giản
đơn.
A.GIẢI THÍCH TÊN GỌI:
Chia làm ba:
-Nói rõ Tứ
phần
giới
bổn.
-Rút ra từ bộ Luật
nào.
-Giải
thích sự
nghĩa
tập yếu.
I. TỨ PHẦN GIỚI BỔN LÀ GÌ?
-Luật
Tứ Phần
Giới
Kinh của
Tỳ-kheo.
Bộ
Luật
này rút ra từ
bộ
luật
Ðàm-vô-đức.
Tiếng
Phạn
gọi
là Ðàm-vô-đức,
Hoa dịch
là Pháp Mật.
Bộ
Luật
này có 4 phần:
-
Phần
thứ
nhất,
thuyết
minh việc
của
Tỳ-kheo.
-
Phần thứ hai, thuyết minh việc của Tỳ-kheo-ni và pháp thọ giới, pháp thuyết giới.
-
Phần
thứ
ba, thuyết
minh các pháp An cư
và
tự tứ...
-
Phần
thứ
tư,
thuyết
minh các pháp phòng xá
và tạp
pháp...
Giới
bổn
này thuộc
phần
thứ
nhất.
Ðức
Như
Lai nhân sự
việc
mà kết
thành giới
kinh.
II. Rút ra từ
bộ
luật
nào?
Rút ra từ
nhiều
bộ
Luật,
trong
đó có thông và biệt.
Thông nghĩa
là tất
cả
đều
gọi
là Luật.
Biệt
chỉ
cho Tăng
kỳ,
Ngũ
phần
v.v... Chúng
được rút ra từ
sự
quan hệ
của
Kinh sách số
mục
mà gọi
tên. Tỳ-ni
hay Tỳ-nại-da,
phiên âm từ
tiếng
Phạn,
Hoa dịch
là Thiện
trị
cũng
dịch
là Ðiều
phục,
hay là Diệt,
gọi
chung là Luật,
luật
là pháp vậy.
Kinh Giới
nhân duyên nói:
Chữ
“Tỳ”
ngôn ngữ
nhà Tần
gọi
là “Khử”,
“Nại-da”
gọi
là “Chơn”,
nghĩa
là loại
bỏ
bao nhiêu cái sai quấy
để
còn lại
cái chơn,
cho nên gọi
là chơn.
Hàng phục
tâm này, chấm
dứt
tâm này, nhẫn
nhục
không
để tâm này sinh khởi,
nên gọi
là chơn.
Hàng phục
là giới,
chấm
dứt
là
định,
nhẫn
là tuệ.
Nêu lên một
pháp là gồm
thâu cả
ba môn Vô lậu
học.
Nếu
không có giới
thiện
thì
định tuệ
không phát khởi.
Giới
pháp này có ba loại:
- Luật
nghi giới,
cũng
gọi
là Ba-la-đề-mộc-xoa
giới.
- Ðịnh
cộng
giới,
cũng
gọi
là Thiền
giới.
- Ðạo
cộng
giới,
cũng
gọi
là Vô lậu
giới.
1) Luật
nghi giới: Luật
là ngăn
ngừa
và
đình
chỉ;
Nghi là hình nghi, nó có khả năng
đình chỉ các việc ác, thể hiện nơi thân gọi là giới, cũng gọi là oai nghi. Oai là thanh bạch
trang nghiêm khả
kính. Nghi là phép tắc
đáng
làm mô phạm,
cũng
gọi
là
điều
ngự,
tức
là hướng
dẫn
tâm làm
điều
lành. Ba-la-đề-mộc-xoa:
Hoa dịch
là bảo
giải
thoát, cũng
dịch
là biệt
biệt
giải
thoát, vì nó có khả
năng
bảo
đảm
hành giả
ra khỏi
biển
sanh tử.
Hơn
nữa,
tùy theo sự
giữ
gìn không phạm
giới
nào
đó thì
ở nơi
đó
có sự
giải
thoát, tức
chỉ
cho 250 học
xứ,
và tùy luật
oai nghi.
2) Ðịnh
cộng
giới:
Ðịnh
là vắng
lặng,
khi vào
định tự
nhiên
điều
phục
tâm thiện,
chận
đứng
các
điều
ác.
3) Ðạo
cộng
giới:
Ðạo
có khả
năng
thông suốt,
sau khi chơn
tâm
được phát khởi,
tự
nó không hủy
phạm,
như
người
chứng
được
sơ
quả,
khi cày
đất thì loài trùng xa
lìa bốn
tấc,
đó
là cái sức
của
Ðạo
cộng
giới.
Hai pháp giới
này chỉ
cho cái dụng
thắng
diệu
trên bản
tâm, chúng có khả năng phát sanh giới,
hơn
nữa
Ðạo,
Ðịnh
và Luật
nghi, cả
ba cùng phát khởi
nên gọi
là cộng.
Tạng
Tỳ-ni
này chính là nói rõ luật
nghi, nhưng
nhiếp
cả
Ðịnh
và Ðạo.
Do công
đức
trì tịnh
giới
nên thiền
định, trí tuệ
mới
phát sanh. Như
vậy,
Luật
nghi là nhân, Ðịnh,
Ðạo
là quả.
Hoặc
do thiền
định
và sức
của
Vô lậu
mà tánh nghiệp,
giá nghiệp
đều
thanh tịnh,
cho nên Mộc-xoa
là quả,
Ðịnh,
Ðạo
là duyên.
Luận
Tát-bà-đa nói: Giới
Ba-la-đề-mộc-xoa
này nếu
Phật
xuất
thế
thì có, Phật
không xuất
thế
thì không, nhưng
Thiền
giới,
Vô lậu
giới
lúc nào cũng
có. Giới
Ba-la-đề-mộc-xoa
từ
nơi
lời
dạy
mà có
được; còn Thiền,
Vô lậu
giới
không từ
nơi
lời
dạy
mà có
được. Cho nên luận
ấy
nói: Giới
Ba-la-đề-mộc-xoa
chỉ
đệ
tử
Phật
mới
có, còn Thiền
giới
thì ngoại
đạo
cũng
có.
Luận
rằng: khả
năng
duy trì Phật
pháp, gồm
cả
bảy
chúng
ở thế
gian,
đạo quả
ba thừa
nối
tiếp
nhau không dứt
đoạn,
đều
dùng Ba-la-đề-mộc-xoa
làm căn
bản.
Thiền
và Vô lậu
giới
thì không vậy.
Do
đó, trong ba giới
nó là hơn
hết.
Luận Thiện kiến
cũng
nói:
Tỳ-ni tạng là mạng sống của Phật pháp. Tỳ-ni tạng có mặt, Phật pháp cũng có mặt. Ðó là lược giải nghĩa tên chung.
Kế
đến tên riêng chỉ
cho luật
Tăng
kỳ,
Ngũ
phần, Tát-bà-đa, Thật
tụng,
Thiện
kiến, kinh Giới
nhân duyên, luận
Tỳ-ni
mẫu v.v... Tại sao lại dùng các bộ Luật này? Xét theo kinh Xá-lợi-phất
hỏi Phật, Ðức Phật tự huyền ký rằng: Sau khi pháp diệt, cháu Vua Thâu-kha (A-dục)
là Phất-sa-mật-đa-la,
một
vị
vua
đức
tính hiền
lương
đã
chấn
hưng
Phật
pháp.
Khi
ấy,
các Tỳ-kheo
tham
đắm
theo danh khen, rất
ưa tranh luận,
sao chép sửa
đổi
giới
luật
của
Như
Lai, thêm bớt
gia giảm.
Ðối
với
những
gì ngài Ca-diếp
kiết
tập,
họ
chia làm từng
phe nhóm riêng, cùng nhau nói phải
nói quấy.
Họ
yêu cầu
nhà vua phán quyết.
Vua tập
họp
hai bộ
lại,
rút thăm.
Số
người
thủ
cựu
nhiều
gọi
là Ma-ha Tăng
kỳ;
số
người
theo chủ
thuyết
mới
thì ít, mà là bậc
Thượng
tọa,
gọi
là Tha-tỳ-la,
tức
Thượng
tọa
bộ.
Về
sau do sự
tranh luận
lại
chia làm nhiều
bộ,
trong thời
gian ba bốn
trăm
năm,
sau khi Phật
diệt
độ,
lần
lượt
phân chia thành nhiều
giáo phái. Như
vậy
truyền
mãi về
sau, phải
có, quấy
có. Ngoài ra chỉ
có 5 bộ,
theo sở
trường
của
mình, dùng sắc
phục
để
nói lên
điều
đó.
a) Bộ
Ma-ha Tăng
kỳ,
siêng học
kinh
điển,
truyền
giảng
chơn
nghĩa,
theo chỗ
ở
của
mình nên mặc
áo màu vàng.
b) Bộ
Ðàm-vô-cúc-đa-ca
(tức
là Ðàm-vô-đức)
thông suốt
ý nghĩa
của
giáo lý, mở
bày hướng
dẫn
việc
lợl
ích, nêu lên
điểm
thù thắng,
nên mặc
áo màu
đỏ.
c) Bộ
Tát-bà-đa,
rỗng
không, mẫn
đạt,
dùng pháp hướng
dẫn
để
giáo hóa, nên mặc
áo màu
đen.
d) Bộ Ca-diếp-di, siêng năng mạnh mẽ, nhiếp h