LUẬT HỌC ĐẠI CƯƠNG
Soạn giả: HT. THÍCH THANH KIỂM
KHÁI QUÁT VỀ LUẬT
HỌC
I. TỰ LUẬN
Ba môn học, Giới
học, Định học và Tuệ học, được gọi là “Tam vô lậu học”. Lậu nghĩa là phiền
não, nương vào Tam học mà đoạn trừ được phiền não, siêu phàm nhập thánh, nên
gọi là “Tam vô lậu học”.
Diệu quả Đại giác
của Phật y vào Tuệ mà thành, nên có thể nói, trí tuệ phát sinh từ ở thiền
định, thiền định phát sinh từ ở giới luật. Muốn cầu được trí tuệ, tất phải tu
thiền định, muốn được thiền định, trước hết phải giữ giới luật. Nếu giới luật
mà khuyết, thiền định sẽ khó thành, thiền định không thành tựu, trí tuệ cũng
không thể do đâu mà phát sinh. Bởi thế, người học Phật chân chính cần phải tu
tập “Tam vô lậu học”.
Ba học Giới,
Định, Tuệ là những nhân tố then chốt nhất của người học Phật, như chiếc đỉnh
ba chân, thiếu một tất không thể đứng vững. Nhưng giới học, hay là giới luật
học, lại là căn bản nhất.
II. GIỚI LUẬT
Giới luật, tiếng
Phạn là Vinaya (Tỳ-ni), dịch là Luật, có nghĩa là pháp luật, pháp cấm chế.
Luật có 3 tên:
1.- Tỳ-ni tức Tỳ
-nại-da (Vinaya), dịch là Luật, hay Điều phục.
2.- Mộc-xoa tức
Ba-la-đề-mộc-xoa (Pràtimoksa), dịch là Biệt giải thoát.
3.- Thi-la (Sila)
dịch là Giới luật, Điều phục, hay Giới, tên có khác nhau, nhưng cùng chung một
thể, vì thế nên có tên ghép là “Giới luật”. Luật cũng giống như pháp luật hiện
nay là những quy giới cưỡng chế, nương vào chỗ phạm giới nặng hay nhẹ mà trị
phạt. Vậy chỗ kết hợp giữa giới và luật là để thuyết minh về lập trường giáo
lý về Luật tôn.
III. PHÂN LOẠI
LUẬT ĐIỂN
Luật điển trong
Tam tạng gồm có các bộ về Tiểu thừa luật và Đại thừa luật. Các bộ luật như
Thập tụng, Tăng kỳ, Tứ phần, Ngũ phần thuộc Tiểu thừa luật; như Du Già, Phạm
Võng thuộc Đại thừa luật.
Lại luật điển
cũng có chia ra hai thứ, giới luật xuất gia và giới luật tại gia. Như các bộ
luật thuộc luật điển Tiểu thừa, phần nhiều thuộc về giới luật xuất gia. Như
Ưu-bà-tắc giới kinh, là giới luật tại gia. Giới luật xuất gia là những giới
luật của Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Sa-di, Sa-di-ni phải tuân trì, tức là giới Cụ
túc, rồi đến Thập giới.
Giới luật tại gia
là những giới luật, nam nữ tại gia thọ trì, như Ngũ giới, Bát giới, Thập thiện
giới. Thông thường, người tại gia không được xem luật điển của người xuất gia,
vì chưa thọ giới xuất gia, không được nghe pháp cấm chế của Tăng Ni.
IV. TIỂU THỪA
LUẬT BỘ
Tiểu thừa luật là
các bộ luật hàng Tiểu thừa thọ trì. Những luật điển này đều thuộc trong Thanh
Văn tạng, gọi là Tiểu thừa luật. Tiểu thừa luật được truyền trì gồm có 5 bộ:
1.- Đàm Vô Đức bộ
truyền luật Tứ phần.
2.- Tát Bà Đa bộ
truyền luật Thập tụng.
3.- Di Sa Tắc bộ
truyền luật Ngũ phần.
4.- Ca Diếp Di bộ
truyền Giải thoát giới.
5.- Ma Ha Tăng Kỳ
bộ truyền luật Tăng kỳ.
Đó là 5 bộ luật
của Tiểu thừa.
Khi Phật còn tại
thế, Ngài đi hoằng hóa khắp nơi chế ra thứ quy giới để ước thúc các hàng đệ
tử, tùy chỗ phạm lỗi mà chế định, đó là khởi nguyên của luật. Sau khi Phật
diệt độ, khi các đệ tử Phật kết tập lần thứ nhất, ngài Ưu Ba Ly Tôn giả, 80
lượt đọc ra tạng Luật, do đó nên có tên gọi là Luật Bát Thập Tụng. Từ đó về
sau khoảng 100 năm, qua sự truyền trì của 5 vị: Ca Diếp (Mahàkàsyapa), Át Nan
(Ananda), Mạt Điền Địa (Madhyàntika), Thương Na Hòa Tu (Sàna vàsa), Ưu Bà Cúc
Đa (Upagupta) đều thuần nhất một vị, chưa phân dị kiến về giới luật. Tới ngài
Ưu Bà Cúc Đa có 5 người đệ tử: 1. Đàm Vô Đức, 2. Tát Bà Đa, 3. Di Sa Tắc, 4.
Ca Diếp Di, 5. Bà Ta Phú La, đều truyền trì luật tạng riêng mà phát sinh thành
5 bộ như trên.
Luật điển về Tiểu
thừa hiện còn được chép trong “Tần Già tạng” gồm có 71 bộ, 496 quyển, luật
điển chủ yếu là các bộ “Tứ phần luật”, “Thập tụng luật”, “Ngũ phần luật”,
“Tăng kỳ luật” và “Giải thoát giới” tức Giải thoát giới kinh; Quảng luật chưa
truyền tới. Ngoài ra còn có “Tát Bà Đa bộ”, sau dịch là “Căn bản Thuyết Nhất
Thiết Hữu bộ Tỳ nại da”, nay cũng nằm trong tạng Tiểu thừa. (1) - Đàm Vô Đức
bộ Quảng luật (Dharmaguptalka) - Tứ phần luật 60 quyển. Diêu Tần Phật Đà Da Xá
và Trúc Phật Niệm cùng dịch. (2) - Tát Bà Đa bộ Quảng luật (Sarvasti-vada) -
Thập tụng luật 61 quyển. Hậu Tần Phật Nhã Đa La và La Thập cùng dịch. (3) - Di
Sa Tắc bộ Quảng luật (Mahisà-saka) - Ngũ phần luật 30 quyển. Lưu Tống Phật Đà
Thập và Đạo Sinh cùng dịch. (4) - Ma Ha Tăng Kỳ bộ Quảng luật (Mahà-sanghika)
40 quyển. Đông Tấn Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển cùng dịch. (5) - Ca Diếp Di
bộ giới bản (Kàsyapiya) - Biệt giải thoát kinh 1 quyển. Nguyên Ngụy Cù Đàm Bát
Nhã Lưu Chi dịch. (6) - Căn bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ nại da
(Mulasarvàtivàda-vinaya) 50 quyển. Đường Nghĩa Tịnh dịch.
Ngoài Tứ phần
luật, Quảng luật ra, còn lưu truyền giới bản của Tăng Ni và Yết-ma gồm 6 bộ
như sau:
- Tứ phần luật
Tỷ-kheo giới bản. 1 quyển. Hậu Tần Phật Đà Da Xá dịch.
- (Biệt hành bản)
Tứ phần Tăng giới bản. 1 quyển. Hậu Tần Phật Đà Da Xá dịch.
- Tứ phần luật
Tỷ-kheo-ni giới bản. 1 quyển. Hậu Tần Phật Đà Da Xá dịch.
- Đàm Vô Đức luật
bộ Tạp Yết-ma. 1 quyển. Tào Ngụy Khang Tăng Khải dịch.
- (Dị dịch bản)
Yết-ma. 1 quyển. Tào Ngụy Đàm Đế dịch.
- Tứ phần
Tỷ-kheo-ni Yết-ma pháp. 1 quyển. Tống Cầu Na Bạt Ma dịch.
Ngoài Thập tụng
luật, Quảng luật ra cũng có quyển giới bản của Tăng Ni và Yết-ma gồm 3 bộ:
- Thập tụng
Tỷ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa giới bản. 1 quyển. Diêu Tần Cưu Ma La Thập dịch.
- Thập tụng
Tỷ-kheo-ni Ba-la-đề-mộc-xoa giới bản. 1 quyển. Tống Pháp Hiển tập.
- Đại Sa-môn Bách
Nhất Yết-ma pháp. 1 quyển. Mất tên người dịch.
Ngoài Ngũ phần
luật, Quảng luật ra cũng có truyền về giới của Tăng Ni và Yết-ma gồm 3 bộ:
- Di Sa Tắc Ngũ
phần giới bản. 1 quyển. Tống Phật Đà Thập và Đạo Sinh dịch.
- Ngũ phần
Tỷ-kheo-ni giới bản. 1 quyển. Lương Minh Huy tập.
- Di Sa Tắc
Yết-ma bản. 1 quyển. Đường Ái Đồng lục.
Ngoài Tăng kỳ
luật, Quảng luật ra cũng có truyền về giới bản của Tăng Ni gồm 2 bộ:
- Ma Ha Tăng Kỳ
Đại Tỷ-kheo giới bản. 1 quyển. Đông Tấn Phật Đà Bạt Đà La dịch.
- Ma Ha Tăng Kỳ
Tỷ-kheo-ni giới bản. 1 quyển. Đông Tấn Pháp Hiển và Giác Hiền cùng dịch.
Duy có Giải thoát
luật chỉ truyền có “Giải thoát giới kinh” 1 quyển, còn Quảng luật và Yết-ma
đều chưa truyền tới. Ngoài Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ-nại-da Quảng luật ra
cũng còn truyền các bộ về giới bản của Tăng Ni và Yết-ma như sau:
- Căn bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu bộ Bí-sô-ni Tỳ-nại-da (Ni quảng luật). 20 quyển. Đường Nghĩa
Tịnh dịch.
- Căn bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu bộ giới kinh (Tăng giới bản). 1 quyển. Đường Nghĩa Tịnh dịch.
- Căn bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu bộ Bí-sô-ni giới kinh (Ni giới bản). 1 quyển. Đường Nghĩa Tịnh
dịch.
- Căn bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu bộ Bách nhất Yết-ma (Yết-ma). 10 quyển. Đường Nghĩa Tịnh dịch.
- Căn bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự (Yết-ma). 40 quyển. Đường Nghĩa Tịnh dịch.
Ngoài các bộ
Quảng luật kể trên, các Tổ y vào luật để tạo luận, còn có 5 bộ luận như sau:
1- Tỳ-ni mẫu luận
kinh, 8 quyển. (Thất dịch).
2- Ma Đắc Lặc Già
luận, gọi đầy đủ là Tát Bà Đa bộ Tỳ-ni Ma Đắc Lặc Già, 10 quyển. Lưu Tống Tăng
Già Bạt Ma dịch, 2 bộ luận nay y ở luật bộ Tất Bà Đa.
3- Thiện kiến
luận, vốn gọi là Thiện kiến luật Tỳ Bà Sa 18 quyển. Tiêu Tề Tăng Già Bạt Ma
dịch.
4- Tát Bà Đa
luận, vốn gọi là “Tát Bà Đa Tỳ-ni Tỳ-bà-sa, 9 quyển, mất tên người dịch. Luận
này giải thích luật Thập tụng.
5- Minh Liễu
luận, vốn gọi là “Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu luận”, 1 quyển, Tần Chân Đế
dịch. Luận này giải thích giới - luật thuộc Chính lượng bộ.
Trong các bộ
luật, luật điển được lưu hành rộng rãi nhất là Tứ phần luật do Phật Đà Da Xá
và Trúc Phật Niệm phiên dịch, từ đời Đông Tấn. Hoằng truyền và giảng tập luật
này đầu tiên là Pháp Thông luật sư (Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế, 471-499). Pháp Thông
truyền cho đệ tử là Đạo Phú luật sư. Đạo Phú truyền cho Tuệ Quang luật sư, rồi
đến Trí Thủ luật sư, đều soạn chú sớ để hoằng truyền Tứ phần luật. Tiếp đến
Nam Sơn Đạo Tuyên luật sư (596-666), Ngài căn cứ vào nghĩa Đại thừa để giải
thích luật Tứ phần trước tác các phần sớ, thích để thành lập Tứ phần luật tôn
gọi là “Nam Sơn Tôn”. Lại cũng ở thời ấy còn có Pháp Lệ luật sư, sáng lập
“Tướng Bộ Tôn” và Hoài Tố luật sư (625-698) sáng lập “Đông Tháp Tôn”. Các luật
sư này đều y cứ vào Tứ phần luật làm các sớ thích, cùng với Nam Sơn Đạo Tuyên
luật sư, đều hoằng truyền 3 tông luật. Ba tông này, chỉ có Nam Sơn Tôn là đời
đời hoằng truyền không dứt, vẫn thịnh hành mãi tới hiện nay. Vì sự hoằng
truyền Tứ phần luật rất rộng, nên các chú sớ về luật Tứ phần từ xưa tới nay,
cũng rất nhiều. Nay tóm lược những chú sớ chủ yếu như sau:
- Tứ phần luật
sớ, 6 quyển. Đạo Phú soạn.
- Tứ phần luật
sớ, 4 quyển. Tuệ Quang soạn.
- Tứ phần luật
sớ, 20 quyển (hiện còn quyển 9). Đường Trí Thủ soạn.
- Tứ phần luật
Ngũ Đại Bộ sớ sao (Hành sự sao, Giới sớ, Nghiệp sớ, Thập Tỳ-ni nghĩa sao,
Tỷ-kheo-ni sao), 38 quyển. Đường Đạo Tuyên soạn.
- Tứ phần luật
sớ, 20 quyển. Đường Pháp Lệ soạn.
V. ĐẠI THỪA LUẬT BỘ
Đại thừa luật, vì
là luật của hàng Đại thừa thọ trì thuộc Bồ-tát tạng, nên gọi là Đại thừa luật
bộ. Giới luật chủ yếu trong Đại thừa luật là “Phạm Võng giới” và “Du Già
giới”. Thông thường ngày nay gọi là Bồ-tát Tăng giới. Giới Phạm Võng, y vào
kinh Phạm Võng mà lập thành 10 giới trọng và 48 giới khinh. Giới Du Già, y vào
Bồ-tát giới bản, thành lập 4 giới trọng và 41 giới khinh. Lại kinh Phạm Võng
thuộc Tính Tôn, nên lại gọi là “Đại thừa Tính Tôn giới”. Bồ-tát giới bản thuộc
Tướng Tôn, nên lại gọi là “Đại thừa Tướng Tôn giới”. Hai thứ giới luật Đại
thừa này hoằng truyền rất thịnh hành ở Trung Quốc.
Kinh Phạm Võng
gọi đầy đủ có tên là “Phạm Võng Kinh Lô Xá Na Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới
Phẩm”. Các chú sớ có 4 bộ trọng yếu như sau:
- Phạm Võng kinh
bản sớ, 6 quyển. Đường Pháp Tạng soạn.
- Phạm Võng kinh
cổ tích ký, 6 quyển. Đường Thái Hiền tập.
- Phạm Võng kinh
nghĩa sớ phát ẩn, 5 quyển. Tùy Trí Giả sớ. Minh Châu Hoằng phát ẩn.
- Phạm Võng kinh
hợp chú, 7 quyển. Minh Trí Húc chú.
“Bồ-tát giới bản”
là phần lưu hành riêng biệt của Bồ-tát địa giới phẩm trong Du-già-sư-địa luận.
“Bồ-tát địa trì kinh” và “Bồ-tát thiện giới kinh” lại đều là những bản dịch
riêng của “Bồ-tát địa”. Nên trong 2 kinh này đều có một phẩm của “giới phẩm”
này. Nay chỉ có lưu hành riêng rẽ “giới phẩm” trong “Địa trì kinh” và “Du-già
luận” tức là “Bồ-tát giới bản kinh” và “Bồ-tát giới bản”. Nay tóm lược những
chú sớ lưu hành chủ yếu như sau:
- Bồ-tát giới bản
kinh (một phần trong Địa trì kinh), 1 quyển. Bắc Lương Đàm Vô Sấm dịch.
- Bồ-tát giới bản
kinh tiên yếu, 1 quyển. Minh Trí Húc tiên yếu.
- Bồ-tát giới bản
(một phần trong Du-già luận), 1 quyển. Đường Huyền Trang dịch.
- Bồ-tát giới bản
ký, 1 quyển. Đường Đạo Luân ký.
- Bồ-tát giới
Yết-ma văn, 1 quyển. Đường Huyền Trang dịch.
- Bồ-tát giới
Yết-ma văn thích, 1 quyển. Minh Trí Húc thuật.
Ngoài ra còn có
“Ưu-bà-tắc giới” và “Thập thiện giới”, là giới Đại thừa của chúng tại gia thọ
trì, có các luật điển như sau:
- Ưu-bà-tắc giới
kinh, 7 quyển. Bắc Lương Đàm Vô Sấm dịch.
- Thập thiện
nghiệp đạo kinh, 1 kinh. Đường Thực Xoa Nan Đà dịch.
- Thọ Thập thiện
giới kinh, 1 quyển. Mất tên người dịch.
VI. LUẬT
TẠNG (VINAYA-PITAKA)
(Trong kinh
điển tiếng Pàli).
Luật tạng Pàli
chia thành 3 bộ phận:
1. Kinh
Phân biệt (Suttavibhanga) giải
thích về các giới điều của Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni, chia thành 2 bộ phận là Đại
phân biệt và Tỷ-kheo-ni phân biệt.
1- Đại phân
biệt (Bhikkhu-vibhanga). - Chú
thích Tỷ-kheo giới kinh, tức giải thích về 227 giới điều của Tỷ-kheo.
2- Tỷ-kheo-ni
phân biệt (Bhikkhuni-vibhanga). -
Chú thích Tỷ-kheo-ni giới kinh, tức giải thích về 311 giới điều của
Tỷ-kheo-ni.
2. Kiền-độ
(Khandhaka). - Phần bổ khuyết
của kinh Phân biệt, bao quát các điều hạn quyết định về sinh hoạt của Tăng
già, lại chia thành 2 bộ phận:
A. ĐẠI PHẨM
(Mahavagga), gồm 10 thiên, tức 10 Kiền-độ:
1- Đại Kiền-độ
(Mahakhandhaka) (thọ giới)
2- Bồ-tát
Kiền-độ (Uposatha - K.)
3- Nhập vũ an cư
Kiền-độ (Vassupanayika - K.)
4- Tự tứ Kiền-độ
(Pavarana - K.)
5- Bì cách
Kiền-độ (Camma - K.)
6- Dược Kiền-độ
(Bhasajja - K.)
7- Ca-hi-na-y
Kiền-độ (Kathina - K.)
8- Y Kiền-độ
(Cirara - K.)
9- Chiêm-ba
Kiền-độ (Campeyya - K.)
10- Câu-thiểm-di
Kiền-độ (Kosamba - K.)
B. TIỂU PHẨM
(Cullavagga), gồm 12 thiên, tức 12 Kiền-độ:
1- Yết-ma
Kiền-độ (Kamma-khandhaka)
2- Biệt trụ
Kiền-độ (Pàsivâsika - K.)
3- Phú tàng
Kiền-độ (Samuccaya - K.)
4- Diệt tránh
Kiền-độ (Samatha - K.)
5- Tạp sự
Kiền-độ (Khuddavatthu - K.)
6- Phòng xá
Kiền-độ (Senàsana - K.)
7- Phá Tăng
Kiền-độ (Samghabhedaka - K.)
8- Oai nghi
Kiền-độ (Vatta - K.)
9- Giá Bồ-tát
Kiền-độ (Patimakhathapana - K.)
10- Tỷ-kheo-ni
Kiền-độ (Bhikkani - K.)
11- Ngũ bách
nhân Kiền-độ (Pancasatika - K.)
12- Thất bách
nhân Kiền-độ (Sattasatika - K.)
C.
PHỤ TÙY (Parivara), gồm có
19 chương, là những điều văn huấn giới có quan hệ về giới luật ở 2 bộ phận
trên.
VII. BẢNG SO SÁNH
Các giới điều
(Ba-la-đề-mộc-xoa) Tỷ-kheo giới và Tỷ -kheo-ni giới kinh trong các bộ luật
Pàli, Tứ phần, Thập tụng, Ngũ phần, Tăng kỳ và Căn bản Thuyết Nhất Thiết Hữu
bộ như sau:
(Coi tiếp biểu
đồ trang sau)
GIÁO NGHĨA CỦA
TIỂU THỪA
LUẬT BỘ VÀ ĐẠI THỪA LUẬT BỘ
I. GIÁO
NGHĨA TIỂU THỪA LUẬT BỘ
Luật bộ lấy Luật
tạng làm sở y, nên gọi là Luật. Khi Đức Phật còn tại thế, nhân những sự việc
đã xảy ra mà chế giới, tùy cơ duyên mà giảng dạy. Sau khi Phật diệt độ, ngài
Ưu Ba Ly kết tập Luật tạng. Sau đó 100 năm, luật lại lần lượt chia ra nhiều
bộ. Các bộ luật truyền tới Trung Quốc gồm có 4 bộ:
1.- Tát Bà Đa bộ
tức luật Thập tụng
2.- Đàm Vô Đức bộ
tức luật Tứ phần
3.- Ma Ha Tăng Kỳ
bộ tức luật Tăng kỳ
4.- Di Sa Tắc bộ
tức luật Ngũ phần.
Giáo nghĩa của
giới luật không ngoài điều “Chỉ ác” và “Tu thiện”, hoặc gọi là “Chỉ trì” và
“Tác trì”.
Chỉ trì là môn
chỉ ác, tác trì là môn tu thiện. Trong môn chỉ trì lại chia ra Tăng Ni 2 giới.
Hai thứ Chỉ trì và Tác trì này bao trùm hết thảy giới luật của 4 bộ kể trên.
Nay đem phân loại theo nội dung đó như sau:
Ngoài ra còn các
bộ đại trước tác của Đạo Tuyên luật sư để khai triển về luật học cũng nằm
trong 2 môn Chỉ trì và Tác trì này. Vì Ngài nương theo giáo nghĩa của Tứ phần
luật làm căn bản. Trong luật Tứ phần có chia ra 4 bộ phận:
Phần đầu nói về
giới pháp của Tỷ-kheo, phần 2 nói về giới pháp của Tỷ-kheo-ni, 2 phần này
thuộc về “Chỉ trì môn”.
Phần 3 và phần 4
nói về các pháp an cư, tự tứ, gồm 20 Kiền-độ (thiên), 2 phần này thuộc về “Tác
trì môn”. Nên:
1.- Tứ Phần luật
hành sự sao, 3 quyển, thuyết minh về pháp hành trì giới luật hằng ngày của
Tăng già, thì quyển thượng, quyển hạ thuộc “Tác trì môn”, quyển trung thuộc
“Chỉ trì môn”.
2.- Tứ Phần luật
Yết-ma sớ, 4 quyển, giải thích về nghi thức tác pháp thọ giới, kết giới v.v...
thuộc “Tác trì môn”.
3.- Tứ Phần luật
giới bản sớ, 4 quyển, giải rõ về bản thể của giới, thuộc “Chỉ trì môn”.
4.- Thập Tỳ-ni
nghĩa sao, 3 quyển, đều nương vào “Chỉ trì môn” mà soạn ra.
5.- Tỷ-kheo-ni
sao, 3 quyển, giải thuyết về cả hai môn “Chỉ trì” và “Tác trì”.
II.
GIÁO NGHĨA CỦA ĐẠI THỪA LUẬT BỘ
1.- Khái thuyết
về giáo nghĩa của “Phạm Võng Bồ-tát giới kinh". Kinh Phạm Võng nói đủ là “Phạm
Võng kinh Lô-xá-na Phật thuyết Bồ-tát tâm địa giới phẩm đệ thập”. Kinh này
chia thành 2 quyển, thượng và hạ. Ngài Tăng Triệu pháp sư, trong Tứ Thánh (Đạo
Sinh, Tăng Triệu, Đạo Dong, Tăng Duệ), môn hạ của La Thập Tam Tạng, có viết
lời tựa kinh Phạm Võng. Nếu y vào lời tựa này thì Phạn bản của kinh Phạm Võng,
nguyên lai gồm có 120 quyển, trong đó có 61 phẩm, ngài La Thập chỉ mới phiên
dịch một phẩm “Tâm địa giới phẩm” lại chia ra 2 quyển, thượng và hạ.
Quyển thượng
thuyết minh về hàng vị của các Bồ-tát: Thập Phát Thú (Thập trụ), Thập Trưởng
Dưỡng (Thập hành), Thập Kim Cương (Thập hồi hướng) và Thập Địa. Quyển hạ nói
rõ về 10 giới trọng và 48 giới khinh.
Nương vào kinh
Phạm Võng của La Thập Tam Tạng đã dịch, các ngài Đạo Dong, Đạo Ảnh gồm 300
người đều y vào La Thập Tam Tạng để thọ giới Bồ-tát của Phạm Võng. Đó là giới
pháp của Phạm Võng được truyền thọ đầu tiên ở Trung Quốc. Những người đã được
thọ giới, hàng ngày thường đọc tụng các giới “Thập trọng và Tứ thập bát kinh
giới”, thực hành rất nghiêm khắc, nên mới rút ra những bộ phận nói về “Thập
trọng giới và Tứ thập bát khinh giới”, từ phần kệ tụng của Phật Lô Xá Na nói
cho tới cuối bài kệ ở quyển hạ, biến thành một quyển riêng, gọi là “Bồ-tát
giới kinh” hay “Bồ-tát giới bản”.
Căn cứ theo
“Bồ-tát giới kinh nghĩa lý” 2 quyển của Thiên Thai Trí Giả đại sư, thời kinh
Phạm Võng thuộc Nhất thừa giáo theo giáo phán và là phần giới thọ trì cộng
thông cho cả hai hàng xuất gia và tại gia.
Giáo nghĩa cũng
khác nhau giữa Tiểu thừa Thanh văn giới và Phạm Võng Bồ-tát giới. Có mấy điều
chủ yếu:
Thứ nhất, Tiểu
thừa giới là “Ngũ thiên thất tụ”, Phạm Võng giới là “Nhị thiên tam tụ”. Biểu
đồ khái yếu như sau:
1. TIỂU THỪA 5
THIÊN 7 TỤ:
GHI CHÚ:
Năm Thiên là nương ở chỗ nặng nhẹ
của tội quả. Bảy Tụ là những loại tụ căn cứ ở tội tính và nguyên nhân của tội.
Thâu-lan-giá gọi là Phương tiện tội (tức nhân tội) của Ba-la-di và Tăng tàn.
Ác tác là tội phạm về thân. Ác thuyết là tội phạm về khẩu.
2. ĐẠI THỪA 2 THIÊN
3 TỤ:
Liệt kê các tên
giới của 10 giới trọng và 48 giới khinh như sau:
-
10 GIỚI TRỌNG:
1.- Giới sát
sinh.
2.- Giới trộm
cướp.
3.- Giới dâm.
4.- Giới vọng
ngữ.
5.- Giới bán
rượu.
6.- Giới nói lỗi
tứ chúng.
7.- Giới khen
mình chê người.
8.- Giới sẻn
tiếc mắng đuổi.
9.- Giới tâm sân
không nhận hối lỗi.
10.- Giới hủy
báng Tam bảo.
- 48 GIỚI KHINH:
1.- Giới không
kính thầy bạn.
2.- Giới uống
rượu.
3.- Giới ăn
thịt.
4.- Giới ăn ngũ
tân.
5.- Giới không
dạy người sám hối.
6.- Giới không
cung cấp thính pháp.
7.- Giới lười
không nghe pháp.
8.- Giới trái
Đại thừa hướng Tiểu thừa.
9.- Giới không
chán bệnh.
10.- Giới chứa
dụng cụ sát sinh.
11.- Giới đi sứ.
A-12.- Giới buôn
bán.
13.- Giới hủy
báng.
14.- Giới phóng
hỏa.
15.- Giới dạy
giáo lý cạn hẹp.
16.- Giới vì lợi
nói pháp không thứ lớp.
17.- Giới cậy
thế cầu xin.
0-18.- Giới không
hiểu làm thầy.
19.- Giới nói
lưỡi hai chiều.
20.- Giới không
phóng sinh cứu sinh.
21.- Giới sân
đánh trả thù.
22.- Giới kiêu
mạn không thính pháp.
23.- Giới kiêu
mạn sẻn pháp.
24.- Giới không
tập học Đại thừa.
25.- Giới không
khéo hòa chúng.
0-26.- Giới thọ
lợi dưỡng riêng.
A-27.- Giới thọ
biệt thỉnh.
28.- Giới biệt
thỉnh Tăng.
29.- Giới tà
mệnh tự sống.
30.- Giới không
kính thời tốt.
31.- Giới không
cứu chuộc.
32.- Giới tổn
hại chúng sinh.
A-33.- Giới tà
nghiệp nghe xem.
34.- Giới tạm
nghĩ Tiểu thừa.
35.- Giới không
phát nguyện.
36.- Giới không
phát thệ.
37.- Giới vào
chỗ hiểm nạn.
38.- Giới trái
tôn ti thứ tự.
39.- Giới không
tu phước tuệ.
0-40.- Giới lựa
chọn thọ giới.
0-41.- Giới vì
lợi làm thầy.
42.- Giới vì
người ác thuyết giới.
A-43.- Giới không
thẹn nhận thí.
44.- Giới không
cúng dường kinh điển.
45.- Giới không
giáo hóa chúng sinh.
46.- Giới thuyết
pháp không như pháp.
47.- Giới chế
hạn phi pháp.
A-48.- Giới phá
pháp.
GHI CHÚ:
Tam tụ tịnh giới và 10 giới trọng
là giới pháp cộng thông cho cả hai hàng tại gia và xuất gia. Trong 48 giới
khinh, 5 giới có phụ thêm “0” là những giới chế cho Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni. 5
giới có phụ thêm “A” là những giới chỉ chế đối với người xuất gia.
Thứ hai, trần
thuật về “Tiệm chế” và “Đốn chế” của hai giới Đại thừa, Tiểu thừa cùng trái
nhau. 250 giới của Tiểu thừa được chế định theo thứ lớp ở nơi phạm lỗi của các
đệ tử Phật, từ lúc Phật sơ chuyển pháp luân ở Lộc Dã Uyển cho tới khi Phật
nhập Niết bàn nơi Sa la Song thọ. Giới Phạm Võng, Phật Lô Xá Na vì Biện Hải
Vương và Vương tử mà kết thành luôn 58 giới. Nên giới Tiểu thừa là Tiệm chế,
còn giới Đại thừa thuộc Đốn chế.
Tiểu thừa giới 4
Ba-la-di, Phạm Võng giới lại nói 10 Ba-la-di. Lại, giới Tiểu thừa nói Dâm,
Đạo, Sát, Vọng theo thứ lớp, giới Phạm Võng nói Sát, Đạo, Dâm, Vọng theo thứ
lớp. Ở Tiểu thừa, giới Dâm để thứ nhất, vì việc dâm dục người nào cũng khó giữ
và dễ phạm, đã phạm thời không thoát khỏi sinh tử, nên giới Dâm để đầu là
trọng chế. Nhưng ở giới Phạm Võng, giới sát sinh trở nên Tính tội, nên trọng
chế để ở hàng đầu. Lại, chỗ chế của Tiểu thừa giới chỉ hạn chế ở hai nghiệp
thân, khẩu; Phạm Võng giới thì thông cả ba nghiệp thân, khẩu, ý. Lại, ở giới
Tiểu thừa phán ở tội khinh, giới Phạm Võng lại phán ở tội trọng. Như lấy trộm
của Phật nơi chùa tháp, ở Tiểu thừa cho là tội khinh nhưng ở Đại thừa lại là
trọng tội.
GIÁO ĐOÀN PHẬT GIÁO
I. Ý NGHĨA GIÁO
ĐOÀN
Thuật ngữ của
Giáo đoàn Phật giáo gọi là Tăng-già (Sangha), dịch là hòa hợp chúng. Chúng có
nghĩa là đoàn thể hòa hợp, đoàn thể tự trị. Nên Tăng-già có ý nghĩa đoàn thể
tự trị. Tối thiểu từ 4 người trở lên đều là hòa hợp chúng mới gọi là Tăng-già,
gọi tắt là Tăng. Từ 3 người trở xuống không được gọi là Tăng mà gọi là Quần
(Gana). Đức Thích Tôn sau khi thành đạo, “Sơ chuyển pháp luân”, Ngài nói pháp
Tứ đế ở vườn Lộc Dã (Mâgadeva) thuộc nước Ba La Nại Tư (Vàrànasè) độ 5 người
đệ tử đầu tiên là A Nhã Kiều Trần Như (Ajnõata-Kaudinya), A Thấp Bà
(Asùvajit), Bạt Đề (Bhadrika), Ma Ha Nam (Màhànàman) và Thập Lực Ca Diếp
(Dàshada-Kàsypa). Ngôi Tam Bảo bắt đầu có từ đây.
Cũng ở Lộc Dã
Uyển, Đức Phật còn độ cho Da Xá (Yassa) và song thân của ông làm tại gia Phật
tử. Bên nam gọi là Ưu-bà-tắc, bên nữ gọi là Ưu-bà-di, hai chúng tại gia Phật
tử có từ đây. Phật cũng còn độ cho thân hữu của Da Xá làm đệ tử gồm 50 người.
Đức Phật và 5
Tỷ-kheo đi hóa độ các nơi. Ngài đi về phía nước Ma Kiệt Đà (Magadha), đã độ
cho 3 anh em Ca Diếp, trưởng huynh là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp
(Uruvilvà-Kàsyapa), thứ huynh, Na Đề Ca Diếp (Nani-K.), em út, Già Da Ca Diếp
(Gigà-Kàsyapa), đều thuộc Bà La Môn giáo, theo Phật làm đệ tử. Các ông này còn
có 1000 người đồ đệ cũng đều được Phật hóa độ. Giáo đoàn của Đức Phật ngày một
lớn mạnh.
Khi ở Vương Xá
thành (Ràlagaha), thủ phủ nước Ma Kiệt Đà ở nơi Trúc Lâm tinh xá
(Venuvana-Vihàra) do vua Tần Tỳ Xa La (Bimbisàra) sai trưởng giả Ca Lan Đà
(Karanda) xây cất, Đức Phật đã độ cho 3 ông cũng thuộc Bà La Môn giáo là Xá
Lợi Phất (Sàriputra), Mục Kiền Liên (Mauâralyàyana) và Đại Ca Diếp
(Mahàkasyapa). Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên có 250 đệ tử cũng đều xin theo
Phật làm đệ tử. Đến lúc này đệ tử của Đức Phật có 1.250 người, thường thường
đi theo Phật giáo hóa. Trong kinh điển thường nói: “Đại Tỷ kheo chúng thiên
nhị bách ngũ thập nhân”.
Khi trở về thăm
bệnh phụ vương, Đức Phật còn giáo hóa cho cả vua Tịnh Phạn và các hàng vương
tử. Trong các hàng vương tử, có chính con của Ngài là La Hầu La (Rahula),
người em khác mẹ là Nan Đà (Nanda), em họ là A Nan Đà (Ànanda), Đề Bà Đạt Đa
(Devadatta), A Nâu Lâu Đà (Anurudha), đều được Phật độ làm đệ tử. Phật thành
đạo được 5 năm thì phụ vương mất, kế mẫu của Phật là Ba Xà Ba Đề (Pralàpati)
và công chúa Da Du Đà La (Yasoddharà) cũng được Phật độ cho xuất gia làm
Tỷ-kheo-ni. Đó là lần đầu tiên mà bên nữ giới được Phật độ vào hàng đệ tử xuất
gia. Đến đây, giáo đoàn của Phật đã gồm đủ tứ chúng, hai chúng xuất gia:
Tỷ-kheo (Tăng đoàn) và Tỷ-kheo-ni (Ni đoàn), hai chúng tại gia là Ưu-bà-tắc
(nam giới) và Ưu-bà-di (nữ giới).
II. THÀNH
PHẦN CỦA GIÁO ĐOÀN
Giáo đoàn của
Phật giáo gọi là Tăng-già, thành phần tổ chức của Tăng-già là đoàn thể tôn
giáo. Đức Thích Tôn còn tại thế, phương thức đoàn thể tôn giáo cũng đã được
chế định. Những pháp quy của đoàn thể Tăng-già gọi là Luật tạng, quy định về
cách tổ chức và sinh hoạt. Thành phần của đoàn thể Tăng-già gồm có 7 chúng
xuất gia và tại gia:
1. Tỷ-kheo
(Bhiksu). - Phái nam xuất gia từ 20 tuổi trở lên đã thọ giới Cụ túc.
2. Tỷ-kheo-ni
(Bhiksuni). - Phái nữ xuất gia từ 20 tuổi trở lên đã thọ giới Cụ túc.
3. Sa-di
(Sràmanera). - Phái nam xuất gia đã thọ 10 giới.
4. Sa-di-ni
(Sràmaneri). - Phái nữ xuất gia đã thọ 10 giới.
5. Thức-xoa-ma-na
(Sikkhamàna). - Phái nữ xuất gia phải 2 năm học “lục pháp” đã thọ và học giới
để chuẩn bị thọ giới Tỷ-kheo-ni.
6. Ưu-bà-tắc
(Upàsaka). - Phật giáo đồ phái nam.
7. Ưu-bà-di
(Upàsika). - Phật giáo đồ phái nữ.
Trong 7 chúng, 5
chúng trên thuộc chúng xuất gia, 2 chúng sau thuộc chúng tại gia.
Về đoàn thể
Tăng-già có nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nên Tăng-già được khu phân thành 3 loại:
1. Lý tưởng
Tăng-già: Lý tưởng Tăng-già thì
không phân biệt tại gia hay xuất gia, vì ai nấy đều là Phật tử, đều là Phật
giáo đồ, nếu quyết tâm tu hành cũng đều có thể chứng ngộ, giải thoát. Về lý
tưởng Tăng-già có thể khảo sát theo 2 phương diện: khảo sát theo phần lượng về
nghĩa rộng của Tăng-già, thì hết thảy chúng sinh đều bao hàm trong nghĩa
Tăng-già; khảo sát về phần chất, hết thảy chúng sinh đều có thể chứng ngộ.
2. Xuất gia
Tăng-già: Tức Tỷ-kheo Tăng-già và
Tỷ-kheo-ni Tăng-già. Sa-di thuộc Tỷ-kheo Tăng-già, Sa-di-ni và Thức-xoa-ma-na
thuộc Tỷ-kheo-ni Tăng-già.
3. Hội nghị
Tăng-già: Tỷ-kheo Tăng-già và
Tỷ-kheo-ni Tăng-già, căn cứ vào nhân số trong các cuộc tập họp mà thành lập.
Nghi thức hội nghị của Tăng-già, cần phải có từ 4 người trở lên mới được gọi
là Tăng-già, từ 3 người trở xuống thì không gọi là Tăng-già mà gọi là “Quần”
(Gana). Hội nghị Tăng-già chia làm 5 loại: (1) Hội nghị Tăng-già gồm 4 người.
(2) Hội nghị Tăng-già gồm 5 người. (3) Hội nghị Tăng-già gồm 10 người. (4) Hội
nghị Tăng-già gồm 20 người. (5) Hội nghị Tăng-già gồm 20 người trở lên. Nghi
thức hội nghị chia nhiều thứ như vậy, là vì dựa vào từng công việc mà xử sự.
III. SINH
HOẠT CỦA GIÁO ĐOÀN
Đức Thích Tôn khi
còn tại thế, Ngài đã chế định ra giới luật để làm tiêu chuẩn cho việc tu hành
và sinh hoạt của các đệ tử. Sau khi Phật diệt độ, các bậc Kỳ túc Trưởng lão
lại theo đó mà giải thích và quy định lại, biên thành Tỷ-kheo giới bản và
Tỷ-kheo-ni giới bản. Y vào luật Tứ Phần, kinh giới bản của Tỷ-kheo có 250
giới, Tỷ-kheo-ni có 348 giới. Theo Nam truyền luật tạng, Tỷ-kheo có 227 điều,
Tỷ-kheo-ni có 311 điều. Các giới điều tuy có khác, nhưng chỉ khác phần chi
tiết, còn phần nội dung căn bản vẫn giống nhau.
Người xuất gia,
sau khi được thọ Cụ túc giới, cần phải nương theo vào các điều giới luật như
trong giới bản để làm mực thước sinh hoạt hàng ngày. Về sinh hoạt của người
xuất gia, phải nương vào Tứ Y pháp:
1.- Y vào khất
thực để sinh sống.
2.- Y vào áo vải
thô để che thân.
3.- Y vào dưới
gốc cây để ngủ nghỉ.
4.- Y vào thuốc
hủ nát để chữa bệnh.
Nghĩa là sự sinh
hoạt hàng ngày của người xuất gia, không chú trọng ở các vật xa hoa, các món
ăn ngon, chỉ lấy thanh đạm làm mãn nguyện. Tuy nương vào Tứ Y pháp làm tiêu
chuẩn cho sinh hoạt, nhưng tùy từng địa phương, từng trường hợp, các hàng tại
gia Phật tử, đàn việt làm tinh xá, giảng đường, áo mặc, đồ ăn đem cúng dường,
bố thí vẫn được thọ dụng mà không trái với tinh thần Tứ Y pháp.
Vật sở hữu của
Tỷ-kheo, chia ra cá nhân sở hữu và Tăng-già sở hữu. Vật cá nhân sở hữu, nếu y
vào chế định Nam phương Phật giáo là 3 tấm cà-sa: An-đà-hội (Antarivàsaka),
Uất-đa-la-tăng (Uttaràsasangha) và Tăng-già-lê (Samhàli), bình bát, khăn lọc
nước, dao thế phát, kim khâu và túi, gồm 8 vật. Nếu y vào chế định của Bắc
phương Phật giáo là 3 tấm cà-sa, bình bát, khăn lọc nước và tọa cụ gọi là 6
vật. Ngoài ra là những dụng cụ như giày dép, khăn mặt, khăn lau tay v.v... Vật
sở hữu của Tăng-già như: tự viện, già lam, giảng đường, phòng xá, vườn rừng,
cây quả, chăn màn, giường gối v.v... đều là vật công cộng của toàn thể chư
Tăng, ai cũng có quyền được sử dụng.
Công việc hàng
ngày của các Tỷ-kheo: buổi sáng sớm thì tụng kinh, tọa thiền, trước giờ Ngọ
phải đi khất thực, mang về phòng ăn đúng giờ Ngọ, xong, có giờ chỉ tĩnh, rồi
lại chuyên việc tu hành, giảng đạo, buổi tối tụ tập tại Thiền đường công cộng
để cùng nhau bàn về pháp thoại, và có giờ nghiên cứu công cộng, mãi tới đêm
khuya mới đi nghỉ. Tóm lại, về sinh hoạt hàng ngày của Tỷ-kheo lấy sự tu luyện
làm cốt yếu.
IV. QUY ĐỊNH
CỦA GIÁO ĐOÀN
Một bộ phận của
Luật tạng là giới bản thuộc phần Chỉ-trì, ngoài ra còn có một bộ phận gọi là
Kiền-độ, tức là Tác-trì là những quy định về các pháp thọ giới, bố-tát, an-cư,
tự-tứ v.v... của đoàn thể Tăng-già. Nội dung của Kiền-độ phần thì rất phức
tạp, phần phức tạp này là do các bậc Kỳ túc, Trưởng lão của Giáo đoàn chế định
thêm, còn y vào quy định ở thời Đức Thích Tôn còn tại thế thì đơn giản hơn.
Công việc quan
trọng nhất của Giáo đoàn là việc tác pháp tiến cụ (Upasampadà).
- Nghi thức công nhận người gia nhập đoàn thể.
Trước hết, nếu ai tin theo Phật, được Phật hứa khả, tức là nghi thức tác pháp
công nhận người đó gia nhập đoàn thể Phật giáo đồ. Như người được trao truyền
cho giới Tam quy y: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, tức là nghi thức hứa
khả cho người đó gia nhập đoàn thể Phật tử. Người được trao truyền cho 10
giới, tức là nghi thức hứa khả cho gia nhập đoàn thể Sa-di. Người được sự tác
pháp trao truyền cho giới Cụ túc, tức là nghi thức hứa khả cho gia nhập đoàn
thể Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni. Người được nhận vào đoàn thể Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni,
phải là người đủ 20 tuổi trở lên, và lục căn cụ túc. Về phía người hứa khả cho
gia nhập đoàn thể Tỷ-kheo, lúc đầu thì duy có tự thân Đức Phật, đó là trường
hợp đặc biệt, nhưng về sau phải có 10 vị Trưởng lão Tỷ-kheo làm thầy giới sự
để trao truyền giới pháp. Sau khi được nhận vào đoàn thể Tỷ-kheo, ai nấy đều
phải căn cứ vào giới luật để tu trì, vào kinh điển để học tập.
Quy định về
nghi thức Bố-tát (Upavasatha). -
Bố-tát mỗi tháng có 2 kỳ, nghĩa là các Tỷ-kheo hoặc Tỷ-kheo-ni cùng ở một già
lam hay trong một phạm vi kiết giới nào, mỗi tháng vào ngày 15 và 30 đều phải
tận tập, bạch yết-ma làm lễ bố-tát, cử một Tỷ-kheo tụng giới bản, đại chúng
đều ngồi nghe, ai nấy đều tự phản tỉnh và nếu phạm vào điều giới luật nào,
phải ra trước đại chúng sám hối, hoặc tự phát lộ.
Quy định về
nghi thức An-cư (Varsavasana). - Vì
mỗi năm cứ vào mùa mưa, nước lũ dâng lên tràn ngập cả đường lối, sự đi lại
giáo hóa, truyền đạo và khất thực không thuận tiện, hơn nữa lại là mùa côn
trùng sinh nở đầy đường, đi lại sợ tổn hại đến sinh mạng các loài côn trùng,
nên Phật cùng các đệ tử phải tụ tập lại một nơi nào thuận tiện để chuyên việc
tu hành trong 3 tháng, kể từ ngày 16 tháng 4 đến 15 tháng 7, gọi là “Vũ-kỳ
an-cư”.
Quy định về
nghi thức Tự-tứ (Pavarana). Ngày 15
tháng 7, ngày cuối cùng của khóa an-cư là ngày làm lễ Tự-tứ. Tự-tứ có nghĩa là
trong 3 tháng tu trì, nếu trong đại chúng có ai phạm vào tội lỗi mà đại chúng
ngờ vực, thì được tự do cử tội. Pháp an-cư, tự-tứ có từ ngày Đức Thích Tôn còn
tại thế. Nghĩa là Đức Thích Tôn thành đạo sau một năm, cho tới khi Ngài nhập
diệt, Ngài không để thiếu một khóa an-cư, tự-tứ nào.
V. SỰ
BIẾN THIÊN CỦA GIÁO ĐOÀN
Khi Đức Thích Tôn
còn tại thế, Tăng-già được sự bao dung nhân cách vĩ đại của Ngài, nên đã ít
xảy ra vi phạm tội lỗi. Nhưng nếu có chỗ vi phạm là do nơi quần chúng không
tốt của Lục-quần Tỷ-kheo trà trộn, nên Đức Thích Tôn đã chế định ra ít nhiều
về giới luật. Sau khi Đức Thích Tôn nhập diệt, ngài Đại Ca Diếp cố giữ cho
giới luật của Phật đã chế định, không để thất thoát, quyết tâm tuân thủ và
truyền trì. Nhưng sau khi Đức Thích Tôn nhập diệt 100 năm, thì Giáo đoàn của
Phật giáo cũng không nằm trong “Chính pháp nhất vị”, mà đã phân liệt thành 2
phái tư tưởng cũ mới đối lập, nên đã phát sinh ra phái truyền thừa về hình
thức của giới luật thành “Thượng Tọa bộ (Sthaviràh)”, sau gọi là Tuyết Sơn bộ
(Haimavàtàh), và nắm bắt về tinh thần của giới luật mà hình thành “Đại Chúng
bộ (Mahàsamghikàh)”. Thế rồi sau đó,2 bộ này có những bất đồng tư tưởng, lại
lần lượt phân liệt thành các bộ nhỏ khác. Như Đại Chúng bộ chia thành 8 bộ:
1. Nhất Thuyết bộ
(Ekavyavahàrihàh)
2. Thuyết Xuất
Thế bộ (Lokottaravadinàh)
3. Kê Dận bộ
(Kaukktikàh)
4. Đa Văn bộ
(Bàhusrutiyàh)
5. Thuyết Giả bộ
(Prajnàptivadinàh)
6. Chế Đa Sơn bộ
(Caityasailàh)
7. Tây Sơn Trụ bộ
(Aparasailàh)
8. Bắc Sơn Trụ bộ
(Uttarassailàh).
Và Thượng Tọa bộ
cũng chia thành 10 bộ:
1. Thuyết Nhất
Thiết Hữu bộ (Saivàstivàdàh) còn gọi là Thuyết Nhân bộ (Hatuvàdàh)
2. Độc Tử bộ
(Vàtsiputriyàh)
3. Pháp Thượng bộ
(Dharmattariyàh)
4. Hiền Trụ bộ
(Bhadrayànihàh)
5. Chính Lượng bộ
(Sàmmitiyàh)
6. Mật Lâm Sơn bộ
(Sandagirikàh)
7. Hóa Địa bộ
(Mahìsàsakàh)
8. Pháp Tạng bộ
(Dharmaguptakàh)
9. Ẩm Quang bộ
(Kàsyapiyàh)
10. Kinh Lượng bộ
(Sautràntikàh).
Như vậy, 2 bộ
phận liệt thành 18 bộ, cộng thêm 2 bộ căn bản, gọi là “Tiểu thừa nhị thập bộ”.
Trong các bộ phái
kể trên, các bộ đều có những bộ luật riêng cho bộ mình. Trong Luật tạng Hán
dịch, Tứ Phần luật thuộc Pháp Tạng bộ, Ngũ Phần luật thuộc Hóa Địa bộ, Thập
Tụng luật thuộc Hữu bộ, Ma Ha Tăng Kỳ luật thuộc Đại Chúng bộ, Căn bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ-nại-da dĩ nhiên là luật sở truyền của Hữu bộ. Luật Pàli
sở thuộc hệ Thượng Tọa bộ, gọi là “Phân Biệt Thuyết bộ”, do Giáo đoàn Phật
giáo Tích Lan là “Đại Tịnh xá Tự phái” (Màhàvihara) truyền trì. “Đại Tịnh xá
Tự phái”: gọi tắt là Đại Tự phái thuộc Thượng Tọa bộ (Theriya-Nikàya). Nghi
thức thọ giới nương vào giới luật được thực hành đầu tiên ở Trung Quốc là
“Thời đại Tam quốc”, thời đại Quảng luật thì chưa hoàn toàn truyền tới nên
chưa nhất trí về giáo nghĩa “Giới thể” và “Giới hạnh”, ngay khi Quảng luật đã
truyền tới, vấn đề đó cũng vẫn chưa được giải quyết. Mãi đến thời Pháp Thông
luật sư đời Bắc Ngụy, ngài chuyên nghiên cứu về “Tứ phần luật”, do đó mới giải
quyết nhất trí được vấn đề giữa “Giới thể” và “Giới hạnh”. Đệ tử của Pháp
Thông là Đạo Phú luật sư, được trao truyền tư tưởng của thầy, trước tác bộ “Tứ
Phần luật sớ” 6 quyển.
Sau đó, Tuệ Quang
luật sư (468-537) được truyền thừa khoa văn trên, nghiên cứu tinh tường luật
Tứ phần, thành lập ra hệ thống cơ sở cho tông này. Tới Đạo Tuyên luật sư
(596-667) thì ngài hoàn thành được hệ thống Tứ Phần luật tôn, gọi là “Nam Sơn
Tôn”. Luật tôn trong đời Đường có tất cả 3 tông phái, nhưng duy có Nam Sơn Tôn
là được thịnh hành và hiện còn truyền thừa tới nay. Hệ thống Luật tôn này còn
được thịnh hành ở Nhật Bản, Cao Ly và cả Việt Nam. Giới luật của tôn này thuộc
Tiểu thừa, nhưng phần giải thích có khuynh hướng Đại thừa.
Đại thừa giới
được nói đến ở các kinh “Phạm Võng kinh”, “Anh Lạc kinh” và “Thiện Giới kinh”.
Nội dung của “Phạm Võng kinh” nói về 10 cấm giới trọng và 48 giới khinh. Giới
Đại thừa này thông cho cả 2 hàng Tăng và tục. Về Đại thừa giới thì tương đương
với 2 bộ phận “Chỉ ác tác thiện”, nhưng phần quy tắc (tác trì) thì không nhất
định. Do đó, những nghi thức, tác pháp, hành sự thuộc môn “Tác thiện” trong
Tăng-già, đã không tồn tại. Phụng hành giới Đại thừa, nhưng lại phải tuân theo
Tiểu thừa luật.
Môn Tác thiện dù
có nằm trong Tiểu thừa giới, nhưng vì chưa mãn túc và đặc biệt “môn Tác thiện”
trong Đại thừa giới không tồn tại, nên các tông phái thuộc Đại thừa đương
nhiên phải nỗ lực chế định. Trong các tông phái duy có Thiền tôn đã chế tác
được “Thanh quy”, để quy định về tập đoàn sinh hoạt của hòa hợp chúng. Từ thời
Tổ Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ Năng, các ngài đều cư trụ ở trong các chùa Luật Chế.
Nhưng Tứ Tổ Đạo Tín và Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đều trụ ở chùa Chính Giác thuộc núi
Song Phong ở Tây Bắc huyện Hoàng Mai tỉnh Hồ Bắc, trước sau hơn 60 năm. Đồ
chúng từ các nơi quy tụ về tu học không phải là 500 người mà là hàng ngàn
người, làm thay đổi nếp Thiền phong đã có từ trước. Sinh hoạt của đại chúng
lấy việc tự cấp, tự túc làm cốt yếu, không phải chỉ riêng tọa thiền, mà hết
thảy việc canh tác, nấu cơm, quét nhà, làm việc công cộng v.v... cũng đều bao
quát trong việc tu hành, mỗi mỗi việc đều coi là giá trị tuyệt đối. Đích tôn
của Tổ Huệ Năng là Mã Tổ, có 800 người trong hội hạ và cũng đã xây dựng thành
đạo tràng riêng biệt của Thiền. Bách Trượng Hoài Hải (720-814), người được
truyền pháp của Mã Tổ, đã soạn ra bộ Thanh Quy đầu tiên, làm quy củ cho Thiền
môn, đời gọi là “Bách Trượng Thanh Quy”. Thanh Quy là di sản đặc biệt của văn
hóa Trung Quốc trọng vọng về lễ tục. Bộ “Bách Trượng Thanh Quy” đương thời lúc
đó đã bị thất lạc không còn lưu truyền tới hiện nay, nhưng xem trong các bộ
“Thiền Môn Quy Thức”, “Thiền Uyển Thanh Quy”, “Bách Trượng Quy Thằng Tụng”,
trong “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục” cũng có thể biết mường tượng được nội dung
của “Bách Trượng Thanh Quy”. Ngài Bách Trượng còn kiến lập thiền viện độc lập,
không phụ thuộc vào các chùa luật. Trên núi Bách Trượng, ngài không dựng Phật
điện, mà chỉ kiến lập Pháp đường. Vị trụ trì gọi là Trưởng lão. Nơi ở trụ trì
gọi là nhà “Phương trượng”. Trưởng lão là vị Hóa chủ, người thay mặt Phật, Tổ
nơi Pháp đường để thượng đường, thăng tòa nói pháp. Đại chúng khi vào Tăng
đường, theo thứ tự năm đã kết hạ an cư mà định trật tự. Trong nơi tham thiền
có đặt ra “Trường liên sàng” (giường dài ngồi liền nhau) làm giá treo để treo
các đạo cụ. Ngồi thiền lâu muốn nghỉ, để gối lên thành giường, đặt sườn bên
phải xuống mà ngủ. Cách ngủ này gọi là “Đới đao thụy”. Đại chúng của toàn Viện
thời chiêu tham mộ tụ, nếu khi Trưởng lão thượng đường, hết thảy đều tập hợp
để nghe pháp và trao đổi vấn đáp. Ngoài ra còn có phần độc tham thọ giáo.
Trong lúc chiêu tham mộ thỉnh, Đại chúng đều tiến thoái theo nhịp mõ cá, khánh
đá, oai nghi chỉnh tề không để rối loạn. Về việc ăn dùng có 2 bữa cháo sáng,
trai trưa trong ngày, giữ gìn tiết kiệm, trong lúc làm việc, Đại chúng trên
dưới đều phải tận tâm kiệt lực.
Trong nơi Tăng
đường đặt ra “10 vụ”, gọi là “Liêu xá”, mỗi cục Liêu xá có một thủ lĩnh, gọi
là “Liêu ty”, dưới Liêu ty lại có nhiều người quản lý công việc. Dưới quyền
chỉ đạo của thủ lĩnh (Liêu ty) còn có 10 chức như Duy na, Phạn đầu, Thái đầu,
còn 7 chức nữa không ghi rõ tên. Nếu là người mượn hình tướng trà trộn vào
hàng Thanh chúng, hoặc làm huyên náo trong chúng, vị Duy na phải kiểm cử, bỏ
hết những đồ biện đạo xuống rồi đuổi ra khỏi Thiền viện. Nếu là người phạm
tội, hoặc bị đánh đòn, hoặc sám hối trước đại chúng, hoặc bị đốt y bát rồi
đuổi ra khỏi cửa, đều được quy định trong Thanh quy. Các Thiền viện trong
thiên hạ đều phỏng theo bản Thanh quy này mà chế tác. Như vậy, giới luật của
Thiền tôn, theo các quy tắc như trên, thuộc phần “Tác thiện môn”. Bách Trượng
Thanh Quy được lưu truyền rất sâu rộng ở đời, nhưng do sự biến thiên của thời
đại, tình thế của địa phương, phong tập của tự viện, tính cách của gia sự, nên
đã bị cải biến dần dần. Tiếp sau có bộ “Thiền Uyển Thanh Quy” 10 quyển của Tôn
Gi (1103), “Hiệu Định Thanh Quy” 2 quyển của Duy Miễn (1274), “Sắc Tứ Bách
Trượng Thanh Quy” 2 quyển của Đức Huy (1336), đều là những bộ Thanh quy chủ
yếu của Phật giáo Trung Quốc. Trong các bộ Thanh quy về phần nội dung là phần
sinh mệnh mới của giới luật, nhưng đồng thời cũng là phần sa đọa vào hình
thức, vì có chứa đựng phong phú phần tục lễ. Cho nên, Trình Minh Đạo, một Nho
sĩ đã khen: “Tam đại lễ nhạc, tại chuy y trung”, nghĩa là lễ nhạc của 3 đời
Hạ, Thương, Chu đều được tồn tại nơi Thiền đường.
VI. SỨ MỆNH
CỦA GIÁO ĐOÀN
Đức Thích Tôn
thuyết giáo, Ngài đã phủ nhận chế độ giai cấp, nếu ai đã là người quyết chí
xuất gia đều được dự vào “Thanh tịnh đại hải chúng”, đều là chúng phạm hạnh
thanh tịnh. Nên người xuất gia đã được thọ giới cần phải giữ giới thanh tịnh.
Vì lẽ, cứ mỗi mỗi giới Đức Phật đã chế định đều có cái công năng đoạn trừ
phiền não, giải thoát sinh tử, được 10 công đức lớn, mà trong luật Tứ phần gọi
là “Thập cú nghĩa”, luật tạng Pàli (Dasa Atthavase) gọi là Thập lợi.
“THẬP CÚ NGHĨA”
TRONG TỨ PHẦN LUẬT:
1.- Nhiếp thủ
ư Tăng. - Vì kiện toàn Tăng-già thành thanh tịnh chúng.
2.- Linh Tăng
hoan hỷ. - Vì tu phạm hạnh, mầm thiện tăng trưởng, nên tâm hoan hỷ.
3.- Linh Tăng
an lạc. - Vì hoan hỷ được an lạc nơi thiền định.
4.- Linh vị
tín giả tín. - Vì người chưa tin phạm hạnh thanh tịnh mà sinh lòng tin.
5.- Dĩ tín giả
linh tăng trưởng. - Vì người đã tin rồi khiến lòng tin tăng trưởng.
6.- Nan điều
giả linh điều thuận. - Vì người khó điều phục khiến được điều thuận.
7.- Tàm quý
giả đắc an lạc. - Vì người biết hổ thẹn được an vui.
8.- Đoạn hiện
tại hữu lậu. - Vì đoạn hết được phiền não hiện tại.
9.- Đoạn vị
lai hữu lậu. - Vì đoạn diệt được phiền não ở vị lai.
10.- Chánh
pháp đắc cửu trụ. - Vì do trì phạm hạnh mà chánh pháp được cửu trụ.
“THẬP LỢI” TRONG
LUẬT TẠNG PÀLI:
1.-
Samghasutthutàya. - Vì tính kiện toàn của Tăng-già.
2.-
Samghaphà-sutàya. - Vì an trụ của Tăng-già.
3.-
Dummankuman puggalànam-niggahàya. - Vì ức chế kẻ ác.
4.- Pesalànam
bikkùnam phàsuvihàraya. - Vì an trụ của thiện Tỷ-kheo.
5.-
Ditthadhammikànam àsavànam samvaràya. - Vì đoạn phiền não hiện thế.
6.-
Samparàyikanam àsavànam patighàtàya. - Vì đoạn diệt phiền não ở vị lai.
7.-
Appasannànam pasàdaya. - Vì khiến người chưa tin sinh tin.
8.- Pasannànam
bhiyyobhàvàya. - Vì người đã tin, lòng tin thêm kiên cố.
9.-
Saddhammatthiliyà. - Vì chánh pháp cửu trụ.
10.- Vinayà
nuggahàya. - Vì yêu chuộng kính trọng luật.
"Thập cú nghĩa"
trong Tứ Phần luật và "Thập lợi" trong Luật tạng Pàli đêu gồm 10 hạng mục, các
hạng mục đều tương tự nhau. Đó đều là những hạng mục chủ đích khiến cho thanh
tịnh và trang nghiêm Giáo đoàn, khiến các Tỷ-kheo thanh chúng tu hành phạm
hạnh, đoạn phiền não, chứng Niết-bàn.
Niết-bàn có nghĩa
là phủ nhận cá ngã, cách cố đỉnh tân, để đạt tới nhân cách hoàn toàn, quyết
không phải nơi an lạc của tự kỷ. Thế nên, trong lĩnh vực Tăng-già, ngoài việc
tu tập phạm hạnh cho phần tự lợi còn phải tích cực nghĩa vụ giáo hóa để kiện
toàn phần lợi tha. Vì tu tập phạm hạnh là phương diện tự giác hướng thượng,
việc hoằng duyên là phương diện hướng hạ giác tha, nên sứ mệnh của Tăng-già
phải chu toàn gồm cả Bi, Trí. Nghĩa là một mặt phải noi theo nhân cách vĩ đại
của Đức Thích Tôn, y theo giới luật, thật tiễn tu hành, phát huy triệt để tinh
thần hòa hợp chúng, để bảo trì kỷ cương trật tự, trang nghiêm Tăng-đoàn; mặt
khác phải nương theo Đại thừa giới; Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp
giới và Nhiếp chúng sinh giới, để “Thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại”.
LUẬT TÔN
I. TÊN TÔN
Tôn này y cứ vào
luật Tứ Phần, nên gọi là “Tứ Phần Luật Tôn”.
II. GIÁO NGHĨA
Căn cứ vào giáo
phán của Đạo Tuyên luật sư theo Luật Tôn, đem tổng quát một đời thuyết giáo
của Đức Phật mà chia ra “Hóa giáo” và “Hành giáo”. Hành giáo còn gọi là “Chế
giáo”. “Hóa giáo” chỉ cho những giáo pháp giáo hóa cộng thông cho cả hai hàng
tại gia và xuất gia. “Chế giáo” là những giáo pháp Đức Phật nói ra chuyên cho
hàng đệ tử xuất gia, chú trọng phương diện tu trì, thanh tịnh Tăng đoàn, mỗi
đệ tử phải noi theo tu tập để biết thế nào là “tu trì”, thế nào là “hủy phạm”
để các đệ tử phải y giới phụng hành, làm vững chắc Tăng đoàn khiến chánh pháp
cửu trụ.
Trong chỗ quy
định về giới, các bậc cổ đức, y theo vào tính chất của giới nên chia giới làm
2 phần, “Chỉ trì giới” và “Tác trì giới”. Chỉ trì giới là không làm các điều
ác, tức “chư ác mạc tác” theo nghĩa tiêu cực. Tác trì giới là vâng làm các
điều thiện, tức “chúng thiện phụng hành” theo nghĩa tích cực. Căn cứ trong Tứ
Phần Luật tạng thì các bộ phận của Tỷ-kheo giới, Tỷ-kheo-ni giới là nói về
phần “Chỉ trì”, các bộ phận Kiền-độ nói về phần “Tác trì”.
III. TRUYỀN THỪA
Giáo học của Phật
giáo được cấu thành bởi ba môn học là “Giới học”, “Định học” và “Tuệ học”.
Phật giáo Trung Quốc vì nghiên cứu về Tuệ học, nên Tam Luận Tôn, Thiên Thai
Tôn, Hoa Nghiêm Tôn được thành lập. Vì tu tập về Định học nên có Thiền Tôn ra
đời, vì nương theo vào “Giới học” để tu trì nên có Luật Tôn xuất hiện.
Về Giới học ở Ấn
Độ thì nương vào 5 bộ luật khác nhau là Đàm Vô Đức bộ, Tát Bà Đa bộ, Di Sa Tắc
bộ, Ca Diếp Di bộ và Ma Ha Tăng Kỳ bộ. Trong 5 bộ này, có 4 bộ được truyền tới
Trung Quốc, tức Quảng luật của Đàm Vô Đức bộ là “Tứ Phần luật” (60 quyển) do
ngài Phật Đà Da Xá đời Diêu Tần dịch. Tát Bà Đa bộ tức “Thập Tụng luật” (61
quyển) do ngài Phất Nhã Đa La dịch. Di Sa Tắc bộ tức “Ngũ Phần luật” (30
quyển) do ngài Phật Đà Thập dịch. Ma Ha Tăng Kỳ luật bộ (40 quyển) do ngài
Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển cùng dịch. Còn Ca Diếp Di bộ tức “Giải Thoát
luật” thì chưa truyền tới.
Trong các bộ luật
kể trên, sau khi được dịch ra, Tăng-đoàn của Trung Quốc nương vào đó mà tổ
chức Giáo đoàn. Trong đời Ngụy và đời Tấn thì luật Tăng-kỳ được thịnh hành ở
vùng Giang Bắc, luật Thập Tụng được phát triển ở vùng Giang Nam. Sự thọ giới
của Giáo đoàn, nương vào luật Tứ Phần, nhưng sinh hoạt của Giáo đoàn lại nương
vào luật Tăng-kỳ và luật Thập Tụng.
Tứ Phần luật tuy
đã được ngài Phật Đà Da Xá dịch, nhưng vì chưa được hoàn bị, nên ngài Pháp
Thông đời Bắc Ngụy nhiệt tâm nghiên cứu và giảng giải bộ luật đó. Môn đệ của
ngài là Đạo Phú lại nương vào lời thầy giảng mà soạn thành bộ “Tứ Phần Luật
Sớ”. Sau, môn đệ của Đạo Phú là Tuệ Quang (468-537) tận lực hoằng truyền, nên
môn học luật Tứ phần bột hưng. Môn đệ của Tuệ Quang là Đạo Vân, Đạo Huy, và
môn đệ của Đạo Vân là Trí Thủ, môn đệ của Đạo Huy là Hồng Tuân kế thừa, đều là
những nhân vật hoạt động về Luật học ở đời Tùy. Tới đời Đường thì “Tứ Phần
Luật Tôn” được hoàn toàn thành lập. Cũng trong đời Đường, nghiên cứu và hoằng
dương về Luật học gồm có 3 tôn: “Nam Sơn Tôn”, “Tướng Bộ Tôn” và “Đông Tháp
Tôn”.
- NAM SƠN TÔN
Đạo Tuyên
(596-667), người sáng lập ra Nam Sơn Luật Tôn. Ngài người huyện Đan Đồ, tỉnh
Giang Tô, sinh năm Khai Hoàng thứ 16 (569) đời Tùy, y ngài Trí Thủ (567-635) ở
Trường An thọ giới Cụ túc, chuyên học về Luật. Vì lúc đầu ngài trụ trì chùa
Phong Đức núi Chung Nam nên có tên là “Nam Sơn luật sư”. Sau, ngài vâng sắc
nhậm chức Thượng tọa chùa Tây Minh ở Trường An để truyền bá Luật học. Tới năm
Càn Phong thứ 2 (667), ngài thị tịch, thọ 72 tuổi. Ngài là người hoàn thành về
giáo nghĩa của Luật tôn, và hệ thống Luật học của ngài gọi là “Nam Sơn Tôn”.
Về trước tác của
ngài gồm có “Tứ Phần Luật Hành Sự Sao” (3 quyển), “Tứ Phần Luật Yết-Ma Sớ” (4
quyển), “Tứ Phần Luật Giới Bản Sớ (94 quyển), “Thập Tỳ-Ni Nghĩa Sao” (4
quyển), “Tỳ-Kheo-Ni Sao” (3 quyển) là các bộ thuộc Luật học. Ngoài ra, ngài
còn soạn các bộ “Đại Đường Nội Điển Lục” (10 quyển) để chỉnh lý kinh điển, “Cổ
Kim Phật Đạo Luận Hành” (4 quyển) và “Quảng Hoằng Minh Tập” (30 quyển), “Thích
Thị Lược Phổ” (1 quyển), “Thích Ca Phương Chí” (5 quyển), “Tam Bảo Cảm Thông
Lục” (3 quyển), đều là những bộ rất có giá trị trên phương diện sử học Phật
giáo.
Đệ tử thượng túc
của Đạo Tuyên là Đại Từ, Văn Cương, Chu Tú, Dong Tế v.v... đều tận lực hoằng
truyền về Luật. Ngoài ra, em đồng môn của ngài là Đạo Thế, đệ tử ngài Trí Thủ,
trước tác bộ “Tứ Phần Luật Thảo Yếu” và “Tứ Phần Ni Sao” cùng bộ “Pháp Uyển
Châu Lâm” (100 quyển) để lưu truyền ở đời.
- TƯỚNG BỘ TÔN
Sơ tổ của “Tướng
Bộ Tôn” là Pháp Lệ luật sư (569-635), trụ trì chùa Nhật Quang thuộc Tướng Châu
(tỉnh Hà Nam) biệt lập thành một phái Luật học, nên có tên là “Tướng BoÄ Tôn”.
Ngài là pháp tôn của Hồng Tuân, hơn Đạo Tuyên 27 tuổi. Về trước tác của ngài
có “Tứ Phần Luật Sớ”. Môn đệ của ngài là Mãn Ý, Hoài Tố v.v... Sau Hoài Tố lại
là Khai tổ của “Đông Tháp Tôn”.
- ĐÔNG THÁP TÔN
Khai tổ của Đông
Tháp Tôn là Hoài Tố (624-697). Lúc đầu Hoài Tố theo học ngài Huyền Trang, sau
theo Pháp Lệ học về Luật, nhưng không vừa ý với học thuyết của thầy, ngài liền
trước tác “Tứ Phần Luật Khai Tôn Ký” để phát biểu học thuyết mới, lấy chùa
Sùng Phúc Đông Tháp làm căn cứ địa để hoằng truyền Luật học, lập thành một
phái riêng gọi là “Đông Tháp Tôn”. Môn đệ của ngài là Pháp Thuận kế thừa.
Nhưng Đông Tháp tôn cũng như Tướng Bộ Tôn, lưu truyền không được bao lâu rồi
đều bị suy tàn, duy có Nam Sơn Tôn còn lưu truyền ở đời cho tới hiện nay.
(Trích trong cuốn Lịch sử Phật giáo Trung Quốc của Thích Thanh Kiểm).
Tiếp sau, người
hoằng truyền Luật có lực nhất là Nguyên Chiếu luật sư (tên chữ là Linh Chi,
tên hàm (thụy) là Đại Trí, 1048-1116). Ngài trước tác các bộ “Hành Sự Sao Tư
Trì Ký”, “Giới Bản Sớ Hành Tôn Ký”, “Yết-Ma Sớ Tế Lục Ký”. Từ đời Đường đến
đời Tống, giải thích về “Hành Sự Sao” có hơn 60 nhà nhưng cũng không vượt
ngoài khuôn khổ của Nguyên Chiếu luật sư.
Tới đời Nguyên.
Thời kỳ Lạt Ma giáo và Thiền Tông rất thịnh hành, Luật học chỉ duy có Pháp Văn
luật sư chùa Đại Phổ Khánh ở kinh thành là người hoằng Luật nổi tiếng, học đồ
tới hàng ngàn người.
Sang đời Minh.
Thời kỳ Thiền Tôn cũng vẫn thịnh hành. Luật Tôn cũng rất được phát triển; vì
có Tri Huyễn Đạo Phú luật sư, trụ trì chùa Giới Đài ở Tây Sơn yến Độ, trong
khoảng niên hiệu Chính Thống (1436-1449) có tổ chức Đại giới đàn vào tháng 4
trong mỗi năm, Tăng chúng khắp nơi về thọ giới rất đông đảo. Đến cuối đời
Minh, ở Giang Nam có Vân Thê Châu Hoằng và Linh Phong Trí Húc, hai Đại sư này
cùng nối tiếp hoằng truyền giới luật. Ngài Vân Thê soạn các bộ “Bồ-Tát Giới Sở
Phát Ẩn” (5 quyển), “Sa-Di Luật Nghi Yếu Lược” v.v...
Ngài Linh Phong
soạn các bộ “Phạm Võng Kinh Hợp Chú” (7 quyển), “Bồ-Tát Giới Bản Tiên Yếu” (1
quyển), “Bồ-Tát Giới Yết-Ma Văn Thích” (1 quyển), “Tỳ-Ni Sự Nghĩa Tập Yếu” (17
quyển), “Sa-Di Oai Nghi Lục Yếu”, “Tứ Phần Kiền-Độ Lược Thích” v.v...
Ở Lĩnh Nam thời
có Hoằng Tán Tại Tham luật sư, núi Đỉnh Hồ, khi ngài 34 tuổi, có ý muốn tới
Thiên Trúc để cầu thỉnh Phạm Tăng tới Trung Quốc trao truyền giới pháp lại
nhưng không toại nguyện. Về trước tác của ngài gồm có “Phạm Võng Lược Sớ” (8
quyển), “Tứ Phần Luật Như Thích” (12 quyển), “Tứ Phần Danh Nghĩa Tiêu Thích”
(40 quyển), “Tỳ-Kheo Thọ Giới Lục”, “Tỳ-Kheo-Ni Thọ Giới Lục” (đều 1 quyển),
“Sa-Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú” (2 quyển).
Tại Việt Nam, vì
ảnh hưởng Phật giáo đời Minh, nên Phật giáo Việt Nam kiêm cả Thiền, Tịnh,
Luật. Các trước tác về luật Đại thừa, và Tứ Phần Luật Tôn của các ngài Vân Thê
Châu Hoằng, Linh Phong Trí Húc và Hoằng Tán Tại Tham đều đã được truyền tới
Việt Nam. Phật giáo Việt Nam cũng đã cho khắc văn lưu hành các bộ luật như
“Bồ-Tát Giới Sớ Phát Ẩn” (5 quyển), “Sa-Di Luật Nghi Yếu Lược” của Tổ Vân Thê;
“Phạm Võng Hợp Chú” (7 quyển), “Bồ-Tát Giới Bản Tiên Yếu” (1 quyển”, “Sa--Di
Oai Nghi Lục Yếu” của Tổ Linh Phong; “Phạm Võng Lược Sớ” (8 quyển), “Tứ Phần
Luật Như Thích” (12 quyển), “Tứ Phần Danh Nghĩa Tiêu Thích” (40 quyển),
“Tỳ-Kheo Thọ Giới Lục” và “Tỳ-Kheo-Ni Thọ Giới Lục” (đều 1 quyển), “Sa-Di Luật
Nghi Yếu Lược Tăng Chú” (2 quyển) của Tổ Hoằng Tán Tại Tham. Các bộ sách này
đều đã được khắc văn và ấn hành tại Việt Nam bằng nguyên văn chữ Hán. Hòa
thượng Thích Hành Trụ tại Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh, ngài đã dịch sang
tiếng Việt gồm các bộ “Tứ Phần Luật Như Thích”, ấn hành năm 1959 và “Sa-Di
Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú” ấn hành năm 1964.
IV. NỘI
DUNG TỨ PHẦN LUẬT TẠNG
Nội dung luật Tứ
Phần cũng như các luật khác, cùng nhất trí về đại thể, đều do 5 bộ phận tổ
chức thành. Bộ phận đầu tiên, bộ phận trung tâm của Luật tạng là bộ phận
Ba-la-đề-mộc-xoa, tức bộ phận Tỷ-kheo giới và Tỷ-kheo-ni giới. Thứ nữa là bộ
phận Kiền-độ, gồm 20 Kiền-độ là các pháp thọ giới, pháp bố-tát, rồi đến tạp
pháp v.v... chế độ của Giáo đoàn, nói về các nghi thức và giải thuyết bổ
khuyết Ba-la-đề-mộc-xoa. Bộ phận thứ 3, Tập pháp Tỳ-ni, giải thuyết về kết tập
Phật điển lần thứ 2 sau khi Phật diệt độ. Bộ phận thứ 4 là Điều bộ Tỳ-ni, giải
thích các nghi vấn những trường hợp đặc thù trong Luật. Bộ phận thứ 5 là Tỳ-ni
Tăng nhất, bộ phận liệt kê ý nghĩa các vấn đề trên phạm vi giới luật được tăng
thêm một tầng.
Như 5 bộ phận
trên, 2 bộ phận đầu là bộ phận thành lập đầu tiên, 3 bộ phận sau là những bộ
phận phụ thêm. Luật Tứ Phần cũng từ 5 bộ phận này đem chia thành 4 đoạn, nên
có tên gọi là “Tứ Phần luật”. Bốn phần được chia thành trong Tứ Phần luật
không mang ý nghĩa quan trọng nào, mà chỉ theo 4 kẹp sách trong Phạn bản, chia
thành 4 phận đoạn cho tiện lợi. Bốn phận đoạn đó là: Phần thứ nhất, phần
“Tỷ-kheo giới”. Phần thứ hai, từ Tỷ-kheo-ni giới đến Thuyết giới Kiền-độ. Phần
thứ ba, từ An cư Kiền-độ đến Kiền-độ thứ 18 là Pháp Kiền-độ. Phần thứ tư, từ
Phòng xá Kiền-độ đến Tỳ-ni Tăng nhất Kiền-độ.
V. NỘI DUNG GIỚI
BẢN
Nội dung của Tứ
phần Luật tạng chia thành 4 bộ phận: 1. Tỷ-kheo-giới, Tỷ-kheo-ni giới: Do từng
nhân duyên mà phát sinh thành một điều giới, nói về cách chế định ra sao và
giải thích về giới văn, đưa ra thực lệ để biên soạn. Đó là phần trung tâm của
cá nhân tu trì trong Luật tạng. 2. Phần Kiền-độ, là những phần hành sự chủ
yếu, quy định về chế độ y, thực, trụ các cách sinh hoạt của Tỷ-kheo trong
Tăng-đoàn. Đó là những phần trọng điểm về tổ chức. 3. Ngũ bách kết tập và thất
bách kết tập, phần trần thuật về công việc chủ yếu biên chép Thánh điển Phật
giáo. 4. Điều bộ Tỳ-ni và Tăng nhất Tỳ-ni, phần thuật lại cụ thể về tình hình
phạm giới, so sánh tỉ mỉ hơn.
Nay thuyết minh
tóm tắt về nội dung 250 giới của Tỷ-kheo trong Tứ Phần Luật tạng, được chia
thành 8 loại như sau:
1. BA-LA-DI
(Pàràjika)
Ba-la-di dịch
nghĩa thích đáng, tương đương với nghĩa cực ác, phần nói về tội của Tỷ-kheo
phạm cực hình, phạm 1 điều trong 4 điều Ba-la-di, liền mất tư cách của
Tỷ-kheo, bị xử phạt “Bất cộng trụ” đuổi ra khỏi Tăng-đoàn, giống như tội tử
hình của hình pháp. Cho nên người phạm tội Ba-la-di ví như người “đoạn đầu”
(đứt đầu) không thể sống lại được. Lại gọi là “khí”, bỏ ra ngoài chúng. Cũng
gọi là “Tự đoạn phụ xứ”, tự mình sa ngã chốn thua kém v.v... ví như lá vàng
lìa khỏi cành, không thể xanh lại, như dầu cây bị chặt rồi, tất sẽ khô chết.
2.
TĂNG-GIÀ-BÀ-THI-SA (Samghàvasesa)
Dịch là Tăng tàn,
như người bị chém, còn lại cuống họng, tất phải cấp cứu. Tỷ kheo phạm 1 giới
nào đó trong 13 pháp Tăng tàn, đều có thể tiếp nhận nơi cứu chữa của Tăng
đoàn, liền không mất tư cách làm Tăng. Phạm tội này gần với trọng tội
Ba-la-di. Nếu Tỷ-kheo phạm trọng tội Ba-la-di, ví dù có thành tâm sám hối cũng
không thể có tư cách Thanh tịnh tăng. Nhưng phạm tội Tăng tàn và các thiên
sau, đều trực tiếp sám hối bản tội, phạm vào tội gì, sám hối tội đó. Duy phép
sám hối thiên Tăng tàn này, khác với các thiên khác, phép sám hối chủ yếu chia
làm 4 giai đoạn:
1). Trị lỗi
tâm phú tàng (che giấu) tức Ba-lị -bà-sa (Parivàsa).
- Trong giới bản,
dịch là “Phú tàng” hoặc “Biệt trụ”. Theo chỗ Tỷ-kheo phạm giới, không có dũng
khí che giấu lỗi lầm trong tâm, ở trước khi sám Tăng tàng bản tội, tùy theo số
ngày phú tàng nhiều ít mà trị phạt “biệt trụ”, ở riêng một phòng, không được
cùng ở với Tăng. Tuy Tỷ-kheo phạm tội đó dù có vào trong chúng, cũng không
được phát biểu đàm luận, có hỏi han chi, đại chúng cũng không trả lời, và đoạt
mất 35 thứ quyền lợi được hưởng trong Tăng-đoàn. Phải chấp lao phục dịch trong
đại chúng, cung phụng các Thanh tịnh Tỷ-kheo như Hòa thượng của mình. Có khách
Tỷ-kheo tới, phải thưa cho biết mình là Tỷ-kheo đang hành biệt trụ. Nếu ra
khỏi ngoài giới tự viện, thấy Tỷ-kheo khác cũng phải biểu bạch mình là người
sám lỗi tâm phú tàng. Giả sử, trong kỳ gian hành biệt trụ, nếu trái phạm một
việc trong các việc kể trên, liền bị thủ tiêu mất các số ngày đã hành biệt
trụ, lại phải làm lại từ đầu theo số ngày gốc đã định.
2). Trị tội
phú tàng. - Xét số ngày che giấu
phạm tội Tăng tàn mà trị tội phú tàng. Tội phú tàng là tội Đột-cát-la. Giả sử
không hay ghi nhớ rõ phạm tội Tăng tàn vào thời gian nào, khi tính số ngày
không thể chính xác được nên theo phép tính phải kể từ ngày thọ Đại giới.
3) Trị lỗi tâm
Tăng-tàn, tức “Ma-na-đỏa” (Mànatva),
dịch là “ý hỉ”. Tỷ-kheo sám Tăng-tàn, tự mình
vui mừng, nhân vì số ngày hành phú tàng sắp mãn hạn, chỉ còn có 6 đêm nữa là
xong (lục dạ ý hỉ). Đại chúng cũng hoan hỷ, Tỷ-kheo sám Tăng-tàn này, có thể
sửa lỗi thành người thanh tịnh. Nếu là phạm tội Tăng-tàn rồi mà phát lộ sám
hối ngay, thời không phải qua 2 giai đoạn (1) và (2) trên mà chỉ trực tiếp sám
trị lỗi tâm phạm Tăng-tàn này, gọi là “Bản nhật trị”.
4). Trị tội
Tăng-tàn. - Tức pháp “xuất tội”
trong giới bản. Xuất tội nghĩa là tác pháp phục quyền Tỷ-kheo. Người phạm
thiên tội này phải cần có 20 vị Tăng cử hành “xuất tội yết-ma”.
3. NHỊ BẤT ĐỊNH
PHÁP
Đó là 2 thứ giới
hãy chưa thể quyết định được tội trạng. Tức Tỷ-kheo cùng với phụ nữ ngồi nơi
có bình phong che kín, hoặc nơi trống trải, có nói chuyện trò, người khác mục
kích thấy cho là phạm tội Ba-la-di, tội Tăng-tàn, hoặc tội Ba-dật-đề, do nơi
Tỷ-kheo tự mình thừa nhận là phạm tội gì rồi mới quyết định, nên gọi là “Bất
định pháp”. Luận về tính chất của tội, thiên này không thể thành giới điều độc
lập (Ni giới không có nhị bất định pháp), bởi vì bàn về tội phạm, nếu là
Ba-la-di thời quy vào tội Ba-la-di, nếu là Tăng-tàn, quy vào tội Tăng-tàn, nếu
chỉ khiến người mục kích sinh ngờ thôi, thì chỉ phạm tội Đột-cát-la.
4.
NI-TÁT-KỲ-BA-DẬT-ĐỀ (Nissagiyapàcitiya)
Dịch là “Xả đọa”
nghĩa là, các vật sở hữu của Tỷ-kheo, như áo, bát, tọa cụ v.v... lại không làm
thủ tục “tác pháp”, thời khiến Tỷ-kheo phải xả vật, xả tội, trừ bỏ tâm lý chứa
chấp, tàng trữ tài vật, để khỏi tội đọa lạc. Cộng có 30 giới người phạm tội
này, nên đưa ra những phẩm vật trong Tăng, từ 4 vị trở lên, tiến hành sám hối.
5. BA-DẬT-ĐỀ
(Pàcittiya)
Dịch là “Đan
tọa”. Liên quan tới các tội tiểu vọng ngữ, cố ý sát hại côn trùng, cùng với
phụ nữ đi cùng đường v.v... gồm có 90 giới, phạm 1 giới trong các giới này,
phải tới trước một vị Tỷ-kheo nói tội sám hối.
6. BA-LA-ĐỀ-XÁ-NI
(Pàtidesanniya)
Dịch là “Hướng bỉ
hối”. Phạm tội này chỉ hướng với người khác, nói rõ lỗi lầm đã phạm, tức là
nghĩa sám hối. Gồm có 4 giới như: theo Tỷ-kheo-ni không phải là thân thích xin
ăn v.v... Người phạm tội phải đối với 1 vị Tỷ-kheo sám hối.
7.
THỨC-XOA-CA-LA-NI (Sikkhà-karaniya)
Dịch là “Chúng
học”. - Tỷ-kheo phải chú ý đến các tác pháp oai nghi như các việc mặc áo, đi
đường, thuyết pháp, vào nhà bạch y v.v... gồm có 100 điều, gọi là “Bách chúng
học”. Thực ra, chỉ nhắc 100 hạng mục này làm đại biểu mà thôi, còn các việc
nên học khác do đấy mà suy biết. Trong thiên này, lại là những công việc sinh
hoạt hàng ngày của các Tỷ-kheo, những hành vi oai nghi nhỏ nhiệm này, phạm
phải, tuy là tội nhẹ, nhưng lại là bộ phận rất khó giữ gìn. Nếu một khi đã cố
ý phạm, phải đối một Thượng tọa Tỷ-kheo sám hối, gọi là “Đối thú sám”. Nếu
không cố ý mà ngộ phạm tức vô tâm phạm, thời tự trách tâm, bảo chứng tuyệt đối
không tái phạm. Phương pháp sám hối này gọi là “Trách tâm sám”.
8. DIỆT TRÁNH PHÁP
(Adhikaramásamathaàdharmàh)
Nghĩa là phương
pháp trị tội. Đó là gặp khi khởi sự phân tranh giữa cá nhân hoặc trong Tăng
đoàn, dùng phương pháp thích đáng, để trấn tĩnh không cho xảy ra, gồm có 7
hạng mục. Nếu không lấy phương pháp thích đáng trị phạt, vị Thượng tọa trong
chúng phải tội Đột-cát-la. Theo tính chất của 7 pháp trong thiên đều không kể
là giới điều độc lập.
Tám loại kể trên,
gồm có 250 giới điều, là những điều kiện căn bản để Tỷ-kheo tịnh hóa thân tâm
nơi tự mình và Tăng-đoàn được an lạc. Các Tỷ-kheo đã thọ Tỷ-kheo giới, tất
phải thận trọng y vào đó để kiểm tra 3 nghiệp thân, khẩu, ý của mình, mỗi
người mỗi người, trước hết phải tự mình thanh tịnh, Tăng-đoàn tự nhiên được
hòa kính an vui, chánh pháp được trường tồn vĩnh cửu.
VI. NỘI DUNG YẾT-MA
Yết-ma (Karman),
dịch là “Nghiệp”, có nghĩa là biện sự, công việc xử lý trong Tăng-đoàn, đều
lấy lợi ích tập thể làm tiêu chuẩn. Trên phương pháp xử lý cũng đặc biệt tôn
trọng ý kiến của Tăng chúng. Mỗi hội nghị của một sự kiện, đều dùng ý kiến tập
trung của Tăng chúng, và tôn trọng biện pháp chủ trương của Trưởng lão để
thống nhất sự việc.
Khi Đức Phật còn
tại thế, Ngài xét sự việc để triệu tập Tăng chúng, tùy thời tùy việc mà cử
hành yết-ma. Do có những yết ma này, khi kết tập Tam tạng, mới biên soạn thành
20 thiên, gọi là 20 Kiền-độ (Khandhaka), dịch là “Pháp tụ”, xét về tính chất
của tác pháp mà quy tụ thành thiên, chương.
Yếu kiện cử hành
yết-ma (hội nghị) gồm có: Thứ nhất, xét về nội dung hội nghị nên triệu tập
“người” (nhân) thế nào? Thứ hai, cử hành ở “nơi chốn” (xứ) nào? Thứ ba, giải
quyết về “công việc” (sự) gì? Thứ tư, dùng “phương pháp” (pháp) gì? Ở trước
khi cử hành một thứ yết-ma, tất phải xem xét trù bị những điều kiện thích hợp
xong rồi mới bắt đầu cử hành. Theo luật chế, yết ma được cử hành viên mãn như
pháp, yết-ma mới thành tựu. Giả sử ở nửa vời phát sinh sự kiện gì chẳng như
pháp, thì yết-ma này không thành tựu, phải cử hành lại.
Phép yết-ma.
- Nương vào từng sự việc trọng yếu
hay không, yết-ma được tiến hành theo 3 phương thức: (1) Có 1 người hay làm
yết-ma. (2) Có 2 người, 3 người cùng làm yết-ma. (3) Có Tăng chúng từ 4 người
trở lên mới có thể làm yết-ma. Ví như, Tỷ-kheo sám hối tội nhẹ Đột-cát-la “vô
tâm mà ngộ phạm”, đó là một người tưởng niệm ở tự bản thân mình, trách phạt
điều lỗi lầm gì mình đã phạm, đồng thời bảo chứng từ nay về sau không tái
phạm, thứ này gọi là phát lồ sám hối.
Thứ tác pháp này
là “phép tâm niệm yết-ma”. Phép tâm niệm yết-ma, chỉ một người có thể
làm, đó là tùy thời tùy nơi chốn, như một Tỷ-kheo ở một mình, hoặc du hành,
giữa đường, tùy thời tùy nơi chốn đều không thoát ly Tăng già đại chúng, đều
không trái với Phật pháp.
Lại như Tỷ-kheo
thọ 3 y, thọ bát, thọ ni-sư-đàn v.v... nhân vì Tỷ-kheo không được phép có
nhiều của vật riêng, các thứ nhu phẩm sinh hoạt tất yếu này, ở lúc lấy dùng
trước hết, phải trải qua phần chứng minh của Tỷ-kheo khác, hướng vị Tỷ-kheo đó
thọ trì y bát. Tỷ-kheo sám hối tội Ba-dật-đề, cho đến sám hối tội trọng
Đột-cát-la, đều là đối diện với một vị Tỷ-kheo mà tác pháp, như thế gọi
“phép đối thú yết-ma”.
Nếu là sự việc
trọng yếu trong Tăng-đoàn, cần phải có từ 4 vị Tỷ-kheo trở lên mới cử hành hội
nghị gọi là “phép Tăng pháp yết-ma”. Phép Tăng pháp yết-ma lại xét sự
việc lớn nhỏ mà chia thành 3 thứ: (1) Đơn bạch yết-ma, đó là xử lý việc
nhỏ, do trong Tăng cử ra người chủ trì yết-ma, người này hướng đại chúng một
lần cáo bạch chủ đề của hội nghị và đồng thời tác pháp để toàn thể thông qua.
Ví như việc thuyết giới, tự-tứ v.v... tuyên cáo trước hội nghị đều là Đơn bạch
yết-ma. Theo Tứ Phần Luật, loại yết-ma này có tất cả 40 thứ, theo “Yết-ma
chỉ nam” nêu chung là 44 thứ. (2) Bạch nhị yết-ma, đó là sự việc
lớn, người chủ trì yết-ma hướng đại chúng, một lần cáo bạch chủ đề, một lần
tuyên đọc quyết nghị, một bạch, một lần yết-ma này gọi là “Bạch nhị yết-ma”.
Như phép kiết giới, sai người tự-tứ v.v... đều dùng phép Bạch nhị yết-ma. Theo
Tứ Phần Luật, loại này gồm có 67 thứ, “Yết-ma chỉ nam” gồm có 78 thứ.
(3) Bạch tứ yết-ma, đó là xử lý sự việc tối trọng yếu trong Tăng-đoàn,
như việc tác pháp thọ Cụ túc giới v.v... người chủ trì yết-ma, một lần cáo
bạch, 3 lần yết-ma. Ở trước phần chưa nói xong lần yết-ma thứ 3, người trong
hội nghị lại có thể đưa ra dị nghị. Phép Bạch tứ yết-ma này, bạch và yết-ma
gồm có 4 lần, gọi là “Bạch tứ yết-ma”. Trong Tứ Phần Luật, loại này gồm có 38
thứ, “Yết-ma chỉ nam” nêu 39 thứ. Đơn bạch, Bạch nhị, Bạch tứ trong
Tăng pháp yết-ma, theo Tứ Phần Luật cộng chung có 145 thứ, theo Yết-ma chỉ
nam, cộng chung có 165 pháp.
Ngoài ra, như các
pháp Thuyết giới, Tự-tứ, Sám tội xả đọa v.v... trên nguyên tắc, phải là phạm
vi “Tăng pháp yết-ma”, nhưng vì nhân số trong Tăng giới không đủ, cũng được
ngoại lệ dùng pháp “Đối thú yết-ma”. Trong Đối thú yết-ma có 2 thứ: (1) “Phép
Đãn đối thú” là bản pháp, theo Yết-ma chỉ nam nêu có 31 pháp. (2) “Phép
Chúng pháp đối thú” là bàng pháp, theo Yết-ma chỉ nam gồm có 6 pháp,
cộng chung là 37 pháp. Như pháp 2, 3 người thuyết giới, và pháp Tự-tứ, đều
không nên làm biệt chúng.
Tâm niệm
yết-ma cũng có 3 loại: (1) “Phép
Đãn tâm niệm” là bản pháp, như trước mặt nói sám tội khinh Đột-cát-la
v.v... theo Yết-ma chỉ nam gồm có 4 pháp. (2) “Phép Đối thú tâm
niệm”, đó là yết-ma phải đối thú tác pháp nhưng vì trong giới không có
người để đối thú, nên khai cho tâm niệm, gọi là “Phép Đối thú tâm niệm”. Theo
Yết-ma chỉ nam, phép này gồm có 15 pháp. (3) “Phép Chúng pháp tâm
niệm”, theo Yết-ma chỉ nam, phép này gồm có 6 pháp, cộng chung là
25 pháp. Cộng chung 3 pháp Tâm niệm và 2 pháp Đối thú là 62 pháp.
Phân biệt các thứ
yết-ma gồm có: “Tam pháp” và “Bát phẩm”. Trong 3 pháp yết ma:
Tăng pháp yết-ma, Đối thú yết-ma và Tâm niệm yết-ma gọi là “Tam
pháp”. Trong Tăng pháp yết-ma có 3 phẩm (là Đơn bạch, Bạch nhị và
Bạch tứ). Trong Đối thú có 2 phẩm (Đãn đối thú và Chúng pháp đối
thú). Trong Tâm niệm có 3 phẩm (Đãn tâm niệm, Đối thú tâm niệm và
Chúng pháp tâm niệm). Ba pháp Tám phẩm này có thể bao quát hết thảy sự
việc lớn nhỏ trong Tăng-đoàn. Tất cả yết-ma trong Tăng-đoàn được an bài và xử
sự rất có điều lý. Cùng một việc có nguyên tắc tác pháp, cũng có tác pháp theo
ngoại lệ, lại có ngoại lệ của ngoại lệ, cách vận dụng yết ma rất linh động. Ví
như Tỷ-kheo an cư, nếu có từ 4 người trở lên, thời theo Tăng pháp yết-ma tập
tăng, nếu khi có 3 người hoặc 2 người, liền dùng bản pháp Đãn đối thú an cư,
nếu chỉ có một người ở một mình, liền dùng phép Tâm niệm an cư.
Sự việc gì, dùng
phép yết-ma gì, đó là mỗi thành viên trong Tăng-đoàn cần phải học tập cho kỹ.
Luật chế, người được thọ giới rồi, phải 5 năm học giới, không được xa thầy y
chỉ, đó là khiến cho mỗi Tăng, Ni ai nấy đều biết xử lý hết thảy sự việc trong
Tăng-đoàn. Nếu 5 năm học giới mà vẫn không thể chủ trì được yết-ma, thời có
quy định “suốt đời chẳng được xa thầy y chỉ”. Tác pháp yết-ma, giả sử làm
không đúng pháp, thời sinh hoạt của Tăng, Ni thiếu phần viên mãn.
Trước tiên, Tăng,
Ni sở dĩ được thành Tỷ-kheo tăng, Tỷ-kheo-ni, tất phải thọ giới Cụ túc. Trong
toàn bộ tác pháp thọ giới Cụ túc, phải trải qua 3 Đơn bạch, 1 Bạch tứ yết ma
(Đơn bạch sai Giáo thọ, Đơn bạch gọi vào chúng, Đơn bạch Giới sư vấn hòa và
Bạch tứ yết-ma chính thọ giới thể). Nếu không thông đạt yết ma, thời làm thế
nào mà tiếp nhận được Tăng, Ni mới. bởi thế, nếu người không học tập tốt
yết-ma thời phép truyền giới không như pháp, việc thọ giới không thành tựu.
Tỳ-kheo giới bản
có 250 điều giới kết hợp với 20 Kiền-độ trong Tứ Phần Luật tạng tóm tắt như
sau:
1. Thọ giới
kiền-độ. - Thuyết minh việc thọ giới.
2. Thuyết giới
kiền độ. - Thuyết minh về nghi thức thuyết giới.
3. An cư
kiền-độ. - Thuyết minh ý nghĩa và sự việc an cư.
4. Tự tứ
kiền-độ. - Nói về ý nghĩa tác pháp tự tứ.
5. Bì cách
kiền-độ. - Khai cho các Tỷ kheo gặp hoàn cảnh đặc biệt được dùng các loại
da thuộc.
6. Y kiền-độ.
- Thuyết minh cách may áo và cách mặc dùng.
7. Dược
kiền-độ. - Thuyết minh vấn đề chữa bệnh, dùng các thứ thuốc.
8. Ca-hi-la y
kiền-độ. - Nói về cách thọ và xả công đức y.
9.
Câu-thiểm-di kiền-độ. - Câu-thiểm-di là tên nước. Trần thuật Tỷ-kheo cùng
đấu tranh lẫn nhau và tam cử yết-ma: cử tội không bỏ ác kiến, không thấy tội,
và không sám hối.
10. Chiêm-ba
kiền-độ. - Thuyết minh về như pháp, phi pháp yết-ma.
11. Ha trách
kiền-độ. - Chế định 7 thứ ha trách v.v... (7 x 5 = 35 việc).
12. Nhân
kiền-độ. - Thuyết minh phạm Tăng-tàn, Lục dạ biệt trụ, phép bản nhật trị
và cách sám hối trừ nghiệp quả, sám diệt phi pháp.
13. Phú tàng
kiền-độ. - Thuyết minh các thứ tướng của tội phú tàng và cách trừ diệt
tội.
14. Giá
kiền-độ. - Nói về ngăn người cử tội người khác, nếu cử tội người phải đủ 5
pháp: (1) Tri thời, (2) Chân thật, (3) Lợi ích, (4) Nhu nhuyến, (5) Từ tâm.
15. Phá Tăng
kiền-độ. - Thuyết minh việc phá hoại Tăng đoàn.
16. Diệt tránh
kiền-độ. - Thuyết minh về pháp Thất diệt tránh.
17. Ni
kiền-độ. - Thuyết minh về các việc Ni chúng thọ giới v.v..., thuyết giới.
18. Pháp
kiền-độ. - Thuyết minh về hết thảy oai nghi pháp thức, đi lại tiến chỉ của
Tỳ-kheo.
19. Phòng
kiền-độ. - Thuyết minh việc sửa sang tu bổ phòng xá.
20. Tạp
kiền-độ. - Thuyết minh xen lẫn hết thảy kiền-độ, cuối cùng nói rõ về cách
trì giới lớn nhỏ.
Trong “San bổ
tùy cơ yết ma” của Đạo Tuyên luật sư, trần thuật lại chia thành 10 thiên
để thâu tóm 20 kiền-độ, liệt kê thiên mục dưới đây:
1. Thiên tập pháp
duyên thành (nói tổng quát về sự duyên thành hay không của tác pháp yết-ma).
2. Thiên kết giải
mọi giới.
3. Thiên nói pháp
thọ các giới.
4. Thiên áo,
thuốc, thọ trì thuyết tịnh.
5. Thiên các pháp
thuyết giới.
6. Thiên các
chúng an cư.
7. Thiên các pháp
tự-tứ.
8. Thiên các pháp
chia áo (vấn đề xử lý áo vật của vong tăng).
9. Thiên phép sám
các tội.
10. Thiên tạp
pháp trụ trì (các việc cốt yếu về trụ trì Phật pháp.
San bổ tùy cơ yết
ma là tác phẩm văn học cổ điển, cần phải nghiên cứu học tập nhiều mới thấu
suốt được tinh nghĩa.
VII. CÁC PHÁP
YẾT-MA
Theo “Yết-ma
chỉ nam” của Sa-môn Chiêu Minh biên soạn, yết-ma sai biệt có 3 loại: 1.
Tăng pháp yết-ma. 2. Đối thú yết-ma. 3. Tâm niệm yết-ma.
Tăng pháp yết-ma
lại có 4 loại: 1. Cầu thính yết-ma. 2. Đơn bạch yết-ma. 3. Bạch nhị yết-ma. 4.
Bạch tứ yết-ma.
Đối thú yết-ma
cũng có 2 loại: 1. Đãn đối thú. 2. Chúng pháp đối thú.
Tâm niệm yết-ma
lại có 3 loại: 1. Đãn tâm niệm. 2. Đối thú tâm niệm. 3. Chúng pháp tâm niệm.
Cầu thính có 2
pháp, Đơn bạch có 44 pháp, Bạch nhị có 78 pháp, Bạch tứ có 39 pháp, cộng là
163 pháp.
Đãn đối thú có 31
pháp, Chúng pháp đối thú có 6 pháp, Đãn tâm niệm có 4 pháp, Đối thú tâm niệm
có 15 pháp, Chúng pháp tâm niệm có 6 pháp, cộng là 62 pháp. Cộng chung 9 loại
thành 225 pháp.
Cầu thính
yết-ma. - Lược có 2 pháp. - Hai
pháp này rút ra ở luật Tăng Kỳ:
1. Pháp tạm ra
ngoài giới giúp việc xong.
2. Pháp cho lìa y
một tháng.
Pháp 1). Trên một
lần bạch là xong việc. Còn
Pháp 2). Trước
phải cầu thính, sau phải tác pháp Bạch tứ yết-ma mới thành.
Đơn bạch
yết-ma. - Tóm lược có 44 pháp. Hai
pháp ra ở luật Căn Bản. Hai pháp ra ở luật Tăng Kỳ. Còn đều ra ở luật Tứ Phần.
Pháp này chỉ có 1 lần bạch, không 2 lần, nên gọi là Đơn bạch. Văn Đơn bạch hòa
Tăng thuyết giới như sau:
“Đại đức Tăng
thính, Kim bạch nguyệt thập ngũ nhật, chúng Tăng thuyết giới. Nhược Tăng thời
đáo, Tăng nhẫn thính. Hòa hợp thuyết giới. Bạch như thị (Tác bạch thành phủ ?
Đáp: “Thành”) - (Bạch Yết ma xong)”.
1. Pháp kết tiểu
giới sám tội xả đọa (ra ở luật Tăng Kỳ).
2. Pháp giải tiểu
giới sám tội xả đọa (ra ở luật Tăng Kỳ).
3. Pháp cho cạo
tóc.
4. Pháp cho xuất
gia.
5. Pháp sai Giáo
thọ vấn nạn ở nơi khuất.
6. Pháp bạch gọi
Sa-di nhập chúng.
7. Pháp đối chúng
vấn nạn.
8. Pháp bạch sám
hối chúng Tăng cùng phạm biết rõ tội.
9. Pháp phát lồ
chúng Tăng cùng phạm tội còn ngờ.
10. Pháp bạch
hành Xá-la (Salàkà) - (Xá-la dịch là trù, cái thẻ làm bằng cây, ngắn và nhỏ. -
Pháp này do Tổ Đạo Tuyên thêm vào).
11. Pháp hòa Tăng
thuyết giới.
12. Pháp phi thời
hòa hợp.
13. Pháp tránh
diệt thuyết giới.
14. Pháp lui
thuyết giới lần thứ nhất.
15. Pháp lui
thuyết giới lần thứ hai.
16. Pháp dự kỳ
nhận thẻ (ra ở luật Tăng Kỳ). - (Pháp hành trù dự định trước ngày an cư).
17. Pháp hòa Tăng
tự-tứ.
18. Pháp gặp nạn
lược tự-tứ.
19. Pháp tu đạo
Tăng ngày tự-tứ.
20. Pháp tranh
cãi Tăng ngày tự-tứ.
21. Pháp Tăng
ngày tự-tứ lần thứ hai.
22. Pháp thọ Công
đức y hòa Tăng.
23. Pháp xả Công
đức y hòa Tăng.
24. Pháp bạch thọ
sám hối trong Tăng.
25. Pháp bạch
Tăng hành bát.
26. Pháp trị tội
người nói dư ngữ (nói quanh co không chịu thú nhận tội).
27. Pháp trị tội
người xúc não lặng thinh (khi gọi không lại, khi không gọi liền lại, làm xúc
não Tăng).
28. Pháp lựa chọn
người trí tuệ tập hợp.
29. Pháp khiến
người không tụng giới không biết giới Tỳ-ni ra ngoài.
30. Pháp khiến
người tụng giới, không tụng giới Tỳ-ni, bỏ chính nghĩa, nói chút ít văn ra
ngoài.
31. Pháp khiến
người bỏ chính nghĩa lấy sức ngôn từ gượng ép nói, ra ngoài.
32. Pháp diệt
tranh cãi như cỏ phủ đất (các Tỷ-kheo cùng tranh cãi phạm nhiều tội, không
phải trọng tội, Phật cho làm pháp sám hối như thảo phủ địa để diệt trừ tranh
cãi này).
33. Pháp bạch
Tăng thuyết tội (ra ở luật Căn Bản).
34. Pháp sai tới
thành Vương Xá kết tập bạch (từ pháp này trở xuống gồm 11 pháp do Tăng chế).
35. Pháp Tăng họp
bàn pháp Tỳ-ni bạch.
36. Pháp Ưu Ba Ly
pháp Tỳ-ni bạch.
37. Pháp hỏi Ưu
Ba Ly trả lời câu hỏi bạch.
38. Pháp hỏi A
Nan pháp Tỳ-ni bạch.
39. Pháp A Nan
trả lời câu hỏi bạch.
40. Pháp 700
A-la-hán bàn pháp Tỳ-ni bạch.
41. Pháp cử các
Thượng tọa họp nơi riêng bàn pháp Tỳ-ni bạch.
42. Pháp họp
riêng bàn pháp Tỳ-ni bạch.
43. Pháp hỏi Nhất
Thiết Khứ Thượng tọa về pháp Tỳ-ni bạch.
44. Pháp Thượng
tọa trả lời về pháp Tỳ-ni bạch.
Bạch nhị
yết-ma. - Lược có 78 pháp: 2 pháp
ra ở luật Thập Tụng, 2 pháp ở luật Căn Bản, 2 pháp ở luật Tăng Kỳ, 3 pháp ở
luật Ngũ Phần, còn đều ở luật Tứ Phần. Yết-ma gồm có 2 phần, 1 lần bạch, một
lần yết-ma, nên gọi là Bạch nhị. Như văn yết-ma sai người thọ tự-tứ: “Đại đức
Tăng thính: Nhược Tăng thời đáo, Tăng nhẫn thính, Tăng sai Tỷ-kheo (mỗ) tác
thọ tự-tứ nhân, bạch như thị (liền nên hỏi rằng) Tác bạch thành phủ ? (Chúng
đều đáp) Thành. (Lại nói) Đại đức Tăng thính. Tăng sai Tỷ-kheo (mỗ) tác thọ tự
tứ nhân. Thùy chư Trưởng lão nhẫn. Tăng sai Tỷ-kheo (mỗ), tác thọ tự tứ nhân
giả mặc nhiên. Thùy bất nhẫn giả thuyết. (Rồi nên hỏi rằng) Yết ma thành phủ ?
(Chúng đều đáp) Thành. Tăng dĩ nhẫn sai, Tỷ-kheo (mỗ) tác thọ tự tứ nhân kính.
Tăng nhẫn mặc nhiên cố. Thị sự như thì trí”.
1. Pháp kết đại
giới không giới tràng.
2. Pháp giải đại
giới.
3. Pháp kết giới
tràng gồm đại giới.
4. Pháp giải giới
tràng (Tổ Đạo Tuyên thêm pháp này).
5. Pháp kết giới
pháp và lợi chung.
6. Pháp giải giới
pháp và lợi chung.
7. Pháp kết giới
pháp chung lợi riêng.
8. Pháp giải giới
pháp chung lợi riêng.
9. Pháp cùng giải
đại giới hai nơi.
10. Pháp kết giới
pháp riêng lợi chung.
11. Pháp giải
giới pháp riêng lợi chung.
12. Pháp kết giới
không mất áo.
13. Pháp giải
giới không mất áo.
14. Pháp 2 nơi
cùng kết không ly y (ra ở luật Tăng Kỳ).
15. Pháp kết giới
tịnh trù.
16. Pháp giải
giới tịnh trù (Tổ Đạo Tuyên thêm)
17. Pháp kết giới
tịnh khố (ra ở luật Ngũ Phần)
18. Pháp kết giới
kho tàng.
19. Pháp giải
giới kho tàng.
20. Pháp kết giới
nhà thuyết giới.
21. Pháp giải
giới nhà thuyết giới.
22. Pháp kết tiểu
giới thuyết giới.
23. Pháp giải
tiểu giới thuyết giới.
24. Pháp kết tiểu
giới thọ giới.
25. Pháp giải
tiểu giới thọ giới.
26. Pháp kết tiểu
giới tự-tứ.
27. Pháp giải
tiểu giới tự-tứ.
28. Pháp cho nuôi
chúng.
29. Pháp cho
ngoại đạo ở chung.
30. Pháp Ni sai
sứ thọ giới Cụ túc.
31. Pháp ngăn Ni
nuôi chúng (ra ở luật Thập Tụng).
32. Pháp Ni sai
người cầu thầy Giáo thọ.
33. Pháp sai
người Giáo thọ Ni.
34. Pháp sai
người hành Xá-la.
35. Pháp cho
cuồng si.
36. Pháp giải
cuồng si.
37. Pháp sai
người chia phòng xá, đồ nằm.
38. Pháp thọ nửa
tháng, một tháng tạm ra ngoài giới.
39. Pháp thọ 39
đêm tạm ra ngoài giới (ra ở luật Thập Tụng).
40. Pháp thọ 40
đêm tạm ra ngoài giới (ra ở luật Căn Bản).
41. Pháp Ni sai
người tự-tứ đến trong đại Tăng.
42. Pháp sai
người thọ tự-tứ.
43. Pháp tự-tứ
Tăng thọ vải may áo phải thời (ra ở luật Tăng Kỳ).
44. Pháp sai
người may áo công đức.
45. Pháp sai
người giữ áo công đức.
46. Pháp trao áo
công đức.
47. Pháp sai
người chia cho Tăng được vật bố thí.
48. Pháp giao thí
vật để chia.
49. Pháp trực
tiếp chia cho Tăng được áo, vật bố thí (chỉ có 4 Tỷ-kheo hiện tiền).
50. Pháp thưởng
người coi bệnh.
51. Pháp trả vật
của người mất cho người khác (ra ở luật Ngũ Phần).
52. Pháp sai
người chia vật khinh, trọng của người mất.
53. Pháp giao vật
của người mất để chia.
54. Pháp đem vật
của người mất cho Tỷ-kheo không có y (ra ở luật Ngũ Phần).
55. Pháp trực
tiếp chia vật khinh của người mất.
56. Pháp gián
tiếp (triển chuyển) hoàn lại vật.
57. Pháp trực
tiếp giao lại vật.
58. Pháp sai
người hành bát.
59. Pháp khiến
giữ gìn bát không được cố ý hủy hoại.
60. Pháp sai
người sám tạ bạch y (cư sĩ).
61. Pháp cho úp
bát (phú bát).
62. Pháp sai sứ
bảo nhà phú bát.
63. Pháp giải phú
bát.
64. Pháp Ni cùng
Tỷ-kheo làm pháp không lễ.
65. Pháp giải
không lễ.
66. Pháp cho làm
phòng nhỏ.
67. Pháp cho làm
phòng lớn.
68. Pháp sai
người nói người phạm thô tội.
69. Pháp cho ly
y.
70. Pháp kém 6
năm cho may ngoại cụ.
71. Pháp ngăn
không đến học gia (Học gia, nghĩa là người cư sĩ ở tại gia mà chứng quả, sơ
quả, nhị quả, tam quả).
72. Pháp giải
không đến học gia.
73. Pháp cho chứa
gậy và túi đựng bát.
74. Pháp cho Ni
một mình đến nhà họ hàng thân (ra ở luật Căn Bản).
75. Pháp sai
người chia cho Tăng ngoại cụ, và khiến lượt sai thọ thỉnh.
76. Pháp sai
người giữ kho tàng.
77. Pháp sai
Tỷ-kheo sắp đặt phòng.
78. Pháp giao
phòng cũ cho đạo tục sửa lại (Cư sĩ sửa chữa, Tỷ-kheo kinh doanh).
Bạch tứ
yết-ma. - Lược có 39 pháp. Một pháp
ra ở luật Tăng Kỳ, còn đều ở luật Tứ Phần. Pháp này một lần tác bạch, ba lần
yết-ma nên gọi là “Bạch tứ”. Văn “Bạch tứ yết-ma” trao giới Cụ túc như sau:
“Đại đức Tăng
nghe, Sa-di (Mỗ A, B, C) này, theo Hòa thượng (thượng Mỗ hạ Mỗ) cầu thọ giới
Cụ túc. Sa di (A, B, C) này, nay theo chúng Tăng xin thọ giới Cụ túc (thượng
Mỗ hạ Mỗ) làm Hòa thượng, (A, B, C) tự nói mình thanh tịnh, không có các
chướng nạn, tuổi vừa 20, ba y, bát đều đủ. Nếu Tăng thời đến, Tăng thuận nghe,
Tăng trao giới Cụ túc cho (A, B, C), (thượng Mỗ hạ Mỗ) làm Hòa thượng. Bạch
như thế (rồi hỏi): Tác bạch có thành không? (Thầy Tôn chứng chắp tay đáp):
“Thành” (Đó là một lần bạch). (Lại bạch rằng):
“Đại đức Tăng
nghe, Sa-di (A, B, C) này, theo Hòa thượng (thượng Mỗ hạ Mỗ) cầu thọ giới Cụ
túc. Sa di (A, B, C) này, nay theo chúng Tăng xin thọ giới Cụ túc, (thượng Mỗ
hạ Mỗ) làm Hòa thượng. (A, B, C) tự nói mình thanh tịnh, không có các chướng
nạn, tuổi vừa 20, 3 y, bát đều đủ. Tăng trao giới Cụ túc cho (A, B, C),
(thượng Mỗ hạ Mỗ) làm Hòa thượng. Các trưởng lão nào bằng lòng Tăng trao giới
Cụ túc cho (A, B, C) (thượng Mỗ hạ Mỗ) làm Hòa thượng thì im lặng, ai không
bằng lòng thì nói. (Liền hỏi): Đây là yết-ma thứ nhất có thành không? (Đáp
rằng) “Thành” (yết-ma thứ nhất).
(Lại đọc như
trên: Đại đức Tăng nghe v.v... Xong lại hỏi rằng):
“Đây là yết-ma
thứ 2 có thành không? (Đáp rằng): “Thành”.
“Đây là yết-ma
thứ 3 có thành không? (Đáp rằng): “Thành”.
(Rồi lại nói):
Tăng đã bằng lòng
trao giới Cụ túc cho (A, B, C) xong, (thượng Mỗ hạ Mỗ) làm Hòa thượng. Vị Tăng
bằng lòng im lặng, nên giữ việc ấy như thế”.
Sau đây là 39
pháp:
1. Pháp trao giới
Cụ túc.
2. Pháp trao giới
Thức-xoa-ma-na.
3. Pháp diệt tẩn
(đuổi ra khỏi hàng Tỷ-kheo).
4. Pháp cho học
hối (phạm trọng giới, tâm biết hối hận).
5. Pháp cho phú
tàng (che giấu).
6. Pháp cho
ma-na-đỏa (ý hỷ)
7. Pháp cho xuất
tội.
8. Pháp bản nhật
trị.
9. Pháp can phá
Tăng.
10. Pháp can giúp
phá Tăng.
11. Pháp tẩn xuất
(đuổi ra).
12. Pháp giải tẩn
xuất.
13. Pháp mắng
trách can ngăn bị đuổi rồi chê gièm.
14. Pháp can ác
tánh.
15. Pháp can ác
tà.
16. Pháp cử tội
không bỏ ác kiến.
17. Pháp giải cử
tội không bỏ ác kiến.
18. Pháp mắng
trách can ngăn Sa-di ác tà.
19. Pháp diệt tẩn
Sa-di ác tà.
20. Pháp ha trách
(mắng trách).
21. Pháp giải ha
trách.
22. Pháp cho y
chỉ.
23. Pháp giải y
chỉ.
24. Pháp ngăn
không đến nhà bạch y.
25. Pháp giải
ngăn không đến nhà bạch y.
26. Pháp cử tội
không thấy tội.
27. Pháp giải cử
tội không thấy tội.
28. Pháp cử tội
không sám hối.
29. Pháp giải cử
tội không sám hối.
30. Pháp Ni can
tùy thuận Tỷ-kheo bị cử tội.
31. Pháp Ni can
tập cận trụ.
32. Pháp Ni can
khuyên tập cận trụ.
33. Pháp Ni can
giận bỏ Tam bảo.
34. Pháp Ni can
gây tranh cãi.
35. Pháp Ni can
tập gần con cư sĩ.
36. Pháp cho nhớ
nghĩ.
37. Pháp cho
không cuồng si.
38. Pháp cho tìm
tướng tội.
39. Pháp cho lìa
áo một tháng (ra ở luật Tăng Kỳ).
Đãn đối thú
yết-ma. - Lược có 31 pháp. Văn này
thông cả các bộ luật, pháp này 2 người ở nơi khuất cùng đối nhau mà làm, nên
gọi là “Đãn đối thú”.
1. Pháp thỉnh
thầy y chỉ.
2. Pháp biết tội
phát lồ.
3. Pháp ngờ tội
phát lồ.
4. Pháp gởi dục.
5. Pháp Ni bạch
vào chùa Tăng.
6. Pháp Ni dặn
thỉnh Giáo thọ.
7. Pháp an cư.
8. Pháp thọ 7
ngày ra ngoài giới.
9. Pháp thọ đêm
còn thừa ra ngoài giới.
10. Pháp thọ 3 y.
11. Pháp xả 3 y.
12. Pháp thọ 101
y vật (nhiều vật chỉ thọ 1 còn thuyết tịnh).
13. Pháp xả 101 y
vật.
14. Pháp thọ bát.
15. Pháp xả bát.
16. Pháp thọ
ni-sư-đàn (tọa cụ).
17. Pháp xả
ni-sư-đàn.
18. Pháp thọ dược
(các thứ thuốc).
19. Pháp vật thừa
thuyết tịnh.
20. Pháp bạch
ngưng làm “phú tàng”.
21. Pháp bạch lại
làm “phú tàng”.
22. Pháp người đi
thay bạch ngưng làm “phú tàng”.
23. Pháp sám tội
thâu lan giá nhẹ.
24. Pháp sám
Ba-dật-đề.
25. Pháp sám
Ba-la-đề-đề-xá-ni.
26. Pháp sám tội
Đột-cát-la nặng.
27. Pháp làm phép
dư thực (ăn no rồi muốn ăn nữa phải làm phép dư thực).
28. Pháp dặn bảo
vào thành.
29. Pháp bạch phi
thời vào tụ lạc.
30. Pháp xả thỉnh
(bỏ nơi đã nhận mời).
31. Pháp xả giới.
Chúng pháp đối
thú yết-ma. - Lược có 6 pháp. Sáu
pháp này không nên biệt chúng làm, nên gọi là “Chúng pháp đối thú”.
1. Pháp 3 hoặc 2
người thuyết giới.
2. Pháp tự-tứ.
3. Pháp 3 hoặc 2
người chia Tăng được thí vật.
4. Pháp 3 hoặc 2
người chia vật khinh trọng của người mất.
5. Pháp sám tội
Thâu-lan-giá nặng.
6. Pháp sám tội
xả đọa.
Đãn tâm niệm
yết-ma. - Lược có 4 pháp. Những
pháp này, nơi có người, không người đều nên tâm niệm làm, nên gọi là “Đãn tâm
niệm”.
1. Pháp biết tội
phát lồ trong tòa thuyết giới.
2. Pháp ngờ tội
phát lồ trong tòa thuyết giới.
3. Pháp sám tội
Đột-cát-la nhẹ.
4. Pháp lục niệm:
(1) Nghĩ số ngày
tháng.
(2) Nghĩ biết nơi
ăn.
(3) Nghĩ biết
ngày thọ giới và tuổi hạ.
(4) Nghĩ biết y,
bát thọ trì và thuyết tịnh.
(5) Nghĩ không
biệt chúng thực.
Đối thú tâm
niệm yết- ma. - Lược có 15 pháp.
Những pháp này từ trong pháp Đãn đối thú mà ra, bởi không có người đối thú,
mới khai cho tâm niệm, nên gọi là “Đối thú tâm niệm”.
1. Pháp biết tội
phát lồ.
2. Pháp ngờ tội
phát lồ.
3. Pháp an cư.
4. Pháp thọ 7
ngày ra ngoài giới.
5. Pháp thọ đêm
còn thừa ra ngoài giới.
6. Pháp thọ 3 y.
7. Pháp xả 3 y.
8. Pháp thọ 101
vật.
9. Pháp xả 101
vật.
10. Pháp thọ bát.
11. Pháp xả bát.
12. Pháp thọ
ni-sư-đàn.
13. Pháp xả
ni-sư-đàn.
14. Pháp thọ dược
(các thứ thuốc).
15. Pháp vật thừa
thuyết tịnh.
Chúng pháp tâm
niệm yết-ma. - Lược có 6 pháp.
Những pháp này đều từ trong Chúng pháp phát sinh. Bởi ở một mình không có
chúng cùng tác pháp mới khai cho tâm niệm, để làm được việc chúng pháp, nên
gọi là “Chúng pháp tâm niệm”.
1. Pháp thuyết
giới.
2. Pháp tự-tứ.
3. Pháp thọ công
đức y.
4. Pháp xả công
đức y.
5. Pháp thọ Tăng
được thí vật.
6. Pháp thọ vật
khinh trọng của người mất.
VIII. PHÂN
LOẠI VỀ GIỚI PHÁP
Vì giới pháp của
Tăng, Ni tu hành có vô lượng vô biên, nên các bậc cổ đức tạm chia ra làm 2
thứ: Thông giới và Biệt giới.
Thông giới là Tam
tụ tịnh giới (Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiếp chúng sinh
giới) của Đại thừa Bồ-tát giới. Nhiếp luật nghi giới là chế ngự mọi điều ác.
Nhiếp thiện pháp giới, khuyên làm các điều thiện. Nhiếp chúng sinh giới là lợi
ích hết thảy chúng sinh. Người đệ tử Phật thọ trì 3 giới này, không giới hạn ở
trong hàng xuất gia mà thông cả xuất gia và tại gia.
Biệt giới là
những giới điều dành riêng cho chúng Tỷ-kheo thuộc Thanh văn Tiểu thừa giới.
Nếu nói tổng quát, giới của Tỷ-kheo tăng về phần rộng thì vô lượng, ở phần
trung có 8 vạn oai nghi, 12 vạn tế hạnh, về phần lược có 250 giới. Và giới của
Tỷ-kheo-ni cũng có 3 phần, phần rộng thì vô lượng, phần trung bình, 8 vạn oai
nghi, 12 vạn tế hạnh, phần lược có 348 giới.
Theo Tứ Phần luật
phân loại về giới, có Lược giới và Cụ túc giới. Trong phần Lược giới lại có 4
loại: Ngũ giới, Bát giới, Thập giới và Lục pháp.
Ngũ giới:
1. Giới không sát sinh. 2. Giới
không trộm cắp. 3. Giới không tà dâm. 4. Giới không vọng ngữ. 5. Giới không
uống rượu.
Bát giới:
1. Giới không sát sinh. 2. Giới
không trộm cắp. 3. Giới không dâm dục. 4. Giới không vọng ngữ. 5. Giới không
uống rượu. 6. Giới không đeo tràng anh lạc, hoa thơm, xoa dầu thơm vào mình.
7. Giới không ngồi trên giường cao đẹp, và làm trò nhạc, ca, múa, cố đi xem
nghe. 8. Giới không ăn phi thời.
Thập giới:
1. Giới không sát sinh. 2. Giới
không trộm cắp. 3. Giới không dâm dục. 4. Giới không vọng ngữ. 5. Giới không
uống rượu. 6. Giới không đeo tràng hoa thơm, xoa dầu thơm vào mình. 7. Giới
không được ca múa hát xướng, cố đi xem nghe. 8. Giới không được ngồi trên
giường cao rộng lớn. 9. Giới không ăn phi thời. 10. Giới không được cầm giữ
vàng bạc của báu.
Lục pháp (6
giới pháp): 1. Tâm ô nhiễm đụng
chạm. 2. Trộm của người 4 tiền. 3. Đoạn mệnh chúng sinh. 4. Tiểu vọng ngữ. 5.
Ăn phi thời. 6. Uống rượu.
Cụ túc giới:
Cụ túc giới của bên Tăng gồm 250 giới, Ni gồm 348 giới, đều được ghi rõ trong
giới bản của Tỷ-kheo tăng và giới bản của Tỷ-kheo-ni.
Danh mục 250 giới
của Tỷ-kheo được tóm lại thành 8 phần hay 8 đoạn như sau:
1. Ba-la-di....
có 4 giới
2. Tăng-tàn. có
13 giới
3. Bất định... có
2 giới
4. Xả đọa. có 30
giới
5. Đơn đọa.. có
90 giới
6. Đề-xá-ni....
có 4 giới
7. Chúng học. có
100 giới
8. Diệt tránh. 7
giới
1. Ba-la-di:
4 giới
1. Giới đại dâm
(dâm dục).
2. Giới đại sát
(giết hại).
3. Giới trộm cắp.
4. Giới đại vọng
ngữ (nói càn).
2. Tăng-tàn:
12 giới
1. Giới cố xuất
bất tịnh.
2. Giới đụng chạm
người nữ.
3. Giới nói lời
thô kệch cùng người nữ.
4. Giới khen mình
đòi người nữ cung dưỡng.
5. Giới làm người
mai mối.
6. Giới tự làm
nhà không chủ xử phân quá lượng.
7. Giới làm nhà
có chủ vì mình không người xử phân nơi chốn.
8. Giới vu báng
tội Ba-la-di không căn cứ.
9. Giới vu báng
tội Ba-la-di mượn căn cứ.
10. Giới can ngăn
phá hòa hợp Tăng.
11. Giới can ngăn
giúp phá hòa hợp Tăng.
12. Giới can ngăn
nhờ nhà người, bị đuổi rồi báng Tăng.
13. Giới can ngăn
ác tính chống Tăng.
3. Bất định:
2 giới
1. Giới bất định
cùng người nữ ở chốn che khuất.
2. Giới bất định
cùng người nữ ở chốn quang đãng.
4. Xả đọa: 30
giới
1. Giới chứa
trượng y quá hạn 10 ngày.
2. Giới lìa y
cách đêm ngủ.
3. Giới chứa y
mong cầu quá hạn 1 tháng.
4. Giới lấy y của
Tỷ-kheo-ni không phải bà con.
5. Giới khiến
Tỷ-kheo-ni không phải bà con giặt, nhuộm y.
6. Giới theo cư
sĩ không phải bà con xin y.
7. Giới lấy áo
quá phần.
8. Giới khuyên cư
sĩ tăng giá y.
9. Giới khuyên 2
cư sĩ tăng giá y.
10. Giới đòi y
gấp quá hạn 6 lần.
11. Giới may ngọa
cụ bằng tơ tằm.
12. Giới may ngọa
cụ bằng lông thú đen.
13. Giới may ngọa
cụ bằng lông thú trắng.
14. Giới dùng
ngọa cụ chưa đủ 6 năm.
15. Giới may ngọa
cụ không khâu miếng vải cũ.
16. Giới mang
lông dê quá 3 do tuần.
17. Giới khiến Ni
không phải bà con nhuộm lông dê.
18. Giới chứa
tiền vàng bạc.
19. Giới đổi chác
tiền bạc.
20. Giới đổi chác
các thứ.
21. Giới chứa bát
quá hạn 10 ngày.
22. Giới dùng bát
kém 5 vết rạn không dò, cầu bát mới.
23. Giới xin sợi
khiến thợ dệt không phải bà con dệt y.
24. Giới khuyên
thợ dệt dệt y tốt đẹp.
25. Giới cho
Tỷ-kheo y sau lại đòi lại.
26. Giới chứa
thuốc quá hạn 7 ngày.
27. Giới qua
trước hạn cầu áo tắm mưa, qua trước hạn dùng áo tắm mưa.
28. Giới nhận cấp
thí y qua trước thời hạn, chứa cấp thí y qua sau thời hạn.
29. Giới ở chốn
A-lan-nhã nếu có ngờ (ngờ có giặc cướp) lìa y ngủ quá hạn 6 đêm.
30. Giới xin của
Tăng về nhà mình.
5. Đơn đọa: 90
giới
1. Giới cố vọng
ngữ.
2. Giới chê mắng
đủ kiểu.
3. Giới nói lưỡi
đôi chiều.
4. Giới cùng phụ
nữ cùng nhà ngủ.
5. Giới cùng
người chưa thọ đại giới ngủ quá hạn 2 đêm.
6. Giới cùng
người chưa thọ đại giới cùng tụng kinh.
7. Giới trước
người chưa thọ đại giới nói tội thô (Ba-la-di, Tăng-tàn)
8. Giới hướng
người bạch y nói pháp tự chứng.
9. Giới một mình
cùng người nữ nói pháp.
10. Giới đào đất.
11. Giới phá hoại
chỗ ở của quỷ thần.
12. Giới dư ngữ
(nói quanh) và xúc não Tăng.
13. Giới hiềm
mắng người.
14. Giới trải đồ
nằm ngồi của Tăng ở nơi đất trống không tự cất.
15. Giới trải đồ
nằm của Tăng trong phòng không cất.
16. Giới trải đồ
nằm cưỡng đoạt chỗ ngủ.
17. Giới đuổi
Tỷ-kheo khỏi phòng.
18. Giới trên
tầng gác, nằm giường sút chân.
19. Giới dùng
nước có trùng, xối trên bùn, cỏ.
20. Giới lợp nhà
quá 3 lớp.
21. Giới tự đi
giáo thọ Ni.
22. Giới vì Ni
thuyết pháp đến chiều tối.
23. Giới chê bàn
người giáo thọ Ni.
24. Giới cho y
Tỷ-kheo-ni không phải bà con.
25. Giới may y vì
Tỷ-kheo-ni không phải bà con.
26. Giới cùng với
Ni ngồi chỗ khuất.
27. Giới hẹn với
Ni cùng đi một đường.
28. Giới hẹn với
Ni cùng đi một thuyền.
29. Giới do Ni
khen ngợi được thức ăn.
30. Giới cùng phụ
nữ hẹn cùng đi một đường.
31. Giới nhận quá
mức cúng một bữa ăn.
32. Giới lần lượt
ăn (bội thỉnh).
33. Giới ăn biệt
chúng.
34. Giới thọ
thỉnh quá hạn 3 bát.
35. Giới chẳng
làm pháp dư thực mà ăn.
36. Giới khiến
Tỷ-kheo phạm dư thực.
37. Giới xin ăn
phi thời.
38. Giới ăn thức
ăn cách đêm.
39. Giới không
thỉnh mà thọ thức ăn.
40. Giới không
bệnh đòi thức ăn ngon.
41. Giới tự tay
cho ngoại đạo thức ăn.
42. Giới đến nhà
khác không dặn bảo.
43. Giới ở trong
thực gia gượng ngồi.
44. Giới ở trong
thực gia ngồi chỗ khuất.
45. Giới một mình
cùng ngồi với người nữ.
46. Giới khiến
Tỷ-kheo không được thức ăn.
47. Giới thọ dược
quá hạn.
48. Giới đi theo
quân trận.
49. Giới đến
trong quân trận quá hạn 3 đêm.
50. Giới xem thế
lực quân trận.
51. Giới uống
rượu.
52. Giới tắm sông
đùa giỡn.
53. Giới cù nôn
nhau.
54. Giới không
nhận lời can gián.
55. Giới khủng bố
Tỷ-kheo.
56. Giới quá hạn
nửa tháng tắm rửa một lần.
57. Giới ở đất
trống đốt lửa.
58. Giới giấu y,
vật của Tỷ-kheo.
59. Giới cho y
rồi tự lấy mặc không nói với chủ.
60. Giới mặc áo
mới không làm phai màu.
61. Giới cố giết
súc sinh.
62. Giới uống,
dùng nước có trùng.
63. Giới cố xúc
não Tỷ-kheo.
64. Giới che giấu
tội thô của Tỷ-kheo khác.
65. Giới kém tuổi
cho thọ Đại giới.
66. Giới khơi lại
việc tranh cãi.
67. Giới hẹn với
giặc cùng đi một đường.
68. Giới không bỏ
ác kiến.
69. Giới làm bè
đảng với người không bỏ ác kiến.
70. Giới chứa
nuôi Sa-di bị đuổi.
71. Giới trái lời
can gián, lại nạn vấn Tỷ-kheo.
72. Giới khinh
mắng người thuyết giới.
73. Giới nói dối
mới biết giới pháp.
74. Giới phản lại
Yết-ma.
75. Giới không
gởi dục.
76. Giới gởi dục
sau ăn năn.
77. Giới nghe lỏm
Tỷ-kheo cùng Tỷ-kheo tranh cãi rồi truyền cho người khác.
78. Giới giận
đánh Tỷ-kheo.
79. Giới giận tát
Tỷ-kheo.
80. Giới hủy báng
phạm tội Tăng tàn không căn cứ.
81. Giới vào cửa
cung vua.
82. Giới mang cầm
của báu.
83. Giới vào làng
xóm trái thời.
84. Giới làm
giường quá hạn lượng.
85. Giới nhồi
bông hoa làm giường nệm.
86. Giới làm ống
đựng kim bằng xương, nanh, sừng.
87. Giới may tọa
cụ quá lượng.
88. Giới may áo
che phủ quá lượng.
89. Giới may áo
tắm mưa quá lượng.
90. Giới bằng
lượng y của Phật.
6. Đề-xá-ni: 4
giới
1.Giới thọ thức
ăn của Ni không phải bà con.
2. Giới thọ Ni
chỉ bảo thức ăn.
3. Giới ở nhà học
gia thọ thức ăn.
4. Giới ở chốn sợ
hãi thọ thức ăn.
7. Chúng học:
100 giới
1. Giới mặc quần
áo phải tề chỉnh.
2. Giới mặc 3 y
phải tề chỉnh.
3. Giới không
được vắt trái áo vào nhà cư sĩ.
4. Giới không
được vắt trái áo vào nhà cư sĩ ngồi.
5. Giới không
được áo quấn cổ vào nhà cư sĩ.
6. Giới không
được áo quấn cổ vào nhà cư sĩ ngồi.
7. Giới không
được trùm áo lên đầu vào nhà cư sĩ.
8. Giới không
được trùm áo lên đầu vào nhà cư sĩ ngồi.
9. Giới không
được vừa đi vừa nhảy vào nhà cư sĩ.
10. Giới không
được vừa đi vừa nhảy vào nhà cư sĩ ngồi.
11. Giới không
được ngồi xổm vào nhà cư sĩ.
12. Giới không
được lấy tay chống nạnh vào nhà cư sĩ.
13. Giới không
được lấy tay chống nạnh vào nhà cư sĩ ngồi.
14. Giới không
được rùng mình đi vào nhà cư sĩ.
15. Giới không
được rùng mình đi vào ngồi nhà cư sĩ.
16. Giới không
được vung cánh tay đi vào nhà cư sĩ.
17. Giới không
được vung cánh tay đi vào nhà cư sĩ ngồi.
18. Giới khéo che
thân đi vào nhà cư sĩ.
19. Giới khéo che
thân vào ngồi nhà cư sĩ.
20. Giới không
được ngó nhìn hai bên đi vào nhà cư sĩ.
21. Giới không
được ngó nhìn hai bên ngồi trong nhà cư sĩ.
22. Giới im lặng
vào nhà cư sĩ.
23. Giới im lặng
vào ngồi nhà cư sĩ.
24. Giới không
được cười đùa đi vào nhà cư sĩ.
25. Giới không
được cười đùa ngồi trong nhà cư sĩ.
26. Giới nên dụng
ý khi thọ thực.
27. Giới lấy thức
ăn vừa ngang miệng bát.
28. Giới lấy canh
ngang miệng bát.
29. Giới cơm canh
cân bằng mà ăn.
30. Giới lấy thức
ăn theo thứ lớp.
31. Giới không
được khều giữa bát mà ăn.
32. Giới nếu
Tỷ-kheo không bệnh không được tự vì mình xin cơm canh.
33. Giới không
được lấy cơm đậy canh lại mong được nữa.
34. Giới không
được nhìn trong bát người ngồi gần khi ăn.
35. Giới nên để ý
vào bát quán tưởng thức ăn mà ăn.
36. Giới không
được nắm cơm nắm mà ăn.
37. Giới không
được há miệng lớn đợi cơm mà ăn.
38. Giới không
được ngậm cơm nói chuyện.
39. Giới không
được nắm cơm từ xa ném vào miệng.
40. Giới không
được nắm cơm còn lại mà ăn.
41. Giới không
được phùng má mà ăn.
42. Giới không
được nhai đồ ăn ra tiếng mà ăn.
43. Giới không
được húp thức ăn ra tiếng mà ăn.
44. Giới không
được lè lưỡi liếm thức ăn.
45. Giới không
được vung tay mà ăn.
46. Giới không
được tay nhặt cơm mà ăn.
47. Giới không
được tay nhơ cầm bát đựng thức ăn.
48. Giới không
được đổ nước rửa bát vào nhà cư sĩ.
49. Giới không
được đại tiểu tiện, hỉ nhổ trên rau cỏ tươi, trừ bệnh.
50. Giới không
được đại tiểu tiện, hỉ nhổ trong dòng nước, trừ bệnh.
51. Giới không
được đứng đại tiểu tiện, trừ bệnh.
52. Giới không
được thuyết pháp cho người vắt trái áo trên vai không cung kính, trừ bệnh.
53. Giới không
được vì người vấn áo trên cổ mà thuyết pháp, trừ bệnh.
54. Giới không
được vì người che đầu mà thuyết pháp, trừ bệnh.
55. Giới không
được vì người trùm đầu mà thuyết pháp, trừ bệnh.
56. Giới không
được vì người tay chống nạnh mà thuyết pháp, trừ bệnh.
57. Giới không
được vì người đi dép da mà thuyết pháp, trừ bệnh.
58. Giới không
được vì người mang guốc gỗ mà thuyết pháp, trừ bệnh.
59. Giới không
được vì người cưỡi ngựa mà thuyết pháp, trừ bệnh.
60. Giới không
được ngủ nghỉ trong tháp Phật, trừ vì giữ gìn.
61. Giới không
được cất giấu của cải trong tháp, trừ vì bền chắc.
62. Giới không
được mang dép da vào trong tháp Phật.
63. Giới không
được cầm dép da vào trong tháp Phật.
64. Giới không
được mang dép da đi nhiễu tháp Phật.
65. Giới không
được đi giày bố bịt gót vào tháp Phật.
66. Giới không
được cầm giày bố bịt gót vào tháp Phật.
67. Giới ngồi ăn
dưới tháp, không được để cỏ và thức ăn nhơ đất.
68. Giới không
được khiêng thây chết đi ngang qua dưới tháp.
69. Giới không
được dưới tháp chôn thây chết.
70. Giới không
được dưới tháp đốt thây chết.
71. Giới không
được trước tháp đốt thây chết.
72. Giới không
được bốn phía tháp Phật đốt thây chết.
73. Giới không
được mang áo và giường người chết từ dưới tháp đi ngang qua, trừ khi giặt
nhuộm, xông hương.
74. Giới không
được dưới tháp Phật đại tiểu tiện.
75. Giới không
được trước tháp Phật đại tiểu tiện.
76. Giới không
được quanh tháp Phật đại tiểu tiện.
77. Giới không
được mang ảnh Phật đến chỗ đại tiểu tiện.
78. Giới không
được ở dưới tháp Phật nhấm cành dương.
79. Giới không
được trước tháp Phật nhấm cành dương.
80. Giới không
được bốn phía tháp Phật nhấm cành dương.
81. Giới không
được dưới tháp Phật hỉ mũi, khạc nhổ.
82. Giới không
được trước tháp Phật hỉ mũi, khạc nhổ.
83. Giới không
được bốn phía tháp hỉ mũi, khạc nhổ.
84. Giới không
được ngồi duỗi chân trước tháp.
85. Giới không
được để tháp ở phòng thấp xấu, mình ở phòng cao đẹp.
86. Giới không
được vì người ngồi, mình đứng mà thuyết pháp, trừ bệnh.
87. Giới không
được vì người nằm, mình ngồi mà thuyết pháp, trừ bệnh.
88. Giới không
được vì người ngồi chính giữa, mình ngồi bên mà thuyết pháp, trừ bệnh.
89. Giới không
được vì người ngồi chỗ cao, mình ngồi chỗ thấp mà thuyết pháp, trừ bệnh.
90. Giới không
được vì người đi trước, mình đi sau mà thuyết pháp, trừ bệnh.
91. Giới không
được vì người đi kinh hành chỗ cao, mình đi kinh hành chỗ thấp mà thuyết pháp,
trừ bệnh.
92. Giới không
được vì người ở giữa đường, mình bên lề đường mà thuyết pháp, trừ bệnh.
93. Giới không
được nắm tay nhau đi ở đường.
94. Giới không
được ở trên cây cao quá đầu người, trừ khi có nhân duyên.
95. Giới không
được dùng túi đan đựng bát, xâu đầu gậy vác trên vai mà đi.
96. Giới không
được vì người cầm gậy không cung kính mà thuyết pháp, trừ bệnh.
97. Giới không
được vì người cầm gươm mà thuyết pháp, trừ bệnh.
98. Giới không
được vì người cầm giáo mà thuyết pháp, trừ bệnh.
99. Giới không
được vì người cầm dao mà thuyết pháp, trừ bệnh.
100. Giới không
được vì người cầm dù mà thuyết pháp, trừ bệnh.
8. Diệt tránh: 7
giới
1. Giới làm phép
hiện tiền để dứt sự tranh cãi.
2. Giới làm phép
nhớ nghĩ để dứt sự tranh cãi.
3. Giới làm phép
bất si để dứt sự tranh cãi.
4. Giới làm phép
tự nói tội để dứt sự tranh cãi.
5. Giới làm phép
tìm tội tướng để dứt sự tranh cãi.
6. Giới làm phép
nhiều người nói để dứt sự tranh cãi.
7. Giới làm phép
cỏ che đất để dứt sự tranh cãi.
IX. BỐN KHOA CỦA
GIỚI
Phân tích về
giới, các bậc cổ đức thường chia làm bốn khoa là giới pháp, giới thể, giới
hạnh và giới tướng để thuyết minh.
1. Giới pháp.
- Giới là thánh pháp của Phật chế
định. Giới pháp là thông giới của hết thảy phàm, thánh. Bài kệ:
“Chư ác mạc
tác,
Chúng thiện
phụng hành,
Tự tịnh kỳ ý,
Thị chư Phật
giáo”.
Đó là thông giới
của Thất Phật Thế Tôn trong 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai, và cũng là thông
giới cho hết thảy phàm, thánh tu trì để bước lên thánh quả.
Nhưng giới pháp ở
đây chỉ nói về nghĩa hẹp là những giới pháp mà Đức Phật đã chế định ra cho các
đệ tử đã được thọ, và y vào đó tu hành để thành được thánh quả làm chuẩn tắc.
Thí dụ giới không sát sinh, giới không trộm cắp v.v... cho đến 250 giới. Đó
gọi là giới pháp.
Vậy ta phải chú
trọng đến giới pháp của tự mình đã được thọ, phải giữ gìn cho thanh tịnh, sáng
suốt như ngọc minh châu, phải luôn luôn nhớ nghĩ, giới pháp là thánh pháp.
Không dễ gì được gặp.
2. Giới thể.
- Do từ nơi tác pháp yết-ma trao
giới và tâm người nhận giới, mà lãnh hội được giới pháp trên phạm vi tư tưởng,
tiềm tàng ở trong tâm mà sinh khởi cái công năng “phòng phi chỉ ác” nó luôn
luôn nảy sinh ra mầm thiện, nên gọi là giới thể.
Liên quan đến
giới thể trong “Yết-ma sớ” có riêng một chương, nói rõ về giới thể. Giới thể
là bộ phận cơ bản trong giới luật cần phải đặc biệt chú ý nghiên cứu.
Trong kinh Niết
Bàn nói: Giới có 2 thứ, một là “Tác giới” (chuyển động), hai là “Vô tác giới”
(một lần phát khởi thời trước sau thường liên tục).
Tác giới dùng
“thân, khẩu nghiệp tư” làm thể. Vô tác giới thể lấy “phi sắc phi tâm” làm thể.
- Tát-Bà-Đa tông
chủ trương, tác giới thể và vô tác giới thể, hai giới này đều là “Sắc pháp”.
- Thành-Thật tông
chủ trương “Tác giới thể” lấy sắc tâm làm thể, “Vô tác giới thể” lấy phi sắc
phi tâm làm thể.
Theo Tổ Đạo Tuyên
y cứ vào Tứ Phần luật cũng lấy “chủng tử” làm thể, nhưng là “Thiện chủng làm
thể” nên trong sớ chép “Thành Thiện chủng tử”, đó là “giới thể”.
Vì lẽ Tát-Bà-Đa
tông nói giới thể là “Tư chủng”, Thành-Thật tông nói giới thể là “Huân chủng”,
nên “Tư” và “Huân” là Tác giới thể, còn “Chủng” thuộc Vô tác giới thể. Nói đến
“chủng tử” là đề cập đến cả chủng tử thiện và chủng tử ác. Nên Tổ Đạo Tuyên
lấy “chủng tử thiện” làm giới thể, để phân biệt với 2 tông trên. Vì “thiện” là
pháp thể, “chủng” là thí dụ. Nghĩa là trần sa giới pháp đều thu nạp ở trong
bản tạng thức, nó liên tục sinh khởi, liên tục tùy tùng để đưa đến kết quả
thanh tịnh giải thoát.
Vậy nên người học
Luật cần phải hiểu rõ ràng về “giới thể” rồi mới biết được “Vô tác giới thể”,
mới có thể tăng trưởng được thiện pháp, hộ trì giới luật, để sinh Định, phát
Tuệ, để trụ trì chánh pháp.
3. Giới hạnh.
- Giới hạnh là tùy thuận giới thể
mà các hành vi của 3 nghiệp thân, khẩu, ý đều hành động như Pháp.
Tăng, Ni đã thọ
giới rồi, tất phải nương vào giới ấy mà tu hành. Trên phương diện giáo lý,
phải y sư học tập về lý luận và quy luật hành sự của Luật tạng. Trên phương
diện thực hành, chủ yếu là đối trị phiền não, kiểm tra tư tưởng, ngôn ngữ,
hành vi khiến cho thích hợp với giới luật và oai nghi. Phải bền chí xa lìa hết
thảy những sự việc “chỉ phạm” và “tác phạm” và phải tích cực hết thảy những
việc làm ”chỉ trì”, khiến cho 3 nghiệp đều hợp với luật nghi, đó là giới hạnh.
4. Giới tướng.
- Xem xét chỗ sai biệt của giới
hạnh như Ngũ giới, Bát giới, Thập giới, cho đến 250 giới đều là giới tướng.
Bởi nguyên nhân
giữ gìn giới luật mà khiến cho oai nghi được thành tựu, bất cứ cử chỉ hành
động gì cũng đều tương xứng với giới luật, được những đức tính tốt của trì
giới, nó thể hiện qua bề ngoài, đó gọi là giới tướng.
HẾT