[513] Vào lúc bấy giờ, đức Phật
Thế Tôn ngự ở lãnh thổ của giòng Thích Ca (Sākya) trong thành
Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Khi ấy, bà Mahāpajāpati Gotamī đã đi đến
gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên.
Khi đã đứng ở một bên, bà Mahāpajāpati Gotamī đã bạch với đức Thế Tôn
rằng:
- Bạch ngài, tốt đẹp thay nếu
người nữ được phép rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã
được đức Như Lai công bố.
- Này Gotamī, đủ rồi, chớ có
nghĩ đến việc nữ nhân rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật
đã được đức Như Lai công bố nữa.
Lần thứ nhì, …(như trên)…
Lần thứ ba, bà Mahāpajāpati
Gotamī đã bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, tốt đẹp thay nếu
người nữ được phép rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã
được đức Như Lai công bố.
- Này Gotamī, đủ rồi, chớ có
nghĩ đến việc nữ nhân rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật
đã được đức Như Lai công bố nữa.
Khi ấy, bà Mahāpajāpati Gotamī
(nghĩ rằng): "Đức Thế Tôn không cho phép việc người nữ rời nhà xuất gia
sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố," trở
nên khổ sở, buồn rầu, mặt mày ủ dột, vừa khóc lóc, vừa đảnh lễ đức Thế
Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
[514] Sau khi ngự tại thành
Kapilavatthu theo như ý thích, đức Thế Tôn đã du hành đi về Vesālī. Tuần
tự du hành, ngài đã ngự đến Vesālī. Ở nơi ấy, trong thành Vesālī, đức Thế
Tôn ngự tại khu Đại Lâm (Mahāvana), giảng đường Kūṭāgāra. Khi ấy, bà
Mahāpajāpati Gotamī đã nhờ người cạo tóc, khoác y phục màu ca-sa cùng với
nhiều công nương giòng Sākya đi đến Vesālī, tuần tự đã đi đến Vesālī, khu
Đại Lâm (Mahāvana), giảng đường Kūṭāgāra. Khi ấy, bà Mahāpajāpati Gotamī
với hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt
mày ủ dột, đang đứng khóc lóc ở bên ngoài cánh cửa của cổng ra vào. Đại
đức Ānanda đã thấy bà Mahāpajāpati Gotamī với hai bàn chân sưng vù, thân
hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt mày ủ dột, đang đứng khóc lóc
ở bên ngoài cánh cửa của cổng ra vào. Thấy vậy, đại đức đã nói với bà
Mahāpajāpati Gotamī điều này:
- Này bà Gotamī, tại sao bà lại
có hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt
mày ủ dột, đang đứng khóc lóc ở bên ngoài cánh cửa của cổng ra vào?
- Bạch ngài Ānanda, bởi vì
chuyện như thế này: Đức Thế Tôn không chấp thuận việc người nữ rời nhà
xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.
- Này bà Gotamī, nếu vì chuyện
đó thì hãy ở đây trong chốc lát để tôi cầu xin đức Thế Tôn chấp thuận việc
người nữ rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức
Như Lai công bố.
[515] Sau đó, đại đức Ānanda đã
đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn
điều này:
- Bạch ngài, bà Mahāpajāpati
Gotamī với hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn
rầu, mặt mày ủ dột, đang đứng khóc lóc ở bên ngoài cánh cửa của cổng ra
vào (nghĩ rằng): "Đức Thế Tôn không cho phép việc người nữ rời nhà xuất
gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố."
Bạch ngài, tốt đẹp thay nếu người nữ được phép rời nhà xuất gia sống không
nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.
- Này Ānanda, đủ rồi, chớ có
nghĩ đến việc nữ nhân rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật
đã được đức Như Lai công bố nữa.
Lần thứ nhì, đại đức Ānanda đã
bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, tốt đẹp thay nếu
người nữ được phép rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã
được đức Như Lai công bố.
- Này Ānanda, đủ rồi, chớ có
nghĩ đến việc nữ nhân rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật
đã được đức Như Lai công bố nữa.
Lần thứ ba, đại đức Ānanda đã
bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, tốt đẹp thay nếu
người nữ được phép rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã
được đức Như Lai công bố.
- Này Ānanda, đủ rồi, chớ có
nghĩ đến việc nữ nhân rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật
đã được đức Như Lai công bố nữa.
Khi ấy, đại đức Ānanda (nghĩ
rằng): "Đức Thế Tôn không cho phép việc người nữ rời nhà xuất gia sống
không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố; như vậy ta nên
cầu xin đức Thế Tôn việc người nữ rời nhà xuất gia sống không nhà trong
Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố bằng một phương thức khác."
Rồi đại đức Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, sau khi rời nhà
xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố,
người nữ có thể chứng đạt quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất
Lai, hoặc quả vị A La Hán hay không?
- Này Ānanda, sau khi rời nhà
xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố,
người nữ có thể chứng đạt quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất
Lai, hoặc quả vị A La Hán.
- Bạch ngài, nếu người nữ sau
khi rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai
công bố, có thể chứng đạt quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất
Lai, ngay cả quả vị A La Hán nữa; như vậy bạch ngài, bà Mahāpajāpati
Gotamī đã làm nhiều công đức đối với Thế Tôn, là dì ruột, là người chăm
sóc, là người nuôi dưỡng, là người cho sữa, bà đã cho đức Thế Tôn bú sữa
khi người mẹ ruột qua đời; thật tốt đẹp thay, bạch ngài, nếu người nữ được
phép rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như
Lai công bố.
[516] Này Ānanda, nếu
Mahāpajāpati Gotamī thọ trì tám Trọng Pháp thì chính điều ấy là sự tu lên
bậc trên đối với bà:
- Tỷ-kheo ni đã tu lên bậc trên
được một trăm năm nên thực hành phận sự thích hợp là sự đảnh lễ, đứng dậy
chào, chắp tay đến vị tỷ-kheo vừa tu lên bậc trên vào ngày hôm ấy. Pháp
này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung
kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
- Tỷ-kheo ni không được an cư
mùa mưa ở trú xứ không có tỷ-kheo. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp,
thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho
đến trọn đời.
- Tỷ-kheo ni vào mỗi nữa tháng
nên mong mỏi hai việc từ hội chúng tỷ-kheo: việc hỏi ngày Uposatha và việc
đi đến (để nghe) giáo giới. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành
nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn
đời.
- Tỷ-kheo ni sau khi mãn mùa an
cư nên yêu cầu [*] ở cả hai hội chúng dựa trên ba yếu tố: hoặc do thấy,
hoặc do nghe, hoặc vì nghi ngờ. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực
hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến
trọn đời.
[*] Phận sự thực hành trong
lễ Tự Tứ - Pavāranā sau khi an
cư mùa mưa (Chú thích của người dịch).
- Tỷ-kheo ni vi phạm giới
nghiêm trọng nên thực hành hành phạt mānatta nữa tháng ở cả hai hội
chúng. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn
trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
- Vị ni tập sự (sikkhamānā) cần
rèn luyện sáu pháp trong hai năm và nên cầu xin sự tu lên bậc trên ở cả
hai hội chúng. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm
chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
- Tỷ-kheo ni không vì bất cứ
nguyên do gì được phép mắng chửi hoặc gièm pha tỷ-kheo. Pháp này cần được
thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không
được vi phạm cho đến trọn đời.
- Kể từ hôm nay, việc khuyên
bảo của các tỷ-kheo ni đến các tỷ-kheo bị ngăn cấm, việc khuyên bảo của
các tỷ-kheo đến các tỷ-kheo ni không bị ngăn cấm. Pháp này cần được thực
hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được
vi phạm cho đến trọn đời.
Này Ānanda, nếu Mahāpajāpati
Gotamī thọ trì tám Trọng Pháp này thì chính điều ấy là sự tu lên bậc trên
đối với bà.
[517] Khi ấy, đại đức Ānanda đã
học tám Trọng Pháp từ đức Thế Tôn rồi đi đến gặp Mahāpajāpati Gotamī, sau
khi đến đã nói với Mahāpajāpati Gotamī điều này:
- Này bà Gotamī, nếu bà có thể
thọ trì tám Trọng Pháp thì chính điều ấy sẽ là pháp tu lên bậc trên đối
với bà:
Tỷ-kheo ni đã tu lên bậc trên
được một trăm năm nên thực hành phận sự thích hợp là sự đảnh lễ, đứng dậy
chào, chắp tay đến vị tỷ-kheo vừa tu lên bậc trên vào ngày hôm ấy. Pháp
này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung
kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Tỷ-kheo ni không được an cư mùa
mưa ở trú xứ không có tỷ-kheo. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực
hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến
trọn đời.
Tỷ-kheo ni vào mỗi nữa tháng
nên mong mỏi hai việc từ hội chúng tỷ-kheo: việc hỏi ngày Uposatha và việc
đi đến (để nghe) giáo giới. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành
nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn
đời.
Tỷ-kheo ni sau khi mãn mùa an
cư nên yêu cầu ở cả hai hội chúng dựa trên ba yếu tố: hoặc do thấy, hoặc
do nghe, hoặc vì nghi ngờ. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành
nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn
đời.
Tỷ-kheo ni vi phạm giới nghiêm
trọng nên thực hành mānatta nữa tháng ở cả hai hội chúng. Pháp này
cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính,
và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Vị ni tập sự (sikkhamānā) cần
rèn luyện sáu pháp trong hai năm và nên cầu xin sự tu lên bậc trên ở cả
hai hội chúng. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm
chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Tỷ-kheo ni không vì bất cứ
nguyên do gì được phép mắng chửi hoặc gièm pha tỷ-kheo. Pháp này cần được
thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không
được vi phạm cho đến trọn đời.
Kể từ hôm nay, việc khuyên bảo
của các tỷ-kheo ni đến các tỷ-kheo bị ngăn cấm, việc khuyên bảo của các
tỷ-kheo đến các tỷ-kheo ni không bị ngăn cấm. Pháp này cần được thực hành
tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi
phạm cho đến trọn đời.
Này bà Gotamī, nếu bà có thể
thọ trì tám Trọng Pháp này thì chính điều ấy sẽ là pháp tu lên bậc trên
đối với bà.
- Bạch đại đức Ānanda, cũng
giống như một người nữ hoặc người nam còn trẻ, ở tuổi thanh niên, ưa thích
trang điểm, vừa mới gội đầu, có được tràng hoa sen, hoặc tràng hoa nhài,
hoặc tràng hoa đủ loại, thường thọ lãnh bằng hai tay và đặt lên ở đỉnh
đầu; cũng tương tợ như vậy, bạch đại đức Ānanda, tôi sẽ thọ trì tám Trọng
Pháp này cho đến trọn đời không vi phạm.
[518] Sau đó, đại đức Ānanda đã
đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn
điều này:
- Bạch ngài, bà Mahāpajāpati
Gotamī đã thọ trì tám Trọng Pháp; như vậy người dì của đức Thế Tôn đã được
tu lên bậc trên.
- Này Ānanda, nếu nữ nhân không
được phép rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức
Như Lai công bố, này Ānanda, phạm hạnh này sẽ được tồn tại lâu dài, Thánh
Pháp (saddhamma) có thể tồn tại một ngàn năm. Này Ānanda, bởi vì nữ nhân
được phép rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức
Như Lai công bố, này Ānanda, nay phạm hạnh sẽ không được tồn tại lâu dài,
này Ānanda, nay Thánh Pháp sẽ tồn tại chỉ có năm trăm năm.
Này Ānanda, cũng giống như
những gia đình có nhiều người nữ, ít người nam thường dễ bị các kẻ cướp,
các kẻ trộm đột nhập; cũng tương tợ như thế, này Ānanda, trong Pháp và
Luật mà nữ nhân được phép rời nhà xuất gia sống không nhà, thì phạm hạnh
không được tồn tại lâu dài.
Này Ānanda, cũng giống như một
thửa ruộng lúa đang phát triển có loại bệnh gọi là mốc trắng xuất hiện,
như thế thì ruộng lúa ấy không tồn tại lâu dài; cũng tương tợ như thế, này
Ānanda, trong Pháp và Luật mà nữ nhân được phép rời nhà xuất gia sống
không nhà, thì phạm hạnh không được tồn tại lâu dài.
Này Ānanda, cũng giống như một
ruộng mía đường đang phát triển có loại bệnh gọi là rệp cây xuất hiện, như
thế thì ruộng mía ấy không tồn tại lâu dài; cũng tương tợ như thế, này
Ānanda, trong Pháp và Luật mà nữ nhân được phép rời nhà xuất gia sống
không nhà, thì phạm hạnh không được tồn tại lâu dài.
Này Ānanda, cũng giống như một
người đàn ông lo xa nên củng cố bờ đê của một cái hồ lớn để nước không
tràn ra được; cũng tương tợ như thế, này Ānanda, theo như cách ấy tám
Trọng Pháp của các tỷ-kheo ni đã được ta quy định, không được vi phạm cho
đến trọn đời.
Dứt Tám Trọng Pháp của các
tỷ-kheo ni.
[519] Khi ấy, bà Mahāpajāpati
Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi
đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpati Gotamī đã bạch với đức
Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, con thực hành như
thế nào đối với các công nương giòng Sākya này?
Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy,
thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Mahāpajāpati Gotamī
bằng bài Pháp thoại. Và bà Mahāpajāpati Gotamī sau khi được đức Thế Tôn
chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp
thoại đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau
đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại và bảo
các tỷ-kheo rằng:
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo được ban phép tu lên bậc trên đến các tỷ-kheo ni.
[520] Sau đó, các tỷ-kheo ni ấy
đã nói với bà Mahāpajāpati Gotamī điều này:
- Bà chưa được tu lên bậc trên,
và chính chúng tôi đã được tu lên bậc trên; bởi vì đức Thế Tôn đã quy định
như thế này: "Các tỷ-kheo được ban phép tu lên bậc trên đến các tỷ-kheo
ni."
Khi ấy, bà Mahāpajāpati Gotamī
đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda rồi
đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpati Gotamī đã nói với đại
đức Ānanda điều này:
- Bạch đại đức Ānanda, các
tỷ-kheo ni này đã nói với tôi như vầy: "Bà chưa được tu lên bậc trên,
và chúng tôi đã được tu lên bậc trên; bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như
thế này: ‘Các tỷ-kheo được ban phép tu lên bậc trên đến các tỷ-kheo ni’."
Khi ấy, đại đức Ānanda đã đi
đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn
điều này:
- Bạch ngài, bà Mahāpajāpati
Gotamī nói như vầy: "Bạch đại đức Ānanda, các tỷ-kheo ni này đã nói với
tôi như vầy: ‘Bà chưa được tu lên bậc trên, và chúng tôi đã được tu lên
bậc trên; bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như thế này: ‘Các tỷ-kheo được
ban phép tu lên bậc trên đến các tỷ-kheo ni’."
- Này Ānanda, kể từ lúc bà
Mahāpajāpati Gotamī thọ trì tám Trọng Pháp, chính điều ấy là đã được tu
lên bậc trên đối với bà.
[521] Sau đó, bà Mahāpajāpati
Gotamī đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda
rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpati Gotamī đã nói với
đại đức Ānanda điều này:
- Bạch đại đức Ānanda, con cầu
xin đức Thế Tôn một đặc ân này. Bạch đại đức, thật tốt đẹp thay nếu đức
Thế Tôn cho phép các tỷ-kheo và tỷ-kheo ni thực hành phận sự thích hợp là
sự đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp tay tính theo thâm niên (yathāvuḍḍhaṃ).
Sau đó, đại đức Ānanda đã đi
đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn
điều này:
- Bạch ngài, bà Mahāpajāpati
Gotamī nói như vầy: "Bạch đại đức Ānanda, con cầu xin đức Thế Tôn một
đặc ân này. Bạch đại đức, thật tốt đẹp thay nếu đức Thế Tôn cho phép các
tỷ-kheo và tỷ-kheo ni thực hành phận sự thích hợp là sự đảnh lễ, đứng dậy
chào, chắp tay tính theo thâm niên."
- Này Ānanda, việc đức Như Lai
cho phép thực hành phận sự thích hợp là sự đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp
tay đến nữ nhân là điều không được hợp tình hợp lý. Với những việc này,
này Ānanda, các ngoại đạo khác có kỷ luật không nghiêm khắc còn không thực
hành phận sự thích hợp là sự đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp tay đến nữ nhân;
vậy lý do gì đức Như Lai lại cho phép việc thực hành phận sự thích hợp là
sự đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp tay đến nữ nhân?
Rồi đức Thế tôn nhân lý do ấy,
nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại và bảo các tỷ-kheo rằng:
- Này các tỷ-kheo, không nên
thực hành phận sự thích hợp là sự đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp tay đến nữ
nhân. Vị nào thực hành thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).
[522] Sau đó, bà Mahāpajāpati
Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi
đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpati Gotamī đã bạch với đức
Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, có những điều học
của các tỷ-kheo ni tương đương với các tỷ-kheo, chúng con sẽ thực hành như
thế nào đối với những điều học ấy?
- Này Gotamī, có những điều học
của các tỷ-kheo ni tương đương với các tỷ-kheo, các tỷ-kheo thực hành như
thế nào thì các ni hãy thực hành như thế ấy đối với những điều học ấy.
- Bạch ngài, có những điều học
của các tỷ-kheo ni không tương đương với các tỷ-kheo, chúng con sẽ thực
hành như thế nào đối với những điều học ấy?
- Này Gotamī, có những điều học
của các tỷ-kheo ni không tương đương với các tỷ-kheo, các ni hãy học tập
những điều học ấy như đã được quy định.
[523] Sau đó, bà Mahāpajāpati
Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi
đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpati Gotamī đã bạch với đức
Thế Tôn điều này:
- Lành thay, bạch ngài, xin đức
Thế Tôn hãy thuyết giảng Pháp một cách vắn tắt cho con, để khi con đã được
nghe Pháp của đức Thế Tôn rồi có thể sống một mình, cách ly hội chúng,
không biếng nhác, tinh tấn, có sự quyết tâm.
- Này Gotamī, bà nên biết rằng
các Pháp nào (có đặc tính như vầy): Các pháp này đưa đến tham ái mà không
đưa đến ly tham ái, đưa đến sự ràng buộc mà không đưa đến sự thoát ly, đưa
đến sự tích lũy mà không đưa đến sự xả bỏ, đưa đến sự ham muốn nhiều mà
không đưa đến sự ham muốn ít, đưa đến sự bực bội mà không đưa đến sự hoan
hỷ, đưa đến sự tụ mà không đưa đến sự đơn độc, đưa đến sự biếng nhác mà
không đưa đến sự khởi công tinh tấn, đưa đến sự khó nuôi dưỡng mà không
đưa đến sự dễ nuôi dưỡng; này Gotamī, bà cần xác định dứt khoát rằng: "Điều
này không phải là Pháp, điều này không phải là Luật, điều này không phải
là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư."
Này Gotamī, bà nên hiểu biết
các Pháp nào (có đặc tính như vầy): Các pháp này đưa đến ly tham ái mà
không đưa đến tham ái, đưa đến sự thoát ly mà không đưa đến sự ràng buộc,
đưa đến sự xả bỏ mà không đưa đến sự tích lũy, đưa đến sự ham muốn ít mà
không đưa đến sự ham muốn nhiều, đưa đến sự hoan hỷ mà không đưa đến sự
bực bội, đưa đến sự đơn độc mà không đưa đến sự tụ hội, đưa đến sự khởi
công tinh tấn mà không đưa đến sự biếng nhác, đưa đến sự dễ nuôi dưỡng mà
không đưa đến sự khó nuôi dưỡng; này Gotamī, bà cần xác định dứt khoát
rằng: "Điều này là Pháp, điều này là Luật, điều này là lời giáo huấn
của bậc Đạo Sư."
[524] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo không đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỷ-kheo ni. … (như
trên)… Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn, … (như
trên)…
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỷ-kheo ni.
Khi ấy, các tỷ-kheo đã khởi ý
rằng: "Như vậy ai sẽ đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỷ-kheo ni?"
Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên)…
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỷ-kheo ni.
[525] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo đã đi đến chỗ ngụ của các tỷ-kheo ni để đọc tụng giới bổn
Pātimokkha cho các tỷ-kheo ni. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Những bà này là vợ của những
ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Bây giờ những ông
này với những bà này sẽ cùng nhau hưởng lạc.
Các tỷ-kheo đã nghe được dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỷ-kheo ni. Vị nào đọc tụng
thì phạm tội tác ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép các tỷ-kheo
ni đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỷ-kheo ni.
Các tỷ-kheo ni không biết: "Nên
đọc tụng giới bổn Pātimokkha như thế nào?" ...(như trên)... Các vị
tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo chỉ dẫn các tỷ-kheo ni: "Các vị nên đọc tụng giới bổn
Pātimokkha như thế này."
[526] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni không sám hối tội. ...(như trên)... Các vị tỷ-kheo ấy đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, tội của các
tỷ-kheo ni không nên không được sám hối. Vị ni nào không sám hối thì phạm
tội tác ác (dukkata).
Các tỷ-kheo ni không biết: "Tội
nên được sám hối tội như thế nào? ...(như trên)... Các vị tỷ-kheo ấy
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo chỉ dẫn các tỷ-kheo ni: "Các vị hãy sám hối tội như thế
này."
Khi ấy, các tỷ-kheo đã khởi ý
rằng: "Như vậy ai sẽ ghi nhận tội cho các tỷ-kheo ni?" ...(như
trên)... Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như
trên)...
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo ghi nhận tội cho các tỷ-kheo ni.
[527] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni khi gặp tỷ-kheo trên đường đi, ở ngõ hẽm, nơi giao lộ đã đặt
bình bát trên mặt đất, đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay
lên, rồi sám hối tội. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Những bà này là vợ của những
ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Hồi hôm họ đã gây gỗ
nên giờ phải xin lỗi.
...(như trên)... Các vị tỷ-kheo
ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
không nên ghi nhận tội của các tỷ-kheo ni. Vị nào ghi nhận thì phạm tội
tác ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép các tỷ-kheo ni ghi nhận
tội của các tỷ-kheo ni.
Các tỷ-kheo ni không biết: "Tội
nên được ghi nhận như thế nào?" Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo chỉ dẫn các tỷ-kheo ni: "Các vị hãy ghi nhận tội như thế
này."
[528] Vào lúc bấy giờ, hành sự
cho các tỷ-kheo ni đã không được thực thi. ...(như trên)... Các vị tỷ-kheo
ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
thực thi hành sự cho các tỷ-kheo ni.
Khi ấy, các tỷ-kheo đã khởi ý
rằng: "Như vậy ai sẽ thực thi hành sự cho các tỷ-kheo ni?" Các vị
tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo thực thi hành sự cho các tỷ-kheo ni.
[529] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni đã hoàn tất hành sự khi gặp tỷ-kheo trên đường đi, ở ngõ hẽm,
nơi giao lộ đã đặt bình bát trên mặt đất, đắp thượng y một bên vai, ngồi
chồm hổm, chắp tay lên, rồi xin xả bỏ tội, trong khi nghĩ rằng: "Chắc
là nên được thực hiện như thế này." Cũng y như thế, dân chúng phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Những bà này là vợ của những
ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Hồi hôm họ đã gây gỗ
nên giờ phải xin lỗi.
Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
không nên thực thi hành sự cho các tỷ-kheo ni. Vị nào thực thi thì phạm
tội tác ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép các tỷ-kheo ni thực
thi hành sự cho các tỷ-kheo ni.
Các tỷ-kheo ni không biết: "Hành
sự nên được thực thi như thế nào?" Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo chỉ dẫn các tỷ-kheo ni: "Các vị hãy thực thi hành sự như
thế này."
[530] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni sinh hoạt trong hội chúng đã nảy sinh ra các sự xung đột, đã
nảy sinh ra gây gỗ, đã đưa đến tranh cãi và làm tổn thương lẫn nhau bằng
các vũ khí miệng lưỡi. Họ đã không thể làm lắng dịu được tranh sự ấy.
...(như trên)... Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo làm lắng dịu tranh sự của các tỷ-kheo ni.
[531] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo làm lắng dịu tranh sự của các tỷ-kheo ni. Trong một tranh sự nọ,
các tỷ-kheo trong khi xem xét thấy rằng các tỷ-kheo ni đều phạm tội và
đáng nhận hành sự. Các tỷ-kheo ni đã nói như sau:
- Bạch các ngài, thật tốt lành
thay xin các ngài hãy thực thi hành sự cho các tỷ-kheo ni, xin các ngài
hãy ghi nhận tội của các tỷ-kheo ni, bởi vì điều đã được đức Thế Tôn quy
định là các tỷ-kheo nên làm lắng dịu tranh sự của các tỷ-kheo ni.
Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo sau khi xác định hành sự của các tỷ-kheo ni rồi bàn giao lại
cho các tỷ-kheo ni, và các tỷ-kheo ni sẽ thực thi hành sự cho các tỷ-kheo
ni; sau khi xác định tội của các tỷ-kheo ni rồi bàn giao lại cho các
tỷ-kheo ni, và các tỷ-kheo ni sẽ ghi nhận tội cho các tỷ-kheo ni.
[532] Vào lúc bấy giờ, một
tỷ-kheo ni đệ tử của tỷ-kheo ni Uppalavannnā đã theo đức Thế tôn bảy năm
để học tập về Luật. Cô ấy có trí nhớ bị lộn xộn nên càng học càng quên. Và
tỷ-kheo ni ấy đã nghe rằng: "Nghe nói đức Thế Tôn có ý muốn đi Sāvatthi."
Lúc bấy giờ, tỷ-kheo ni ấy khởi ý rằng: "Ta đã theo đức Thế Tôn bảy năm
để học tập về Luật. Nhưng ta có trí nhớ bị lộn xộn nên càng học càng quên.
Thật khó khăn cho người nữ để đi theo bậc Đạo Sư cho đến trọn đời; vậy ta
nên thực hành thế nào đây?" Sau đó, tỷ-kheo ni ấy đã trình sự việc ấy
đến các tỷ-kheo ni. Các tỷ-kheo ni đã trình sự việc ấy đến các tỷ-kheo.
Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo giảng về Luật cho các tỷ-kheo ni.
Dứt Tụng phẩm thứ nhất.
[533] Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn
sau khi đã ngự tại Vesāli theo như ý thích rồi đã lên đường du hành đến
Sāvatthi. Tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Sāvatthi. Tại nơi ấy, trong
thành Sāvatthi, đức Thế Tôn đã ngự tại Kỳ Viên (Jetavana), tu viện của ông
Cấp Cô Độc (Anāthapindika). Vào
lúc bấy giờ, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư đã rắc nước bùn lên các tỷ-kheo ni
(nghĩ rằng): "Để các ni chú ý đến chúng ta." ...(như trên)... Các
vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, tỷ-kheo
không nên rắc nước bùn lên các tỷ-kheo ni. Vị nào rắc thì phạm tội tác ác
(dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép thực thi hành phạt đối với vị
tỷ-kheo ấy.
Khi ấy, các tỷ-kheo đã khởi ý
rằng: "Hành phạt nên được thực thi như thế nào?" Các vị tỷ-kheo ấy
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, hội chúng
tỷ-kheo ni không cần thực hiện việc đảnh lễ đối với vị tỷ-kheo ấy.
[534] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo nhóm Lục Sư đã vén hở thân rồi chỉ cho các tỷ-kheo ni thấy, đã vén
hở đùi rồi chỉ cho các tỷ-kheo ni thấy, đã vén hở chỗ kín rồi chỉ cho các
tỷ-kheo ni thấy, trò chuyện với các tỷ-kheo ni, giao lưu với các tỷ-kheo
ni (nghĩ rằng): "Để các ni chú ý đến chúng ta." ...(như trên)...
Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, tỷ-kheo
không nên vén hở thân rồi chỉ cho các tỷ-kheo ni thấy, không nên vén hở
đùi rồi chỉ cho các tỷ-kheo ni thấy, không nên vén hở chỗ kín và chỉ cho
các tỷ-kheo ni thấy, không nên trò chuyện với các tỷ-kheo ni, không nên
giao lưu với các tỷ-kheo ni. Vị nào giao lưu thì phạm tội tác ác
(dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép thực thi hành phạt đối với vị
tỷ-kheo ấy.
Khi ấy, các tỷ-kheo đã khởi ý
rằng: "Hành phạt nên được thực thi như thế nào?" Các vị tỷ-kheo ấy
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, hội chúng
tỷ-kheo ni không cần thực hiện việc đảnh lễ đối với vị tỷ-kheo ấy.
[535] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni nhóm Lục Sư đã rắc nước bùn lên các vị tỷ-kheo (nghĩ rằng): "Để
các vị chú ý đến chúng ta." Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, tỷ-kheo ni
không nên rắc nước bùn lên các tỷ-kheo. Vị ni nào rắc thì phạm tội tác ác
(dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép thực thi hành phạt đối với
tỷ-kheo ni ấy.
Khi ấy, các tỷ-kheo đã khởi ý
rằng: "Hành phạt nên được thực thi như thế nào?" Các vị tỷ-kheo ấy
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
thực thi việc ngăn cấm (đi vào trú xứ của tỷ-kheo).
Khi việc ngăn cấm được thực
thi, họ đã không chấp hành. Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
đình chỉ việc giáo giới.
[536] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni nhóm Lục Sư đã vén hở thân rồi chỉ cho các tỷ-kheo thấy, vén hở
ngực rồi chỉ cho các tỷ-kheo thấy, vén hở đùi rồi chỉ cho các tỷ-kheo
thấy, vén hở chổ kín rồi chỉ cho các tỷ-kheo thấy, trò chuyện với các
tỷ-kheo, giao lưu với các tỷ-kheo (nghĩ rằng): "Để các vị chú ý đến
chúng ta." ...(như trên)... Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, tỷ-kheo ni
không nên vén hở thân rồi chỉ cho các tỷ-kheo thấy, không nên vén hở ngực
rồi chỉ cho các tỷ-kheo thấy, không nên vén hở đùi rồi chỉ cho các tỷ-kheo
thấy, không nên vén hở chổ kín rồi chỉ cho các tỷ-kheo thấy, không nên trò
chuyện với các tỷ-kheo, không nên giao lưu với các tỷ-kheo. Vị ni nào giao
lưu thì phạm tội tác ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép thực thi
hành phạt đối với vị tỷ-kheo ni ấy.
Khi ấy, các tỷ-kheo đã khởi ý
rằng: "Hành phạt nên được thực thi như thế nào?" Các vị ấy đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
thực thi việc ngăn cấm (đi vào trú xứ của tỷ-kheo).
Khi việc ngăn cấm được thực
thi, họ đã không chấp hành. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
đình chỉ việc giáo giới.
[537] Khi ấy, các tỷ-kheo đã
khởi ý rằng: "Lễ Uposatha chung với tỷ-kheo ni bị đình chỉ giáo giới
được cho phép hay không được cho phép?" Các vị ấy đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, lễ Uposatha
chung với tỷ-kheo ni bị đình chỉ giáo giới không được thực thi cho đến khi
nào tranh sự này chưa được giải quyết.
[538] Vào lúc bấy giờ, đại đức
Udāyi sau khi đình chỉ việc giáo giới đã lên đường du hành. Các tỷ-kheo ni
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao ngài Udāyi sau khi
đình chỉ việc giáo giới lại lên đường du hành?
...(như trên)... Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, sau khi đình
chỉ việc giáo giới rồi không nên lên đường du hành. Vị nào lên đường thì
phạm tội tác ác (dukkata).
[539] Vào lúc bấy giờ, các vị
ngu dốt, không có khả năng đã đình chỉ việc giáo giới. ...(như trên)...
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, việc giáo
giới không nên bị đình chỉ bởi một vị ngu dốt, không có khả năng. Vị nào
đình chỉ thì phạm tội tác ác (dukkata).
[540] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo đã đình chỉ việc giáo giới không có lý lẽ, không có nguyên do.
...(như trên)... Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như
trên)...
- Này các tỷ-kheo, việc giáo
giới không nên bị đình chỉ không có lý lẽ, không có nguyên do. Vị nào đình
chỉ thì phạm tội tác ác (dukkata).
[541] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo sau khi đình chỉ việc giáo giới đã không tuyên bố quyết định.
...(như trên)... Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như
trên)...
- Này các tỷ-kheo, sau khi đình
chỉ việc giáo giới, không thể không tuyên bố quyết định. Vị nào không
tuyên bố thì phạm tội tác ác (dukkata).
[542] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni không đi (để được) giáo giới. Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên không đi (để nghe) giáo giới. Vị ni nào không đi thì hành xử
theo Pháp.
[543] Vào lúc bấy giờ, toàn bộ
hội chúng tỷ-kheo ni đều đi (để nghe) giáo giới. Dân chúng phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Những bà này là vợ của những
ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Bây giờ những ông
này với những bà này sẽ cùng nhau hưởng lạc.
Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, không nên đi
(để nghe) giáo giới toàn bộ hội chúng tỷ-kheo ni. Nếu đi thì phạm tội tác
ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép đi (để nghe) giáo giới bốn hay
năm tỷ-kheo ni.
[544] Vào lúc bấy giờ, bốn hay
năm tỷ-kheo ni đi (để nghe) giáo giới. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê
bai rằng:
- Những bà này là vợ của những
ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Bây giờ những ông
này với những bà này sẽ cùng nhau hưởng lạc.
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, không nên đi
(để nghe) giáo giới bốn hay năm tỷ-kheo ni. Nếu đi thì phạm tội tác ác
(dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép hai hay ba tỷ-kheo ni đi (để
nghe) giáo giới.
Nên đi đến gặp một vị tỷ-kheo,
đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, rồi
nên nói với vị ấy như vầy: "Bạch ngài, hội chúng tỷ-kheo ni đảnh lễ
dưới chân của hội chúng tỷ-kheo và cầu xin việc đến gần (để nghe) giáo
giới; bạch ngài, xin ban cho hội chúng tỷ-kheo ni việc đến gần (để nghe)
giáo giới."
Tỷ-kheo ấy nên đi đến gặp vị
đọc tụng giới bổn Pātimokkha và nói với vị ấy như vầy: "Bạch ngài, hội
chúng tỷ-kheo ni đảnh lễ dưới chân của hội chúng tỷ-kheo và cầu xin việc
đến gần (để nghe) giáo giới; bạch ngài, xin ban cho hội chúng tỷ-kheo ni
việc đến gần (để nghe) giáo giới."
Vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha
nên nói rằng: "Có vị tỷ-kheo nào đã được chỉ định là vị giáo giới
tỷ-kheo ni?" Nếu có vị tỷ-kheo đã được chỉ định là vị giáo giới
tỷ-kheo ni, thì vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha nên nói rằng: "Vị
Tỷ-kheo tên (như vầy) đã được chỉ định là vị giáo giới tỷ-kheo ni, hội
chúng tỷ-kheo ni hãy đi đến gặp vị ấy." Nếu không có vị tỷ-kheo nào đã
được chỉ định là vị giáo giới tỷ-kheo ni, thì vị đọc tụng giới bổn
Pātimokkha nên nói rằng: "Vị đại đức nào đủ khả năng để giáo giới
tỷ-kheo ni?" Nếu có vị đủ khả năng để giáo giới và vị ấy hội đủ tám
điều kiện thì sau khi chỉ định xong nên nói rằng: "Vị tỷ-kheo tên (như
vầy) đã được chỉ định là vị giáo giới tỷ-kheo ni, hội chúng tỷ-kheo ni hãy
đi đến gặp vị ấy." Nếu không có vị nào đủ khả năng để giáo giới
tỷ-kheo ni, thì vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha nên nói rằng: "Không có
tỷ-kheo nào được chỉ định là vị giáo giới tỷ-kheo ni, mong rằng hội chúng
tỷ-kheo ni đạt được sự hoan hỷ vậy."
[545] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo đã không nhận lãnh việc giáo giới. ...(như trên)... Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, không thể
không nhận lãnh việc giáo giới. Vị nào không nhận lãnh thì phạm tội tác ác
(dukkata).
[546] Vào lúc bấy giờ, có một
tỷ-kheo nọ là người ngu dốt. Các tỷ-kheo ni đã đến gần vị ấy và nói điều
này:
- Bạch ngài, hãy nhận lãnh việc
giáo giới.
- Các bà chị ơi, tôi ngu dốt
lắm, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?
- Bạch ngài, ngài hãy nhận lãnh
việc giáo giới, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: "Các tỷ-kheo
nên nhận lãnh việc giáo giới cho các tỷ-kheo ni."
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
trừ ra vị ngu dốt các vị còn lại nhận lãnh việc giáo giới.
[547] Vào lúc bấy giờ, có một
tỷ-kheo nọ bị bệnh. Các tỷ-kheo ni đã đến gần vị ấy và nói điều này:
- Bạch ngài, hãy nhận lãnh việc
giáo giới.
- Các bà chị ơi, tôi thì bị
bệnh, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?
- Bạch ngài, ngài hãy nhận lãnh
việc giáo giới, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: "Trừ ra vị ngu
dốt, các vị còn lại nên nhận lãnh việc giáo giới."
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
trừ ra vị ngu dốt, trừ ra vị bị bệnh, các vị còn lại nhận lãnh việc giáo
giới.
[548] Vào lúc bấy giờ, có một
tỷ-kheo nọ là vị ra đi. Các tỷ-kheo ni đã đến gần vị ấy và nói điều này:
- Bạch ngài, hãy nhận lãnh việc
giáo giới.
- Các bà chị ơi, tôi là vị ra
đi, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?
- Bạch ngài, ngài hãy nhận lãnh
việc giáo giới, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: "Trừ ra vị ngu
dốt, trừ ra vị bị bệnh, các vị còn lại nên nhận lãnh việc giáo giới."
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
trừ ra vị ngu dốt, trừ ra vị bị bệnh, trừ ra vị ra đi, các vị còn lại nhận
lãnh việc giáo giới.
[549] Vào lúc bấy giờ, có
tỷ-kheo nọ cư ngụ ở trong rừng. Các tỷ-kheo ni đã đến gần vị ấy và nói
điều này:
- Bạch ngài, hãy nhận lãnh việc
giáo giới.
- Các bà chị ơi, tôi thì cư ngụ
ở trong rừng, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?
- Bạch ngài, ngài hãy nhận lãnh
việc giáo giới, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: "Trừ ra vị ngu
dốt, trừ ra vị bị bệnh, trừ ra vị ra đi, các vị còn lại nên nhận lãnh việc
giáo giới."
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
tỷ-kheo ngụ ở rừng nhận lãnh việc giáo giới và quy định điểm hẹn: "Tôi
sẽ thực hiện ở chỗ này."
[550] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo sau khi nhận lãnh việc giáo giới đã không thông báo. Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, không thể
không thông báo việc giáo giới. Vị nào không thông báo thì phạm tội tác ác
(dukkata).
[551] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo sau khi nhận lãnh việc giáo giới đã không thực hiện (paccāharati).
...(như trên)... Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, việc giáo
giới không thể không thực hiện. Vị nào không thực hiện thì phạm tội tác ác
(dukkata).
[552] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni đã không đến điểm hẹn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không thể không đi đến điểm hẹn. Vị ni nào không đi thì phạm tội tác ác
(dukkata).
[553] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni mang dây buộc thân loại dài và buộc thành dải tua với chúng.
Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- …(như trên)… giống các người
nữ tại gia hưởng dục vậy?
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên mang dây buộc thân loại dài. Vị ni nào mang thì phạm tội tác
ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép tỷ-kheo ni (sử dụng) dây buộc
thân được thực hiện một vòng, và không được làm thành dải tua với nó. Vị
ni nào làm thì phạm tội tác ác (dukkata).
[554] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni buộc thành dải tua bằng sợi tre chẻ mỏng, buộc thành dải tua
bằng sợi da thú, buộc thành dải tua bằng vải dệt, buộc thành dải tua bằng
vải dệt tết đuôi sam, buộc thành dải tua bằng vải dệt viền ren, buộc thành
dải tua bằng sợi vải, buộc thành dải tua bằng sợi vải dệt tết đuôi sam,
buộc thành dải tua bằng sợi vải dệt viền ren, buộc thành dải tua bằng chỉ
tết đuôi sam, buộc thành dải tua bằng chỉ viền ren. Dân chúng phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- …(như trên)… giống các người
nữ tại gia hưởng dục vậy?
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên buộc thành dải tua bằng sợi tre chẻ mỏng, không nên buộc
thành dải tua bằng sợi da thú, không nên buộc thành dải tua bằng vải dệt,
không nên buộc thành dải tua bằng vải dệt tết đuôi sam, không nên buộc
thành dải tua bằng vải dệt viền ren, không nên buộc thành dải tua bằng sợi
vải, không nên buộc thành dải tua bằng sợi vải dệt tết đuôi sam, không nên
buộc thành dải tua bằng sợi vải dệt viền ren, không nên buộc thành dải tua
bằng chỉ tết đuôi sam, không nên buộc thành dải tua bằng chỉ viền ren. Vị
ni nào buộc thành dải tua thì phạm tội tác ác (dukkata).
[555] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni sai bảo người chà xát vùng hông bằng khúc xương bò, sai bảo
người xoa bóp vùng hông bằng xương hàm con bò, sai bảo người xoa bóp cánh
tay, sai bảo người xoa bóp phần sau của cánh tay, sai bảo người xoa bóp
bàn chân, sai bảo người xoa bóp phần dưới bàn chân, sai bảo người xoa bóp
đùi, sai bảo người xoa bóp mặt, sai bảo người xoa bóp nướu răng.
Dân chúng phàn nàn, phê phán,
chê bai rằng:
- …(như trên)… giống các người
nữ tại gia hưởng dục vậy?
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên sai bảo người chà xát vùng hông bằng khúc xương bò, không nên
sai bảo người xoa bóp vùng hông bằng xương hàm con bò, không nên sai bảo
người xoa bóp cánh tay, không nên sai bảo người xoa bóp phần sau của cánh
tay, không nên sai bảo người xoa bóp bàn chân, không nên sai bảo người xoa
bóp phần dưới bàn chân, không nên sai bảo người xoa bóp đùi, không nên sai
bảo người xoa bóp mặt, không nên sai bảo người xoa bóp nướu răng. Vị ni
nào sai bảo người xoa bóp thì phạm tội tác ác (dukkata).
[556] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni nhóm Lục Sư thoa dầu ở mặt, chà xát mặt, đánh phấn ở mặt, đắp
mặt bằng phấn đỏ, tô màu ở cơ thể, tô màu ở mặt, tô màu ở mặt và ở cơ thể.
Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- …(như trên)… giống các người
nữ tại gia hưởng dục vậy?
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên thoa dầu ở mặt, không nên chà xát mặt, không nên đánh phấn ở
mặt, không nên đắp mặt bằng phấn đỏ, không nên tô màu ở cơ thể, không nên
tô màu ở mặt, không nên tô màu ở mặt và ở cơ thể. Vị ni nào làm thì phạm
tội tác ác (dukkata).
[557] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni nhóm Lục Sư kẻ mí mắt, làm dấu ở trán, mở cửa sổ nhìn ra đường
phố, đứng tựa ở cửa lớn nhìn ra đường phố, sai bảo người nhảy múa, hỗ trợ
gái điếm, lập quán bán giải khát, lập tiệm bán thịt, trưng bày hàng hóa,
tiến hành việc cho vay lấy lãi, tiến hành việc thương mãi, nuôi tôi trai,
nuôi tớ gái, nuôi trai làm mướn, nuôi gái làm thuê, nuôi thú vật, buôn đi
bán lại đủ loại, mang mảnh da mài dao cạo. Dân chúng phàn nàn, phê phán,
chê bai rằng:
- …(như trên)… giống các người
nữ tại gia hưởng dục vậy?
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên kẻ mí mắt, không nên làm dấu ở trán, không nên mở cửa sổ nhìn
ra đường phố, không nên đứng tựa ở cửa lớn nhìn ra đường phố, không nên
sai bảo người nhảy múa, không nên hỗ trợ gái điếm, không nên lập quán bán
giải khát, không nên lập tiệm bán thịt, không nên trưng bày hàng hóa,
không nên tiến hành việc cho vay lấy lãi, không nên tiến hành việc thương
mãi, không nên nuôi tôi trai, không nên nuôi tớ gái, không nên nuôi trai
làm mướn, không nên nuôi gái làm thuê, không nên nuôi thú vật, không nên
buôn đi bán lại đủ loại, không nên mang mảnh da mài dao cạo. Vị ni nào
mang thì phạm tội tác ác (dukkata).
[558] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni nhóm Lục Sư mặc y toàn màu xanh đậm, mặc y toàn màu vàng, mặc y
toàn màu đỏ, mặc y toàn màu đỏ sậm, mặc y toàn màu đen, mặc y toàn màu
vàng nâu, mặc y toàn màu vàng cam, mặc y không cắt đường viền, mặc y có
đường viền rộng, mặc y có đường viền vẽ bông hoa, mặc y có đường viền có
vẽ trái cây, mặc áo choàng, mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây. Dân chúng
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- …(như trên)… giống các người
nữ tại gia hưởng dục vậy?
Các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên mặc y toàn màu xanh đậm, không nên mặc y toàn màu vàng, không
nên mặc y toàn màu đỏ, không nên mặc y toàn màu đỏ sậm, không nên mặc y
toàn màu đen, không nên mặc y toàn màu vàng nâu, không nên mặc y toàn màu
vàng cam, không nên mặc y không cắt đường viền, không nên mặc y có đường
viền rộng, không nên mặc y có đường viền vẽ bông hoa, không nên mặc y có
đường viền có vẽ trái cây, không nên mặc áo choàng, không nên mặc loại vải
dệt bằng sợi vỏ cây. Vị ni nào mặc thì phạm tội tác ác (dukkata).
[559] Vào lúc bấy giờ, có một
tỷ-kheo ni nọ khi lâm chung nói như vầy:
- Sau khi tôi từ trần, vật dụng
của tôi sẽ thuộc về hội chúng.
Ở nơi ấy, các tỷ-kheo và các
tỷ-kheo ni đã cãi cọ nhau:
- Thuộc về chúng tôi, thuộc về
chúng tôi.
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, nếu một
tỷ-kheo ni khi lâm chung nói như vầy: "Sau khi tôi từ trần, vật dụng
của tôi sẽ thuộc về hội chúng," trong trường hợp này, hội chúng
tỷ-kheo không được hưởng phần, vật dụng ấy thuộc về hội chúng tỷ-kheo ni.
Này các tỷ-kheo, nếu một vị ni
tập sự (sikkhamānā), …(như trên)…
Này các tỷ-kheo, nếu một vị sa
di ni khi lâm chung nói như vầy: "Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi
sẽ thuộc về hội chúng," trong trường hợp này, hội chúng tỷ-kheo không
được hưởng phần, vật dụng ấy thuộc về hội chúng tỷ-kheo ni.
Này các tỷ-kheo, nếu một
tỷ-kheo khi lâm chung nói như vầy: "Sau khi tôi từ trần, vật dụng của
tôi sẽ thuộc về hội chúng," trong trường hợp này, hội chúng tỷ-kheo ni
không được hưởng phần, vật dụng ấy thuộc về hội chúng tỷ-kheo.
Này các tỷ-kheo, nếu một vị sa
di, …(như trên)…
Này các tỷ-kheo, nếu vị cận sự
nam, …(như trên)…
Này các tỷ-kheo, nếu vị cận sự
nữ, …(như trên)…
Này các tỷ-kheo, nếu một ai
khác khi lâm chung nói như vầy: "Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi
sẽ thuộc về hội chúng," trong trường hợp này, hội chúng tỷ-kheo ni
không được hưởng phần, vật dụng ấy thuộc về hội chúng tỷ-kheo.
[560] Vào lúc bấy giờ, có một
phụ nữ nọ trước đây là người xứ Malla đã xuất gia làm tỷ-kheo ni. Cô ni ấy
khi gặp một tỷ-kheo yếu đuối trên đường đã dùng phần trên bả vai thúc vị
ấy té nhào. Các tỷ-kheo đã phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao một tỷ-kheo ni lại
cho vị tỷ-kheo cái thúc?
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, tỷ-kheo ni
không nên cho vị tỷ-kheo cái thúc. Vị ni nào thúc thì phạm tội tác ác
(dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép tỷ-kheo ni bước sang (một bên)
nhường lối đi khi nhìn thấy vị tỷ-kheo, cho dù (vị ấy) còn ở đàng xa.
[561] Vào lúc bấy giờ, có một
người đàn bà nọ khi chồng đi vắng đã mang thai với tình nhân. Cô ấy đã làm
cho sẩy thai rồi đã nói với vị tỷ-kheo ni quen thuộc rằng:
- Quý ni, xin hãy dùng cái bình
bát mang cái bào thai này đi giùm.
Lúc bấy giờ, vị tỷ-kheo ni ấy
đã bỏ cái bào thai ấy vào trong bình bát rồi choàng y hai lớp (saṅghāti)
và ra đi. Vào lúc bấy giờ, có một tỷ-kheo nọ đi khất thực với dự tính
rằng: "Phần vật thực ta thọ lãnh đầu tiên nếu chưa được dâng đến
tỷ-kheo hoặc tỷ-kheo ni thì ta chưa thọ thực." Khi vị tỷ-kheo nọ thấy
được vị tỷ-kheo ni ấy liền nói rằng:
- Này chị ơi, hãy nhận lãnh
phần vật thực.
- Bạch ngài, đã đủ rồi.
Đến lần thứ nhì, vị tỷ-kheo nọ
đã nói với vị tỷ-kheo ni ấy rằng:
- Này chị ơi, hãy nhận lãnh
phần vật thực.
- Bạch ngài, đã đủ rồi.
Đến lần thứ ba, vị tỷ-kheo nọ
đã nói với vị tỷ-kheo ni ấy rằng:
- Này chị ơi, hãy nhận lãnh
phần vật thực.
- Bạch ngài, đã đủ rồi.
- Này chị ơi, tôi đã có dự tính
rằng: "Phần vật thực ta thọ lãnh đầu tiên nếu chưa được dâng đến
tỷ-kheo hoặc tỷ-kheo ni thì ta chưa thọ thực." Này chị ơi, hãy nhận
lãnh phần vật thực giùm.
Khi ấy, vị tỷ-kheo ni ấy trong
lúc bị quấy rầy bởi vị tỷ-kheo đó đã đưa bình bát ra và chỉ cho thấy:
- Bạch ngài, hãy xem cái bào
thai trong bình bát nè, nhưng đừng có nói với ai cả.
Khi ấy, tỷ-kheo nọ đã phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao tỷ-kheo ni lại dùng
bình bát mang đi cái bào thai vậy?
Sau đó, vị tỷ-kheo ấy đã trình
lại sự việc ấy đến các tỷ-kheo. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)…
Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao tỷ-kheo ni lại dùng
bình bát mang đi cái bào thai vậy?
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn. …(như trên)…
- Này các tỷ-kheo, tỷ-kheo ni
không nên dùng bình bát mang đi bào thai. Vị ni nào mang đi thì phạm tội
tác ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép tỷ-kheo ni khi gặp vị
tỷ-kheo thì lấy ra bình bát đưa cho xem.
[562] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni nhóm Lục Sư khi gặp tỷ-kheo đã lật úp (bình bát) lại và cho xem
phần dưới của bình bát. Các tỷ-kheo đã phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỷ-kheo ni nhóm
Lục Sư khi gặp tỷ-kheo thì lật úp (bình bát) lại và cho xem phần dưới của
bình bát vậy?
Sau đó, các vị ấy đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)…
- Này các tỷ-kheo, tỷ-kheo ni
khi gặp tỷ-kheo thì không nên lật úp (bình bát) lại và cho xem phần dưới
của bình bát. Vị nào cho xem thì phạm tội tác ác (dukkata). Này các
tỷ-kheo, ta cho phép tỷ-kheo ni khi gặp một tỷ-kheo thì để ngay ngắn bình
bát rồi đưa cho xem. Và bất cứ vật thực gì trong bình bát thì nên thỉnh
mời vị tỷ-kheo bằng vật ấy.
[563] Vào lúc bấy giờ, trên
đường phố ở Sāvatthi có một vật biểu tượng nam tánh bị quăng bỏ. Một
tỷ-kheo ni đã nhìn chăm chú vào vật ấy. Dân chúng đã cười rộ lên. Tỷ-kheo
ni ấy bị xấu hổ. Sau đó, khi về lại ni viện, tỷ-kheo ni ấy đã trình sự
việc ấy đến các tỷ-kheo ni. Các vị tỷ-kheo ni ít ham muốn, …(như trên)…
Các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao tỷ-kheo ni lại nhìn
chăm chú vào vật biểu tượng nam tánh?
Sau đó, các tỷ-kheo ni ấy đã
trình sự việc ấy đến các tỷ-kheo. …(như trên)… Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, tỷ-kheo ni
không nên nhìn chăm chú vào vật biểu tượng nam tánh. Vị nào nhìn chăm chú
thì phạm tội tác ác (dukkata).
[564] Vào lúc bấy giờ, dân
chúng thường dâng vật thực cho các tỷ-kheo. Các tỷ-kheo cho đến các
tỷ-kheo ni. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các ngài lại cho những
người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân, không lẽ chúng tôi không
biết cho vật thí hay sao?
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, không nên
cho những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân. Vị nào cho thì
phạm tội tác ác (dukkata).
[565] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo có được vật thực dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
cúng dường đến hội chúng.
Sự dồi dào lại còn nhiều hơn
trước nữa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
bố thí đến cá nhân.
[566] Vào lúc bấy giờ, vật thực
được làm để tích trữ của các tỷ-kheo được dồi dào. Các vị đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ kheo, các tỷ-kheo ni nhận lãnh vật tích trữ của tỷ-kheo rồi thọ
dụng.
[567] Vào lúc bấy giờ, dân
chúng thường dâng vật thực cho các tỷ-kheo ni. Các tỷ-kheo ni cho đến các
tỷ-kheo. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỷ-kheo ni lại cho
những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân? Không lẽ chúng tôi
không biết cho vật thí hay sao?
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên cho những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân.
Vị ni nào cho thì phạm tội tác ác (dukkata).
[568] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni có được vật thực dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
cúng dường đến hội chúng.
Sự dồi dào lại còn nhiều hơn
trước nữa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
bố thí đến cá nhân.
[569] Vào lúc bấy giờ, vật thực
được làm để tích trữ của các tỷ-kheo ni được dồi dào. Các vị đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
các tỷ-kheo, các tỷ-kheo ni được thọ lãnh vật tích trữ của tỷ-kheo ni rồi
thọ dụng.
[570] Vào lúc bấy giờ, sàng tọa
của các tỷ-kheo thì dư dã, sàng tọa của các tỷ-kheo ni thì không có. Các
tỷ-kheo ni đã gởi sứ giả đến gặp các tỷ-kheo:
- Bạch các ngài, thật tốt đẹp
thay nếu các ngài trao cho chúng tôi sàng tọa trong một thời gian.
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
trao sàng tọa cho các tỷ-kheo ni trong một thời gian.
[571] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni có kinh nguyệt đã ngồi và nằm trên giường, ghế được bọc nệm.
Chỗ nằm và ngồi bị lấm lem bởi máu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên ngồi hoặc nằm trên giường, ghế được bọc nệm. Vị ni nào ngồi
hoặc nằm thì phạm tội tác ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép (sử
dụng) y nội trợ (āvasathacīvaraṃ).
Y nội trợ bị lấm lem bởi máu.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
(sử dụng) kim gài và mảnh vải (ānicolakaṃ).
Mảnh vải bị rơi xuống Các vị đã
trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
khâu lại bằng chỉ và buộc ở đùi.
Chỉ bị đứt. Các vị đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
(sử dụng) khố (sam-velliyaṃ), hay băng vải buộc ở hông (katisuttakaṃ).
[572] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni nhóm Lục Sư mang băng vải buộc ở hông một cách thường xuyên.
Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- ...(như trên)... giống các
người nữ tại gia hưởng dục vậy?
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên mang băng vải buộc ở hông một cách thường xuyên. Vị ni nào
mang thì phạm tội tác ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép (sử
dụng) băng vải buộc ở hông đối với vị ni có kinh nguyệt.
Dứt Tụng phẩm thứ hai.
[573] Vào lúc bấy giờ, các
người nữ đã tu lên bậc trên có dáng vẻ: không có hiện tướng (người nữ),
không có đủ hiện tướng (người nữ), không có kinh nguyệt (alohitā), máu bị
ứ đọng (dhuvalohitā), thường xuyên mang vải lót (dhuvacolā), bị rong kinh
(paggharantī), bị dị tướng (sikharinī), người nữ bị thiến (itthipandakā),
bị lại đực (vepurisikā), không xác định được giới tính (sambhinnā), người
nữ lưỡng tánh (ubhatobyañjanā). ...(như trên)... Các vị đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
hỏi hai mươi bốn pháp chướng ngại trong khi cho tu lên bậc trên. Và này
các tỷ-kheo nên hỏi như vầy: "Cô không phải là người không có hiện
tướng (người nữ)? Cô không phải là người không có đủ hiện tướng (người
nữ)? Cô không phải là người không có kinh nguyệt (alohitā)? Cô không phải
là người có máu bị ứ đọng (dhuvalohitā)? Cô không phải là người thường
xuyên mang vải lót (dhuvacolā)? Cô không phải là người bị rong kinh
(paggharantī)? Cô không phải là người bị dị tướng (sikharinī)? Cô không
phải là người người nữ bị thiến (itthipandakā)?
Cô không phải là người bị lại đực (vepurisikā)? Cô không phải là người
không xác định được giới tính (sambhinnā)? Cô không phải là người người nữ
lưỡng tánh (ubhatobyañjanā)? Cô có bị các bệnh như thế này hay không: bệnh
cùi (kutthaṃ)? bệnh mụt nhọt (gando)? bệnh chàm (kilāso)? bệnh lao
phổi (soso)? bệnh động kinh (apamāro)? Cô là loài người? Cô là người nữ?
Cô là người được tự do (không phải nô lệ)? Cô không bị thiếu nợ? Cô không
phải là lính của vua? Cô đã được cha mẹ cho phép, chồng cho phép? Cô đã
tròn hai mươi tuổi? Cô có đầy đủ y bát không? Cô tên gì? Vị ni tế độ
(pavattinī) tên gì?"
[574] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo hỏi các pháp chướng ngại của các tỷ-kheo ni. Các cô có ý muốn tu
lên bậc trên đã bối rối, bị mắc cở, nên không thể trả lời. Các vị đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
người nữ tu lên bậc trên được tu lên bậc trên từ một phía, sau khi được
trong sạch ở hội chúng tỷ-kheo ni rồi (tiếp tục) ở hội chúng tỷ-kheo.
[575] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni hỏi các pháp chướng ngại đến các cô có ý muốn tu lên bậc trên.
Vì chưa được học tập trước nên các cô có ý muốn tu lên bậc trên đã bối
rối, bị mắc cở, nên không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
giảng giải trước rồi hỏi các pháp chướng ngại sau.
Các vị đã giảng giải ngay tại
chổ ấy, ở giữa hội chúng. Như thế ấy, các cô có ý muốn tu lên bậc trên đã
bối rối, bị mắc cở, nên không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
giảng giải ở một góc rồi hỏi các pháp chướng ngại ở giữa hội chúng. Và này
các tỷ-kheo, nên giảng giải như vầy:
Trước tiên, nên bảo chọn vị
thầy tế độ. Sau khi đã bảo chọn vị thầy tế độ rồi nên chỉ y bát: "Đây
là bát của cô, đây là y hai lớp (saṅghāti) của cô, đây là thượng y của
cô, đây là y nội của cô, đây là áo lót, đây là vải choàng tắm. Hãy đi đến
đứng ở chỗ trống đàng kia."
Các vị ni ngu dốt, thiếu kinh
nghiệm đã giảng giải. Các cô có ý muốn tu lên bậc trên do được giảng giải
tồi nên đã bối rối, bị mắc cở, và không thể trả lời. Các vị đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, vị ni ngu
dốt thiếu kinh nghiệm không nên giảng giải. Vị nào giảng giải thì phạm tội
tác ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép giảng giải đối với tỷ-kheo
ni có kinh nghiệm, đủ năng lực.
Những ni không được chỉ định đã
giảng giải. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, vị ni không
được chỉ định không nên giảng giải. Vị ni nào giảng giải thì phạm tội tác
ác (dukkata). Này các tỷ-kheo, ta cho phép giảng giải đối với vị ni đã
được chỉ định. Và này các tỷ-kheo, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định
cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.
[576] Thế nào là tự mình chỉ
định cho chính mình?
Hội chúng cần được thông báo
bởi vị tỷ-kheo ni có kinh nghiệm, đủ năng lực:
- Bạch chư đại đức ni, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với
đại đức ni tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ
giảng giải cho cô ni tên (như vầy).
Như vậy là tự mình chỉ định cho
chính mình.
[577] Thế nào là người khác chỉ
định cho người khác?
Hội chúng cần được thông báo
bởi vị tỷ-kheo ni có kinh nghiệm, đủ năng lực:
- Bạch chư đại đức ni, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với
đại đức ni tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị ni
tên (như vầy) sẽ giảng giải cho cô ni tên (như vầy).
Như vậy là người khác chỉ định
cho người khác.
[578] Tỷ-kheo ni đã được chỉ
định ấy nên đi đến gần cô có ý muốn tu lên bậc trên và nên nói như vầy:
- Này cô tên (như vầy), hãy
lắng nghe. Đối với cô, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của
bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến,
nếu điều ấy là đúng thì nên nói: "Đúng;" nếu không đúng, nên nói: "Không
đúng." Không nên bối rối, không nên mắc cở. Các vị sẽ hỏi cô như vầy:
"Cô không phải là người không có hiện tướng (người nữ)? Cô không phải
là người không có đủ hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người không
có kinh nguyệt (alohitā)? Cô không phải là người có máu bị ứ đọng
(dhuvalohitā)? Cô không phải là người thường xuyên mang vải lót
(dhuvacolā)? Cô không phải là người bị rong kinh (paggharantī)? Cô không
phải là người bị dị tướng (sikharinī)? Cô không phải là người người nữ bị
thiến (itthipandakā)? Cô không
phải là người bị lại đực (vepurisikā)? Cô không phải là người không xác
định được giới tính (sambhinnā)? Cô không phải là người người nữ lưỡng
tánh (ubhatobyañjanā)? Cô có bị các bệnh như thế này hay không: Bệnh cùi?
Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Cô là loài người?
Cô là người nữ? Cô là người được tự do (không phải nô lệ)? Cô không bị
thiếu nợ? Cô không phải là lính của vua? Cô đã được cha mẹ cho phép, chồng
cho phép? Cô đã tròn hai mươi tuổi? Cô có đầy đủ y bát không? Cô tên gì?
Vị ni tế độ (pavattinī) tên gì?
Họ đi đến từ một phía. Không
nên đi đến chung (cùng một lúc). Vị giảng giải đi đến trước và thông báo
đến hội chúng: "Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi.
Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như
vầy). Tôi đã giảng giải cho cô ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, nên cho cô tên (như vầy) đi đến." và nên nói rằng: "Hãy đi
đến."
Cô ấy nên đắp thượng y một bên
vai, đảnh lễ ở chân các tỷ-kheo ni, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên
cầu xin sự tu lên bậc trên: "Bạch chư đại đức ni, tôi cầu xin hội chúng
sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy vì lòng thương
xót mà tế độ tôi. Lần thứ nhì, bạch chư đại đức ni, tôi cầu xin hội chúng
sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy vì lòng thương
xót mà tế độ tôi. Lần thứ ba, bạch chư đại đức ni, tôi cầu xin hội chúng
sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy vì lòng thương
xót mà tế độ tôi."
Hội chúng nên được thông báo
bởi một tỷ-kheo ni có kinh nghiệm, đủ năng lực: Bạch chư đại đức ni,
xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc
trên với đại đức ni tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, tôi sẽ hỏi các pháp chướng ngại đến cô ni tên (như vầy)."
"Này cô tên (như vầy), hãy
lắng nghe. Đối với cô, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của
bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến,
nếu điều ấy là đúng thì nên nói: "Đúng;" nếu không đúng, nên nói: "Không
đúng." Cô không phải là người không có hiện tướng (người nữ)? Cô không
phải là người không có đủ hiện tướng (người nữ)? …(như trên)… Cô tên gì?
Vị ni tế độ (pavattinī) tên gì?"
Hội chúng nên được thông báo
bởi một tỷ-kheo ni có kinh nghiệm, đủ năng lực:
"Bạch chư đại đức ni, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên
với đại đức ni tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại.
Cô ta có đầy đủ y bát. Cô ta cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với vị
đại đức ni tên (như vầy) là thầy tế độ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, hội chúng nên cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị đại
đức ni tên (như vầy) là thầy tế độ. Đây là lời đề nghị.
Bạch chư đại đức ni, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên
với đại đức ni tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại.
Cô ta có đầy đủ y bát. Cô ta cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với vị
đại đức ni tên (như vầy) là thầy tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy)
sự tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là thầy tế độ. Đại đức
ni nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với đại đức ni
tên (như vầy) là thầy tế độ xin im lặng; vị ni nào không đồng ý, có thể
nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này
lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự việc này
lần thứ ba: Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni
này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy)
là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Cô ta có đầy đủ y bát. Cô ta
cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là
thầy tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị đại
đức ni tên (như vầy) là thầy tế độ. Đại đức ni nào đồng ý sự tu lên bậc
trên của cô ni tên (như vầy) với đại đức ni tên (như vầy) là thầy tế độ
xin im lặng; vị ni nào không đồng ý, có thể nói lên.
Cô ni tên (như vầy) đã được hội
chúng cho tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là thầy tế độ.
Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là
như vậy."
[579] Ngay sau khi hoàn tất
việc trên, cô ni ấy nên đi đến hội chúng tỷ-kheo, đắp thượng y một bên
vai, đảnh lễ ở chân các tỷ-kheo, ngồi chồm hổm, chắp tay lên và nên cầu
xin sự tu lên bậc trên:
"Bạch chư đại đức, tôi tên (như
vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã được
tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỷ-kheo ni, và được trong sạch.
Bạch chư đại đức, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại
đức, xin hội chúng hãy vì lòng thương xót mà tế độ tôi.
Bạch chư đại đức, tôi tên (như
vầy) cầu có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã
được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỷ-kheo ni, và được trong
sạch. Lần thứ nhì, bạch chư đại đức, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc
trên. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy vì lòng thương xót mà tế độ tôi.
Bạch chư đại đức, tôi tên (như
vầy) cầu có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã
được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỷ-kheo ni, và được trong
sạch. Lần thứ ba, bạch chư đại đức, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc
trên. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy vì lòng thương xót mà tế độ
tôi."
[580] Hội chúng cần được thông
báo bởi vị tỷ-kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:
"Bạch chư đại đức, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên
với vị ni tên (như vầy) đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng
tỷ-kheo ni, và được trong sạch. Cô ni tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự
tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là thầy tế độ. Nếu là thời điểm
thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho cô ni tên (như vầy) được tu lên
bậc trên với vị ni tên (như vầy) là thầy tế độ. Đây là lời đề nghị.
Bạch chư đại đức, xin hội chúng
hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với
vị ni tên (như vầy) đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng
tỷ-kheo ni, và được trong sạch. Cô ni tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự
tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là thầy tế độ. Hội chúng cho cô ni
tên (như vầy) được tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là thầy tế độ.
Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với vị ni
tên (như vầy) là thầy tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói
lên.
Tôi xin thông báo sự việc này
lần thứ nhì: …(như trên)…
Tôi xin thông báo sự việc này
lần thứ ba: Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này
tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy) đã
được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỷ-kheo ni, và được trong
sạch. Cô ni tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni
tên (như vầy) là thầy tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) được tu lên
bậc trên với vị ni tên (như vầy) là thầy tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu
lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với vị ni tên (như vầy) là thầy tế độ
xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.
Cô ni tên (như vầy) đã được hội
chúng cho tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là thầy tế độ. Sự việc
được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như
vậy."
[581] Ngay khi ấy, bóng nắng
cần được đo đạc, việc xác định mùa tiết nên được chỉ dạy, việc phân chia
ngày (giờ) nên được chỉ dạy, điều đã được kết tập lại nên được chỉ dạy,
các tỷ-kheo ni nên được nói rằng:
- Hãy chỉ dạy cô ni này ba điều
nương nhờ và tám điều không nên làm.
[582] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni trong khi xác định chỗ ngồi trong nhà ăn đã bị quá giờ (thọ
thực). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
(chỗ ngồi) của tám tỷ-kheo ni tính theo thâm niên, (chỗ ngồi) của các vị
còn lại tính theo thứ tự đi đến.
[583] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni (nghĩ rằng): "Đức Thế Tôn đã cho phép (chỗ ngồi) của tám
tỷ-kheo ni tính theo thâm niên, (chỗ ngồi) của các vị còn lại tính theo
thứ tự đi đến," nên ở khắp mọi nơi đã chừa lại tám chỗ cho các tỷ-kheo
ni tính theo thâm niên và các chỗ còn lại thì theo thứ tự đi đến. Các vị
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
trong nhà ăn (chỗ ngồi của) tám tỷ-kheo ni tính theo thâm niên và (chỗ
ngồi) của các vị còn lại tính theo thứ tự đi đến, còn ở những nơi khác
không nên chừa lại theo thứ tự thâm niên. Vị nào chừa lại thì phạm tội tác
ác (dukkata).
[584] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni không hành lễ Tự Tứ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên không hành lễ Tự Tứ. Vị ni nào không hành lễ Tự Tứ thì nên
hành xử theo Pháp.
[585] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni sau khi hành lễ Tự Tứ nơi hội chúng tỷ-kheo ni rồi đã không
hành lễ Tự Tứ nơi hội chúng tỷ-kheo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni sau khi hành lễ Tự Tứ nơi hội chúng tỷ-kheo ni rồi không nên không hành
lễ Tự Tứ nơi hội chúng tỷ-kheo. Vị ni nào không hành lễ Tự Tứ thì nên hành
xử theo Pháp.
[586] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni trong khi hành lễ Tự Tứ chỉ một phía với các tỷ-kheo đã tạo nên
sự xáo trộn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, các tỷ-kheo
ni không nên hành lễ Tự Tứ chỉ một phía với các tỷ-kheo. Vị ni nào hành lễ
Tự Tứ (chỉ một phía) thì phạm tội tác ác (dukkata).
[587] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni trong khi hành lễ Tự Tứ trước bữa ăn trưa nên đã bị quá giờ.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
hành lễ Tự Tứ sau bữa ăn trưa.
Trong khi hành lễ Tự Tứ sau bữa
ăn trưa, các vị đã bị trời tối. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
hành lễ Tự Tứ với hội chúng tỷ-kheo ni ngày hôm nay và hành lễ Tự Tứ với
hội chúng tỷ-kheo vào ngày kế.
[588] Vào lúc bấy giờ, toàn bộ
hội chúng tỷ-kheo ni trong lúc hành lễ Tự Tứ đã gây nên sự xáo trộn. Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
chỉ định một tỷ-kheo ni có kinh nghiệm đủ năng lực đến hành lễ Tự Tứ nơi
hội chúng tỷ-kheo vì lợi ích của hội chúng tỷ-kheo ni. Và này các tỷ-kheo,
nên chỉ định như vầy: Trước tiên, tỷ-kheo ni ấy cần được yêu cầu; sau khi
yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỷ-kheo ni có kinh nghiệm, đủ
năng lực:
"Bạch chư đại đức ni, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội
chúng nên chỉ định tỷ-kheo ni tên (như vầy) đến hành lễ Tự Tứ nơi hội
chúng tỷ-kheo vì lợi ích của hội chúng tỷ-kheo ni. Đây là lời đề nghị.
Bạch chư đại đức ni, xin hội
chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định tỷ-kheo ni tên (như vầy) đến
hành lễ Tự Tứ nơi hội chúng tỷ-kheo vì lợi ích của hội chúng tỷ-kheo ni.
Đại đức ni nào đồng ý sự chỉ định tỷ-kheo ni tên (như vầy) đến hành lễ Tự
Tứ nơi hội chúng tỷ-kheo vì lợi ích của hội chúng tỷ-kheo ni xin im lặng;
vị ni nào không đồng ý, có thể nói lên.
Tỷ-kheo ni tên (như vầy)đã được
hội chúng chỉ định đến hành lễ Tự Tứ nơi hội chúng tỷ-kheo vì lợi ích của
hội chúng tỷ-kheo ni. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi
ghi nhận sự việc này là như vậy."
[589] Vị tỷ-kheo ni đã được chỉ
định ấy dẫn theo hội chúng tỷ-kheo ni đi đến hội chúng tỷ-kheo, đắp thượng
y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỷ-kheo, ngồi chồm hỗm, chắp tay lên, và
nên nói như vầy:
- Bạch các ngài, hội chúng
tỷ-kheo ni xin hành Tự Tứ nơi hội chúng tỷ-kheo. Bạch các ngài, do thấy,
do nghe, hoặc do nghi ngờ, vì lòng thương xót đối với hội chúng tỷ-kheo ni
xin hội chúng tỷ-kheo hãy nói lên; khi thấy (lỗi) rồi sẽ sửa đổi.
Lần thứ nhì, bạch các ngài
…(như trên)…
Lần thứ ba, bạch các ngài, hội
chúng tỷ-kheo ni xin hành Tự Tứ nơi hội chúng tỷ-kheo. Bạch các ngài, do
thấy, do nghe, hoặc do nghi ngờ, lên vì lòng bi mẫn đối với hội chúng
tỷ-kheo ni xin hội chúng tỷ-kheo hãy nói lên; khi thấy (lỗi) rồi sẽ sửa
đổi.
[590] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni đình chỉ lễ Bố Tát (uposatha) của các tỷ-kheo, đình chỉ lễ Tự
Tứ, ban hành mệnh lệnh, thiết lập quyền hạn, bảo nhường chỗ, quở trách,
nhắc nhở, ...(như trên)... Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
...(như trên)...
- Này các tỷ-kheo, tỷ-kheo ni
không nên đình chỉ lễ Bố Tát của tỷ-kheo; nếu đã bị đình chỉ thì cũng như
không bị đình chỉ và vị ni cho lệnh đình chỉ thì phạm tội tác ác
(dukkata). Không nên đình chỉ lễ Tự Tứ; nếu đã bị đình chỉ thì cũng như
không bị đình chỉ, và vị ni cho lệnh đình chỉ thì phạm tội tác ác
(dukkata). Không nên ban hành mệnh lệnh; nếu đã ban hành thì cũng không
được xem là đã ban hành, và vị ni ban hành thì phạm tội tác ác (dukkata).
Không nên thiết lập quyền hạn, nếu đã thiết lập thì cũng không được xem là
đã thiết lập, và vị ni thiết lập thì phạm tội tác ác (dukkata). Không nên
bảo nhường chỗ, nếu đã bảo thì cũng xem như không bảo, và vị ni bảo thì
phạm tội tác ác (dukkata). Không nên quở trách, nếu đã quở trách thì cũng
xem như không quở trách, và vị ni quở trách thì phạm tội tác ác
(dukkata). Không nên nhắc nhở, nếu đã nhắc nhở thì cũng xem như không
nhắc nhở, và vị ni nhắc nhở thì phạm tội tác ác (dukkata).
[591] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo đình chỉ lễ Bố Tát (uposatha) của các tỷ-kheo ni, đình chỉ lễ Tự
Tứ, ban hành mệnh lệnh, thiết lập quyền hạn, bảo nhường chỗ, quở trách,
nhắc nhở. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
tỷ-kheo được đình chỉ lễ Bố Tát của tỷ-kheo ni; nếu đã được đình chỉ thì
đã được đình chỉ đúng đắn và vị cho lệnh đình chỉ vô tội. Được đình chỉ lễ
Tự Tứ; nếu đã được đình chỉ thì đã được đình chỉ đúng đắn và vị cho lệnh
đình chỉ vô tội. Được ban hành mệnh lệnh; nếu đã được ban hành thì đã được
ban hành đúng đắn và vị ban hành vô tội. Được thiết lập quyền hạn, nếu đã
được thiết lập thì đã được thiết lập đúng đắn và vị thiết lập vô tội. Được
bảo nhường chỗ, nếu đã được bảo thì đã được bảo đúng đắn và vị bảo vô tội.
Được quở trách, nếu đã được quở trách thì đã được quở trách đúng đắn và vị
quở trách vô tội. Được nhắc nhở, nếu đã được nhắc nhở thì đã được nhắc nhở
đúng đắn và vị nhắc nhở vô tội.
[592] Vào lúc bấy giờ, các
tỷ-kheo ni nhóm Lục Sư di chuyển bằng xe được kéo bởi bò cái với con bò
đực ở giữa, hoặc được kéo bởi bò đực với con bò cái ở giữa. Dân chúng phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- …(như trên)… giống như lễ hội
ở vùng Gaṅgā và Mahī vậy.
Các vị đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, tỷ-kheo ni
không nên di chuyển bằng xe. Vị nào di chuyển thì hành xử theo Pháp.
[593] Vào lúc bấy giờ, có vị
tỷ-kheo ni nọ bị bệnh, không thể bước đi bằng chân được. Các vị đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
(sử dụng) xe đối với vị ni bị bệnh.
Khi ấy, các tỷ-kheo ni đã khởi
ý rằng: "Vậy được kéo bởi bò cái? Hay được kéo bởi bò đực?" Các vị
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
(sử dụng) toa xe được kéo bởi bò cái hoặc được kéo bởi bò đực.
[594] Vào lúc bấy giờ, có vị
tỷ-kheo ni nọ bị khó chịu dữ dội vì xe bị dằn xóc. Các vị đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỷ-kheo, ta cho phép
(sử dụng) ổ rơm và ghế lót nệm.
[595] Vào lú