[337] Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngụ tại
Anupiyā. Anupiyā là tên của một thị trấn của xứ Malla. Vào lúc bấy giờ,
nhiều vương tử rất danh tiếng thuộc giòng dõi Thích Ca (Sākya) đã xuất gia
noi theo gương đức Thế Tôn.
[338] Vào lúc bấy giờ, Mahānāma giòng Sākya và
Anuruddha giòng Sākya là hai anh em. Anuruddha là người mảnh mai. Chàng
trai có ba tòa lâu đài: một dành cho mùa lạnh, một dành cho mùa nóng, và
một dành cho mùa mưa. Ở trong tòa lâu đài trong bốn tháng mùa mưa, chàng
luôn được vây quanh bởi các nữ công tấu nhạc và không bước xuống phía dưới
của tòa lâu đài. Khi ấy, Manānāma giòng Sākya đã khởi ý rằng: "Hiện nay
nhiều vương tử rất danh tiếng thuộc giòng dõi Thích Ca (Sākya) đã xuất gia
noi theo gương đức Thế Tôn. Còn gia tộc của chúng ta thì không có người
nào rời nhà xuất gia sống không nhà cả. Như vậy thì ta hoặc là Anuruddha
nên xuất gia." Khi ấy, Mahānāma giòng Sākya đã đi đến gặp Anuruddha
giòng Sākya, đến rồi đã nói với Anuruddha giòng Sākya rằng:
- Này Anuruddha yêu quý, hiện nay nhiều vương tử rất
danh tiếng thuộc giòng dõi Thích Ca (Sākya) đã xuất gia noi theo gương đức
Thế Tôn. Còn gia tộc của chúng ta thì không có người nào rời nhà xuất gia
sống không nhà cả. Như vậy thì em hãy xuất gia hoặc anh sẽ xuất gia.
- Em thì mảnh mai, em không thể rời nhà xuất gia sống
không nhà. Anh hãy xuất gia đi.
- Vậy hãy đến đây, Anuruddha yêu quý, anh sẽ chỉ dạy
công việc gia đình. Trước tiên, ruộng nương cần bảo người cày xới; sau khi
cho cày xới rồi cần bảo người gieo hạt; sau khi cho gieo hạt rồi cần bảo
người đưa nước vào; sau khi cho đưa nước vào rồi cần bảo người tưới nước
đều khắp các ruộng; sau khi cho tưới nước đều khắp các ruộng cần bảo người
nhổ cỏ; sau khi cho nhổ cỏ rồi cần bảo người gặt hái; sau khi cho gặt hái
rồi cần bảo người thâu hoạch; sau khi cho thâu hoạch rồi cần bảo người
chất thành đống; sau khi cho chất thành đống rồi cần bảo người đập giũ;
sau khi cho đập giũ rồi cần bảo người tách rơm ra; sau khi cho tách rơm ra
cần bảo người tách trấu ra; sau khi cho tách trấu ra cần bảo người sàng
sảy; sau khi cho sàng sảy rồi cần bảo người đem cất vào kho; sau khi cho
đem cất vào kho rồi vào mùa tới cũng cần được làm y như thế; vào mùa tới
cũng cần được làm y như thế.
- Thế các công việc không được chấm dứt sao? Sự chấm
dứt của các công việc không được biết đến hay sao? Khi nào thì các công
việc được chấm dứt? Khi nào thì sự chấm dứt các công việc được biết đến?
Khi nào chúng ta mới được rảnh rỗi mà hưởng thụ năm phần dục lạc đã được
ban cho và cung ứng?
- Này Anuruddha yêu quý, công việc không được chấm dứt.
Sự chấm dứt của các công việc không được biết đến. Cha và ông đã qua đời
nhưng công việc vẫn không chấm dứt.
- Nếu vậy thì anh hãy quản lý công việc gia đình. Em sẽ
rời nhà xuất gia sống không nhà.
[339] Sau đó, Anuruddha giòng Sākya đã đi đến gặp người
mẹ, đến rồi đã nói với người mẹ rằng:
- Mẹ à, con muốn rời nhà xuất gia sống không nhà. Mẹ
hãy cho phép con rời nhà xuất gia sống không nhà.
Nghe nói vậy, mẹ của Anuruddha giòng Sākya đã nói với
Anuruddha giòng Sākya rằng:
- Này Anuruddha yêu quý, các con là hai người con trai
cưng, yêu dấu, dễ thương của mẹ. Cho dù là chết đi, mẹ cũng vẫn không muốn
xa các con. Làm sao trong lúc đang còn sống, mẹ lại cho phép con rời nhà
xuất gia sống không nhà?
Đến lần thứ nhì, …(như trên)…
Đến lần thứ ba, Anuruddha giòng Sākya đã đi đến gặp
người mẹ, đến rồi đã nói với người mẹ rằng:
- Mẹ à, con muốn rời nhà xuất gia sống không nhà. Mẹ
hãy cho phép con rời nhà xuất gia sống không nhà.
[340] Vào lúc bấy giờ, Bhaddiya là đức vua giòng Sākya
đang trị vì lãnh thổ Sākya. Đức vua là bạn thân của Anuruddha giòng Sākya.
Khi ấy, mẹ của Anuruddha giòng Sākya (nghĩ rằng): "Có Bhaddiya, đức vua
giòng Sākya, đang trị vì lãnh thổ Saky là bạn thân của Anuruddha giòng
Sākya. Vị ấy không nhiệt tình rời nhà xuất gia sống không nhà," nên đã
nói với Anuruddha giòng Sākya rằng:
- Này Anuruddha yêu quý, nếu Bhaddiya đức vua giòng
Sākya rời nhà xuất gia sống không nhà, thì con cũng xuất gia như vậy.
Sau đó, Anuruddha giòng Sākya đã đi đến gặp Bhaddiya
đức vua giòng Sākya, đến rồi đã nói với Bhaddiya đức vua giòng Sākya rằng:
- Này bạn, việc xuất gia của tôi tùy thuộc vào bạn đó.
- Này bạn, nếu việc xuất gia của bạn tùy thuộc vào tôi,
hãy làm cho nó không còn tùy thuộc nữa. Tôi với bạn ..., cứ việc xuất gia
một cách thỏai mái.
[Buddhaghosa giải thích rằng: Bhaddiya vì thương mến
bạn muốn nói rằng: "Tôi với bạn sẽ xuất gia, bạn cứ việc xuất gia một
cách thoải mái" nhưng vì lòng ham muốn làm vua ngăn cản trái tim lại nên
không thể nói hết câu được.]
- Này bạn, giờ hãy đi. Cả hai ta sẽ rời nhà xuất gia
sống không nhà.
- Không được đâu, bạn à. Tôi không thể rời nhà xuất gia
sống không nhà. Điều gì khác tôi có thể làm cho bạn thì tôi sẽ làm ngay.
Giờ bạn hãy xuất gia đi.
- Này bạn, nhưng vì mẹ nói với tôi như vầy: "Nếu
Bhaddiya đức vua giòng Sākya rời nhà xuất gia sống không nhà, thì con cũng
xuất gia như vậy." Này bạn, bạn đã nói lời nói này: "Này bạn, nếu
việc xuất gia của bạn tùy thuộc vào tôi, hãy làm cho nó không còn tùy
thuộc nữa. Tôi với bạn ..., cứ việc xuất gia một cách thỏai mái." Này
bạn, giờ hãy đi. Cả hai ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.
Vào lúc bấy giờ, con người nói năng chân thật, tôn
trọng sự chân thật. Khi ấy, Bhaddiya đức vua giòng Sākya đã nói với
Anuruddha giòng Sākya rằng:
- Này bạn, hãy chờ bảy năm. Sau bảy năm, chúng ta sẽ
rời nhà xuất gia sống không nhà.
- Này bạn, bảy năm lâu quá. Tôi không thể chờ bảy năm.
- Này bạn, hãy chờ sáu năm. …(như trên)… năm năm. …(như
trên)… bốn năm. …(như trên)… ba năm. …(như trên)… hai năm. …(như trên)
…một năm. Sau một năm, chúng ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.
- Này bạn, một năm lâu quá. Tôi không thể chờ một năm.
- Này bạn, hãy chờ bảy tháng. Sau bảy tháng, chúng ta
sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.
- Này bạn, bảy tháng lâu quá. Tôi không thể chờ bảy
tháng.
- Này bạn, hãy chờ sáu tháng. …(như trên)… năm tháng. …
bốn tháng. … ba tháng. … hai tháng. … một tháng. … nửa tháng. Sau nửa
tháng, chúng ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.
- Này bạn, nửa tháng lâu quá. Tôi không thể chờ nửa
tháng.
- Này bạn, hãy chờ bảy ngày đến khi tôi trao lại vương
quốc cho các người con trai và các người em trai xong.
- Này bạn, bảy ngày không lâu lắm. Tôi sẽ chờ.
[341] Khi ấy, Bhaddiya đức vua giòng Sākya, Anuruddha,
Ānanda, Bhagu, Kimila, Devadatta, với thợ cạo Upāli là người thứ bảy.
Giống như trước đây họ đã đưa nhau đi đến vườn hoa cùng với bốn loại quân
binh, giờ cũng như thế họ đã đưa nhau đi cùng với bốn loại quân binh. Khi
đi đã xa, họ đã cho quân binh trở về. Khi đi đến một khu vực khác, họ đã
cởi các đồ trang sức ra và lấy y khoác ngoài cột lại thành một gói rồi nói
với thợ cạo Upāli rằng:
- Này Upāli, ngươi nên trở lại. Nhiêu đây cũng đủ cho
cả đời của ngươi.
[342] Sau đó, thợ cạo Upāli trong khi đi trở về đã khởi
ý rằng: "Những người giòng Sākya thì ác độc, (họ nghĩ rằng): ‘Gã này đã
làm cho các vương tử trở thành bần cùng!’ thậm chí có thể ra lệnh giết ta.
Các vương tử giòng Sākya này còn rời nhà xuất gia sống không nhà được,
việc gì ta lại không?" Vị ấy đã mở gói đồ ra treo các thứ ở trên cây
nói rằng: "Ai thấy được cứ việc lấy món quà," rồi đi đến gặp các
vương tử giòng Sākya. Các vương tử ấy đã thấy người thợ cạo đang từ đàng
xa đi lại. Khi gặp lại thợ cạo Upāli, các vị đã nói rằng:
- Này Upāli, ngươi quay lại vì chuyện gì vậy?
- Thưa các vương tử, trong trường hợp này, khi quay trở
về tôi đã khởi ý rằng: "Những người giòng Sākya thì ác độc, (nghĩ
rằng): ‘Gã này đã làm cho các vương tử trở thành bần cùng!’ thậm chí có
thể ra lệnh giết ta. Các vương tử giòng Sākya này còn rời nhà xuất gia
sống không nhà được, việc gì ta lại không?" Thưa các vương tử, sau đó
tôi đã mở gói đồ ra treo các thứ ở trên cây nói rằng: "Ai thấy được cứ
việc lấy món quà," rồi từ đó tôi quay lại đây.
- Này Upāli, ngươi đã hành động đúng khi không quay về
vì những người giòng Sākya đúng là ác độc, (nghĩ rằng): "Gã này đã làm
cho các vương tử trở thành bần cùng!" thậm chí có thể ra lệnh giết
ngươi.
[343] Sau đó, các vương tử giòng Sākya đã đưa người thợ
cạo đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các vương tử giòng Sākya ấy đã bạch với
đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, chúng tôi thuộc giòng Sākya thường ngã
mạn. Bạch ngài, thợ cạo Upāli này là người hầu cận của chúng tôi đã lâu
nay. Xin đức Thế Tôn cho ông ta xuất gia trước tiên. Chúng tôi sẽ thực
hành bổn phận nghiêm chỉnh là sự đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay lại đối với
ông ta. Như vậy sự ngã mạn của giòng Sākya trong những người Sākya chúng
tôi sẽ không còn nữa.
Rồi đức Thế Tôn đã cho người thợ cạo Upāli xuất gia
trước tiên kế đến là các vương tử giòng Sākya ấy.
[344] Sau đó, đại đức Bhaddiya đã chứng tam minh trong
năm ấy. Đại đức Anuruddha chứng thiên nhãn. Đại đức Ānanda chứng quả Nhập
Lưu. Devadatta đạt được thần thông của phàm nhân.
[345] Vào lúc bấy giờ, đại đức Bhaddiya khi ở trong
rừng, ở dưới cội cây, ở nơi đồng trống thường xuyên thốt lên lời cảm hứng
rằng: "Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!" Khi ấy, một số đông tỷ-kheo đã
đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các tỷ-kheo ấy đã bạch với đức Thế Tôn
rằng:
- Bạch ngài, đại đức Bhaddiya khi ở trong rừng, ở dưới
cội cây, ở nơi đồng trống thường xuyên thốt lên lời cảm hứng rằng: "Ôi
sự an lạc! Ôi sự an lạc!" Bạch ngài, chắc chắn rằng đại đức Bhaddiya
thực hành phạm hạnh không được hoan hỷ. Mặc dù ở trong rừng, ở dưới cội
cây, ở nơi đồng trống, vị ấy trong khi hồi tưởng lại sự khoái lạc vương
quyền trước đây nên đã thường xuyên thốt lên lời cảm hứng rằng: "Ôi sự
an lạc! Ôi sự an lạc!"
Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo một vị tỷ-kheo rằng:
- Này tỷ-kheo, ngươi hãy nhân danh ta đi đến nói với
tỷ-kheo Bhaddiya rằng: "Này đại đức Bhaddiya, bậc Đạo Sư cho gọi đại
đức."
- Thưa vâng, bạch ngài.
Vị tỷ-kheo ấy nghe theo đức Thế Tôn đã đi đến gặp đại
đức Bhaddiya, đến rồi đã nói với đại đức Bhaddiya rằng:
- Này đại đức Bhaddiya, bậc Đạo Sư cho gọi đại đức.
[346] - Bạch đại đức, xin vâng.
Đại đức Bhaddiya nghe theo vị tỷ-kheo ấy đã đi đến gặp
đức Thế tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế tôn rồi ngồi xuống một bên.
Đức Thế Tôn đã nói với đại đức Bhaddiya đang ngồi ở một bên rằng:
- Này Bhaddiya, nghe nói ngươi khi ở trong rừng, ở dưới
cội cây, ở nơi đồng trống thường xuyên thốt lên lời cảm hứng rằng: "Ôi
sự an lạc! Ôi sự an lạc!"
- Thưa vâng, bạch ngài.
- Này Bhaddiya, ngươi cảm nhận được lợi ích gì khi ở
trong rừng, ở dưới cội cây, ở nơi đồng trống mà thường xuyên thốt lên lời
cảm hứng: "Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!" vậy?
- Bạch ngài, trước đây con là một vị vua có sự bảo vệ
được sắp đặt cẩn thận bên trong hậu cung, có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn
thận bên ngoài hậu cung, có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên trong
thành phố, có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên ngoài thành phố, có sự
bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên trong xứ sở, có sự bảo vệ được sắp đặt
cẩn thận bên ngoài xứ sở. Bạch ngài, tuy được bảo vệ và bảo hộ như vậy,
con đây sống vẫn cảm thấy khiếp đảm, sợ hãi, lo âu, hồi hộp. Bạch ngài,
thế mà giờ đây, con chỉ một mình, ở trong rừng, ở dưới cội cây, ở nơi đồng
trống lại không khiếp đảm, không sợ hãi, không lo âu, không hồi hộp, vô tư
lự, điềm tĩnh, không lệ thuộc sự chăm sóc của người khác, sống với tâm như
loài thú rừng. Bạch ngài, con đây cảm nhận được sự lợi ích khi ở trong
rừng, ở dưới cội cây, ở nơi đồng trống nên thường xuyên thốt lên lời cảm
hứng rằng: "Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!"
Khi đó, đức Thế Tôn, sau khi đã hiểu được ý nghĩa sự
việc ấy, rồi vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng rằng:
[347]
Sân hận không hiện hữu
trong tâm của người nào,
như thế đã vượt qua
khỏi hữu và phi hữu,
là người hết sợ hãi,
an lạc, không sầu muộn,
chư thiên không thành tựu
việc thấy được vị ấy.
[348] Sau khi đã ngụ ở Anupiyā theo như ý thích, đức
Thế Tôn đã lên đường du hành đến Kosambī. Tuần tự du hành, ngài đã ngự đến
Kosambī. Ở đó, tại Kosambī, đức Thế Tôn đã ngự ở tu viện Ghosita.
[349] Khi ấy, trong lúc Devadatta độc cư thiền tịnh, có
một tư tưởng suy tầm như vầy đã khởi lên: "Ta nên làm cho ai tin tưởng
để khi người ấy đã đặt niềm tin nơi ta rồi thì sẽ có nhiều lợi lộc và vinh
quang sanh khởi?" Khi ấy, ý này đã khởi lên cho Devadatta: "Hoàng
tử Ajātasattu này còn trẻ và tương lai chắc chắn sẽ rạng rỡ. Vậy ta nên
làm cho hoàng tử Ajātasattu này tin tưởng để khi hoàng tử đã đặt niềm tin
nơi ta rồi thì sẽ có nhiều lợi lộc và vinh quang sanh khởi."
Khi ấy, Devadatta đã thu xếp sàng tọa rồi cầm y bát đi
đến thành Vương Xá (Rājagaha). Tuần tự, vị ấy đã đến được Rājagaha. Lúc
bấy giờ, Devadatta đã thay đổi hình dạng của mình và biến thành hình dạng
một bé trai thân quấn đầy rắn xuất hiện ở trên bắp vế của hoàng tử
Ajātasattu. Khi đó, hoàng tử Ajātasattu đã trở nên khiếp đảm, sợ hãi, lo
âu, hồi hộp. Rồi Devadatta đã nói với hoàng tử Ajātasattu rằng:
- Hoàng tử, ngài sợ tôi hay sao?
- Vâng, ta sợ lắm. Ngươi là ai?
- Tôi là Devadatta.
- Thưa ngài, nếu ngươi là ngài Devadatta, xin hãy hiện
ra với hình dáng của chính ngài đi.
Sau khi đã thay đổi hình dạng đứa bé trai đó, Devadatta
mang y hai lớp (saṅghāti) và y bát đã hiện ra trước hoàng tử Ajātasattu.
Lúc bấy giờ, hoàng tử Ajātasattu vô cùng ngưỡng mộ thần thông kỳ diệu ấy
của Devadatta nên sáng chiều đã đi đến phục vụ cùng với đoàn xe năm trăm
chiếc và còn cho mang lại cúng dường năm trăm phần ăn là cơm nấu với sữa.
Khi ấy, Devadatta với tâm đã bị ám ảnh và đã bị chế ngự bởi lợi lộc, vinh
quang, và danh vọng khiến điều tham muốn như vầy đã khởi lên: "Ta sẽ
quản trị hội chúng tỷ-kheo." Ngay khi ý nghĩ ấy sanh khởi, Devadatta
đã bị mất đi thần thông của mình.
[350] Vào lúc bấy giờ, thị giả của đại đức Mục Kiền
Liên (Mahāmoggallāna) tên là Kakudha con trai của Koliya vừa mới từ trần
và tái sanh vào một thân khác do ý sanh. Vị ấy đạt được bản thể có hình
dạng như là hai hay ba cánh đồng làng ở Magadha. Với sự thành tựu bản thể
đó, vị ấy vẫn không làm tổn thương chính mình hay người khác. Khi ấy,
thiên tử Kakudha đã đi đến gặp đại đức Mahāmoggallāna, sau khi đến đã đảnh
lễ đại đức Mahāmoggallāna rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, thiên
tử Kakudha đã nói với đại đức Mahāmoggallāna rằng:
- Bạch ngài, Devadatta với tâm đã bị ám ảnh và đã bị
chế ngự bởi lợi lộc, vinh quang, và danh vọng chế ngự khiến điều tham muốn
như vầy đã khởi lên: "Ta sẽ quản trị hội chúng tỷ-kheo." Ngay khi ý
nghĩ ấy sanh khởi, Devadatta đã bị mất đi thần thông của mình.
Thiên tử Kakudha đã nói lên điều ấy. Nói điều ấy xong,
vị ấy đã đảnh lễ đại đức Mahāmoggallāna, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi
biến mất ngay tại chỗ ấy.
[351] Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã
ngồi xuống một bên, đại đức Mahāmoggallāna đã bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, thị giả của con tên là Kakudha con trai
giòng Koliya vừa mới từ trần và tái sanh vào một thân khác do ý sanh. Vị
ấy đạt được bản thể có hình dạng như là hai hay ba cánh đồng làng ở
Magadha. Với sự thành tựu bản thể đó, vị ấy vẫn không làm tổn thương chính
mình hay người khác. Bạch ngài, khi ấy thiên tử Kakudha đã đi đến gặp con,
sau khi đến đã đảnh lễ con rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, thiên
tử Kakudha đã nói với con rằng: "Bạch ngài, Devadatta với tâm đã bị ám
ảnh và đã bị chế ngự bởi lợi lộc, vinh quang, và danh vọng chế ngự khiến
điều tham muốn như vầy đã khởi lên: "Ta sẽ quản trị hội chúng tỷ-kheo."
Ngay khi ý nghĩ ấy sanh khởi, Devadatta đã bị mất đi thần thông của mình."
Thiên tử Kakudha đã nói lên điều ấy. Nói điều ấy xong, vị ấy đã đảnh lễ
con, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.
- Này Moggallāna, phải chăng tâm của ngươi và tâm của
thiên tử Kakudha hiểu biết lẫn nhau nên theo cách như thế bất cứ điều gì
thiên tử Kakudha nói, ngươi biết được tất cả các điều ấy, chứ không phải
là cách khác?
- Bạch ngài, tâm của con và tâm của thiên tử Kakudha
hiểu biết lẫn nhau nên theo cách như thế bất cứ điều gì thiên tử Kakudha
nói, con biết được tất cả các điều ấy, chứ không phải là cách khác.
- Này Moggallāna, hãy giữ kín điều vừa nói ấy. Này
Moggallāna, hãy giữ kín điều vừa nói ấy. Đã đến lúc kẻ rồ dại này sẽ tự
mình làm bộc lộ bản thân.
[352] Này Moggallāna, đây là năm hạng đạo sư đang hiện
hữu ở trên đời. Thế nào là năm? Ở đây, này Moggallāna, có hạng đạo sư có
giới không thanh tịnh lại tự cho rằng: "Ta có giới thanh tịnh," "Giới
của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố." Các đệ tử của chính
vị ấy biết rằng: "Vị đạo sư nổi tiếng này có giới không thanh tịnh lại
tự cho rằng: ‘Ta có giới thanh tịnh,’ ‘Giới của ta thanh tịnh, trong sạch,
không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ.
Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây chuyện cho ông ta
bởi điều ấy. Vả lại, ông ta đang được dâng cúng y áo, vật thực, chỗ trú
ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Ông ta làm điều gì, chính ông ta sẽ biết điều
ấy." Này Moggallāna, như vầy là các đệ tử bảo vệ giới cho vị đạo sư,
và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ giới từ các đệ tử.
[353] Còn điều khác nữa, này Moggallāna, ở đây có hạng
đạo sư nuôi mạng không thanh tịnh lại tự cho rằng: "Ta nuôi mạng thanh
tịnh," "Sự nuôi mạng của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố."
Các đệ tử của chính vị ấy biết rằng: "Vị đạo sư nổi tiếng này nuôi mạng
không thanh tịnh lại tự cho rằng: ‘Ta nuôi mạng thanh tịnh,’ ‘Sự nuôi mạng
của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các
cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao
chúng ta lại gây chuyện cho ông ta bởi điều ấy. Vả lại, ông ta đang được
dâng cúng y áo, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Ông ta làm
điều gì, chính ông ta sẽ biết điều ấy." Này Moggallāna, như vầy là các
đệ tử bảo vệ việc nuôi mạng cho vị đạo sư, và như vậy là vị đạo sư mong
đợi sự bảo vệ việc nuôi mạng từ các đệ tử.
[354] Còn điều khác nữa, này Moggallāna, ở đây có hạng
đạo sư thuyết pháp không thanh tịnh lại tự cho rằng: "Ta thuyết pháp
thanh tịnh," "Sự thuyết pháp của ta thanh tịnh, trong sạch, không
bị hoen ố." Các đệ tử của chính vị ấy biết rằng: "Vị đạo sư nổi
tiếng này thuyết pháp không thanh tịnh lại tự cho rằng: ‘Ta thuyết pháp
thanh tịnh,’ ‘Sự thuyết pháp của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen
ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông
ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây chuyện cho ông ta bởi điều ấy.
Vả lại, ông ta đang được dâng cúng y áo, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc
men chữa bệnh. Ông ta làm điều gì, chính ông ta sẽ biết điều ấy." Này
Moggallāna, như vầy là các đệ tử bảo vệ việc thuyết pháp cho vị đạo sư, và
như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ việc thuyết pháp từ các đệ tử.
[355] Còn điều khác nữa, này Moggallāna, ở đây có hạng
đạo sư có lối giải thích không thanh tịnh lại tự cho rằng: "Ta có lối
giải thích thanh tịnh," "Lối giải thích của ta thanh tịnh, trong
sạch, không bị hoen ố." Các đệ tử của chính vị ấy biết rằng: "Vị
đạo sư nổi tiếng này có lối giải thích không thanh tịnh lại tự cho rằng:
‘Ta có lối giải thích thanh tịnh,’ ‘Lối giải thích của ta thanh tịnh,
trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ
không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây
chuyện cho ông ta bởi điều ấy. Vả lại, ông ta đang được dâng cúng y áo,
vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Ông ta làm điều gì, chính
ông ta sẽ biết điều ấy." Này Moggallāna, như vầy là các đệ tử bảo vệ
lối giải thích cho vị đạo sư, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ
lối giải thích từ các đệ tử.
[356] Còn điều khác nữa, này Moggallāna, ở đây có hạng
đạo sư có tri kiến không thanh tịnh lại tự cho rằng: "Ta có tri kiến
thanh tịnh," "Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen
ố." Các đệ tử của chính vị ấy biết rằng: "Vị đạo sư nổi tiếng này
có tri kiến không thanh tịnh lại tự cho rằng: ‘Ta có tri kiến thanh tịnh,’
‘Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta
nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ,
tại sao chúng ta lại gây chuyện cho ông ta bởi điều ấy. Vả lại, ông ta
đang được dâng cúng y áo, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh.
Ông ta làm điều gì, chính ông ta sẽ biết điều ấy." Này Moggallāna, như
vầy là các đệ tử bảo vệ tri kiến cho vị đạo sư, và như vậy là vị đạo sư
mong đợi sự bảo vệ tri kiến từ các đệ tử.
Này Moggallāna, năm hạng đạo sư này đang hiện hữu ở
trên đời.
[357] Và này Moggallāna, ta có giới thanh tịnh và biết
rằng: "Ta có giới thanh tịnh," "Giới của ta thanh tịnh, trong
sạch, không bị hoen ố." Các đệ tử không cần bảo vệ giới cho ta, và ta
cũng không mong đợi sự bảo vệ giới từ các đệ tử. Ta nuôi mạng thanh tịnh,
…(như trên)… Ta thuyết Pháp thanh tịnh, …(như trên)… Ta có lối giải thích
thanh tịnh, …(như trên)… Ta có tri kiến thanh tịnh và biết rằng: "Ta có
tri kiến thanh tịnh," "Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sạch,
không bị hoen ố." Các đệ tử không cần bảo vệ tri kiến cho ta, và ta
cũng không mong đợi sự bảo vệ tri kiến từ các đệ tử.
[358] Sau khi ngự tại Kosambī được như ý thích, đức Thế
Tôn đã lên đường du hành đi đến Rājagaha. Lần lượt du hành ngài đã ngự đến
Rājagaha. Ở đó, tại Rājagaha, đức Thế Tôn ngụ tại Trúc Lâm (Veluvana),
nơi nuôi dưỡng các con sóc.
[359] Lúc bấy giờ, một số đông tỷ-kheo đã đi đến gặp
đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Khi đã ngồi xuống một bên, các tỷ-kheo ấy đã bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, hoàng tử Ajātasattu sáng chiều đã đi đến
phục vụ Devadatta cùng với đoàn xe năm trăm chiếc, và còn cho mang lại
cúng dường năm trăm phần ăn là cơm nấu với sữa.
- Này các tỷ-kheo, chớ có ganh tỵ với Devadatta về lợi
lộc, vinh quang, và danh vọng. Này các tỷ-kheo, cho đến khi nào hoàng tử
Ajātasattu còn sáng chiều đi đến phục vụ Devadatta cùng với đoàn xe năm
trăm chiếc, và cho mang lại cúng dường năm trăm phần ăn là cơm nấu với sữa
thì này các tỷ-kheo, việc suy giảm trong các thiện pháp là điều sẽ xảy đến
cho Devadatta, chứ không phải sự tiến triển.
Này các tỷ-kheo, cũng giống như làm vỡ túi mật ở mũi
của một con chó dữ tợn; này các tỷ-kheo, bởi vì như vậy con chó ấy sẽ trở
nên dữ tợn hơn trước. Tương tợ như thế, này các tỷ-kheo, cho đến khi nào
hoàng tử Ajātasattu còn sáng chiều đi đến phục vụ Devadatta cùng với đoàn
xe năm trăm chiếc, và cho mang lại cúng dường năm trăm phần ăn là cơm nấu
với sữa thì này các tỷ-kheo, việc suy giảm trong các thiện pháp là điều sẽ
xảy đến cho Devadatta, chứ không phải sự tiến triển.
Này các tỷ-kheo, lợi lộc, vinh quang, và danh vọng đã
đem lại cho Devadatta sự hư hỏng của bản thân; lợi lộc, vinh quang, và
danh vọng đã đem lại cho Devadatta sự tiêu hoại của bản thân. Này các
tỷ-kheo, giống như cây chuối khi trổ quả thì đưa đến sự hư hỏng của thân
cây, khi trổ quả thì đưa đến sự tiêu hoại của thân cây; tương tợ như thế,
lợi lộc, vinh quang, và danh vọng đã đem lại cho Devadatta sự hư hỏng của
bản thân; lợi lộc, vinh quang, và danh vọng đã đem lại cho Devadatta sự
tiêu hoại của bản thân.
Này các tỷ-kheo, giống như cây tre khi ra hoa thì đưa
đến sự hư hỏng của thân cây, khi ra hoa thì đưa đến sự tiêu hoại của thân
cây; tương tợ như thế, lợi lộc, vinh quang, và danh vọng đã đem lại cho
Devadatta sự hư hỏng của bản thân; lợi lộc, vinh quang, và danh vọng đã
đem lại cho Devadatta sự tiêu hoại của bản thân.
Này các tỷ-kheo, giống như cây sậy khi ra hoa thì đưa
đến sự hư hỏng của thân cây, khi ra hoa thì đưa đến sự tiêu hoại của thân
cây; tương tợ như thế, lợi lộc, vinh quang, và danh vọng đã đem lại cho
Devadatta sự hư hỏng của bản thân; lợi lộc, vinh quang, và danh vọng đã
đem lại cho Devadatta sự tiêu hoại của bản thân.
Này các tỷ-kheo, giống như con lừa cái khi mang thai
thì đưa đến sự hư hỏng của bản thân, khi mang thai thì đưa đến sự tiêu
hoại của bản thân; tương tợ như thế, lợi lộc, vinh quang, và danh vọng đã
đem lại cho Devadatta sự hư hỏng của bản thân; lợi lộc, vinh quang, và
danh vọng đã đem lại cho Devadatta sự tiêu hoại của bản thân.
[360]
Quả hại chết cây chuối,
hoa hại chết cây tre,
hoa hại chết cây sậy,
bào thai hại chết lừa;
tương tợ như thế ấy,
vinh quang giết kẻ ngu.
Dứt Tụng Phẩm thứ nhất.
[361] Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ngồi giữa một hội
chúng đông đảo và đang thuyết giảng Giáo Pháp đến đức vua và đoàn tùy
tùng. Khi ấy, Devadatta đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai,
chắp tay xá đức Thế Tôn rồi nói rằng:
- Bạch ngài, đức Thế Tôn nay đã tàn tạ, già cả, lớn
tuổi, đã sống thọ, gần cuối cuộc đời. Bạch ngài, giờ đây xin đức Thế Tôn
sống gắn bó và an trú trong pháp đã chứng, còn hội chúng tỷ-kheo hãy bàn
giao cho tôi, tôi sẽ cai quản hội chúng tỷ-kheo.
- Này Devadatta, đủ rồi, ngươi chớ có mong để được cai
quản hội chúng tỷ-kheo.
Lần thứ nhì, Devadatta …(như trên)…
Đến lần thứ ba, Devadatta đã bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, đức Thế Tôn nay đã tàn tạ, già cả, lớn
tuổi, đã sống thọ, gần cuối cuộc đời. Bạch ngài, giờ đây, xin đức Thế Tôn
sống gắn bó và an trú trong pháp đã chứng, còn hội chúng tỷ-kheo hãy bàn
giao cho tôi, tôi sẽ cai quản hội chúng tỷ-kheo.
- Này Devadatta, ta còn không bàn giao hội chúng
tỷ-kheo cho Xá Lợi Phất (Sāriputta) và Mục Kiền Liên (Moggallāna), tại sao
lại bàn giao cho kẻ tồi tệ đáng phỉ nhổ như ngươi.
Khi ấy, Devadatta (nghĩ rằng): "Đức Thế Tôn đã bôi
nhọ ta bằng cách gọi là kẻ đáng phỉ nhổ trước hội chúng có cả nhà vua và
còn ca tụng Sāriputta và Moggallāna nữa!" trở nên tức tối, không thỏa
mãn, rồi đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi. Như
thế, đây mối ác cảm thứ nhất của Devadatta đối với đức Thế Tôn.
[362] Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỷ-kheo rằng:
- Này các tỷ-kheo, như vậy thì hội chúng hãy thực thi
hành sự công bố (pakāsanīyakammaṃ) về Devadatta trong thành Rājagaha rằng:
"Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay đã khác. Việc gì Devadatta
làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là của đức Phật,
đức Pháp, hoặc đức Tăng mà nên xem điều ấy là của chính Devadatta." Và
này các tỷ-kheo, nên thực thi như vậy: Hội chúng cần được thông báo bởi
một tỷ-kheo có kinh nghiệm đủ năng lực:
Bạch các ngài, xin hội chúng lắng nghe tôi. Nếu là thời
điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực thi hành sự công bố về
Devadatta trong thành Rājagaha rằng: "Bản chất của Devadatta trước đây
khác, nay đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói,
không nên xem điều ấy là của đức Phật, đức Pháp, hoặc đức Tăng mà nên xem
điều ấy là của chính Devadatta." Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng lắng nghe tôi. Hội chúng
thực thi hành sự công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: "Bản
chất của Devadatta trước đây khác, nay đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng
thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là của đức Phật, đức Pháp,
hoặc đức Tăng mà nên xem điều ấy là của chính Devadatta." Đại đức nào
đồng ý sự thực thi hành sự công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng:
"Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay đã khác. Việc gì Devadatta
làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là của đức Phật,
đức Pháp, hoặc đức Tăng mà nên xem điều ấy là của chính Devadatta,"
xin im lặng; vị nào không thỏa thuận, có thể nói lên.
Hành sự công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng:
"Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay đã khác. Việc gì Devadatta
làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là của đức Phật,
đức Pháp, hoặc đức Tăng mà nên xem điều ấy là của chính Devadatta" đã
được hội chúng thực thi. Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên im lặng,
tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
[363] Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Sāriputta
rằng:
- Này Sāriputta, như vậy thì ngươi hãy công bố về
Devadatta ở trong thành Rājagaha.
- Bạch ngài, trước đây ở trong thành Rājagaha con đã
khen ngợi về Devadatta rằng: "Con trai của Godhi có đại thần lực, con
trai của Godhi có đại năng lực." Bạch ngài, làm sao con có thể công bố
về Devadatta ở trong thành Rājagaha được?
- Này Sāriputta, khi ngươi khen ngợi về Devadatta ở
trong thành Rājagaha rằng: "Con trai của Godhi có đại thần lực, con
trai của Godhi có đại năng lực" phải chăng là đúng sự thật?
- Thưa vâng, bạch ngài.
- Này Sāriputta, cũng tương tợ như vậy, ngươi hãy công
bố đúng sự thật về Devadatta ở trong thành Rājagaha.
- Thưa vâng, bạch ngài. Đại đức Sāriputta đã đáp lời
đức Thế Tôn.
[364] Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỷ-kheo rằng:
- Này các tỷ-kheo, nếu vậy thì hội chúng hãy chỉ định
Sāriputta (làm công việc) công bố về Devadatta ở trong thành Rājagaha
rằng: "Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay đã khác. Việc gì
Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là của
đức Phật, đức Pháp, hoặc đức Tăng mà nên xem điều ấy là của chính
Devadatta." Và này các tỷ-kheo, nên chỉ định như vầy: Trước tiên,
Sāriputta cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông qua
bởi một tỷ-kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Bạch các ngài, xin hội chúng lắng nghe tôi. Nếu là thời
điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định Sāriputta (làm công
việc) công bố về Devadatta ở trong thành Rājagaha rằng: "Bản chất của
Devadatta trước đây khác, nay đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân
hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là của đức Phật, đức Pháp, hoặc
đức Tăng mà nên xem điều ấy là của chính Devadatta." Đây là lời đề
nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng lắng nghe tôi. Hội chúng
chỉ định Sāriputta (làm công việc) công bố về Devadatta trong thành
Rājagaha rằng: "Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay đã khác.
Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy
là của đức Phật, đức Pháp, hoặc đức Tăng mà nên xem điều ấy là của chính
Devadatta." Đại đức nào đồng ý sự chỉ định Sāriputta (làm công việc)
công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: "Bản chất của Devadatta
trước đây khác nay đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời
nói, không nên xem điều ấy là của đức Phật, đức Pháp, hoặc đức Tăng mà nên
xem điều ấy là của chính Devadatta" xin im lặng; vị nào không thỏa
thuận, có thể nói lên.
Hội chúng đã chỉ định Sāriputta (làm công việc) công bố
về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: "Bản chất của Devadatta trước
đây khác nay đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói,
không nên xem điều ấy là của đức Phật, đức Pháp, hoặc đức Tăng mà nên xem
điều ấy là của chính Devadatta." Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên
im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
[365] Sau khi đã được chỉ định, đại đức Sāriputta cùng
với số đông tỷ-kheo đã đi vào thành Rājagaha và công bố về Devadatta trong
thành Rājagaha rằng: "Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay đã
khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem
điều ấy là của đức Phật, đức Pháp, hoặc đức Tăng mà nên xem điều ấy là của
chính Devadatta." Ở nơi ấy, những người không có đức tin, không hoan
hỷ, kém trí tuệ nói rằng: "Các sa-môn Thích Tử này ganh tỵ. Họ ganh tỵ
với lợi lộc và vinh quang của Devadatta." Còn những người có đức tin,
hoan hỷ, trí tuệ thì nói như vầy: "Việc đức Thế Tôn cho công bố về
Devadatta như thế này cũng chẳng có gì sai trái cả!"
[366] Khi ấy, Devadatta đã đi đến gặp hoàng tử
Ajātasattu, đến rồi đã nói với hoàng tử Ajātasattu rằng:
- Tâu hoàng tử, trước đây người ta sống thọ, bây giờ
yểu thọ. Điều thực tế cần được biết là ngài cũng có thể chết đi trong lúc
vẫn còn là hoàng tử; tâu hoàng tử, chính vì thế ngài hãy giết cha và lên
làm vua. Ta sẽ giết đức Thế Tôn và trở thành đức Phật.
Sau đó, hoàng tử Ajātasattu (nghĩ rằng): "Ngài
Devadatta có đại thần lực, đại năng lực; ngài Devadatta biết," nên vào
lúc sáng sớm đã thắt một con dao găm ở đùi, rồi (với vẻ) khiếp đảm, sợ
hãi, lo âu, hồi hộp, đã xông vào hậu cung một cách vội vã. Các vị quan
canh gác hậu cung đã thấy hoàng tử Ajātasattu vào lúc sáng sớm (với vẻ)
khiếp đảm, sợ hãi, lo âu, hồi hộp, xông vào hậu cung vội vã; thấy rồi họ
đã giữ lại. Trong lúc khám xét, họ thấy con dao găm thắt ở đùi nên đã hỏi
hoàng tử Ajātasattu rằng:
- Tâu hoàng tử, ngài muốn làm gì vậy?
- Muốn giết cha ta thôi.
- Do ai xúi giục?
- Do ngài Devadatta.
Một số vị quan đã đưa ý kiến như vầy:
- Hoàng tử phải bị giết chết, Devadatta và tất cả các
tỷ-kheo phải bị giết chết.
Một số vị quan khác đã đưa ý kiến như vầy:
- Các tỷ-kheo không phải chết. Các vị tỷ-kheo không làm
gì tổn hại. Chỉ có hoàng tử phải bị giết chết và Devadatta phải bị giết
chết.
Một số vị quan khác đã đưa ý kiến như vầy:
- Hoàng tử không phải chết, Devadatta cũng không. Các
tỷ-kheo cũng không phải chết. Hãy trình báo lên đức vua. Đức vua ra lệnh
thế nào thì chúng ta sẽ làm theo.
[367] Sau đó, các vị quan đã đưa hoàng tử Ajātasattu đi
đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha; đến rồi họ đã kể sự việc ấy
đến đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha:
- Các khanh, các vị quan có ý kiến thế nào?
- Tâu bệ hạ, một số vị quan đã đưa ý kiến như vầy: "Hoàng
tử phải bị giết chết, Devadatta và tất cả các tỷ-kheo phải bị giết chết."
Một số vị quan khác đã đưa ý kiến như vầy: "Các tỷ-kheo không phải
chết. Các vị tỷ-kheo không làm gì tổn hại. Chỉ có hoàng tử phải bị giết
chết và Devadatta phải bị giết chết." Một số vị quan khác đã đưa ý
kiến như vầy: "Hoàng tử không phải chết, Devadatta cũng không. Các
tỷ-kheo cũng không phải chết. Hãy trình báo lên đức vua. Đức vua ra lệnh
thế nào thì chúng ta sẽ làm theo."
- Này các khanh, đức Phật, đức Pháp, hoặc đức Tăng sẽ
làm gì đây? Không phải trước đây đức Thế Tôn đã cho công bố về Devadatta
trong thành Rājagaha rằng: "Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay
đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem
điều ấy là của đức Phật, đức Pháp, hoặc đức Tăng mà nên xem điều ấy là của
chính Devadatta." Trong trường hợp này, những vị quan nào đã đưa ý
kiến như vầy: "Hoàng tử phải bị giết chết, Devadatta và tất cả các
tỷ-kheo phải bị giết chết," những vị ấy sẽ bị mất chức. Những vị quan
nào đã đưa ý kiến như vầy: "Các tỷ-kheo không phải chết. Các vị tỷ-kheo
không làm gì tổn hại. Chỉ có hoàng tử phải bị giết chết và Devadatta phải
bị giết chết," những vị ấy sẽ bị giáng chức. Những vị quan nào đã đưa
ý kiến như vầy: "Hoàng tử không phải chết, Devadatta cũng không. Các
tỷ-kheo cũng không phải chết. Hãy trình báo lên đức vua. Đức vua ra lệnh
thế nào thì chúng ta sẽ làm theo," những vị ấy sẽ được thăng chức.
Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với
hoàng tử Ajātasattu rằng:
- Này hoàng tử, tại sao con lại muốn giết ta?
- Tâu bệ hạ, con muốn được ngai vàng.
- Này hoàng tử, nếu con muốn được ngai vàng, thì ngai
vàng này là của con.
và đã trao ngai vàng cho hoàng tử Ajātasattu.
[368] Khi ấy, Devadatta đã đi đến gặp hoàng tử
Ajātasatthu, đến rồi đã nói với hoàng tử Ajātasattu rằng:
- Tâu đại vương, hãy ra lệnh cho mọi người rằng: "Các
ngươi hãy đoạt mạng sống của sa-môn Gotama."
Khi ấy, hoàng tử Ajātasattu đã ra lệnh cho mọi người
rằng:
- Này các khanh, các khanh hãy làm theo lời dạy của
ngài Devadatta.
Sau đó, Devadatta đã ra lệnh cho một người đàn ông
rằng: "Này anh bạn, sa-môn Gotama đang ở nơi đó; hãy đoạt mạng sống của
ông ta rồi hãy trở về bằng con đường này." Rồi trên con đường ấy,
Devadatta đã xếp đặt hai người đàn ông (bảo rằng): "Người đàn ông nào
một mình trở về bằng con đường này; hãy đoạt mạng sống của hắn ta rồi hãy
trở về bằng con đường này." Rồi trên con đường ấy, Devadatta đã xếp
đặt bốn người đàn ông (bảo rằng): "Hai người đàn ông nào trở về bằng
con đường này; hãy đoạt mạng sống của chúng rồi hãy trở về bằng con đường
này." Rồi trên con đường ấy, Devadatta đã xếp đặt tám người đàn ông
(bảo rằng): "Bốn người đàn ông nào trở về bằng con đường này; hãy đoạt
mạng sống của chúng rồi hãy trở về bằng con đường này." Rồi trên con
đường ấy, Devadatta đã xếp đặt mười sáu người đàn ông (bảo rằng): "Tám
người đàn ông nào trở về bằng con đường này; hãy đoạt mạng sống của chúng
rồi hãy trở về bằng con đường này."
[369] Sau đó, người đàn ông ấy một mình cầm gươm và vỏ
gươm, mang cung và túi tên đi đến gặp đức Thế Tôn; đến rồi đã đứng cách
đức Thế Tôn một khoảng không xa và trở nên khiếp đảm, sợ hãi, lo âu, hồi
hộp với thân thể cứng đơ. Đức Thế Tôn đã thấy người đàn ông ấy (với vẻ)
khiếp đảm, sợ hãi, lo âu, hồi hộp, và đang đứng với thân thể cứng đơ. Thấy
thế, ngài đã nói với người đàn ông ấy rằng:
- Này đạo hữu, hãy đến đây, chớ có sợ hãi.
Khi đó, người đàn ông ấy đã bỏ gươm và vỏ gươm ở một
góc, tháo cung và túi tên xuống, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn; đến rồi đã
đê đầu ở hai chân của đức Thế Tôn rồi bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, tội lỗi đã chiếm ngự lấy con vì con là một
kẻ đần độn, ngu si, không có đạo đức; con đến đây với tâm độc ác, với tâm
giết hại. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn ghi nhận sự sai trái trong tội lỗi ấy
của con hầu để ngăn ngừa trong tương lai.
- Đúng như vậy, này đạo hữu, tội lỗi đã chiếm ngự lấy
ngươi vì ngươi là một kẻ đần độn, ngu si, không có đạo đức, đó là việc
ngươi đến đây với tâm độc ác, với tâm giết hại. Chính từ việc đó, này đạo
hữu, ngươi đã thấy được sự sai trái trong tội lỗi và chừa cải đúng theo
Pháp, nay chúng ta nhận biết điều ấy cho ngươi. Này đạo hữu, điều này là
sự tiến bộ trong giới luật của bậc Thánh: "Người nào sau khi thấy được
sự sai trái trong tội lỗi và chừa cải đúng theo Pháp sẽ thực hành sự ngăn
ngừa trong tương lai."
Sau đó, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ tự đến
người đàn ông ấy như là: thuyết về sự bố thí, thuyết về giới, thuyết về
cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục, và ngài đã chỉ rõ
lợi ích của việc xuất gia. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của người ấy đã
sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài
đã phô bày cho ông ta Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ,
Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể
nhuộm màu một cách toàn vẹn, cũng như vậy ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn
không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người đàn ông ấy: "Bất
cứ điều gì có bản tánh được sanh khởi thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh
hoại diệt."
Và khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã
hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã
dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư không còn cần
sự trợ duyên của người khác, người đàn ông ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều
này:
- Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là
tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại,
mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, thắp sáng cây đèn dầu ở
trong bóng tối cho những ai có mắt thấy được các hình dạng; cũng như thế
ấy, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài,
đích thân con xin quy y đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng chúng
tỷ-kheo. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là cận sự nam đã được quy y kể từ
hôm nay cho đến trọn đời.
Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với người đàn ông ấy rằng:
- Này đạo hữu, chớ có đi bằng con đường ấy, hãy đi bằng
con đường này.
và chỉ cho đi bằng một con đường khác.
[370] Sau đó đến phiên hai người đàn ông ấy (nghĩ
rằng): "Gã đàn ông ấy một mình sao lại lâu đến quá vậy?" nên đã đi
dọc theo con đường ấy và thấy đức Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây nọ.
Thấy vậy, hai người đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã đã thuyết Pháp theo thứ tự
đến hai người ấy. …(như trên)… vào Giáo Pháp của bậc đạo sư không còn cần
sự trợ duyên của người khác, và họ đã bạch với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là
tuyệt vời! …(như trên)... Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các cận
sự nam đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.
Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với hai người đàn ông ấy
rằng:
- Này các đạo hữu, chớ có đi bằng con đường ấy, hãy đi
bằng con đường này.
và chỉ cho đi bằng một con đường khác.
[371] Sau đó đến phiên bốn người đàn ông ấy…(như trên)…
Sau đó đến phiên tám người đàn ông ấy …(như trên)… Sau đó đến phiên mười
sáu người đàn ông ấy (nghĩ rằng): "Tám gã đàn ông ấy sao lại lâu đến
quá vậy?" nên đã đi dọc theo con đường ấy và thấy đức Thế Tôn đang
ngồi dưới một gốc cây nọ. Thấy vậy, họ đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi
đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã đã
thuyết Pháp theo thứ tự đến các người ấy…(như trên)… vào Giáo Pháp của bậc
đạo sư không còn cần sự trợ duyên của người khác, và họ đã bạch với đức
Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là
tuyệt vời! …(như trên)... Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các cận
sự nam đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.
Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với các người đàn ông ấy
rằng:
- Này các đạo hữu, chớ có đi bằng con đường ấy, hãy đi
bằng con đường này.
và chỉ cho đi bằng một con đường khác.
Sau đó, người đàn ông ấy một mình đã đi đến gặp
Devadatta, đến rồi đã nói với Devadatta rằng:
- Bạch ngài, tôi không thể đoạt lấy mạng sống của đức
Thế tôn. Đức Thế Tôn ấy có đại thần lực, đại năng lực.
- Đủ rồi, này ông bạn, ngươi đã không chịu đoạt lấy
mạng sống của sa-môn Gotama; thì chính ta sẽ đoạt lấy mạng sống của sa-môn
Gotama vậy.
[372] Vào lúc bấy giờ, đức Thế tôn đang đi kinh hành ở
bóng râm của ngọn núi Linh Thứu (Gijjhakūta). Khi ấy, Devadatta đã leo
lên ngọn núi Gijjhakūta và xô xuống một tảng đá lớn (nghĩ rằng): "Ta
sẽ đoạt lấy mạng sống của sa-môn Gotama bằng vật này." Hai đỉnh của
hai ngọn núi đã giao nhau và chận tảng đá lại. Do đó, những mảnh vụn đã
văng ra và làm chảy máu ở bàn chân của đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn
nhìn lên phía trên và nói với Devadatta rằng:
- Này kẻ rồ dại kia, ngươi đã gây nên điều bất thiện
nghiêm trọng khi ngươi với tâm độc ác, với tâm giết hại đã làm đức Như Lai
chảy máu.
Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỷ-kheo rằng:
- Này các tỷ-kheo, đây là nghiệp vô gián đầu tiên mà
Devadatta đã tích lũy; đó là việc đã làm đức Như Lai chảy máu với tâm độc
ác, với tâm giết hại.
Các vị tỷ-kheo đã nghe rằng: "Nghe nói Devadatta mưu
đồ giết hại đức Thế Tôn." Và các tỷ-kheo ấy đã đi kinh hành quanh trú
xá của đức Thế Tôn tạo nên âm thanh to và âm thanh lớn trong khi đọc tụng
để bảo vệ, che chở, và canh gác cho đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nghe được
tiếng động to, tiếng động lớn, tiếng đọc tụng. Nghe rồi, đức Thế Tôn đã
bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, tiếng động to, tiếng động lớn, tiếng đọc
tụng này là gì vậy?
- Bạch ngài, các tỷ-kheo nghe rằng: "Nghe nói
Devadatta mưu đồ giết hại đức Thế Tôn." Bạch ngài, các tỷ-kheo ấy đã
đi kinh hành quanh trú xá của đức Thế Tôn tạo nên âm thanh to và âm thanh
lớn trong khi đọc tụng để bảo vệ, che chở, và canh gác cho đức Thế Tôn.
Bạch ngài, tiếng động to, tiếng động lớn, tiếng đọc tụng ấy là như thế.
- Này Ānanda, như vậy thì ngươi nhân danh ta cho gọi
các tỷ-kheo rằng: "Bậc Đạo Sư cho gọi các đại đức."
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Đại đức Ānanda đã nghe lời đức Thế Tôn đi đến gặp các
tỷ-kheo, đến rồi đã nói với các tỷ-kheo rằng:
- Bậc Đạo Sư cho gọi các đại đức.
- Này đại đức, xin vâng.
Rồi các tỷ-kheo ấy nghe lời đại đức Ānanda đã đi đến
gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Đức Thế Tôn đã nói với các tỷ-kheo đang ngồi một bên rằng:
- Này các tỷ-kheo, việc đức Như Lai bị tước đoạt mạng
sống bởi sự hãm hại của kẻ khác là việc không hợp lý và không có cơ sở.
Này các tỷ-kheo, các đức Như Lai Vô Dư Niết Bàn không do sự hãm hại.
Này các tỷ-kheo, đây năm hạng đạo sư đang hiện hữu ở
trên đời. Thế nào là năm?
Ở đây, này các tỷ-kheo, có hạng đạo sư có giới không
thanh tịnh lại tự cho rằng: "Ta có giới thanh tịnh," "Giới của
ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố." Các đệ tử của chính vị ấy
biết rằng: "Vị đạo sư nổi tiếng này có giới không thanh tịnh lại tự cho
rằng: ‘Ta có giới thanh tịnh,’ ‘Giới của ta thanh tịnh, trong sạch, không
bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều
mà ông ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây chuyện cho ông ta bởi
điều ấy. Vả lại, ông ta đang được dâng cúng y áo, vật thực, chỗ trú ngụ,
và thuốc men chữa bệnh. Ông ta làm điều gì, chính ông ta sẽ biết điều ấy."
Này các tỷ-kheo, như vầy là các đệ tử bảo vệ giới cho vị đạo sư, và như
vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ giới từ các đệ tử.
[373] Còn điều khác nữa, này các tỷ-kheo, ở đây có hạng
đạo sư nuôi mạng không thanh tịnh lại tự cho rằng: "Ta nuôi mạng thanh
tịnh," "Sự nuôi mạng của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố."
Các đệ tử của chính vị ấy biết rằng: "Vị đạo sư nổi tiếng này nuôi mạng
không thanh tịnh lại tự cho rằng: ‘Ta nuôi mạng thanh tịnh,’ ‘Sự nuôi mạng
của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các
cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao
chúng ta lại gây chuyện cho ông ta bởi điều ấy. Vả lại, ông ta đang được
dâng cúng y áo, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Ông ta làm
điều gì, chính ông ta sẽ biết điều ấy." Này các tỷ-kheo, như vầy là
các đệ tử bảo vệ việc nuôi mạng cho vị đạo sư, và như vậy là vị đạo sư
mong đợi sự bảo vệ việc nuôi mạng từ các đệ tử.
[374] Còn điều khác nữa, này các tỷ-kheo, ở đây có hạng
đạo sư thuyết pháp không thanh tịnh lại tự cho rằng: "Ta thuyết pháp
thanh tịnh," "Sự thuyết pháp của ta thanh tịnh, trong sạch, không
bị hoen ố." Các đệ tử của chính vị ấy biết rằng: "Vị đạo sư nổi
tiếng này thuyết pháp không thanh tịnh lại tự cho rằng: ‘Ta thuyết pháp
thanh tịnh,’ ‘Sự thuyết pháp của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen
ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông
ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây chuyện cho ông ta bởi điều ấy.
Vả lại, ông ta đang được dâng cúng y áo, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc
men chữa bệnh. Ông ta làm điều gì, chính ông ta sẽ biết điều ấy." Này
các tỷ-kheo, như vầy là các đệ tử bảo vệ việc thuyết pháp cho vị đạo sư,
và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ việc thuyết pháp từ các đệ tử.
[375] Còn điều khác nữa, này các tỷ-kheo, ở đây có hạng
đạo sư có lối giải thích không thanh tịnh lại tự cho rằng: "Ta có lối
giải thích thanh tịnh," "Lối giải thích của ta thanh tịnh, trong
sạch, không bị hoen ố." Các đệ tử của chính vị ấy biết rằng: "Vị
đạo sư nổi tiếng này có lối giải thích không thanh tịnh lại tự cho rằng:
‘Ta có lối giải thích thanh tịnh,’ ‘Lối giải thích của ta thanh tịnh,
trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ
không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây
chuyện cho ông ta bởi điều ấy. Vả lại, ông ta đang được dâng cúng y áo,
vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Ông ta làm điều gì, chính
ông ta sẽ biết điều ấy." Này các tỷ-kheo, như vầy là các đệ tử bảo vệ
lối giải thích cho vị đạo sư, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ
lối giải thích từ các đệ tử.
[376] Còn điều khác nữa, này các tỷ-kheo, ở đây có hạng
đạo sư có tri kiến không thanh tịnh lại tự cho rằng: "Ta có tri kiến
thanh tịnh," "Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen
ố." Các đệ tử của chính vị ấy biết rằng: "Vị đạo sư nổi tiếng này
có tri kiến không thanh tịnh lại tự cho rằng: ‘Ta có tri kiến thanh tịnh,’
‘Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta
nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ,
tại sao chúng ta lại gây chuyện cho ông ta bởi điều ấy. Vả lại, ông ta
đang được dâng cúng y áo, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh.
Ông ta làm điều gì, chính ông ta sẽ biết điều ấy." Này các tỷ-kheo,
như vầy là các đệ tử bảo vệ tri kiến cho vị đạo sư, và như vậy là vị đạo
sư mong đợi sự bảo vệ tri kiến từ các đệ tử.
Này các tỷ-kheo, ta có giới thanh tịnh và biết rằng: "Ta
có giới thanh tịnh," "Giới của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị
hoen ố." Các đệ tử không cần bảo vệ giới cho ta, và ta cũng không mong
đợi sự bảo vệ giới từ các đệ tử. Thêm nữa, này các tỷ-kheo, ta nuôi mạng
thanh tịnh, …(như trên)… Ta thuyết Pháp thanh tịnh, …(như trên)… Ta có lối
giải thích thanh tịnh, …(như trên)… Ta có tri kiến thanh tịnh và biết
rằng: "Ta có tri kiến thanh tịnh," "Tri kiến của ta thanh tịnh,
trong sạch, không bị hoen ố." Các đệ tử không cần bảo vệ tri kiến cho
ta, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ tri kiến từ các đệ tử.
Này các tỷ-kheo, việc đức Như Lai bị tước đoạt mạng
sống bởi sự hãm hại của kẻ khác là việc không hợp lý và không có cơ sở.
Này các tỷ-kheo, các đức Như Lai Vô Dư Niết Bàn không do sự hãm hại. Này
các tỷ-kheo, các ngươi hãy đi về trú xá của mỗi người. Này các tỷ-kheo,
các đức Như Lai không cần được bảo vệ.
[377] Vào lúc bấy giờ, ở trong thành Rājagaha có một
con voi dữ tợn tên là Nālāgiri, là con thú giết người. Khi ấy, Devadatta
đã đi vào thành Rājagaha đến chuồng voi và nói với những người quản tượng
rằng:
- Này các quản tượng, chúng tôi là thân tín của nhà
vua, có quyền lực để đưa một kẻ có chức vụ thấp lên chức vụ cao và còn làm
tăng thêm thực phẩm và lương bổng nữa. Chính vì lý do đó, này các quản
tượng, khi nào sa-môn Gotama đi vào con đường này, các ngươi hãy thả con
voi Nālāgiri ra và cho nó đi theo con đường này.
- Thưa vâng, bạch ngài. Các gã quản tượng ấy đã trả lời
Devadatta như thế.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn vào buổi sáng đã mặc y cầm y
bát cùng với nhiều tỷ-kheo đi vào thành Rājagaha để khất thực. Rồi đức Thế
Tôn đã bước vào con đường ấy. Các gã quản tượng ấy đã thấy đức Thế Tôn đi
vào con đường ấy. Thấy rồi, những gã quản tượng ấy đã thả con voi
Nālāgiri và cho nó đi theo con đường ấy. Con voi Nālāgiri đã thấy đức
Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại gần. Thấy thế, con voi đã vươn vòi lên, tai
và đuôi dựng đứng lên chạy lại đức Thế Tôn. Các vị tỷ-kheo ấy đã thấy voi
Nālāgira từ đàng xa đang tiến đến. Thấy thế, các vị đã bạch với đức Thế
Tôn rằng:
- Bạch ngài, voi Nālāgiri này dữ tợn, là con thú giết
người, đã đi vào con đường này. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy trở lui,
xin đấng Thiện Thệ hãy trở lui.
- Này các tỷ-kheo, hãy lại đây, chớ có sợ hãi. Này các
tỷ-kheo, việc đức Như Lai bị tước đoạt mạng sống bởi sự hãm hại của kẻ
khác là việc không hợp lý và không có cơ sở. Này các tỷ-kheo, các đức Như
Lai Vô Dư Niết Bàn không do sự hãm hại.
Lần thứ nhì, các tỷ-kheo ấy …(như trên)…
Đến lần thứ ba, các tỷ-kheo ấy đã bạch với đức Thế Tôn
rằng:
- Bạch ngài, voi Nālāgiri này dữ tợn, là con thú giết
người, đã đi vào con đường này. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy trở lui,
xin đấng Thiện Thệ hãy trở lui.
- Này các tỷ-kheo, hãy lại đây, chớ có sợ hãi. Này các
tỷ-kheo, việc đức Như Lai bị tước đoạt mạng sống bởi sự hãm hại của kẻ
khác là việc không hợp lý và không có cơ sở là. Này các tỷ-kheo, các đức
Như Lai Vô Dư Niết Bàn không do sự hãm hại.
[378] Vào lúc bấy giờ, dân chúng trèo lên và nấp ở các
lâu đài, ở các tòa nhà, ở các mái lá. Trong trường hợp này, những người
không có đức tin, không hoan hỷ, kém trí tuệ nói rằng:
- Chắc chắn rằng ngài sa-môn đẹp trai này sẽ bị con
long tượng gây thương tích.
Còn những người có đức tin, hoan hỷ, trí tuệ thì nói
như vầy:
- Chốc nữa thôi, chắc chắn con long tượng này sẽ bị
Tượng Chúa khuất phục.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã phóng một luồng tâm bác ác
đến voi Nālāgiri. Và voi Nālāgiri bị tác động bởi luồng tâm bác ái của
đức Thế Tôn nên đã hạ vòi xuống đi đến gần đức Thế Tôn, đến rồi đã đứng ở
phía trước đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã dùng tay phải xoa ở trán
của voi Nālāgiri rồi nói với voi Nālāgiri những câu kệ ngôn này:
[379]
Này voi, chớ đối đầu
với Tượng Chúa, này voi,
đối đầu Tượng Chúa khổ.
Này voi, không cõi trời
cho kẻ giết Tượng Chúa,
từ đây, sanh cõi khác.
Và chớ có ngạo mạn,
và chớ có khinh thường,
vì những ai bất cẩn
không về được cõi trời.
Nếu ngươi không làm thế,
nhờ đó ngươi về trời.
[380] Khi ấy, voi Nālāgiri đã dùng vòi lấy bụi ở bàn
chân của đức Thế Tôn rắc trên đầu nó, rồi khum người xuống chào, và quay
lại bước đi trong lúc vẫn nhìn đức Thế Tôn. Sau đó, voi Nālāgiri về lại
chuồng và đứng tại chỗ của nó. Từ đó, voi Nālāgiri trở nên dễ dạy.
[381] Vào lúc bấy giờ, dân chúng thường ngâm nga bài kệ
này:
Những kẻ được dạy dỗ
bằng (cách dùng) gậy gộc,
bằng (cách dùng) roi vọt,
bằng các gậy móc câu;
long tượng được điều phục
bởi vị Đại Ẩn Sĩ,
không cần đến gậy gộc,
không cần dùng vũ khí.
Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Devadatta này thật là ác độc, không biết xấu hổ, bởi
vì ở nơi đây lại dám âm mưu giết hại sa-môn Gotama là vị có đại thần lực,
có đại năng lực như thế này.
Từ đó, lợi lộc và vinh quang của Devadatta bị mất mát.
Lợi lộc và vinh quang của đức Thế Tôn tăng trưởng.
[382] Vào lúc bấy giờ, Devadatta do lợi lộc và vinh
quang bị mất mát nên phải cùng phe cánh yêu cầu nhiều lần ở các gia đình
rồi đến thọ thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các sa-môn Thích Tử này lại yêu cầu nhiều lần
ở các gia đình rồi đến thọ thực? Ai lại không thích sự sung túc? Ai lại
không hài lòng với đồ ăn ngọt ngào?
Các tỷ-kheo đã nghe dân chúng phàn nàn, phê phán, chê
bai. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Vì sao Devadatta cùng phe cánh lại yêu cầu nhiều lần
ở các gia đình rồi đến thọ thực?
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như
trên)…
- Này Devadatta, nghe nói ngươi cùng phe cánh yêu cầu
nhiều lần ở các gia đình rồi đến thọ thực, có đúng không vậy?
- Đúng vậy, bạch Thế Tôn.
…(như trên)… Sau khi đã khiển trách, ngài đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỷ-kheo rằng:
- Này các tỷ-kheo, như vậy thì ta quy định vật thực
không thọ lãnh quá ba vị ở các gia đình vì ba lý do: "Nhằm kiềm chế
những kẻ tồi tệ; vì sự sống an lạc của các tỷ-kheo hiền thiện, không để
những kẻ có ý đồ xấu xa nương tựa vào phe cánh mà chia rẽ hội chúng; vì
lòng trắc ẩn đối với các gia đình." Nên thực hành theo Pháp trong việc
thọ thực thành nhóm.
[383] Sau đó, Devadatta đã đi đến gặp Kokālika,
Katamorakatissaka con trai của Khandadevī, và Samuddadatto; đến rồi đã
nói với Kokālika, Katamorakatissaka con trai của Khandadevī, và
Samuddadatto rằng:
- Này các đệ, hãy đi. Chúng ta sẽ tiến hành việc chia
rẽ hội chúng của sa-môn Gotama, tức là việc phá hoại tập thể.
Nghe nói vậy, Kokālika đã nói với Devadatta rằng:
- Này đại đức, sa-môn Gotama thật sự có đại thần lực,
đại năng lực. Làm thế nào chúng ta tiến hành việc chia rẽ hội chúng của
sa-môn Gotama, tức là việc phá hoại tập thể được?
- Này các đệ, hãy đi. Chúng ta sẽ đi đến gặp sa-môn
Gotama và yêu cầu năm sự việc: "Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen
ngợi sự ít ham muốn, sự hài lòng, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự
giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm
sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự hài lòng, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự
hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Lành
thay, bạch ngài, các tỷ-kheo nên là vị sống ở rừng cho đến trọn đời; nếu
vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị
khất thực; vị nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn
đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia
chủ thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời sống ở gốc cây; vị nào đi đến mái
che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá
thịt thì vị ấy phạm tội." Sa-môn Gotama sẽ không cho phép năm sự việc
này. Và chúng ta sẽ công bố cho dân chúng biết về năm sự việc này.
- Này đại đức, có thể tiến hành việc chia rẽ hội chúng
của sa-môn Gotama, tức là việc phá hoại tập thể với năm sự việc này. Này
đại đức, bởi vì dân chúng có niềm tin với khổ hạnh.
[384] Sau đó, Devadatta cùng phe cánh đã đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã
ngồi xuống một bên, Devadatta đã bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham
muốn, sự hài lòng, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra
sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến
sự ít ham muốn, sự hài lòng, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm
thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Lành thay, bạch ngài, các
tỷ-kheo nên là vị sống ở rừng cho đến trọn đời; nếu vị nào cư ngụ trong
làng thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị nào hoan
hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị mặc y (may
bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội.
Cho đến trọn đời sống ở gốc cây; vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội.
Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.
- Đủ rồi, này Devadatta. Vị nào muốn thì hãy trở thành
vị sống ở rừng; vị nào muốn thì cứ cư ngụ ở trong làng. Vị nào muốn thì
hãy trở thành vị khất thực; vị nào muốn thì cứ hoan hỷ việc thỉnh mời. Vị
nào muốn thì hãy là vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ; vị nào muốn thì
cứ hoan hỷ y của gia chủ. Này Devadatta, ta cho phép chỗ trú ngụ là gốc
cây trong tám tháng. Cá thịt là thanh tịnh với ba điều kiện là: "Không
thấy, không nghe, và không nghi ngờ."
Khi ấy, Devadatta (biết rằng): "Đức Thế Tôn đã không
cho phép năm sự việc ấy," đã mừng rỡ, phấn chấn cùng phe cánh từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
[385] Sau đó, Devadatta đã cùng phe cánh đi vào thành
Rājagaha công bố cho dân chúng biết về năm sự việc:
- Các đạo hữu, chúng tôi đã đi đến gặp sa-môn Gotama và
yêu cầu năm sự việc: "Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít
ham muốn, …(như trên)…, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch
ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, …(như trên)…, sự ra sức
nỗ lực bằng nhiều phương thức. Lành thay, bạch ngài, các tỷ-kheo nên là vị
sống ở rừng cho đến trọn đời; nếu vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm
tội. Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm
tội." Sa-môn Gotama đã không cho phép năm sự việc này. Còn chúng tôi
sẽ thọ trì và thực hành năm sự việc này.
[386] Trong vấn đề này, những người dân không có đức
tin, không hoan hỷ, kém trí tuệ thì nói rằng:
- Các sa-môn Thích Tử này đúng là có sự từ bỏ, có sở
hành đoạn trừ; còn sa-môn Gotama là kẻ xa hoa, có khuynh hướng xa hoa.
Còn những người có đức tin, hoan hỷ, trí tuệ, những
người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng của đức
Thế Tôn, tức là việc phá hoại tập thể?
Các tỷ-kheo đã nghe được những người dân ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy đã
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng của đức
Thế Tôn, tức là việc phá hoại tập thể?
Sau đó, các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn…(như trên)…
- Này Devadatta, nghe nói ngươi ra sức chia rẽ hội
chúng, tức là việc phá hoại tập thể, có đúng không vậy?
- Đúng vậy, bạch Thế Tôn.
- Đủ rồi, này Devadatta. Ngươi chớ có hoan hỷ việc chia
rẽ hội chúng. Này Devadatta, chia rẽ hội chúng là việc nghiêm trọng. Này
Devadatta, kẻ nào chia rẽ hội chúng đang hòa hợp, kẻ ấy gây nên tội lỗi
tồn tại trọn kiếp (trái đất) và bị nung nấu trong địa ngục trọn kiếp (trái
đất). Và này Devadatta, người nào hàn gắn lại hội chúng đang bị chia rẽ
người ấy tạo nên phước báu của Phạm Thiên và sẽ được an vui ở cõi trời
trọn kiếp (trái đất). Đủ rồi, này Devadatta. Ngươi chớ có hoan hỷ việc
chia rẽ hội chúng. Này Devadatta, chia rẽ hội chúng là việc nghiêm trọng.
[387] Sau đó, đại đức Ānanda vào buổi sáng đã mặc y,
cầm y bát, đi vào thành Rājagaha để khất thực. Devadatta đã thấy đại đức
Ānanda đang đi khất thực ở trong thành Rājagaha. Thấy vậy, Devadatta đã đi
đến gần đại đức Ānanda, đến rồi đã nói với đại đức Ānanda rằng:
- Này đại đức Ānanda, từ nay trở đi tôi sẽ hành lễ Bố
Tát (Uposatha) và sẽ thực hiện các hành sự của hội chúng không cần đến đức
Thế Tôn, không cần đến hội chúng tỷ-kheo.
Sau khi đã đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong,
đại đức Ānanda trên đường đi khất thực trở về, sau bữa ăn đã đi đến gặp
đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, nơi đây,vào buổi sáng, sau khi mặc y, cầm
y bát, con đã đi vào thành Rājagaha để khất thực. Bạch ngài, Devadatta đã
thấy con đang đi khất thực ở trong thành Rājagaha. Thấy vậy, Devadatta đã
đi đến gần con, đến rồi đã nói với con rằng: "Này đại đức Ānanda, từ
nay trở đi tôi sẽ hành lễ Bố Tát (Uposatha) và sẽ thực hiện các hành sự
của hội chúng không cần đến đức Thế Tôn, không cần đến hội chúng tỷ-kheo."
Bạch ngài, kể từ nay, Devadatta sẽ chia rẽ hội chúng.
Khi đó, đức Thế Tôn, sau khi đã hiểu được ý nghĩa sự
việc ấy, rồi vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng rằng:
[388]
(Điều) tốt người tốt dễ làm,
(điều) tốt kẻ xấu khó làm.
(Điều) ác kẻ xấu dễ làm,
(điều) ác thánh nhân khó làm.
Dứt Tụng Phẩm thứ nhì.
[389] Sau đó, vào ngày lễ Bố Tát (Uposatha), Devadatta
đã từ chỗ ngồi đứng dậy phân phát thẻ biểu quyết (nói rằng):
- Này các sư đệ, chúng tôi đã đi đến gặp sa-môn Gotama
và yêu cầu năm sự việc: "Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự
ít ham muốn, …(như trên)…, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch
ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, …(như trên)…, sự ra sức
nỗ lực bằng nhiều phương thức. Lành thay, bạch ngài, các tỷ-kheo nên là vị
sống ở rừng cho đến trọn đời; nếu vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm
tội. ...(như trên)... Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt
thì vị ấy phạm tội." Sa-môn Gotama đã không cho phép năm sự việc này.
Còn chúng tôi sẽ thọ trì và thực hành năm sự việc này. Đại đức nào đồng ý
với năm sự việc này xin nhận lãnh thẻ biểu quyết.
[390] Vào lúc bấy giờ, có năm trăm tỷ-kheo người xứ
Vajji ở Vesalī vừa mới xuất gia, không hiểu biết rõ sự việc. Các tỷ-kheo
ấy (nghĩ rằng): "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc
Đạo Sư," và nhận lấy thẻ biểu quyết. Sau đó, Devadatta đã chia rẽ hội
chúng và dẫn năm trăm tỷ-kheo ra đi về phía đỉnh đồi Gayā.
[391] Khi ấy, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã
ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, Devadatta đã chia rẽ hội chúng và dẫn năm
trăm tỷ-kheo ra đi về phía đỉnh đồi Gayā.
- Này Sāriputta và Moggallāna, không lẽ các ngươi không
có sự trắc ẩn đối với các tân thọ tỷ-kheo ấy hay sao? Này Sāriputta và
Moggallāna, hai ngươi hãy ra đi trước khi các tỷ-kheo này bị rơi vào bất
hạnh và hư hỏng.
- Thưa vâng, bạch ngài.
Rồi Sāriputta và Moggallāna nghe lời đức Thế Tôn đã từ
chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi đi
về phía đỉnh đồi Gayā.
[392] Vào lúc bấy giờ, có một tỷ-kheo đứng không xa đức
Thế Tôn đang khóc lóc. Khi đó, đức Thế Tôn đã nói với vị tỷ-kheo ấy rằng:
- Này tỷ-kheo, vì sao ngươi khóc?
- Bạch ngài, ngay cả hai vị thượng thủ thinh văn của
đức Thế Tôn là Sāriputta và Moggallāna cũng hoan hỷ với giáo lý của
Devadatta và đã đi đến với Devadatta rồi.
- Này tỷ-kheo, việc Sāriputta và Moggallāna cũng hoan
hỷ với giáo lý của Devadatta là việc không hợp lý và không có cơ sở là; họ
đi chính là để thâu phục các tỷ-kheo.
[393] Vào lúc bấy giờ, Devadatta đang ngồi thuyết giảng
Giáo Pháp giữa một hội chúng lớn. Devadatta đã thấy Sāriputta và
Moggallāna đang từ đàng xa đi đến. Thấy vậy, Devadatta đã bảo các tỷ-kheo
rằng:
- Này các tỷ-kheo, hãy nhìn xem giáo lý của ta được
khéo thuyết như thế nào; ngay cả thượng thủ thinh văn của sa-môn Gotama là
Sāriputta và Moggallāna cũng hoan hỷ với giáo lý của ta và đi đến với ta
nữa.
Khi được nói vậy, Kokālika đã nói với Devadatta rằng:
- Này đại đức Devadatta, chớ có tin tưởng Sāriputta và
Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna có ước muốn xấu xa và bị ảnh hưởng bởi
những ước muốn xấu xa.
- Đủ rồi, đại đức. Hãy chào mừng bọn họ bởi vì họ đã
hoan hỷ với giáo lý của ta.
Sau đó, Devadatta đã mời đại đức Sāriputta với một nửa
chỗ ngồi (của mình):
- Này đại đức Sāriputta, hãy lại đây, hãy ngồi chỗ này.
- Được rồi, đại đức.
Đại đức Sāriputta đã chọn một chỗ ngồi khác và ngồi
xuống một góc. Đại đức Mahāmoggallāna cũng đã chọn một chỗ ngồi khác và
ngồi xuống một góc. Khi ấy, Devadatta đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích,
và tạo niềm phấn khởi các tỷ-kheo bằng bài Pháp thoại gần như trọn đêm rồi
đã bảo đại đức Sāriputta rằng:
- Này đại đức Sāriputta, hội chúng tỷ-kheo đã hết dã
dượi và buồn ngủ. Này đại đức Sāriputta, hãy nghĩ đến điều gì đó là một
bài Pháp thoại cho các tỷ-kheo; vì cái lưng tôi bị mỏi nên tôi phải nằm để
duỗi lưng ra.
- Xin vâng, đại đức. Đại đức Sāriputta đã trả lời
Devadatta.
Sau đó, Devadatta đã xếp y hai lớp (saṅghāti) lại làm
tư rồi thực hiện thế nằm ở phía bên hông phải. Trong khi mệt mỏi, thất
niệm, không tỉnh giác nên chỉ một chốc lát, Devadatta đã chìm vào giấc
ngủ.
[394] Khi ấy, đại đức Sāriputta đã sách tấn và giảng
giải cho các tỷ-kheo bằng bài Pháp thoại phân tích về sự kỳ diệu của việc
biết được ý nghĩ của người khác. Đại đức Mahāmoggallāna đã sách tấn và
giảng giải cho các tỷ-kheo bằng bài Pháp thoại phân tích về sự kỳ diệu của
thần thông. Sau đó, trong khi các tỷ-kheo ấy đã được đại đức Sāriputta
sách tấn và giảng giải về sự kỳ diệu của việc biết được ý nghĩ của người
khác và đại đức Mahāmoggallāna sách tấn và giảng giải về sự kỳ diệu của
thần thông thì sự ly dục, sự không còn ô nhiễm, và sự thấy Pháp đã sanh
khởi: "Bất cứ điều gì có bản tánh được sanh khởi thì toàn bộ điều ấy
đều có bản tánh hoại diệt."
Sau đó, đại đức Sāriputta đã bảo các tỷ-kheo rằng:
- Này các sư đệ, chúng ta hãy đi đến với đức Thế Tôn.
Vị nào hoan hỷ với Giáo Pháp của đức Thế Tôn ấy thì hãy cùng đi.
Rồi, hai vị Sāriputta và Moggallāna đã dẫn năm trăm
tỷ-kheo đi đến Veluvana. Lúc ấy, Kokālika đã đánh thức Devadatta dậy:
- Này đại đức Devadatta, hãy dậy đi. Sāriputta và
Moggallāna đã dẫn các tỷ-kheo ấy đi rồi. Này đại đức Devadatta, không phải
tôi đã nói với đại đức rằng: "Này đại đức Devadatta, chớ có tin tưởng
Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna có ước muốn xấu xa và bị
ảnh hưởng bởi những ước muốn xấu xa."
Lúc bấy giờ, ngay tại chỗ ấy, máu nóng đã ứa ra từ
miệng của Devadatta.
[395] Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã
ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã bạch với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, lành thay nếu các tỷ-kheo thuộc nhóm tách
ly được tu lên bậc trên lại.
- Được rồi, này Sāriputta. Chớ có hoan hỷ với việc tu
lên bậc trên lại của các tỷ-kheo thuộc nhóm tách ly. Này Sāriputta, như
vậy thì ngươi hãy cho các tỷ-kheo trong nhóm tách ly sám hối trọng tội
(thullaccayaṃ). Này Sāriputta, Devadatta đã cư xử đồi với ngươi như thế
nào?
- Bạch ngài, cũng tương tợ như đức Thế Tôn đã chỉ dạy,
thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi các tỷ-kheo bằng bài Pháp
thoại gần như trọn đêm rồi đã bảo con rằng: "Này Sāriputta, hội chúng
tỷ-kheo đã hết dã dượi và buồn ngủ. Này Sāriputta, hãy nghĩ đến điều gì đó
là một bài Pháp thoại cho các tỷ-kheo; vì cái lưng ta bị mỏi nên ta phải
nằm để duỗi lưng ra." Bạch ngài, Devadatta đã thực hành đúng y như
vậy.
[396] Sau đó, đức Thế tôn đã bảo các tỷ-kheo rằng:
- Này các tỷ-kheo, vào thời trước đây, có một cái hồ
lớn trong khu vực toàn là rừng. Có các con long tượng nương tựa và sống ở
đó. Chúng lặn xuống cái hồ ấy, dùng vòi nhổ lên cọng sen đã được rửa sạch,
sau khi rửa không còn bùn, chúng đã nhai và ăn đi. Điều ấy đem lại cho
chúng vóc dáng và sức mạnh. Không vì lý do đó mà chúng phải chết hoặc khổ
như là chết. Nhưng này các tỷ-kheo, trong đám các con long tượng đã trưởng
thành có những con còn nhỏ, trẻ, non nớt, đang học hỏi. Những con này đã
lặn xuống cái hồ ấy, dùng vòi nhổ lên cọng sen đã không chịu rửa sạch, sau
khi rửa vẫn còn bùn, chúng đã nhai và ăn đi. Điều ấy đã không đem lại cho
chúng vóc dáng và sức mạnh. Vì lý do đó mà chúng phải chết hoặc khổ như là
chết. Này các tỷ-kheo, cũng giống như thế, Devadatta là kẻ tội nghiệp, lại
bắt chước ta, sẽ phải tiêu hoại.
[397]
Trong khi ăn cọng sen,
con long tượng khổng lồ
xem xét các giòng sông
và lay chuyển trái đất.
Tương tợ con voi con
chỉ ăn toàn đất bùn,
bắt chước cho giống ta,
kẻ tội nghiệp sẽ chết.
[398] Này các tỷ-kheo, vị tỷ-kheo hội đủ tám điều kiện
xứng đáng để đi làm sứ giả. Tám điều kiện ấy là gì? Ở đây, này các
tỷ-kheo, vị tỷ-kheo là người lắng nghe, là người làm cho kẻ khác lắng
nghe, là người hướng dẫn, là người hiểu rộng, là người có sự nhận thức, là
người làm cho kẻ khác có sự nhận thức, là người rành rẽ về việc tốt xấu,
không phải là người gây ra tranh cãi. Này các tỷ-kheo, hội đủ tám điều
kiện này, vị tỷ-kheo xứng đáng để đi làm sứ giả.
[399] Này các tỷ-kheo, Sāriputta hội đủ tám điều kiện
xứng đáng để đi làm sứ giả. Tám điều kiện ấy là gì? Ở đây, này các
tỷ-kheo, Sāriputta là người lắng nghe, là người làm cho kẻ khác lắng nghe,
là người hướng dẫn, là người hiểu rộng, là người có sự nhận thức, là người
làm cho kẻ khác có sự nhận thức, là người rành rẽ về việc tốt xấu, không
phải là người gây ra tranh cãi. Này các tỷ-kheo, hội đủ tám điều kiện này,
Sāriputta xứng đáng để đi làm sứ giả.
[400]
Vị nào không sợ hãi
đi vào nơi hội chúng
đang tranh cãi ồn ào,
không bỏ dở lời nói,
không dấu giếm lời dạy,
lời nói có chủ đích,
bị chất vấn không sân;
vị tỷ-kheo như thế
xứng đi làm sứ giả.
[401] Này các tỷ-kheo, Devadatta có tâm bị xâm chiếm,
bị ngự trị bởi tám điều không đúng chánh Pháp là kẻ phải gánh chịu sự bất
hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Tám
điều ấy là gì? Này các tỷ-kheo, vì lợi lộc Devadatta là kẻ phải gánh chịu
sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác
được. Này các tỷ-kheo, vì không có lợi lộc …(như trên)… Này các tỷ-kheo,
vì danh vọng …(như trên)… Này các tỷ-kheo, vì không có danh vọng …(như
trên)… Này các tỷ-kheo, vì vinh quang …(như trên)… Này các tỷ-kheo, vì
không có vinh quang …(như trên)… Này các tỷ-kheo, vì ước muốn xấu xa …(như
trên)… Này các tỷ-kheo, vì bạn bè xấu xa Devadatta là kẻ phải gánh chịu sự
bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
Này các tỷ-kheo, với tám điều không đúng chánh Pháp này, Devadatta là kẻ
phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp,
không thể khác được.
Này các tỷ-kheo, tốt đẹp thay nếu vị tỷ-kheo có thể
sống hoàn toàn không màng đến lợi lộc đã được sanh khởi, …(như trên)…
không có lợi lộc đã được sanh khởi, danh vọng đã được sanh khởi, không có
danh vọng đã được sanh khởi, vinh quang đã được sanh khởi, không có vinh
quang đã được sanh khởi, ước muốn xấu xa đã được sanh khởi, …(như trên)…
có thể sống hoàn toàn không màng đến bạn hữu xấu xa đã được sanh khởi.
Này các tỷ-kheo, tùy thuận lợi ích và ý định gì mà vị
tỷ-kheo có thể sống hoàn toàn không màng đến lợi lộc đã được sanh khởi,
…(như trên)… không có lợi lộc đã được sanh khởi, danh vọng đã được sanh
khởi, không có danh vọng đã được sanh khởi, vinh quang đã được sanh khởi,
không có vinh quang đã được sanh khởi, ước muốn xấu xa đã được sanh khởi,
…(như trên)… có thể sống hoàn toàn không màng đến bạn hữu xấu xa đã được
sanh khởi?
Này các tỷ-kheo, chính vì vị ấy trong khi sống quan tâm
đến lợi lộc đã được sanh khởi, các lậu hoặc có đặc tính phá hoại và thiêu
đốt được sanh khởi; nếu vị ấy trong khi sống hoàn toàn không màng đến lợi
lộc đã được sanh khởi, như thế ấy các lậu hoặc có đặc tính phá hoại và
thiêu đốt ấy không thể hình thành được. Này các tỷ-kheo, chính vì vị ấy
…(như trên)… không có lợi lộc đã được sanh khởi, danh vọng đã được sanh
khởi, không có danh vọng đã được sanh khởi, vinh quang đã được sanh khởi,
không có vinh quang đã được sanh khởi, ước muốn xấu xa đã được sanh khởi,
...(như trên)... trong khi sống quan tâm đến bạn hữu xấu xa đã được sanh
khởi, các lậu hoặc có đặc tính phá hoại và thiêu đốt được sanh khởi; nếu
vị ấy trong khi sống hoàn toàn không màng đến bạn hữu xấu xa đã được sanh
khởi, như thế ấy các lậu hoặc có đặc tính phá hoại và thiêu đốt ấy không
thể hình thành được.
Này các tỷ-kheo, tùy thuận lợi ích và ý định này mà vị
tỷ-kheo có thể sống hoàn toàn không màng đến lợi lộc đã được sanh khởi,
...(như trên)... không có lợi lộc đã được sanh khởi, danh vọng đã được
sanh khởi, không có danh vọng đã được sanh khởi, vinh quang đã được sanh
khởi, không có vinh quang đã được sanh khởi, ước muốn xấu xa đã được sanh
khởi, ...(như trên)... vị ấy có thể sống hoàn toàn không màng đến bạn hữu
xấu xa đã được sanh khởi.
Do đó, ở đây, này các tỷ-kheo, chúng ta sẽ sống hoàn
toàn không màng đến lợi lộc đã được sanh khởi, …(như trên)… không có lợi
lộc đã được sanh khởi, danh vọng đã được sanh khởi, không có danh vọng đã
được sanh khởi, vinh quang đã được sanh khởi, không có vinh quang đã được
sanh khởi, …(như trên)… ước muốn xấu xa đã được sanh khởi, chúng ta sẽ
sống hoàn toàn không màng đến bạn hữu xấu xa đã được sanh khởi. Này các
tỷ-kheo, các ngươi hãy học tập y như thế ấy.
[402] Này các tỷ-kheo, Devadatta có tâm bị xâm chiếm,
bị ngự trị bởi ba điều không đúng chánh Pháp là kẻ phải gánh chịu sự bất
hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp (trái đất), không thể khác
được. Ba điều ấy là gì? ước muốn xấu xa, bạn hữu xấu xa, sự dừng lại ở
giữa pháp thiền và pháp siêu thế. Này các tỷ kheo, Devadatta có tâm bị xâm
chiếm, bị ngự trị bởi ba điều không đúng chánh Pháp này là kẻ phải gánh
chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp (trái đất),
không thể khác được.
[403]
Ai sanh ở trên đời
chớ để ác dục sanh
hãy biết được điều ấy
ác dục sanh như thế.
Hãy biết kẻ trí tuệ,
bản thân đã chứng thiền,
được nổi danh sáng chói
là "Devadatta"
như tôi đã được nghe.
Kẻ ấy đã ra sức,
một cách không biếng nhác
để sánh với Như Lai,
để rồi vào địa ngục
Avīci bốn cửa
đầy những nỗi kinh hoàng
vì hại bậc hiền thiện,
là kẻ làm ác nghiệp.
Kẻ gây điều ác ấy,
tâm địa thật bất lương,
không còn lòng nhân ái,
nghĩ rằng sẽ đầu độc
hết cả một đại dương
bằng một hũ thuốc độc,
đã không làm gì được
đại dương thật hùng vĩ;
cũng y như thế ấy,
kẻ ấy dùng ngôn từ
quấy rối đấng Thiện Thệ
là bậc đã hoàn hảo,
tâm trí đã thanh tịnh
lời nói đã không còn
tác động đến người được.
Bậc trí hãy kết bạn
với người như thế ấy,
nên phục vụ người ấy.
Tỷ-kheo theo đường lối
của vị ấy sẽ đạt
sự chấm dứt khổ đau.
[404] Khi ấy, đại đức Upāli đã đi đến gặp đức Thế Tôn,
sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi
xuống một bên, đại đức Upāli đã bạch với đức Thế Tôn rằng:
- Bạch ngài, có điều nói rằng: "Sự bất đồng trong
hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng." Bạch ngài, cho đến như thế
nào được gọi là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội
chúng? Cho đến như thế nào được gọi là sự bất đồng trong hội chúng và là
sự chia rẽ hội chúng?
- Này Upāli, một bên có một người, bên kia có hai
người, và người thứ tư phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: "Đây là
Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ
này, hãy ủng hộ việc này." Này Upāli, như vậy là sự bất đồng trong hội
chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một bên có hai người, bên kia có hai người,
và người thứ năm phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: "Đây là Pháp,
đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này,
hãy ủng hộ việc này." Này Upāli, như vậy là sự bất đồng trong hội
chúng mà không sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một bên có hai người, bên kia có ba người,
và người thứ sáu phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: "Đây là Pháp,
đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này,
hãy ủng hộ việc này." Này Upāli, như vậy là sự bất đồng trong hội
chúng mà không sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một bên có ba người, bên kia có ba người, và
người thứ bảy phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: "Đây là Pháp, đây
là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy
ủng hộ việc này." Này Upāli, như vậy là sự bất đồng trong hội chúng mà
không sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một bên có ba người, bên kia có bốn người,
và người thứ tám phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: "Đây là Pháp,
đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này,
hãy ủng hộ việc này." Này Upāli, như vậy là sự bất đồng trong hội
chúng mà không sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một bên có bốn người, bên kia có bốn người,
và người thứ chín phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: "Đây là Pháp,
đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này,
hãy ủng hộ việc này." Này Upāli, như vậy là sự bất đồng trong hội
chúng và là sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, chín hoặc hơn chín là sự bất đồng trong hội
chúng và là sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một tỷ-kheo ni không chia rẽ hội chúng, và
cũng không nỗ lực để đưa đến sự chia rẽ. Một cô ni tu tập sự (sikkhamānā)
không chia rẽ hội chúng, …(như trên)… Một sa-di không chia rẽ hội chúng;
một sa-di ni không chia rẽ hội chúng; một cận sự nam không chia rẽ hội
chúng; một cận sự nữ không chia rẽ hội chúng, và cũng không nỗ lực để đưa
đến sự chia rẽ. Này Upāli, một tỷ-kheo bình thường (pakatatto), là người
cùng cộng trú, ở chung một ranh giới (sīmā), chia rẽ hội chúng.
[405] Bạch ngài, có điều nói rằng: "Sự chia rẽ hội
chúng, sự chia rẽ hội chúng." Bạch ngài, cho đến như thế nào thì gọi
là hội chúng bị chia rẽ?
- Ở đây, này Upāli, các tỷ-kheo tuyên bố phi Pháp là "Pháp;"
tuyên bố Pháp là: "Phi Pháp;" tuyên bố phi Luật là: "Luật;"
tuyên bố Luật là: "Phi Luật;" tuyên bố điều đã không được giảng,
không được nói bởi đức Như Lai là: "Điều đã được giảng, đã được nói bởi
đức Như Lai;" tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai
là: "Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;"
tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như Lai là: "Điều đã được
thực hành bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều được thực hành bởi đức Như
Lai là: "Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai;" tuyên bố
điều không được quy định bởi đức Như Lai là: "Điều đã được quy định bởi
đức Như Lai;" tuyên bố điều được quy định bởi đức Như Lai là: "Điều
đã không được quy định bởi đức Như Lai;" tuyên bố vô tội là: "Phạm
tội;" tuyên bố phạm tội là: "Vô tội;" tuyên bố tội nặng là: "Tội
nhẹ;" tuyên bố tội nhẹ là: "Tội nặng;" tuyên bố tội đã đủ yếu
tố là: "Tội chưa đủ yếu tố;" tuyên bố tội chưa đủ yếu tố là: "Tội
đã đủ yếu tố;" tuyên bố tội không xấu xa là: "Tội xấu xa;"
tuyên bố tội xấu xa là: "Tội không xấu xa." Với mười tám sự việc
này, chúng tách ra và tách rời hẳn, chúng thực hiện lễ Bố Tát (Uposatha)
riêng rẽ, chúng thực hiện lễ Tự Tứ (Pavārana) riêng rẽ, chúng thực hiện
công việc của hội chúng riêng rẽ. Này Upāli, cho đến như vậy thì gọi là
hội chúng bị chia rẽ.
[406] Bạch ngài, có điều nói rằng: "Hòa hợp hội
chúng, hòa hợp hội chúng." Bạch ngài, cho đến như thế nào thì gọi là
hội chúng được hòa hợp?
Ở đây, này Upāli, các tỷ-kheo tuyên bố phi Pháp là "Phi
Pháp;" tuyên bố Pháp là: "Pháp;" tuyên bố phi Luật là: "Phi
Luật;" tuyên bố Luật là: "Luật;" tuyên bố điều đã không được
giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: "Điều đã không được giảng,
không được nói bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều đã được giảng, đã được
nói bởi đức Như Lai là: "Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như
Lai;" tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như Lai là: "Điều
không được thực hành bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều đã được thực hành
bởi đức Như Lai là: "Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;" tuyên
bố điều đã không được quy định bởi đức Như Lai là: &quo