Ðại Tạng No. 1451
CĂN BẢN THUYẾT
NHẤT THIẾT HỮU BỘ
- Mùla-Sarvàstivàda -
TỲ-NẠI-DA TẠP SỰ
-
Mùla-Sarvàstivàda Vinaya Ksudraka Vastu -
(Cuộc đời đức Phật và các đệ tử)
Hán dịch:
Tam Tạng Nghĩa Tịnh, đời Ðường, Trung Quốc
Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh, PL 2542 - TL 1998
--- o0o ---
Thành kính đảnh lễ đức Thế
Tôn, Ngài là bậc Ứng Cúng, Ðấng Chánh Biến Tri.
Quyển thứ mười
bốn
--- ooOoo ---
(Tiếp theo tụng bốn trong tổng tụng
thứ ba).
* Duyên xứ như trước. Vào mỗi buổi
sáng, trưởng giả Cấp Cô Ðộc đến rừng Thệ Ða, làm lễ Thế Tôn, sau đó quét dọn
trong đất chùa. Một hôm, trưởng giả bận việc không vào chùa.
Ði kinh hành, Thế Tôn thấy mặt đất
không sạch nên dùng tâm thế tục suy nghĩ: "Làm sao khiến cho thiên chủ Ðế Thích
từ núi Hương Túy mang chổi lại đây!"
Thường pháp của chư Phật là khi vận
dụng tâm thế tục, cho đến loài kiến cũng hiểu được ý Phật, nếu vận dụng tâm xuất
thế, thì Thanh văn Ðộc giác còn không hiểu nổi huống chi hạng khác khó lường
được.
Sau khi suy nghĩ vì sao Ðức Ðại sư
vận dụng tâm thế tục, Thiên Ðế Thích biết Thế Tôn muốn đích thân quét mặt đất
rừng Thệ Ða. Biết rõ ý Phật, Ðế Thích đến núi Hương Túy lấy năm trăm cây chổi
đẹp nhẹ mịn như tơ, đem đến trước Phật.
Khi ấy, Thế Tôn muốn những chúng
sinh thích phước, trồng tịnh nghiệp trong ruộng thù thắng, nên tự cầm chuổi muốn
quét trong rừng.
Xá Lợi Phất, Ðại Mục Kiền Liên, Ðại
Ca Nhiếp Ba, A Nan Ðà ... các đại Thanh văn thấy như vậy đều cầm chổi quét vườn
chùa. Sau khi đức Phật Thế Tôn và các đệ tử quét sạch các nơi xong, đi vào nhà
ăn, an tọa. Phật dạy các Bí-sô:
- Việc quét dọn có năm công đức thù
thắng. Ðó là:
1- Tự tâm thanh tịnh.
2- Làm tịnh tâm người khác.
3- Chư thiên hoan hỷ.
4- Trồng nghiệp đoan chính.
5- Sau khi qua đời, sinh lên cõi thiên.
Sau đó, khi đến vườn chùa, trưởng
giả Cấp Cô Ðộc nghe Thế Tôn cùng các đại đệ tử đích thân cầm chổi quét vườn
chùa, nên suy nghĩ: "Như Lai Ðại sư cùng các vị thánh chúng đích thân cầm chổi
quét vườn chùa, làm sao ta dám bước chân lên ".
Khi ấy, với tâm niệm e sợ, trưởng
giả đứng yên không dám bước tới. Biết nhưng đức Phật vẫn cố hỏi các Bí-sô:
- Ai đứng đó vậy?
Bí-sô bạch:
- Ðại Ðức! Ðó là trưởng giả Cấp Cô
Ðộc. Nghe Phật Thế Tôn và đại đệ tử đều đích thân cầm chổi quét rừng Thệ Ða, nên
trưởng giả có ý e sợ đứng tại chỗ không dám bước tới.
Phật bảo trưởng giả hãy tụng kinh
pháp và bước tới, vì Phật Thế Tôn kính trọng pháp, các vị A-la-hán cũng đều kính
trọng pháp.
Tụng kệ pháp, trưởng giả đi đến chỗ
Phật, lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên. Thế Tôn thuyết diệu pháp khai thị
hướng dẫn khen ngợi làm cho trưởng giả hoan hỷ. Sau khi nghe pháp, trưởng giả
vui mừng từ giả trở về.
Khi ấy, các Bí-sô đều có nghi ngờ, thưa thỉnh Thế Tôn:
- Hy hữu thay! Ðại đức tự mình có
tâm tôn trọng tán thán cung kính đối với chánh pháp.
Phật dạy:
- Ngày nay, Như Lai đã thoát ly
nhiễm ô, sân si, xa lìa sinh lão tử, không còn ưu bi khổ não, đầy đủ Nhất thiết
trí, tự tại trong tất cả cảnh giới, mà tôn trọng pháp, tán thán chánh pháp, chưa
phải là hy hữu. Các thầy nên biết, trong thời quá khứ, khi Ta còn đầy đủ nhiễm ô
sân si, chưa thoát ly sinh lão bệnh tử, đang bị ưu bi khổ não, với nhân duyên vì
cầu pháp mà tự xả bỏ thân mạng. Các thầy hãy lắng nghe, Ta sẽ kể lại.
Xưa kia, trong thành Bà La Nê Tư có
vua tên Phạm Thọ dùng pháp trị đời. Nhân dân phồn thịnh an ổn vui vẻ ... nói
rộng như những nơi khác. Vua Phạm Thọ rất tin tưởng chánh pháp, bẩm tánh
hiền thiện, làm lợi mình lợi người, thương xót tất cả, thường làm việc bố thí,
có đại t? bi, xa lìa tâm nhiễm trước, không còn tham tiếc. Sau đó, phu nhân của
vua có thai, phát sinh ý nghĩ cầu nghe diệu pháp nên tâu với vua. Vua ra gọi
tướng sư hỏi vì sao như vậy. Họ tâu:
- Do đại phu nhân mang thánh thai
nên có ý nghĩ ấy.
Khi ấy, nhà vua vì cầu pháp nên ra
lệnh cho đại thần đem vàng đầy rương, đi khắp trong nước dùng vàng cầu pháp
nhưng không toại ý. Ðủ tháng, phu nhân sinh người con dung mạo tuyệt trần, đầy
đủ các tướng đẹp như nói ở nơi khác.
Với suy nghĩ: "Ðứa bé này xinh đẹp,
ai cũng thích nhìn, khi nó chưa sinh ra, đã có việc mong cầu diệu pháp", nhà vua
hỏi:
- Thân tộc đã họp mặt vậy nên đặt
tên nó là gì?
Ðại thần tâu:
- Khi vương tử chưa sinh ra đã mong
cầu diệu pháp, vậy nên đặt tên là Cầu Diệu Pháp.
Vua sai tám bà nhũ mẫu nuôi dưỡng
như chỗ khác đã nói đầy đủ. Ðứa bé như hoa sen lên khỏi mặt nước, theo năm tháng
trưởng thành, thường cầu diệu pháp nhưng chưa toại ý. Sau khi vua cha băng hà,
thái tử kế vị ngôi vua bảo quần thần:
- Các khanh hãy cầu diệu pháp cho
ta.
Nhận sắc chỉ của vua, mang rương
vàng đi khắp châu Chiêm Bộ, tìm cầu khắp nơi nhưng không được pháp gì, quần thần
tâu vua:
- Ðã tìm khắp trong nước nhưng
không có diệu pháp.
Vì không thỏa mãn ý nguyện nên vua
Cầu Pháp rất sầu não.
Bấy giờ, biết ý nhà vua vì cầu pháp
nên sầu não, Thiên Ðế Thích suy nghĩ: "Tuy như vậy, nhưng chưa biết tâm nhà vua
chân hay giả, ta hãy đến thử".
Thiên đế liền biến thành một đại
Dược xoa vung tay trợn mắt hình dáng thật đáng sợ, đến đứng trước nhà vua nói
kệ:
Thường tu tập thiện pháp
Không làm những việc ác,
Ðời này và đời sau
Thức, ngủ đều an lạc.
Nghe kệ này, tâm nhà vua rất hoan
hỷ, thưa với Dược xoa:
- Xin nhân-giả hãy nói lại kệ ấy
cho tôi được nghe.
Dược xoa đáp:
- Nếu vua làm theo lời ta, ta sẽ
nói kệ.
Vua đáp:
- Xin vâng, mong ngài hãy nói, tôi
không trái ý ngài.
Dược xoa nói:
- Ðại vương! Nếu ngài thật ưa thích
pháp, hãy làm hố lửa, đốt lửa cháy rực đỏ trong bảy ngày đêm, và nhảy vào trong
hố lửa ấy, ta sẽ nói lại bài kệ ấy.
Nghe như vậy, nhà vua rất vui mừng
gấp bội, thưa với Dược xoa:
- Xin làm đúng như vậy.
Nhà vua ra lệnh báo khắp trong
nước, ta vì muốn nghe diệu pháp, bảy ngày sau sẽ nhảy vào hố lửa. Tất cả những
người có duyên, thích việc hy hữu hãy đến xem việc làm của ta. Sau khi lệnh
truyền ra, cả nước đều biết. Có vô lượng chúng sinh cùng đến đúng lúc. Do nhà
vua chí thành trọng pháp nên cảm ứng đến vô lượng trăm ngàn chư thiên đến trên
hư không đánh trống tấu nhạc ca hát tung hoa thơm cúng dường mừng đón việc hy
hữu. Tất cả vì tôn trọng sự chí thành của vua nên đều đến tập họp.
Mãn bảy ngày, Dược xoa liền bay lên
hư không bảo với Bồ Tát vua:
- Ðã đến kỳ hạn xin ngài nhảy vào
hố lửa.
Bấy giờ, nhà vua đưa thái tử lên kế
vị ngôi vua, triệu khắp quần thần, họ đều hoan hỷ, cùng nhau từ biệt đi dần đến
hố lửa. Khi đến bên bờ hố lửa, nhà vua nói kệ:
Hố lửa rực rỡ cháy thế này,
Ðỏ như mặt trời làm người sợ
Nay tôi hoan hỷ nhảy vào hố,
Cầu pháp nên tâm không hối, sợ.
Tôi tuy vào trong hố lửa cháy,
Chắc chắn cầu được pháp hy hữu,
Nguyện phước lợi này ích chúng sinh,
Lửa dữ hóa thành ao sen mát.
Nói kệ xong, nhà vua nhảy vào hố
lửa. Khi thân nhà vua rơi vào, hố lửa lớn hóa thành ao sen mát mẻ khả ái. Bấy
giờ, thân Bồ Tát không bị thương tổn gì cả.
Ðế Thích thấy sự việc hy hữu mà
trời người đều quy kính như vậy, nên hóa trở lại thân Ðế Thích, nói lại bài kệ
cho vua:
Thường tu tập thiện pháp
Không làm những việc ác,
Ðời này và đời sau
Thức, ngủ đều an lạc.
Nghe kệ xong, Bồ Tát ra khỏi ao,
viết bài kệ trên lá bằng vàng, phổ biến khắp thành phố, làng xóm ở Chiêm Bộ Châu
đều biết và tu học theo.
- Này các Bí-sô! Chớ có sinh nghi
ngờ, vua Cầu Pháp ngày xưa, vì cầu pháp nên vứt bỏ thân mạng, nay chính là Ta,
huống chi ngày nay đối với diệu pháp sao Ta lại không tôn trọng! Thế nên các
thầy cần phải tu học việc Ta đối với diệu pháp cung kính cúng dường tôn trọng
tán thán, phải thành tâm y vào pháp mà sống như vậy, tự lợi lợi người, thực hiện
đầy đủ pháp.
Các Bí-sô nghe dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Như Thế Tôn dạy khi quét đất có năm
điều lợi, có Bí-sô già cả bỏ việc tọa thiền tụng kinh vào rừng Thệ Ða tự mình
quét đất. Phật dạy:
- Ta vì người tri sự nên nói như
vậy, chẳng phải các Bí-sô già cả tu tập theo nghiệp ấy. Nhưng người nào đối với
Ta, y theo thiện pháp luật mà xuất gia, có hai nghiệp để làm: Thứ nhất tu tập
thiền định; Thứ hai tụng học kinh pháp.
Bí-sô nghe đức Phật vì người tri sự
mà dạy riêng pháp này (nên họ không cùng quét), làm cho người tri sự không thể
quét hết cả rừng Thệ Ða. Phật dạy:
- Tùy lúc cần nên quét. Vào ngày
mồng tám hay mười lăm hàng tháng, nên đánh kiền chùy, tập họp hết chúng tăng
cùng nhau quét dọn.
Các Bí-sô tuân theo lời Phật, nhưng
trong lúc quét dọn bàn luận việc thế tục. Nghe việc hý luận nên thiên thần hộ
chùa, phi nhân và các chúng khác sinh ý chê trách. Phật dạy:
- Không được hý luận, nên nói pháp
ngữ hay im lặng như bậc thánh.
Khi các Bí-sô quét đất xong, dính
bụi đất đầy người, làm cho người không kính tín sinh ý khinh chê. Phật dạy:
- Quét dọn xong, làm sạch đồ dơ,
nên tắm rửa. Nếu ai không tắm rửa, phải lấy tay vốc nước, lau sạch bụi bặm, rửa
tay chân như thường lệ.
Phật dạy:
- Hàng tháng vào ngày mồng tám,
mười lăm, xem xét giường tòa.
Bí-sô nên cùng làm hết. Phật dạy:
- Không nên, hãy sai đệ tử xem xét
kỹ, sợ có rận rệp và nhơ bẩn.
Như lời Phật dạy, thấy đất quét
sạch nên tụng kinh mà đi qua. Bí-sô rưới nước ướt đất, sau đó quét sạch, làm nền
sạch sẽ. Thấy vậy, người khác không dám bước lên. Phật dạy:
- Nên tụng kệ pháp, đi qua không
phạm, chớ nghi ngại. Như vậy nên biết đối với các hương đài, điện, cây phướn,
tháp, hình tượng Như Lai nên tụng kệ pháp sau đó mới đi qua. Nếu không làm như
vậy, bị tội vượt pháp.
Khi ấy, phương Bắc có một quốc
vương, đưa hai đồng tử tên là Ðà Sách Ca và Ba Lạc Ca sang vua Thắng Quang làm
con tin. Ðà Sách Ca có khả năng làm thức ăn ngon. Bà Lạc Ca biết cách thiết trí
sàng tòa. Người ở biên quốc tính ưa ăn uống, mỗi khi nhân việc đi lại nên vào
chợ, họ lấy cơm thịt của người, ăn tùy ý, bị chủ hàng ăn đánh đập đau khổ. Hai
đồng tử trở về gặp nhà vua, tâu:
- Ðại vương! Vừa rồi chúng thần vào
chợ, lấy ít cơm thịt, bị chủ hàng đánh đập đau khổ muốn chết.
Nghe như vậy, vua ra ra lệnh người
trong chợ:
- Các ngươi nên biết, tự mình phải
giữ gìn kỹ thức ăn uống, không nên đánh đập hai đồng tử này của ta.
Vào một lúc khác, sau khi bãi
triều, vua nghỉ ngơi một lúc. Hai đồng tử bên cạnh vua, cùng nhau xoa bóp uốn
nắn chân vua. Thấy vua im lặng, một người nói vua đang ngủ, người kia cũng cho
là như vậy. Nghe vậy, với suy nghĩ: "Có lẽ hai người này có chuyện nói riêng,
vua giả bộ ngủ và theo dõi câu chuyện".
Bấy giờ, Ðà Sách Ca bảo Ba Lạc Ca:
- Có đời sau không?
Ðáp:
- Làm sao có đời sau?!
Ba Lạc Ca hỏi Ðà Sách Ca:
- Thế gian có A-la-hán không?
Ðáp:
- Thế gian không có quả A-la-hán.
Nghe hai đồng tử nói xong, vua suy
nghĩ: "Hai đồng tử này đều phát sinh ác kiến, một là đoạn-kiến, hai là tà-kiến".
Nhà vua bảo với đại thần chuyện này, đại thần truyền đi, làm cho khắp gần xa
trong nước đều biết hai đồng tử của vua là kẻ tà ác kiến.
Bấy giờ, giữa đại chúng, trưởng giả
Cấp Cô Ðộc rống lên tiếng sư tử phân minh bảo mọi người:
- Ai sống trong nhà tôi, khi qua
đời đều được sinh Thiên.
Nghe như vậy, vua suy nghĩ: "Nếu
trưởng giả đến đây, ta sẽ giao hai đồng tử này cho ông ấy".
Sau đó, trưởng giả đến chỗ nhà vua,
sai tiểu đồng mang theo vật lót ngồi. Sau khi trải chỗ ngồi xong, đồng tử này bỏ
ra ngoài, cùng đùa giỡn với đồng tử kia.
Sau khi đồng tử đi khỏi, với suy
nghĩ: "Nay đúng lúc giao hai đồng tử cho ông ấy, nhà vua ngầm bảo người giữ
cửa:- Ðừng cho đồng tử của trưởng giả đi vào".
Vâng lệnh vua, người giữ cửa không
cho đồng tử kia vào.
Ngồi đã lâu, trưởng giả ý muốn về
nhà nên đứng dậy và liếc tìm đồng tử theo hầu. Nhà vua hỏi: - Trưởng giả, ngài
tìm gì?
Tâu:
- Ðại vương! Tôi tìm đồng tử theo
hầu.
Vua nói:
- Trưởng giả! Trẫm có hai người
hầu, nay giao cho trưởng giả, hãy nhận mang về.
Biết ý của vua, trưởng giả miễn
cưỡng nhận về và suy nghĩ: "Vì sao đại vương giao hai đồng tử này cho ta?". Ông
lại suy nghĩ: "Trước đây, hai kẻ này là kẻ ác kiến, vua muốn thử, nên sai ta
mang họ đi".
Bấy giờ, trưởng giả cùng dẫn họ về.
Ðến nhà, trưởng giả sai người giữ kho:
- Hãy cung cấp những vật cần dùng
cho hai đồng tử này.
Trưởng giả lại bảo những người
trong chợ:
- Nếu hai đồng tử này cần gì, bạn
hãy cấp cho họ và gửi giấy tính chi phí, tôi sẽ thanh toán gấp bội.
Khi hai đồng tử đến gặp người giữ
kho yêu cầu điều gì cũng được toại ý, họ hỏi:
- Tôi cần gì ông cũng cung cấp phải
không?
Ðáp:
- Cung cấp tất cả.
Ðồng tử lại hỏi:
- Ai bảo như vậy?
Ðáp:
- Trưởng giả.
Hai đồng tử bảo nhau:
- Trưởng giả đối với ta không khác
gì cha mẹ. Những yêu cầu của ta đều được thỏa mãn.
Vào lúc khác, cả hai dẫn nhau vào
chợ. Trông thấy, mọi người đều gọi:
- Hai đồng tử hãy đến hàng của tôi,
tùy ý ăn uống.
Hai đồng tử nói:
- Trước kia, trông thấy chúng tôi,
các vị đã đậy mâm thức ăn lại. Hôm nay, thấy từ xa, đã gọi chúng tôi, việc này
tất có lý do, xin nói ra cho.
Mọi người đáp:
- Trước kia các người giật lấy ăn,
không trả lại một chút nào. Nay trưởng giả thanh toán gấp bội. Vì vậy, chúng tôi
mời các vị ăn.
Nghe như vậy, đồng tử nói với nhau
rằng: - Trưởng giả từ bi, nên biểu hiện sự thân ái sâu xa.
Họ đến thưa với trưởng giả:
- Nếu có việc gì làm, xin được ngài
giao phó.
Ðáp:
- Tạm ở như vậy, sau có việc sẽ bảo
làm.
Sau đó, trưởng giả dẫn hai đồng tử
này vào rừng Thệ Ða, bảo họ cầm chổi quét đất chúng Tăng. Trưởng giả có việc cần
phải về nhà, bảo hai đồng tử: - Ta có việc phải đi, các ngươi hãy ở lại quét
sạch trong chùa và dọn đồ dơ ở chỗ khuất, làm việc ấy xong mới về nhà.
Hai người quét sạch đất xong, muốn
dọn đồ dơ. Ðức Phật dùng thần lực làm cho chỗ dơ bẩn nhiều vô cùng. Khi ấy, hai
đồng tử này vì hiếu kính với chủ nên dùng hết sức mình dọn đồ dơ, không nghỉ.
Ðức Phật bảo A Nan Ðà:
- Nên để dành tàn thực cho hai đồng
tử này.
A Nan Ðà vâng lệnh và bảo họ ăn.
Với suy nghĩ: "Cần phải dọn sạch đồ dơ xong, ta sẽ về nhà, hai đồng tử không ăn
tàn thực này của thánh giả".
Với thần lực, Phật làm cho khi hai
người dọn bên bờ Ðông thì bờ Tây có lại như cũ, khi dọn bờ Tây thì bờ Ðông có
lại như cũ. Họ cực khổ như vậy đến xế chiều.
Phật bảo A Nan Ðà:
- Hai đồng tử này sẽ nghĩ lại đêm
gần bên thầy, thầy hãy bảo với các Bí-sô: "- Trước đây Ta dạy có việc thiện nên
che dấu, làm việc ác phải phát lộ, nay muốn làm cho hai đồng tử này bỏ ác-kiến
nên biểu hiện việc thiện của mình. Những Bí-sô nào có đắc định nên trú vào định
của mình ngay từ đầu đêm".
Sau khi A Nan Ðà tuyên bố lời Phật,
vào đầu đêm các Bí-sô hoặc phóng ánh sáng, hoặc hiện tướng đặc biệt. Thấy như
vậy, hai đồng tử hỏi A Nan Ðà:
- Ðây là cái gì?
A Nan Ðà đáp:
- Ðấy là các thần biến của các vị A
La Hán biểu hiện.
Bấy giờ, hai đồng tử thưa:
- Thánh giả! Trong thế giới có bậc
A La Hán hay sao?
A Nan Ðà nói:
- Chẳng phải chính hai người đã
thấy, vậy còn nghi ngờ điều gì!
Trước đây, hai người này đã có
tà-kiến là không có bậc Ứng Cúng, nay thấy thần biến này, tà kiến không còn,
phát sinh chánh kiến.
Vào giữa đêm, đức Phật vận dụng tâm
thế tục: - Làm sao khiến Thích, Phạm, Chư Thiên cùng đến nơi đây ... như đã
nói rõ ở trên.
Khi ấy, biết được ý nghĩ của Phật,
chư Thiên đều đến chỗ Phật. Do uy lực của họ nên có ánh sáng lớn. Thấy như vậy,
hai đồng tử hỏi A Nan Ðà:
- Ðây là ánh sáng gì?
Ðáp:
- Ðây là Phạm, Thích và chư Thiên
đến gặp Phật nên hiện ánh sáng này.
Hỏi:
- Thánh giả! Có đời khác không?
Ðáp:
- Chính ông đã thấy có gì phải nghi
ngờ.
Trước đây, hai đồng tử này có tà
kiến cho rằng không có đời sau, nay thấy chu thiên liền phát sinh tâm chánh
kiến, rất mừng rỡ, cùng đến gặp Phật, đảnh lễ sát chân ngồi qua một bên.
Bấy giờ, Thế Tôn tùy theo căn tính
của họ thuyết pháp Tứ-đế, chỉ dạy lợi ích, hoan hỷ làm cho được khai ngộ, dùng
chày kim-cương phá tan núi 25 thân kiến, chứng quả Dự-lưu. Sau khi đắc quả, họ
làm lễ sát chân Phật, thưa:
- Thế Tôn! Nay con xin nguyện được
xuất gia trong pháp luật thiện thuyết của Như Lai, thọ giới cận viên thành tựu
tính Bí-sô, tinh cần tu tập phạm-hạnh.
Thế Tôn bảo họ:
- Lành thay! Này Ðà Sách Ca và Ba
Lạc Ca hãy đến đây tu tập phạm hạnh.
Khi ấy, hai người này, ngay dưới
chân Phật, râu tóc tự rụng, trên tay đủ bình bát. Khi cạo tóc xong, trong vòng
bảy ngày, họ đi lại với đủ uy nghi như người một trăm tuổi hạ, nói kệ:
Thế Tôn bảo "Thiện lai!"
Tóc rụng, đủ pháp y.
Uy nghi như trăm hạ
Thành tựu như ý Phật.
Bấy giờ, được Thế Tôn đích thân dạy
bảo, hai Bí-sô ấy siêng năng tinh tấn, trong thời gian không bao lâu đắc quả
A-la-hán ... nói rộng như chỗ khác... cho đến là nơi Ðế Thích, Phạm chư
thiên cùng nhau kính trọng.
Sau khi Thế Tôn đã độ Ðà Sách Ca và
Ba Lạc Ca xuất gia, nghe như vậy vua Thắng quang không vừa ý:
- Vì sao Thế Tôn độ hai kẻ tà-kiến
ấy xuất gia! Ðây không phải là việc tốt vì ai cũng biết sự tà-kiến của họ.
Nghe như vậy, Thế Tôn suy nghĩ:
- Trong chúng của Ta, các đệ tử
Thanh Văn đã đoạn trừ hết hoặc nghiệp, công đức đáng tôn trọng như núi Diệu Cao.
Vì sao nhà vua sinh ý tưởng khinh mạn, đây thật là lỗi lớn. Nay, Ta hãy biểu
dương công đức thù thắng của hai người kia.
Khi trưởng giả Cấp Cô Ðộc đến làm
lễ sát chân Thế Tôn rồi ngồi qua một bên, nghe Phật thuyết pháp chỉ dạy lợi ích
hoan hỷ. Khi Thế Tôn đã im lặng, trưởng giả rời chỗ ngồi đứng dậy chắp tay cung
kính bạch:
- Thế Tôn! Cầu mong Ðại sư và thánh
chúng, sáng mai đến nhà con thọ sự cúng dường nhỏ mọn.
Phật im lặng nhận lời. Biết như
vậy, trưởng giả làm lễ Phật, từ giã.
Ðức Phật bảo A Nan Ðà:
- Thầy hãy đến bảo với Ðà Sách Ca
và Bà Lạc Ca rằng ngày mai hai vị đến nhà trưởng giả dọn dâng nước cho chúng
Tăng.
Vâng lời Phật dạy, Tôn giả đến gặp
hai người kia và nói lại lời sai bảo của Phật.
Tuân lời Phật dạy, hai vị này thưa
với Tôn giả: - Chúng tôi xin phụng hành lời Phật dạy.
Họ suy nghĩ: "Vì sao Thế Tôn bỏ qua
những vị kỳ túc và trung niên mà cố ý sai chúng ta dọn dâng nước, chẳng phải là
Thế Tôn muốn biểu dương công đức thù thắng của ta hay sao! Chúng ta nên làm mãn
nguyện của Thế Tôn".
Vào đêm ấy, trưởng giả dọn đầy đủ
các món ăn thơm ngon tinh khiết là năm món ăn nhai và năm món ăn cắn. Vào sáng
sớm, bố trí chỗ ngồi, xếp đặt đủ nước dùng, trang trí hoàn tất, trưởng giả sai
sứ đến bạch Phật:
- Trai phạn đã dọn xong, kính xin
Phật định liệu.
Bấy giờ, Thế Tôn mặc y mang bát
cùng chúng Bí-sô đến nhà trưởng giả. Ðến nơi, Ngài cùng đại-chúng ngồi vào chỗ
ngồi đã dọn sẵn.
Trưởng giả cũng sai sứ đến tâu với
vua Thắng-Quang:
- Hôm nay, tại tư gia, thần đã
thỉnh Phật và chư Tăng, tổ chức lễ cúng dường nhỏ, xin đại vương bỏ chút thì giờ
đến cùng tùy hỷ.
Nghe như vậy, nhà vua đưa thái tử,
những người trong cung làm tùy tùng, đến nhà trưởng giả để cùng nhau tùy hỷ. Ðến
nơi lễ Phật xong, vua an tọa.
Khi ấy, cụ thọ Ðà Sách Ca đứng
trước thượng-tọa, tay cầm bình nước dùng thần lực gia trì, làm cho nước tự rót
đến từ vị lớn đến vị nhỏ theo thứ tự để rửa tay. Cụ thọ Bà Lạc Ca đứng trước hạ
tọa, tay cầm bình nước dùng thần lực gia trì cũng làm cho nước tự rót ra dâng từ
vị nhỏ đến vị lớn để súc miệng.
Thấy như vậy, Vua Thắng Quang suy
nghĩ:
- Ðây là đại đức Bí-sô kỳ túc nào
mà dám hiện thần lực trước đức Phật vậy?
Vua tìm theo nước rót, đến bên
Hạ-tọa, thấy Bà Lạc Ca tay cầm bình nước, lại tìm theo nước, đến bên Thượng-tọa,
thấy Ðà Sách Ca đang đứng cầm bình nước. Lấy làm hy hữu, nhà vua đưa bàn tay
phải ra, tán thán:
- Hy hữu Phật Ðà! Hy hữu Ðạt Ma,
lành thay chánh pháp có khả năng ngay trong hi?n tại làm cho Ðà Sách Ca và Ba
Lạc Ca xả bỏ tội ác-kiến, chứng đắc công đức thù thắng như vậy.
Thấy đại chúng đã an tọa, trưởng
giả đích thân dọn các món ăn uống. Sau khi thọ trai, đại chúng rửa tay súc
miệng, xỉa răng xong thu xếp bình bát. Trưởng giả đặt một chỗ ngồi nhỏ trước
Phật, quỳ xuống nghe pháp.
Thế Tôn tùy theo căn cơ, thuyết
pháp cho vua Thắng Quang và trưởng giả, làm cho lợi ích hoan hỷ, rồi đứng dậy từ
giã.
Sau khi về trú xứ, các Bí-sô đều có nghi ngờ, bạch Thế Tôn:
- Ðà Sách Ca và Ba Lạc Ca đã gây
nghiệp gì mà sinh nơi biên địa, một người thì đoạn-kiến, một người thì tà-kiến.
Họ lại gây nghiệp gì mà được xuất gia trong Phật pháp, đoạn tận các hoặc, chứng
quả A-la-hán?
Phật bảo các bí sô:
- Hai người này do nghiệp đã làm
nay quả báo đã thành thục ... nói rộng như trước... cho đến... tự nhận
lấy quả báo. Các thầy hãy lắng nghe, thời quá khứ trong Hiền-kiếp này, khi loài
người thọ hai vạn tuổi, có Phật Ca Nhiếp Ba xuất hiện trong đời. Hai người này
xuất gia trong giáo pháp đức Phật ấy. Cùng nhau làm bạn, họ đi đến biên quốc, tự
tu tập thiền định, nhưng không thầy dạy bảo, thật không chứng đắc lại tưởng mình
chứng đắc. Khi lâm chung, họ phỉ báng Thánh-pháp, sinh tâm tà kiến, nói rằng: -
Phật Ca Nhiếp Ba dối gạt thế gian (cho rằng) đoạn trừ các phiền não thì chứng
A-la-hán. Ðối với các hoặc, ta không thể đoạn hết, làm sao người khác chứng
A-la-hán được.
Này các Bí-sô chớ có nghi ngờ, hai
người tu tập thiền định không có thầy ngày xưa, nay là Ðà Sách Ca và Ba Lạc Ca.
Họ do phỉ báng Thánh pháp, sinh tà kiến nên bị đọa trong ác đạo nhiều đời, lại
nhiều đời sinh ở nơi biên địa phát sinh tà kiến cho đến đời này lại sinh đến nơi
biên địa và có tà kiến. Hai người này nhờ tụng tập thọ trì đạo lý về uẩn, giới,
xứ, duyên sinh và thiện xảo về xứ cùng phi xứ, do sức nghiệp này được xuất gia
tu tập trong giáo pháp của Ta, đoạn trừ các hoặc chứng quả A-la-hán. Tu tập
thiền định không thầy hướng dẫn có lỗi như vậy, thế nên các thầy không nên tự tu
tập thiền định mà không có thầy hướng dẫn. Ai cố ý tu học như vậy bị tội vượt
pháp.
* Duyên xứ tại thành Thất La Phiệt.
Trưởng giả nọ cất một thất nhỏ trong chỗ Lan Nhã. Có một Bí-sô trú ở đó. Vào mùa
xuân, tiết trời nóng bức, làm cho thân hình Bí-sô vàng vọt gầy ốm không có sức
khỏe. Muốn đi đến nơi khác, Bí-sô thưa với trưởng giả:
- Ngài nên tự giữ, tôi muốn đi nơi
khác.
Trưởng giả hỏi:
- Có điều gì thiếu sót mà ngài muốn
đi nơi khác?
Ðáp:
- Tôi không thiếu thốn gì cả, chỉ
vì trời quá nóng, không ở trong thất nhỏ được.
Trưởng giả nói:
- Nếu ngài sợ nóng, con sẽ làm hang
đ?t.
Ðáp:
- Trưởng giả! Ðức Phật chưa cho
phép.
Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Người nào cần hang đất, được làm
tùy ý.
Trưởng giả làm hang. Ðến tháng mùa
hạ khí lạnh ẩm ướt Bí-sô không thể ở được, lại nói với trưởng giả:
- Tôi muốn đi nơi khác ...
Hỏi đáp như trước
vì đất ẩm ướt sinh thêm bệnh ho đàm không thể ở được. Trưởng giả nói:
- Nếu vậy, con sẽ làm nhà lớn.
Bí-sô đáp:
- Thế Tôn chưa cho phép.
Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật
cho phép làm nhà lớn. Trưởng giả làm nhà lớn, vì không làm hành lang nên cây
chống trên cao muốn gãy. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Nên làm hành lang, nếu sợ gẫy nên
làm trụ xiêng dùng đinh đóng giữ lại.
Nhiếp tụng năm trong biệt môn ba:
Thạch diêm an giác nội
Dược khí dụng cù du
An thế tụng kinh thời
Dĩ vật thừa kỳ túc.