GIỚI - ĐỊNH - TUỆ
TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
Thích
Nguyên Hùng
CHƯƠNG I
I.
DẪN NHẬP
1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Có
biết bao là sự biến cố giữa cuộc đời và cũng có
biết bao sự khổ đau giữa cuộc sống trầm luân
sanh tử, vì do những cái giả tạm không thực mà
tạo nên. Nếu giáo dục được hiểu là suối nguồn
văn hĩa và văn minh của nhân loại, thì đâu sẽ là
một nền giáo dục đích thực để có thể đưa đến
chấm dứt khổ đau trầm luân cho lồi người ?. Và
nỗi khổ đau trầm luân này sẽ đeo đẳng con người
mãi, nếu giáo dục chỉ được thiết lập trên cơ sở
tư duy hữu ngã, tư duy của tham lam, sân hận và
si mê. Trong khi đó, tất cả những nỗ lực muôn
thuở của con người không ngồi mục đích mang lại
hạnh phúc thiết thực cho nhân loại và hịa bình
lâu dài cho thế giới. Thế thì, con đường cần
được mở ra trước mặt phải là một hướng giáo dục
xây dựng trên cơ sở Từ bi và ánh sáng Trí tuệ
của đạo Phật. Vì chính nơi đây tất cả mọi tham
lam, sân hận và si mê sẽ được tan biến, và cũng
có nghĩa là khổ đau trầm luân sẽ vắng mặt. Giới,
Định, Tuệ chính là con đường giáo dục như thế.
2.
PHẠM VI VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ơn
lại lời dạy năm xưa của đức Thế Tơn khi Ngài
dùng ảnh dụ nắm lá trong tay để xác nhận với chư
Thánh đệ tử rằng, những gì Ngài đem ra giảng dạy
thì ít như nắm lá trong tay và những gì mà Ngài
biết rõ thì nhiều như lá trong tồn khu rừng. Vì
chính những điều này, như Đức Thế Tơn đã huấn
thị: “Những gì mà Ngài không đem ra giảng dạy là
những gì không phải căn bản cho phạm hạnh, không
đưa đến ly tham, giải thốt, Giác ngộ, Niết bàn”.
(sđd.,tr.442). Cũng tương tự như vậy, những gì
hiểu biết và đem ra giảng dạy của chư vị giáo
thọ sư thì như lá trong khu rừng nhưng những gì
lãnh hội được của Tăng ni có lẽ chỉ như lá
trong lịng bàn tay.
Cho nên, đối với đề tài “Giới, Định,Tuệ trong hệ
thống giáo dục Phật giáo” là một đề tài tầm cỡ
về mặt nghiên cứu cũng như tu tập. Vì chúng ta
biết rằng, những gì mà đức Thế Tơn đã giảng
thuyết trong suốt 45 năm hoằng pháp lợi sanh của
Ngài không ngồi Giới, Định, Tuệ và con đường tu
tập ngang qua Giới, Định, Tuệ. Như chúng ta đều
biết, trong những ngày cuối cùng trước khi nhập
Đại Niết Bàn, trên đường từ Magadha đến Kusinara
đức Thế Tơn đã dừng chân ở nhiều nơi trên đường
và hầu hết Ngài khuyên tu Giới, Định, Tuệ. Ngài
đã nhắc đi nhắc lại rằng: “Này các Tỷ kheo, đây
là Giới, đây là Định, đây là Tuệ, Định tu cùng
với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tuệ tu cùng với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi
ích lớn. Tâm tu cùng với Tuệ sẽ đưa đến giải
thốt hồn tồn các lậu hoặc.”
Nhưng với khả năng hiểu biết còn hạn chế, và
với phạm vi cho phép của một luận văn tốt
nghiệp, người viết không thể đi sâu vào nghiên
cứu chi tiết được rừng giáo lý Giới, Định, Tuệ.
Cũng như không thể đi sâu vào khảo cứu thấu đáo
hệ thống giáo dục tồn diện này được. Bên cạnh
đó, người viết cũng không dám có tham vọng đưa
ra được một quan điểm mới nào, mà chỉ cố gắng
bám sát đề tài, trình bày những khái niệm chung
nhất, cập nhật nhất trong việc giáo dục con
người trong xã hội hiện đại. Qua đó, kết hợp nêu
bật giá trị thiết thực của Giới, Định, Tuệ trong
việc giáo dục con người nhằm giải quyết nỗi khổ
đau trầm luân sanh tử.
Tác giả nhận thấy rằng, trong mọi thời đại các
hệ thống giáo dục tùy theo giai đoạn lịch sử,
tùy theo hồn cảnh xã hội, tùy theo thể chế chính
trị…thì phương pháp giáo dục và nội dung giáo
dục tuy có khác nhau. Nhưng nhìn chung, con
người vẫn truyền trao cho nhau những kinh nghiệm
về lao động, về học tập, về sáng tạo, về việc
đối nhân xử thế…Ngày nay, ở các cấp tiểu học,
trung học và nhất là các bậc cao đẳng và đại học
phần lớn chỉ đào tạo con người có một vài ngành
nghề nhất định nào đó để đáp ứng cơng việc làm
ăn, sinh sống mà quên đi việc dạy con người làm
người, dạy con người nhân cách và đạo đức. Và
nhất là phải dạy con người biết cách để đối mặt
với một sự thật miên viễn, đó là già, là bệnh,
là chết. Hay có chăng chỉ là dạy một cách phớt
lờ, qua loa đại khái.
Chúng ta thấy rằng, trong xã hội hiện đại khi mà
con người đem vật chất ra để làm thước đo quyết
định cho tất cả. Rồi lấy đó làm một hệ thống lý
luận để giáo dục, thì rõ ràng đạo đức của con
người giữa xã hội đang đứng trước một giai đoạn
khủng hoảng và nguy cơ sẽ khủng hoảng nghiêm
trọng. Ngồi ra, con người phải lo lắng và đau
khổ nhiều hơn trước những căn bệnh hiểm nghèo,
trước mơi trường sống bị đe dọa, trước những nỗi
thống khổ của đói, nghèo, chết chĩc do thiên
tai, do động đất, do sĩng thần…mang lại. Và một
nỗi đau thương hơn nữa do chính con người trực
tiếp tạo ra đó là chiến tranh, đó là vũ khí giết
người hàng loạt, đó là thử nghiệm bom nguyên tử,
hĩa học, đó là khủng bố…Như thế, có lẽ đã do
nhận thức sai lầm ở chỗ nào đây trong việc giáo
dục đào tạo con người để rồi nỗi khổ đau triền
miên này cứ dai dẳng mãi mà không thể nào giải
quyết được.
Mặt khác, chúng ta nhận thấy rằng, hiện nay lồi
người đang đứng trên một đỉnh cao của sự thành
tựu về khoa học. Cái giai đoạn mà người ta
thường đem khoa học ra để làm thước đo chân lý
cho sự sống. Nhưng dẫu sao con người vẫn đang
chìm ngập trong sự thống khổ, lo lắng và mất cân
bằng. Những căn bệnh hiểm nghèo vẫn hồnh hành
khắp đó đây. Và nếu đem sự phát triển của khoa
học này nhằm mở lối cho cuộc sống, thì có thể,
và chỉ có thể giải quyết được cái khổ của nghèo
đói, cái khổ của nóng lạnh và thậm chí cho đến
cái khổ của mù chữ. Nhưng không làm sao tránh
được cái khổ của già, của bệnh và của chết.
Từ
những vấn đề quan yếu này, tác giả nhận thấy
rằng cần phải có một đường hướng giáo dục cấp
thiết được đặt ra, giúp con người nhận chân ngay
giá trị đích thực của sự sống, để con người hết
lo âu, hết sợ hãi, hết tham vọng và hết khổ đau.
Mà giá trị ấy là gì? Là chân nguyên, là “bản lai
diện mục”, là con đường đi ra khỏi sự thống khổ
trầm luân. Mà con đường ấy chính là tư duy Vơ
ngã, là con đường tu tập ngang qua Giới, Định,
Tuệ. Một con đường, một hệ thống giáo lý mà Đức
Thế Tơn đã tuyên thuyết cách đây hơn 2500 năm.
Giáo lý tuy cũ, rất cũ, nhưng từ trước không
theo bây giờ ta mới theo thì cũng là mới! Đem
một triết lý từ ngàn xưa khốc cho một chiếc áo
hợp thời, nghĩa là biết vận dụng đúng lúc, đúng
trình độ thì hiệu quả của nó vẫn là mới, vẫn là
thù thắng vậy. Và đây cũng chính là lý do mà
người viết đã chọn đây để làm đề tài cho luận
văn của mình. Một mặt, tác giả hy vọng có thể
đóng gĩp thêm một hạt sương dù rất nhỏ nhưng để
tơ điểm cho ánh bình minh. Mặt khác, nhằm trau
dồi thêm kiến thức trên lộ trình học đạo, tư duy
và tu tập của chính bản thân mình.
II. GIÁO DỤC VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO
DỤC
1.
KHÁI NIỆM VỀ GIÁO DỤC
Giáo dục đã có từ rất lâu đời, nhưng cho đến nay
vẫn chưa có một khái niệm nào chung nhất cho hai
chữ giáo dục. Vì như chúng ta đều biết, giáo dục
là một hiện tượng tự nhiên của xã hội, là một
hiện tượng xã hội đặc biệt của con người. Cho
nên, có lẽ tùy theo giai đoạn lịch sử, tùy theo
bối cảnh xã hội, tùy theo phong tục văn hĩa, tùy
theo thể chế chính trị…mà người ta có những cách
hiểu, cách nhìn nhận, cách khái niệm khác nhau
về giáo dục.
Tuy nhiên, khi ở một gĩc độ chung nhất nào đó
thì ta có thể thấy được người ta có những quan
niệm như sau về giáo dục:
-
Theo quan niệm phương Tây thì, nguyên ngữ
“Éducation”(giáo dục) bắt nguồn từ tiếng La-tinh
cổ là: “Educere” hay “Educare”:
• E : ra khỏi, thốt khỏi
• Ducere: dẫn dắt, hướng dẫn.
Theo đó thì, giáo dục là hướng dẫn, là dẫn dắt
con người từ tình trạng này đến tình trạng khác
tốt đẹp hơn, hồn mỹ hơn.
-
Theo quan niệm phương Đơng thì:
• Giáo : dạy
• Dục : nuơi
Theo đó thì, giáo dục gồm những tác động nhằm
biến đổi cả tinh thần và thể chất của con người
sao cho ngày một hồn thiện hơn, tốt đẹp hơn.
Theo hai định nghĩa trên, con người được quan
niệm như một tồn thể bất khả phân. Giáo dục là
phương tiện phục vụ cho cứu cánh, tức là cho con
người được phát triển tồn diện, đáp ứng nhu cầu
phát triển điều hịa các quan năng để họ tự mưu
cầu hạnh phúc và có thế tích cực gĩp phần hữu
hiệu vào sự cải thiện các điều kiện sinh hoạt
của cộng đồng.
Và, cái nơi văn hĩa, văn minh của nhân loại phải
là xuất phát từ giáo dục. Vì rằng, khi người đi
sau thì thừa hưởng khối kiến thức, thừa hưởng
những kinh nghiệm của người đi trước thì trên cơ
sở đó họ phát minh ra cái mới, cái đẹp làm cho
xã hội lồi người không ngừng phát triển. Và
chính tại đây, giáo dục cũng được phát triển để
cho phù hợp về cả nội dung lẫn hình thức. Giáo
sư W.O.Lester Smith chủ tịch Hội nghiên cứu giáo
dục Anh quốc đại học Luân Đơn đã nói: “ Khi nghĩ
về giáo dục ta không được quên rằng giáo dục có
tính cách phát triển của một cơ thể. Nó thường
xuyên tùy thuộc và liên tục thay đổi để tự thích
ứng với những nhu cầu mới và hồn cảnh mới. Nếu
cứ khư khư muốn đơn giản hĩa ý nghĩa của giáo
dục vào một định nghĩa theo chủ quan có tính
giáo điều thì ắt hẳn không phải thái độ đúng đắn
của nhà giáo dục. Giáo dục do đó không phải chỉ
thay đổi theo thời gian mà còn thay đổi theo hồn
cảnh. Nó mang ý nghĩa và quan niệm khác nhau
theo mỗi hồn cảnh và ngay cả trong cùng một quốc
gia nó cũng địi hỏi một ý nghĩa một quan niệm
khác nhau cho vùng nơng thơn và đơ thị kỹ
nghệ.”( Sđd tr.22-23).
2.
CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC
a.
Mẫu người giáo dục
Khi nói đến vấn đề này thì chúng ta biết rằng
hiện nay vẫn đang còn nhiều tranh cãi. Vì như
chúng ta đã biết, xã hội lồi người thì mang tính
phong phú muôn màu muôn vẻ. Mà khi nhắc đến mẫu
người giáo dục là chúng ta nghĩ ngay đến một
biểu tượng nhất định, một con người mang tính
chuẩn mực cụ thể. Như mẫu người ở phương Tây xưa
kia là: Chính nhân hiệp sĩ, nhà bác học và bây
giờ là cá nhân thành cơng trong xã hội. còn
phương Đơng mẫu người trước đây là người quân
tử, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm trọng. Cố
nhiên điều này cũng tạo ra được một biểu tượng
chuẩn mực cho xã hội. Nhưng trong chừng mực nào
đó nó làm mất đi cái giá trị đa phương diện muôn
màu muôn vẻ của con người. Nếu cố tạo ra một mẫu
người nhất định như thế chẳng khác nào sửa người
cho vừa áo. Như vậy, có thể có một nhận định sai
lầm ở chỗ nào đây?
b.
Đạo đức và nhân cách
Đạo đức và nhân cách là một giá trị sống
do tư duy và hành động của con người tạo ra.
Chúng phải được kế tục và phải liên tục phát
triển theo sự tiến bộ của xã hội. Vì khi xã hội
phát triển thì trong đó bao hàm luơn sự thay
hình đổi dạng của giá trị văn hĩa, lối sống, lối
ứng xử, cách làm người… của con người. Mà một
khi, chúng ta không có một mơi trường giáo dục
tốt từ gia đình, học đường cho đến xã hội hay có
những đường lối, chủ trương không phù hợp trong
việc giáo dục thì chính ở chỗ nhận thức sai lầm
và thiếu trách nhiệm, tất nhiên sẽ dẫn đến hậu
quả đạo đức và nhân cách bị khủng hoảng.
“Lịch sử đã chứng minh vai trị to lớn của giáo
dục trên mọi mặt của đời sống xã hội, còn trong
sự hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục
được đánh giá là vai trị chủ đạo.”
Về
phương diện xã hội của con người, đạo đức và
nhân cách được hiểu là mối liên hệ giữa con
người với con người trong xã hội; khi kinh tế
phát triển nhanh thì mối liên hệ ấy hẳn phải
thay đổi ngồi ý muốn của con người. Tương tự,
khi một chính sách hay một thể chế chính trị
thay đổi, mối liên hệ ấy không duy trì theo nếp
cũ. Nếu không có một hệ thống giáo dục tồn diện
để bắt nhịp theo sự thay đổi của thời cuộc nhằm
hướng dẫn con người ý thức trách nhiệm với cộng
đồng, với xã hội thì đạo đức và nhân cách sẽ bị
khủng hoảng.
Ngày nay, chúng ta đang đứng trước một thềm kĩ
nghệ khoa học hiện đại. Các nhà máy, các khu
cơng nghiệp mọc lên khắp đó đây dẫn đến sự đơ
thị hĩa diễn ra nhanh chĩng. Người dân từ các
nơng thơn bỏ trang trại, bỏ sự cày sâu cuốc bẩm
lên đơ thị vào các nhà máy làm ăn kiếm sống. Lẽ
tất nhiên, vấn đề an ninh ở đơ thị vẫn có hạn
với một lượng dân cư vừa phải. Nhưng ở đây sự
bùng nổ dân số theo cơ giới đã diễn ra một cách
rõ rệt. Một mặt, do ý thức, tư duy của mỗi con
người ở nơng thơn còn nhiều cục bộ, họ chưa nắm
bắt kịp nếp sống văn hĩa, văn minh ở đơ thị. Mặt
khác, nhiều vấn đề phức tạp nữa xảy ra, xuất
phát từ những nhận định sai lầm trong nếp nghĩ
của mỗi con người, cho nên các tệ nạn xã hội,
các hành vi hành động thiếu nhân tính diễn ra.
Nguyên nhân chính yếu vẫn là sự mất thăng bằng
trong đạo đức và nhân cách.
Chúng ta cần hiểu rằng, đạo đức được xây dựng
trên cơ sở của nhân cách. Bởi lẽ, trong chừng
mực nào đó ta có thể hiểu nhân cách là tư cách,
là cách thức làm người của mỗi con người. Có
nghĩa rằng, ta nên làm như thế này, ta nên làm
như thế kia và thế này là không được làm, như
thế kia là không được làm… rồi từ đó ý nghĩa của
đạo đức được xuất hiện. Như thế giáo dục phải có
trách nhiệm hướng dẫn con người nhận thức đúng
đắn đâu là điều được làm và đâu là điều không
được làm. Nghĩa là dạy con người nhận thức một
cách rõ ràng rằng: “ Nhân cách là cách đối xử
trong con người đối với gia đình, cũng như ngồi
xã hội. Nhân cách là một hình thức xử thế cao
đẹp hồn tồn chứng tỏ cho mọi người thấy rằng con
người mình là một con người có giáo dục, biết
suy nghiệm những điều phải trái ở trên đời. Nhân
cách là những gì thể hiện sự giáo dục hiện hữu
trong con người. Nó là hình thức xã giao tốt đẹp
và nhiều lịch sự nhất của con người”. Đồng
thời, dạy con người quyền tự do và tư cách làm
người của chính mình. Dạy con ngươi nhận thức
được: “Nhân cách là tư cách làm người với danh
nghĩa một nhân vị sống có ý thức, lý trí và tự
do, chủ động tư duy, lời nói, hành vi của mình
và làm chủ thể các bổn phận cùng những quyền lợi
của mình”.
c.
Tệ nạn xã hội
Tệ
nạn xã hội hiện nay là một vấn đề cấp bách ở các
đơ thị lớn, mà tất cả những người làm giáo dục
phải gánh chung một trách nhiệm với tồn thể cộng
đồng.
Như chúng ta đã biết, khi một con người sinh ra
giữa cuộc đời, nếu họ được ở trong một mơi
trường tốt với đầy đủ tiện nghi cũng như thơng
tin về giáo dục từ gia đình, học đường đến xã
hội, thì đây sẽ là bước khởi đầu thành cơng
trong cơng việc giáo dục hướng dẫn con người
vươn tới giá trị hồn thiện.
Từ
trước đến nay, gia đình, học đường và xã hội là
ba yếu tố quan trọng luơn cần có một mối quan hệ
hữu cơ lẫn nhau trong việc giáo dục con người.
Thứ nhất, đối với gia đình, thì khi một đứa bé
mới được sinh ra, giai đoạn ấu nhi là giai đoạn
khởi đầu của đời người. Mọi hành động, ngơn ngữ,
tư tưởng, ý chí, tính cách…của con người tất cả
đều được nắn đúc, hình thành ngay trong giai
đoạn này. Như vậy, giáo dục ấu nhi phần lớn lấy
gia đình làm trung tâm. Cho nên trách nhiệm
trọng đại của những người làm cha, làm mẹ không
thể không chú ý đến hành vi, cử chỉ, cách ăn
nói, nằm ngồi của mình, và cũng không thể không
cố gắng tạo những hồn cảnh tốt đẹp trong gia
đình để gieo vào trong lịng các trẻ em những ý
niệm tốt đẹp về cuộc đời. Những đức tính hy
sinh, nhẫn nại, trật tự, ơn hịa, khiêm ái… cũng
phải luyện tập cho trẻ ngay trong giai đoạn này.
Thứ hai, giáo dục học đường ngồi việc đào tạo
một vốn kiến thức về khoa học, về xã hội ra thì
phải trực tiếp truyền trao cho học viên giềng
mối đạo đức, ý thức trách nhiệm, lẽ sống ở
đời…Đào tạo những con người lý tưởng là mục đích
chính của nội dung cũng như phương pháp đạo đức
giáo dục. Con người lý tưởng ở đây là con người
đối với bản thân thì thực hành theo những hạnh
kiểm hợp với luân lý đạo đức. Đối với gia đình
thì sống theo tinh thần thân, hiếu, hạnh. Đối
với tập thể thì giữ gìn kỷ luật, trật tự, trung
chánh. Đối với quốc gia thì có lịng yêu nước,
thực hiện những cơng việc có lợi ích chung. còn
đối với quốc tế thì thực hành theo chủ trương
hịa bình, yêu chuộng và dân chủ.
Thứ ba, giáo dục xã hội tức là ngành giáo dục
thiên trọng về mặt cải tiến xã hội. Kinh nghiệm
cho chúng ta biết rằng thời gian giáo dục ở học
đường quá ngắn ngủi đối với đời sống con người.
Nhất là những người sau khi rời khỏi ghế nhà
trường ra lăn lộn với cuộc sống thực tế, thì
chính đây mới là mơi trường giáo dục dành cho
mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp để trở thành con
người thật sự của xã hội.
d.
Vấn đề an sinh cho cuộc sống
Như chúng ta đều biết, tất cả những nỗ lực của
con người không ngồi mục đích mang lại hạnh phúc
và sự bình an lâu dài cho cuộc sống. Nhưng có lẽ
đã có một sự sai lầm hoặc thiếu sĩt nào đây
trong tư duy, trong nhận thức, trong hành vi
hành động mà cho đến bây giờ chúng ta vẫn mãi
chìm đắm trong lo âu và khổ hải. Mẫu số chung
cho tất cả các mệnh đề này vẫn đang là một ẩn số
và con đường để khai thơng cho ẩn số này thì
giáo dục phải có cùng chung một trách nhiệm.
Bản chất của sự sống thì không cho ta khổ đau
hay hạnh phúc. Điều này nói lên rằng vốn dĩ giữa
chúng là những cá thể dị biệt. Khi chúng ta tạo
tác hay hành động kết quả mang lại là khổ đau
hay hạnh phúc thì tùy thuộc vào tính thiện ác
trong bản chất hành động và tùy thuộc vào cách
thức và khả năng cảm nhận về kết quả của hành
động ấy.
Trong cuộc sống thì “ Ai cũng muốn xa lánh điều
khổ, ai cũng muốn có hạnh phúc. Vậy hãy lấy lịng
mình suy ra lịng người đừng gây đau khổ cho
người khác”. Tuy nhiên, khi khoa học kỹ thuật
đã tiến lên trên một đỉnh cao thì liệu họ có lấy
cái thiện cái ác ra để làm thước đo nhằm đáp ứng
nhu cầu hạnh phúc và hịa bình thật sự cho cuộc
sống hay không? Hay trên đà phát triển của lịng
tham ái, họ muốn chiếm dụng thật nhiều của cải
vật chất để phục vụ cho nhu cầu sự sống của
mình. Rồi họ bằng cách này hay cách khác, hoặc
bằng nhiều thủ đoạn, hoặc chế tạo ra nhiều thứ
vũ khí giết người và trong đó có cả vũ khí giết
người hàng loạt nhằm chiến tranh cướp đoạt để đe
dọa mạng sống của con người? Dẫu có dùng vũ khí
vào chiến tranh chính nghĩa đi nữa nhưng cũng
vẫn làm cho máu đỗ xương tàn. Mặt khác, thì vì
đâu mà có được vũ khí để người ta mang đi chiến
tranh phi nghĩa, mang đi khủng bố, mang đi giết
chĩc?…Ta không phủ nhận những tiến bộ của khoa
học kỹ thuật đã đáp ứng rất nhiều cho đời sống
con người. Và một mặt là đánh dấu một cách rõ
nét nền văn minh của nhân loại. Nhưng chúng ta
vẫn thấy rõ rằng do đâu mà con người mãi khổ
đau, mãi lo âu và sợ hãi? Phải nói thật là ngây
ngơ khi giả thiết các vấn đề do lồi người tác
tạo để dẫn đến bạo động có thể giải quyết bằng
tranh đấu. Có lẽ chính ở chỗ nhận thức sai lầm
và tư duy hữu ngã của con người mang lại.
Khi nhìn trực diện vào sự sống thì ta mới thấy
rằng con người là trung tâm của vũ trụ. Hạnh
phúc cũng do chính con người tạo ra và mất hạnh
phúc cũng bởi chính con người. Vậy nên: “ Cái gì
làm cho con người thành một con người? Không
phải cái mặt mà cái lịng người ta ăn ở với nhau.
Vậy cái gì làm cho xã hội lồi người thành một xã
hội lồi người? Nhất định cũng không phải những
dụng cụ chứng tỏ một trình độ tiến hĩa kỹ thuật
mà là những tình người khi xử dụng những dụng cụ
ấy trong cuộc sống chung với nhau.” Như thế,
chính giáo dục Phật giáo mới có thể đánh thức
được Phật tánh trong mỗi con người. Phật tánh ấy
chính là thể tánh sáng suốt, là lịng từ bi, là
tánh thiện để thật sự mang lại hạnh phúc và hịa
bình lâu dài cho cuộc sống.
e.
Vấn đề mơi trường sống
Mơi trường sống hiện nay là một đề tài cấp bách
mà các nhà làm giáo dục phải cùng chung một
trọng trách với tất cả cộng đồng. Bởi lẽ, mơi
sinh hiện đang bị đe dọa trước cơn khủng hoảng
nghiêm trọng.
Khủng hoảng mơi sinh hiện tại là sự ơ nhiễm mơi
sinh: ơ nhiễm không khí, nước và đất. Chúng là
hậu quả của các phĩng xạ, sự phân hạch, bụi bặm
thiên nhiên, cháy rừng, giao thơng vận tải, sự
thiêu đốt và các nguồn khác như trong các trang
web và sách báo đã ghi lại, các ơ nhiễm ấy do
các cuộc thí nghiệm bom nguyên tử, các vũ khí
hĩa học, các hơi độc thốt ra từ các xưởng kĩ
nghệ, nạn phá rừng và săn bắt bừa bãi…Và đây
cũng là hệ quả tất yếu của sự phát triển nhanh
kĩ nghệ. Một mặt là hệ quả của sự thiếu trách
nhiệm đối với mơi sinh của con người.
Chúng ta biết rằng giữa con người và mơi trường
sống luơn có một mối quan hệ rất mật thiết, liên
tục, tự nhiên và không thể tách rời nhau. Chính
vì vậy, khi mơi trường bị ơ nhiễm thì chúng sẽ
ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp vào sức khỏe cũng
như tuổi thọ của con người. Hơn thế nữa, một khi
mơi trường bị ơ nhiễm một cách nghiêm trọng,
trái đất nóng lên, suy giảm ozon ở tầng bình lưu
làm thay đổi khí hậu tồn cầu…thì mạng sống của
tất cả các sinh vật trong đó có con người ở trên
hành tinh này sẽ bị đe dọa và có thể dẫn đến sự
tận diệt trong một tương lai gần.
Như vậy, ngay tại đây, một hệ thống giáo dục về
bảo vệ mơi sinh cấp thiết cần phải được đặt ra
một cách hồn thiện và sớm nhất, nhằm giáo dục
con người nhận thức được những hiểm họa do ơ
nhiễm mơi sinh gây ra. Giáo dục con người những
gì phải làm, những gì không được làm để bảo vệ
mơi sinh. Giáo dục con người nhận chân được mối
quan hệ mật thiết giữa con người và mơi trường
sống để con người tự bảo vệ chính mình tức là
bảo vệ mơi trường.
III. TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
Giáo dục Phật giáo là một phương tiện tối yếu để
khai mở cánh cửa trí tuệ của con người, giúp con
người nhận chân được thật tướng đích thực của
vạn pháp, nhằm đưa họ đi vào chân, thiện, mỹ.
Trên cơ sở đó, trong lộ trình tu tập, con người
“phản quang tự kỷ” để phát triển tiềm năng sáng
suốt, đánh thức Phật tánh vốn có ở trong mình và
đi vào con đường Giác ngộ, giải thốt. Yếu tố cốt
lõi trong hệ thống giáo dục Phật giáo là hướng
dẫn hành giả đoạn ác, tu thiện, chứng quả vơ
sanh. Và có thể bao hàm trong ý nghĩa bài kệ
sau:
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.
( Pháp
cú, kệ 183 )
Nếu như tất cả nước ở ngồi biển khơi chỉ
có một vị là vị mặn, thì giáo lý mà đức Thế Tơn
thuyết ra cũng thế, chỉ có một vị là hương vị
Giải thốt. Trong kinh Tăng Chi đức Phật có dạy:
“Này Paharada, biển lớn chỉ có một vị, đó là vị
mặn. Cũng vậy, này Paharada, pháp này của Ta
cũng chỉ có một vị là vị giải thốt.”(Tăng chi
III, tr 57.Sđd). Điều này nói lên rằng, tư tưởng
cốt lõi trong tồn bộ hệ thống tam tạng giáo điển
luơn mang tính nhất quán, như một sợi chỉ xuyên
suốt từ đầu đến cuối. Tính nhất quán ấy chính là
Từ bi và Trí tuệ. Chúng được xây dựng trên nền
tảng của ba mơn Vơ lậu học Giới, Định, Tuệ. Và
trên cơ sở này hành giả tu tập nhằm chuyển hĩa
từ con người mê lầm thành đức Phật giác ngộ và
giải thốt, chuyển hĩa tạng thức thành Như lai
tạng. Nghĩa là phá trừ ngã chấp và pháp chấp,
không còn mê chấp giữa thế giới chủ quan và
khách quan. Nhận chân thực tánh của vạn pháp là
vơ tánh, là bình đẳng, là viên dung vơ ngại.
Chúng ta thấy rằng, trong suốt 45 năm thuyết
giáo của đức Phật, Ngài đã tùy theo những trình
độ, những căn cơ, những thời điểm khác nhau mà
giảng bày ra nhiều phương tiện để dẫn dắt con
người đi vào đạo giải thốt. Giáo lý mà ngài đã
thuyết giảng với nhiều đề mục phong phú và ý
nghĩa thì rất thậm thâm, vi diệu. Các nhà nghiên
cứu Phật học sau này đã căn cứ vào đó để phân
chia ra theo thời giáo.
Hoa Nghiêm tối sơ tam thất
nhật.
A Hàm thập nhị, Phương Đẳng
bát,
Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm,
Pháp
Hoa, Niết Bàn cộng bát niên.
Thế thì, quan niệm trở về với bản thể nhất
nguyên là quan niệm bao trùm mọi tư tưởng, mọi
phương pháp trong tổng thể giáo lý Phật đà. Mặc
dù, trong đó thời A Hàm là thời dạy về thế giới
Hữu cho hàng Tiểu thừa; thời Bát Nhã là thời
thuyết về thế giới Không cho hàng Đại thừa; thời
Duy Ma, Thắng Man, Pháp Hoa là thời trung đạo
thuyết về phi hữu phi không của Thế tơn nhất
thừa. Đặc biệt trong đó thời Hoa Nghiêm đức Phật
đã thuyết trong thiền định 21 ngày đầu tiên sau
khi thành đạo. Và thời pháp này, đức Thế tơn
tuyên thuyết nhằm vào các cõi trời và các vị Bồ
tát từ sơ địa trở lên mới nghe và am hiểu được.
Như vậy, đây là phương pháp, là chủ trương giáo
dục bằng “phương tiện thiện xảo” trong Phật
giáo, là sự khéo léo của khả năng thuyết giáo,
hướng dẫn thích hợp tùy theo căn tính mỗi chúng
sinh để đưa đến địa vị Phật thừa. Thế nên, trong
chừng mực nào đó thì ta thấy còn có phân biệt
cao thấp, còn chia ra các thừa…Nhưng nhìn trên
tổng thể thì chỉ có duy nhất một thừa, ấy là
Phật thừa. “Ba thừa cũng chỉ là một thừa. Ba
thừa là phương tiện, một thừa mới là cứu cánh.
Chứng đắc nhất thừa là chứng đắc vơ thượng giác
ngộ. Vơ thượng giác ngộ chính là Niết bàn giới.
Và Niết bàn giới chính là pháp thân của Như
lai.” Và con đường để đi đến Nhất thừa đạo quả
là lấy Bồ đề tâm làm khởi điểm, làm chánh nhân
“Hạt giống của Bồ đề tâm đã được gieo xuống và
được tài bồi bằng những chất liệu của đại bi,
bằng quy, giới, nguyện và hành, để sẽ đâm hoa
kết trái của trí huệ Nhất thừa. Bồ đề tâm là
khởi điểm và Nhất thừa là cứu cánh, hay nói cách
khác, Bồ đề tâm là chánh nhân và Nhất thừa là
chánh quả trong quá trình Bồ tát đạo.”
Và
Bồ đề tâm này được xây dựng trên cơ sở của niềm
tin. Vì rằng, biển Phật pháp thì mênh mơng vơ
lượng và chỉ có thể thâm nhập bằng tín. Như ý
nghĩa trong kinh Hoa Nghiêm mà đức Phật đã dạy:
“Tín là căn nguyên của đạo, là mẹ của cơng đức,
nuơi lớn hết thảy thiện pháp, đoạn trừ lưới
nghi, đưa vượt qua dịng nước ái dục, khai thị
con đường tối thượng dẫn đến Niết bàn.” Nguyên
văn là:
“Tín vi đạo nguyên
cơng đức mẫu
Trưởng dưỡng nhất
thiết chư thiện căn
Thốt ly sanh tử
xuất mê lưu
Trực vãng Niết bàn
vơ thượng đạo.”
Mặt khác, đạo Phật lấy con người làm trung tâm
giáo dục, nhằm mục đích chuyển hĩa con người từ
mê lầm đến giác ngộ. Đạo Phật không xa lìa cuộc
đời, không tách khỏi cuộc đời, đạo và đời là
nhất thể, đạo vốn là đời được giác ngộ giải thốt
khỏi các phiền não các lậu hoặc, đem đến an lạc,
hạnh phúc thật sự cho con người trong kiếp sống
hiện tại và tương lai. Như vậy, tư tưởng giáo
dục Nhất thừa của Phật giáo là không loại trừ
một đối tượng nào ra ngồi khả năng giáo dục và
không coi đối tượng nào là không có khả năng đạt
hiệu quả giáo dục. Chúng là hệ quả tất yếu, là
một tầm nhìn rất trí tuệ và bình đẳng đối với
hết thảy chúng sanh. Và tất cả đều xuất phát từ
lời dạy của đức Thế Tơn: “ Nhất thiết chúng sanh
giai hữu Phật tánh”. Vậy nên, một khi vơ minh
phiền não được đoạn trừ thì Phật tánh hiển bày
và thành Phật, thành Phật ngay giữa cõi Ta bà
ngũ trược này. Từ kẻ nhất xiển đề cho đến người
nữ, ác nhân chính cơ đều thành Phật tất cả. “Mục
tiêu Nhất thừa không đơn giản chỉ là mục tiêu
hướng thượng của Bồ tát, nghĩa là của một hạng
chúng sanh ưu việt, mà cần phải được xác định nó
là mục tiêu cứu cánh của bất cứ ai trong những
nỗ lực kiên trì thể hiện trọn vẹn tất cả ý nghĩa
sinh tồn của mình trong cuộc đời này.”
Con đường giáo dục Phật giáo mà đức Thế tơn đã
phương tiện thuyết ra thì có vơ lượng nhưng tựu
trung lại cũng không ngồi ba lĩnh vực Giới học,
Định học và Tuệ học. Và con đường tu tập để đưa
đến Giác ngộ, Giải thốt lẽ tất nhiên cũng không
ngồi ba lĩnh vực ấy. Vị hành giả muốn đạt được
mục đích, nghĩa là muốn đạt được quả vị thù
thắng, muốn an lạc và hạnh phúc thật sự ngay
giữa cuộc đời này thì phải nỗ lực tu tập, thực
hành ngay bằng chính con đường ấy. Vì khi ta nói
đến mục đích của giáo dục thì như Herbert
Spencer đã nói: “ Mục đích của giáo dục không
phải là để biết mà để hành động”. Chúng ta biết
rằng giáo pháp là do đức Thế tơn đã phương tiện
mà thuyết ra thì chính giáo pháp ấy cũng là
phương tiện. Như Ngài đã từng dạy: “Nhất thiết
Tu-đa-la giáo như tiêu nguyệt chỉ”. Thế thì,
điều quan trọng là ta phải hành động, nghĩa là
ta phải vận dụng tu tập giáo pháp ấy như thế nào
để có thể mang lại quả vị thù thắng.
CHƯƠNG II
NỘI DUNG CỦA GIỚI ĐỊNH TUỆ
I. GIỚI
Giới là từ Hán dịch từ chữ Sìla, thường được
hiểu là giới hạnh, điều luật, đạo đức. Dùng để:
“ Phịng ngừa, ngăn cấm sự sai trái của thân và
tâm” . Cho nên, khi nói về giới chúng ta hiểu
ngay rằng: “Chớ làm các điều ác” “Hãy làm các
hạnh lành” như bài kệ khuyên không nên làm các
điều ác, nên làm các điều lành của đức Phật. Tuy
nhiên, Sìla nguyên nghĩa là sự tự nhiên, là thĩi
quen. Có điều là khi chúng ta vượt ra khỏi những
quy luật của tự nhiên, vượt ra khỏi sự vận hành
tất yếu của mơi trường, của xã hội thì chúng ta
sẽ bị trở ngại. Như thế, để khỏi bị trở ngại thì
những điều nên làm và không nên làm được đặt ra,
và ý nghĩa thù thắng về mặt đạo đức của giới
luật cũng được xuất hiện.
Theo Thanh Tịnh đạo thì: “ Giới có nghĩa là chế
ngự theo năm cách như sau: Chế ngự với sự chế
ngự của giới bổn Pàtimokkha; chế ngự bằng tỉnh
giác; chế ngự bằng tri kiến; chế ngự bằng kham
nhẫn; chế ngự bằng tinh tấn. Giới có nghĩa là
kết hợp, vì nó kết hợp ba nghiệp thân, khẩu, ý
hướng đến con đường thánh thiện. Giới có nghĩa
là nền tảng, vì nó làm cơ sở cho các thiện pháp
phát sinh. Giới còn có nghĩa là thanh lương, vì
nó làm cho người giữ giới cảm thấy thân tâm mát
mẻ” .
Khi ta học về giới là học về luật tắc trong sinh
hoạt cộng đồng nói chung và trong tu sĩ Phật
giáo nói riêng. Về những điều thiện phải làm và
những điều ác phải tránh. Về giữ gìn thân, khẩu,
ý để khỏi tạo nghiệp xấu nhằm không trở ngại đến
bước đường tu tập của một Tỳ kheo. Như thế, giới
còn được hiểu là giới học, là học tập, là tu
hành theo giới bổn Tỳ kheo, là bộ Giới Kinh gồm
những giới luật do đức Phật chế. Hiện nay, theo
các nhà nghiên cứu thì chúng ta có được sáu bộ
luật của sáu tơng phái khác nhau. Đó là các bộ:
- Theravada Vinàya.
- Mahàsanghika Vinàya.
- Mula-Sarvastivàda.
- Mahàsasàka-Sarvastivàda.
- Pharmaguptaka-Sarvastivàda.
- Sarvastivàda.
Trong sáu bộ luật trên, bộ Theravada Vinàya của
Thượng tọa bộ là đầy đủ và hệ thống nhất. Bộ
Theravada Vinàya này có tên Pàli là Vinàya
Pitaka mà ngày nay người ta vẫn gọi là Luật
tạng. Và chúng được phân biệt thành ba phần
trong nội dung là:
1. Pàtimokkha ( Ba-la-đề-mộc-xoa) tức bộ giới
bổn Tỳ kheo.
2. Mahavagga (Đại phẩm): ghi lại những quy
định trong sinh hoạt của Tăng già như thọ giới,
nhập hạ, ăn mặc, thuốc men, các quyền của Tỷ
kheo…
3. Cullavagga ( Tiểu phẩm): ghi lại những quy
định về cách cư xử, đối đãi giữa các Tỷ kheo
Tăng, Ni…
Như chúng ta đều biết sự hình thành các bộ luật
tương đối khá chậm đến gần cả chục thế kỷ sau
thời đức Phật. Vào lúc khởi đầu, Tăng già là một
giáo đồn Sa mơn hịa hợp, các Tỷ kheo đều rất
thanh tịnh và ai cũng đạt Thánh quả, nên giới
luật là không cần thiết để đặt ra. Cho đến khi
Tăng già đã lớn mạnh, thì sự xen tạp đã bắt đầu
xảy ra, tất nhiên trong đó gồm luơn những điều
sai trái. Do đó, đức Phật phải đặt ra những điều
lệ lẻ tẻ “nên làm…” và “không nên làm…” để giáo
dục đệ tử. Và phần duyên khởi đưa đến lời dạy
của đức Phật theo từng trường hợp riêng lẻ lại
không được sắp xếp một cách hệ thống. Riêng chỉ
có bộ Pàtimokkha là tương đối hồn chỉnh và hệ
thống nhất, lại còn quy định những điều vi phạm.
Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu Phật học thì
những tài liệu về nội dung của bản Pàtimokkha
vào thời kỳ đầu của Tăng già vẫn chưa được tìm
thấy. Và các nội dung liên quan tới việc khảo
cứu chủ yếu dựa vào các sớ luận của luận sư
Buddaghosa (Phật Âm), được viết vào khoảng cả
ngàn năm sau khi các sự việc xảy ra. Mặc dù bộ
Pàtimokkha rải rác trong các kinh được chính đức
Phật đã từng nhắc nhở rằng, đây là nội dung tu
trì căn bản nhất để từ đó các Tỷ kheo thăng tiến
lên trên con đường giải thốt tối hậu.
Khi tu trì, giữ giới, chế ngự theo giới bổn
Pàtimokkha thì sẽ làm cho Tăng già được ổn định
và hịa hợp. Vì chính Pàtimokkha là giới bổn dẫn
dắt các Tỳ kheo tiếp cận được với giáo lý của
Phật Đà, thúc liểm thân tâm, ngăn ngừa tam độc,
đưa giáo đồn vào một thể hịa hợp thanh tịnh nhằm
tiến thẳng vào con đường Giải thốt, Giác ngộ. “
Pàtimokkha gồm tiếp đầu ngữ là Pàti, có nghĩa là
hướng về, theo chiều hướng và Mokkha có nghĩa là
Giải thốt. Theo đó, Pàtimokkha có nghĩa là sự
đưa đến giải thốt. Từ Hán dịch Pàtimokkha là
Giải thốt, Biệt giải thốt, Biệt biệt giải thốt,
Tùy thuận giải thốt…đều là lấy gốc ở từ Mokkha
và diển thêm nghĩa theo ý nghĩa của tồn bộ nội
dung của Pàtimokkha. Ta có thể hiểu Pàtimokka là
những hành vi, những học pháp đưa đến sự giải
thốt” .
Cùng với ý nghĩa trên, đức Phật cũng đã nêu ra
mười lý do thiết lập giới luật để các Tỷ kheo đệ
tử tu tập. Mười lý do này còn được nhắc lại
trong Tăng Chi Bộ kinh khi đức Phật trả lời
trưởng lão Upàli (Ưu-bà-ly) về mục đích tuyên
dạy Pàtimokkha của đức Phật. “ Này Upàli, đây là
mười lý do khiến ta tuyên dạy Pàtimokkha. Mười
lý do này là gì?
- Để Tăng-già được mỹ mãn.
- Để Tăng-già được ổn thuận.
- Để kiềm giữ các Tỷ kheo khĩ kiềm giữ.
- Để thiện Tỷ kheo được ổn thuận.
- Để chế ngự các lậu hoặc (Àsava) trong hiện
tại.
- Để ngăn ngừa các lậu hoặc đời sau.
- Để tạo tin tưởng cho những người ít tin
tưởng.
- Để xác tín cho những người có lịng tin.
- Để chánh pháp được vững bền.
- Để phù trợ cho luật.
Này Upàli, đấy là mười lý do nhằm dạy dỗ các đệ
tử của Như Lai và là mục đích tuyên dạy
Pàtimokkha”.
Như vậy, việc thiết lập giới luật của đức Phật
không ngồi mục đích lợi ích hữu tình, dẫn dắt
chúng sanh vào nẽo đường Giải thốt. Điều này
càng được rõ ràng hơn khi trong ý nghĩa của
Pàtimokkha là Biệt giải thốt hay Xứ xứ giải
thốt, Tùy thuận giải thốt. Biệt giải thốt hay Xứ
xứ giải thốt là giải thốt từng phần; giữ giới
nhiều thì giải thốt nhiều, giữ giới ít thì giải
thốt ít. Tùy thuận giải thốt là giải thốt tùy
thuộc vào quả hữu vi hay vơ vi của người hành.
“Giải thốt tiếng Phạn là Moksa, Mutti dịch là
giải thốt, có nghĩa là lìa bỏ mọi trĩi buộc mà
được tự tại. Cởi bỏ sự trĩi buộc của hoặc
nghiệp, thốt ra khỏi khổ quả của tam giới”.
Ngồi ra, còn một mục đích quan trọng hơn mà Thế
Tơn thiết lập giới luật là để cho Chánh pháp
thường trụ mãi giữa thế gian.
Đến đây ta thấy rõ rằng ý nghĩa thù thắng của
giới luật là dẫn dắt chúng sanh ra khỏi sự ràng
buộc khổ đau trong Tam giới và không mang một sự
trĩi buộc, cố chấp, cứng nhắc nào như là giới
điều mà hồn tồn mang ý nghĩa tự nguyện. Kết quả
của việc giữ giới là mang lại an vui hạnh phúc
cho mình và cho người, tạo nên niềm tin cho kẻ
khác, làm cho cuộc sống cộng đồng được hài hịa
và an ổn. Và vì vậy nó đúng với tinh thần Từ bi
và Trí tuệ trong tồn bộ hệ thống giáo lý mà đức
Thế tơn đã tuyên thuyết. Bởi lẽ, khi tự thân
người giữ giới được lợi ích an lạc và giải thốt
đó là trí tuệ và mang đến cho kẻ khác niềm tin
yêu hạnh phúc đó là từ bi. Chính điều này là nền
tảng cơ bản để mang lại lợi ích thiết thực cho
cuộc sống. Và đó cũng chính là tinh thần Tự
giác, Giác tha và Giác hạnh viên mãn.
Hướng đi của giới là ngăn ngừa các lậu hoặc
trong hiện tại và tương lai. Và giới cũng là
bước đầu đi đến Thiền định nên cũng được gọi là
“ly dục, ly bất thiện pháp”, mở đầu cho điều
kiện chứng đắc thiền thứ nhất. Chúng là biểu
hiện của đời sống phạm hạnh. Một Tỷ kheo an trú
trong giới bổn Pàtimokkha là để ngăn ngừa các ác
nghiệp, giữ gìn thân, khẩu, ý được thanh tịnh.
Trung Bộ Kinh VI ghi lại lời đức Phật dạy như
sau: “Này các Tỷ kheo, hãy sống trong sự sở hữu
giới hạnh, trong sự sở hữu Pàtimokkha. Hãy sống
chế ngự với sự chế ngự của Pàtimokkha, trong sự
sở hữu oai nghi chánh hạnh, thấy được sự nguy
hiểm của những lỗi nhỏ nhất, xử lý chúng một
cách đúng đắn. Hãy tu tập trong học giới”.
Giới sau này được chia thành giới của bậc xuất
gia, được cơ đọng thành những pháp mơn: “Sống
thành tựu giới uẩn thanh tịnh, hộ trì các căn,
có tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác,
chánh niệm tỉnh giác”. Và giới cho các bậc tại
gia được ghi chép trong năm giới. Năm giới này
được phân tích rộng thành mười hạnh.Và khi hành
giả khéo hộ trì các căn trong việc hành trì giới
luật thì sẽ mang đến một đời sống giới hạnh viên
mãn. Đức Thế tơn đã dạy như sau: “ Này các Tỷ
kheo, một Tỷ kheo thiện xảo trong tu trì giới
luật thì có bảy điều. Thế nào là bảy? Vị ấy biết
thế nào là phạm lỗi; vị ấy biết thế nào là lỗi
nhỏ; vị ấy biết thế nào là lỗi nặng; vị ấy đầy
đức hạnh và sống mà được chế ngự bởi Pàtimokkha,
tồn hảo trong chánh hạnh và oai nghi và tu tập
trong học giới; Nếu muốn, vị ấy đắc Tứ thiền đưa
đến an lạc trong hiện tại một cách dễ dàng,
chẳng chút khĩ khăn nào;và do dứt lậu hoặc, vị
ấy thể nhập tâm giải thốt, tuệ giải thốt vơ lậu
và vị ấy biết thể nghiệm ngay trong đời này. Này
các Tỷ kheo, một vị thiện xảo trong giới luật
thì có bảy điều như thế” . Vậy thì, một đời sống
phạm hạnh đúng nghĩa thì theo như đức Thế tơn đã
dạy là phải chánh niệm tĩnh giác. Nghĩa là vị
hành giả phải biết tàm quý, biết hổ thẹn và ăn
năn trước những lỗi lầm mình đã tạo tác. Biết
bày tỏ sám hối những điều mình đã vi phạm trước
đại chúng. Có như vậy tâm mới được thanh tịnh và
thuận tiện trên bước đường tiến tu đức hạnh đưa
đến Định và Tuệ. Ngay cả bậc xuất gia phát tâm
thuần chính có lúc cũng khởi phiền não, không
thể tiết chế được mình mà phạm giới. Đây là
chướng ngại lớn đối với việc tu tập Phật pháp.
Điều này cần phải được hạn chế bằng giới luật.
Người đã phạm giới thì buộc phải sám hối, để có
thể trở lại thanh tịnh. Mặt khác, vị hành giả
phải biết sống như thế nào mà không để cho sắc
đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc êm dịu
có thể chi phối tâm của mình. Thì đó là nền tảng
cơ bản để cởi bỏ mọi ràng buộc của uế trược mà
thanh tịnh đi ra khỏi khổ đau. Làm được điều này
thì như một người có Trí viên mãn Định và Tuệ
vậy. Trong kinh Tương Ưng I, tr. 13 đức Phật
dạy:
“Người trú giới có trí
Tu tập tâm và tuệ
Nhiệt tâm và thận trọng
Tỷ kheo ấy thốt triền”.
Đến đây, ta thấy được rằng giới đóng một vai trị
quan trọng và tối cần thiết trong hệ thống giáo
dục Phật giáo. Rải rác trong các kinh đều có đề
cập nhiều đến vị trí và vai trị của giới. Đặc
biệt là Trường Bộ Kinh và Trường A Hàm. Điển
hình là kinh Phạm Võng (của Nikàya) và kinh Phạm
Động của Trường A Hàm xác định rất rõ vị trí của
giới trong hệ thống giáo lý Phật Đà. Giới là
bước khởi đầu của năm bước đi: Giới, Định, Tuệ,
Giải thốt và Giải thốt tri kiến. Như vậy, nền
tảng của bước khởi đầu là giới, nếu đi sai lầm
hoặc rơi vào giới cấm thủ thì sẽ bị lạc đường và
không thể thực hiện bốn bước tiếp theo được.
Qua đến Bắc tạng (Đại thừa) thì giới mang ý
nghĩa rộng rãi và bao la hơn nhiều. Giới bao gồm
cả Định và Tuệ: trong Giới có Định, trong Định
có Tuệ…Biệt giải thốt giới ( hay Nhiếp luật nghi
giới) và Định cộng giới là thuộc Hữu lậu giới,
Đạo cộng giới thuộc về Tuệ giải thốt hay Vơ lậu
giới.
Nhìn chung, ta thấy có sự phân loại hơi khác
nhau trong trình bày về giới học của Bắc tạng
và Nam tạng. Nhưng khi suy xét thật kỹ thì rõ
ràng không có sự mâu thuẫn thật sự nào cả. Và
con đường tối hậu chung nhất của chúng là dẫn
dắt hành giả vào nẻo đường Giải thốt, Giác ngộ.
Đó mới chính là hạnh phúc thật sự và miên viễn
chính trên nền tảng thiết thực từ giới luật mang
lại. Cho nên mọi con đường đi đến cứu cánh không
ra ngồi giới. Xác chứng điều này, trong ba mươi
bảy phẩm trợ đạo, Thế Tơn dạy : “Giới là nền
tảng của bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Như ý
túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần và Tám
Thánh đạo phần. Ví như đất là nền tảng, không có
nó thì các loại động vật không thể di chuyển.
Cũng thế, không có Giới thì ba mươi bảy phẩm trợ
đạo tu tập không thể viên mãn được.”
II. ĐỊNH
Tiếng Pàli “Samàdhi” Hán dịch là Định, trong ý
nghĩa chung là Thiền định. “Định tức là Thiền
định, có khả năng thu nhiếp những tinh thần phân
tán hỗn loạn để thấy tự tính của mình, hiểu rõ
đạo lý, cho nên gọi là Định học”. Thiền định,
như vậy, cũng là một phương pháp tu tập làm cho
tâm vắng lặng, thanh tịnh, đưa tâm đến một sự
tập trung cao độ trong sự chuyên chú, thành cái
nhất điểm của tâm. Và trong sự tập trung chuyên
chú ấy cần phải có một đề mục hay một đối tượng
để làm cơ sở cho tâm quán sát. “Định nghĩa là
tập trung tâm ý vào một đề tài hay một đối tượng
duy nhất không được phân tán hay xao lãng”.
Pháp mơn Thiền định mà đức Thế Tơn đã dạy là do
tự Ngài đã thực hành, tu tập và chứng ngộ đó là
Tuệ định, là Trí tuệ minh sát (Vipassana). Và
ngài cũng đã dạy rằng phương pháp tu tập thiền
định mặc dù có thể khác nhau, nhưng đại thể là
điều thân, điều tức, điều tâm khiến cho tinh
thần tập trung mà quy về an tĩnh. Nghĩa là, tùy
theo căn cơ của từng người, người ta có thể đến
với chân lý bằng nhiều ngõ, bằng vơ lượng pháp
mơn, nhưng không ngồi mục đích là đi đến an vui,
giải thốt. Mặt khác, như chúng ta đều biết tính
chất thù thắng trong Phật học là Trí tuệ. Cho
nên Giới học, Định học cũng đều là Tuệ học. Các
luận sư thường phân biệt trong Thiền định có
Định và Tuệ và xem đó là hai con đường. Hành giả
thực hành theo con đường Định để có cái tâm an
tĩnh rồi kế đó đi vào con đường Tuệ. Có vị cho
rằng có thể đi thẳng vào Tuệ mà không cần thơng
qua Định. Tuy nhiên chúng ta cũng cần lưu ý rằng
con đường tu tập để có thể đạt được quả vị Giác
ngộ thì không thể đi ra ngồi Thiền định. Bởi lẽ,
Giới, Định và Tuệ là ba mặt của một thực tại.
Không thể có Tuệ nào mà không có Giới và Định.
Do đó pháp mơn thiền học của đức Phật đưa thẳng
đến Tuệ, đến giải thốt tất nhiên phải đi qua
Định. Như vậy, mọi con đường để đi vào quả vị
Giác Ngộ không thể không qua Định. Hành giả dẫu
có đi con đường nào nhưng đạt được quả vị Tối
thắng, thì quyết chắc rằng đó là con đường tu
tập ngang qua Định. Và có ai đó nói rằng, tơi
đang đi trên con đường của Định, nhưng mà không
đạt được quả vị Giác ngộ, thì ta khẳng định rằng
đó không phải là Thiền định. Như vậy, nếu cho
rằng Thiền định là một tơng phái trong nhiều
tơng phái của Phật giáo thì có lẽ đã có một sự
ngộ nhận nhất định nào đây!
Khi bàn về Định, chúng ta cũng không quên nói
đến việc tu tập Bát thiền hay Bát định hay còn
gọi là B