GIỚI LUẬT LÀ NỀN TẢNG CỦA NHÂN SINH
Thích Nữ Thánh Thanh
DẪN NHẬP
Khi Đức Phật còn tại
thế, hàng đệ tử nương đạo phong của Ngài tu tập
mà chứng ngộ. Bởi trí tuệ siêu việt của ngài đã
cảm hóa nhân sinh rất có hiệu quả. Do vậy chúng
ta càng tự hào biết chừng nào khi nhân loại hòa
nhập vào giáo lý thậm thâm vi diệu. Do vậy, Đạo
Phật rất cần sự có mặt của Tu sĩ vừa có Giới
hạnh, vừa có trình độ Phật học lẫn thế học thật
vững vàng mới cùng nhau xây dựng ngôi nhà Chánh
Pháp mãi mãi trường tồn, chúng Tăng hưng thịnh.
Quả thật, chỉ có Giới luật mới đưa con người lên
Bi-Trí-Dũng để đạt đến Chân-Thiện-Mỹ, uốn nắng
hàng con Phật trở thành mẩu người toàn diện
trong quá trình tu tập. Phần dẫn nhập được trình
bày 4 mục sau:
1. Lý do chọn đề tài
Đạo Phật có một sức sống
dồi dào bất động, sức sống ấy là Chánh Pháp cũng
chính là Giới. Giới là lộ trình sống thực của
chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất
đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi,
lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới
cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật
tự kỷ cương, một con người toàn diện trong sáng,
nâng cao trí thức, phát triển trí huệ. Thế nên,
con xin chọn đề tài: “GIỚI LÀ NỀN TẢNG ĐẠO ĐỨC
CỦA NHÂN SINH”
Bởi Giới luôn tạo chất
keo kết nối giữa con người và cuộc đời có cùng
một giải pháp, một phương thức đượm nhuần thắm
mãi, uốn nắn hàng con Phật trở thanh người mẫu
toàn diện trong quá trình tu tập.
Do vậy, đề tài này rất
thực tiễn trong cuộc sống, bởi nó tạo thành chân
lý sống động, soi sáng rạng ngời giữa nhân gian
và xua tan bóng tối vô minh của đêm trường tham
ái. Do đó, Giới trở thành ngọn đuốc sống trong
trái tim bất diệt của nhân sinh.
2. Phạm vi đề tài
Đề tài được nghiên cứu
trong phạm vi Kinh điển Nam truyền-Bắc
truyền-Luật tạng, các quyển Luật của Chư Tôn túc
nghiên cứu biên soạn. Chính sự nghiên cứu
Kinh-Luật của quí Ngài đã viết lên những lời dạy
cho chúng con thấm nhuần tư tưởng giải thoát.
Qua đó, cũng thể hiện được phong cách đạo hạnh
cao cả, đức khiêm cung của quí Ngài.
Theo gót quí Ngài, phạm
vi luận văn này con xin đi sâu nghiên cứu lĩnh
vực tư tưởng giải thoát tự lợi, lợi tha. Hơn nữa
Kinh – Luật – Luận thì quá rộng lớn mà luận văn
cho phép có hạn. Nên con lấy Giới làm nền tảng,
tập trung tư tưởng triển khai đề tài này qua các
mục sau:
Ả Khái quát về Giới
luật.
Ả Giới luật là nền tảng
đạo đức của nhân sinh.
Ả Tầm quan trọng của
Giới luật.
3. Cơ sở tài liệu
Để hoàn thành luận văn,
con dựa vào giáo lý của đức Phật không ngoài
Kinh – Luật – Luận, Kinh tạng Nikàya, một số
Kinh Luật Đại thừa. Cũng như các quyển Luật do
các bậc Tôn túc biên soạn, các tài liệu giảng
dạy của giảng sư. Cùng một số Luận văn cao cấp,
cao đẳng, những vần thơ mộc mạc chân tình, chứa
đầy ý nghĩa của các bậc Tiền bối. Cộng với sự
góp nhặt kiến thức thiển cận của con trong suốt
quá trình tu học của bản thân để triển khai nội
dung Luận văn này.
4. Phương pháp nghiên
cứu
Bài Luận văn được trình
bày theo phương pháp luận giải thích, chứng minh
cùng với phương pháp phân tích để làm sáng tỏ
những tính chất đặc thù của đề tài được nghiên
cứu. Quá trình này đòi hỏi người làm phải nghiên
cứu Kinh – Luật – Luận để có những ý tưởng phong
phú đặc sắc, nhưng phải đi sát vấn đề cần làm.
Mặc dù dựa trên tư tưởng
giáo lý của Phật giáo làm chuẩn, đồng thời cộng
thêm những tác phẩm, các văn bản rất có giá trị.
Nhưng người làm không mất đi nguyên tắc ý tưởng
của một bộ kinh, một tác phẩm hay , tác giả nào.
Người làm chỉ muốn làm rõ ràng các định nghĩa cụ
thể, để hiểu sâu chặc chẽ của luận văn.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I :
KHÁI QUÁT VỀ GIỚI LUẬT
1. NGUYÊN NHÂN ĐỨC PHẬT
CHẾ GIỚI
Đức Thế Tôn đã là bậc
Chánh Đẳng Chánh Giác làm bất cứ việc gì cũng
cẩn thận chu đáo, không sơ sót dù là một chuyện
nhỏ. Trong 12 năm đầu khi giáo đoàn thành lập
chúng tăng hầu hết phần đông là căn cơ trình độ
giáo pháp cao siêu là những bậc thánh A la hán,
thành phần tu tập đoạn dứt lậu hoặc. Những vị
căn cơ còn thấp kém chỉ nghe Đức Thế Tôn khai
thị vài lần liền chứng ngộ. Vì thế nếp sống của
chư Tăng thuở ấy hoàn toàn thanh tịnh. Tuy đức
Thế Tôn chưa chế Giới luật nhưng Giới vẫn có,
chỉ giới hạn được trình bày dưới dạng những hình
thức đơn giản tổng quát về mặt hộ trì các căn.
Thế Tôn dạy : “Tỳ kheo
khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, lưỡi nếm vị,
mũi ngửi hương, thân xúc chạm, ý duyên pháp, vị
ấy không nắm giữ tướng chung, cũng không nắm giữ
tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến cho các
căn không được duyên theo, không bị sanh tâm
tham ái, ưu bi và các bất thiện pháp khởi lên,
nếu có khởi lên Tỳ kheo liền chế ngự nguyên nhân
ấy sống thực hành hộ trì các căn” [1]
Đức Thế Tôn thực hành
qua giai đoạn thực hành Trung Đạo Đế, hành Bát
chánh đạo dưới hình thức, Tỳ kheo nên giữ Chánh
kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp,
Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh
định. Qua sự trình bày như trên chúng ta thấy
Giới luật tuy có mà chưa rõ ràng :
Trong Kinh Văn Thù Sư
vấn quyển ba nói : Tôn giả Văn Thù Sư Lợi bạch
Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, người tà kiến đời sau
sẽ phỉ báng rằng, nếu Đức Như Lai là bậc nhất
thiết trí tại sao phải chờ chúng tăng phạm tội
rồi mới chế Giới ?”
Đức Phật dạy : “Nếu Ta
chế Giới trước khi vi phạm, thì người đời sẽ phỉ
báng ta. Họ sẽ bảo rằng tôi không có gây tội,
sao lại cưỡng chế ra Giới luật. Đây không phải
là nhất thiết trí. Như thế là Như Lai không có
tâm từ bi, không lợi lạc, không bảo bọc chúng
sanh. Như người không có con lại nói rằng sẽ
sanh con vào giờ ấy. Chuyện ấy không thể tin, vì
không chân thật. Nếu là sự thấy đứa con người ta
mới tin được, cũng thế hữu lậu chưa sanh, tội
chưa làm, trời người chưa thấy làm sao chế Giới
được. Cho nên cần phải thấy rõ phạm tội, rồi sau
đức Thế Tôn mới chế Giới, đây là đúng thời. Này
Văn Thù Sư Lợi như y sĩ biết là nguyên nhân tật
bịnh và biết thuốc nào ngọt để trị bịnh ấy”.
Từ đó, dần dần về sau
trong Giáo đoàn Tăng sanh các hữu lậu với mục
đích tâm họ không chân chánh. Do đó tăng đoàn đã
xảy ra nhiều trường hợp nhiều Tỳ kheo thiếu kỷ
cương nề nếp, đời sống buông lung phóng túng, vi
phạm tịnh hạnh … khiến cho Giáo đoàn của Phật bị
mang tiếng xấu lây, lại có nhiều ý kiến mâu
thuẫn. Để giải quyết những vấn đề đó, Thế Tôn
bắt đầu chế Giới để đối trị những lỗi lầm đã xảy
ra, ngăn ngừa hành vi bất thiện pháp sắp vi phạm
hay đã phạm thì phải sám hối, đồng thời duy trì
uy tín của Tăng đoàn.
Giới luật được Đức Thế
Tôn chế vào khoảng năm thứ 13 sau khi Đức Phật
thành đạo, nhưng tùy phạm tùy kiết, những Giới
không nhất định phải chế Giới từ 3 – 4 lần mới
thành một Giới. Đây là một trường hợp điển hình
nói lên tính linh động và tầm mở rộng của Giới
Luật. Trường hợp khác điển hình giới dâm, phải
trải qua ba giai đoạn mới thành:
1. Giai đọan thứ nhất :
Tôn Giả Tu Đề Na con trai của thôn trưởng Ca Lan
Đa, do sự yêu cầu của người mẹ phải để lại đứa
con (trai) để nối (dòi) dõi tông đường, nên Tôn
giả đã hành dâm với người vợ cũ. Sau sự việc xảy
ra Tôn Giả bị lương tâm cắn rứt, cảm thấy hổ
thẹn với những Tỳ kheo thanh tịnh nên thú nhận
tội với chư Tăng, chư Tăng bạch Phật, Phật quở
trách rồi chế giới: “Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di
không được ở chung”.
2. Giai đoạn thứ hai :
Một Tỳ kheo chán nản đời sống phạm hạnh, về nhà
hành dâm với vợ cũ. Vì trong Giới Phật chế không
cho trường hợp chán nản đời sống phạm hạnh. Do
đó, Thế Tôn chế thêm “Tỳ kheo nào đã trì học xứ
và chấp nhận đời sống của Tỳ kheo, chưa hoàn
giới sút kém nhưng không phát lồ, hành dâm dục
Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được sống
chung”.
3. Giai đoạn thứ ba :
Một Tỳ kheo sống trong rừng, bị thiên ma nhiễu
loạn, nên đã hành dâm với con vượn cái. Nghĩ
rằng Giới luật đức Thế Tôn dạy không có trường
hợp cùng với loài súc sanh, thêm lần nữa Đức Thế
Tôn bổ túc thêm Giới trên cho đầy đủ “Tỳ kheo
nào đã thọ trì học xứ và chấp nhận đời sống của
Tỳ kheo chưa hoàn giới, giới sút kém những không
phát lồ mà hành pháp dâm dục, cho đến cùng với
loài súc sanh, Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không
được sống chung”.
Như thế cho chúng ta
nhận xét Giới luật đức Thế Tôn chế tùy theo hoàn
cảnh đệ tử vi phạm mà chế thành Giới. Sau đó,
đức Thế Tôn nói rõ lý do Giới được thiết lập :
1. Để Tăng chúng được cực thịnh.
2. Để Tăng chúng sống được an ổn.
3. Để kềm chế các Tỳ kheo khó kềm chế.
4. Để các Tỳ kheo sống tâm được an ổn.
5. Để chế ngự các lậu hoặc ngay trong hiện
tại.
6. Để chặn đứng các lậu hoặc trong tương lai.
7. Để đem lại tịnh tín tăng cho những người
không tin.
8. Để làm tịnh tín tăng trưởng cho những người
có lòng tin.
9. Để diệu pháp được tồn tại.
10. Để giới luật được chấp nhận.
Khi Đức Thế Tôn mới nhập
diệt những vị Thánh tăng do thấu triệt chơn lý
nên bình tĩnh đón nhận sự biệt ly ấy, những vị
hữu học thì khóc lóc, đấm ngực kêu la … Nhưng
cũng có những vị Tỳ kheo do không phải hảo tâm
xuất gia và đã lớn tuổi như ông Sudhadda sung
sướng reo mừng mà nói: “Chúng ta đã giải thoát
hoàn toàn vị đại sa môn ấy, chúng ta đã bị phiền
não nhiều, quấy rầy những lời! Làm thế này không
hợp với các ngươi, làm như thế kia không hợp với
đạo, nay chúng ta muốn gì chúng ta làm”.
Thật vô cùng cảm thương
khi nghe những lời ấy. Sau khi làm lễ trà Tỳ
nhục thể đức Thế Tôn xong, Trưởng lão Ca Diếp
triệu tập 500 vị A la hán tại hang Thất Điệp để
kiết tập Kinh Luật. Trong hội nghị ấy, Tôn giả
Ca Diếp làm chủ tọa, Tôn giả A nan trùng tuyên
Kinh Tạng, Tôn giả Ưu Ba Ly tuyên đọc luật hơn
80 lần. Đến hơn 100 năm sau Trưởng Lão Da Xá đến
Phệ Xà Ly thấy nhóm Bạt Kỳ xướng 10 điều phi
pháp, lo sợ Phật pháp sẽ suy tàn, Trưởng Lão hội
họp các vị tôn túc để chấn chỉnh lại Giới Luật,
đây là lần thứ hai kiết tập Kinh Luật.
Đức Thế Tôn thị hiện
trên cõi đời vị mục đích giải thoát chúng sanh
ra khỏi dòng sanh tử, nên Giới luật của Ngài
không có tính cách cưỡng chế, bó buộc mà hoàn
toàn vì an lạc của chúng đệ tử. Chính nhờ những
Giới pháp đó mà Đức Thế Tôn đã tu hành đạt thành
Chánh giác và đem sự sáng suốt truyền lại cho
chúng sanh coi như Giới thân Huệ mạng của chính
mình. Bởi thế trước khi nhập Niết Bàn, đức Thế
Tôn đã ân cần Di giáo: “Sau khi ta diệt độ, các
ngươi phải tôn trọng giữ gìn Ba-la-đề-mộc-xoa,
như người nghèo gặp được của báu, như qua sông
đặng ghe, như người bệnh gặp thầy thuốc v.v…
phải biết pháp này là Thầy của các ngươi, dù ta
có trụ thế cũng không ngoài pháp gì khác”.
Như chúng ta nhận xét
qua lời giải trong các kinh Đức Thế Tôn giảng
dạy xong lại nói rằng : “Tất cả pháp ta nói ra
chỉ là phương tiện khi tu hành xong hãy buông
bỏ”. Còn đang thời tu hành dù hành giả tu pháp
nào đi nữa phải lấy Giới luật làm đầu để giữ gìn
phạm hạnh. Nếu hành giả đang thời hành đạo Giới
thể đã mất, thời Giới thân Huệ mạng cũng không
còn.
2. ĐỊNH NGHĨA GIỚI LUẬT
Giới học : Giới tiếng
Phạn là SiLa, phiên âm thành Thi La. Trung Hoa
dịch là Thanh Lương mát mẻ. Do công năng hành
giả giữ gìn Giới nên ngăn ngừa ba nghiệp bất
thiện của thân, khẩu, ý.
Giới còn gọi là
Ba-la-đề-mộc-xoa phiên âm từ tiếng Phạn
Pàtimokha có nghĩa là hướng đến. Nghĩa bóng là
hành giả cần nương về nội tâm tu hành tìm ra con
đường giải thoát. Giải thoát có hai nghĩa: Biệt
giải thoát và Biệt biệt giải thoát.
Luật theo tiếng Phạn là
Vinàya phiên âm là Tỳ Nại Da. Trung Hoa dịch là
điều phục, có hai nghĩa : nghĩa đen là “khử” là
“chân”, nghĩa bóng là loại bỏ bao nhiêu các việc
xấu quấy để giữ lại cho cái chơn, cho nên gọi là
hàng phục tâm. Chấm dứt tâm vọng động, đừng cho
tâm phát khởi, nên gọi là chân tâm. Như hàng
phục giới liền sanh trí huệ.
Luật cũng dịch là Thiện
Trị vì hành giả khéo chế ngự các hạnh bất thiện
của mình, còn điều phục hết thảy bất thiện hạnh
cho chúng sanh. Như vậy Giới luật còn nghĩa rộng
là hòa hợp chúng, sống trong đoàn thể thanh tịnh
tăng luôn biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Cũng
là nền tảng muôn pháp lành, điều phục nghiệp xấu
ác của thân khẩu ý, đoạn trừ phiền não của tham,
sân, si. Nhờ Giới học mà hành giả tu hành đạt
quả Tịch diệt Niết Bàn.
Giới Luật : dựa trên
công dụng mà có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng
nghĩa chính của Giới Luật là phân định phán đoán
của các tội khinh, trọng, khai, giá, trì phạm để
ngăn ngừa những tội lỗi của thân tâm. Bởi thế
mới nói Giới luật của đức Thế Tôn chế ra chỉ là
“Tùy phạm tùy kiết”. Nghĩa là có người gian gốc
độ khác nhau mà hành trì. Hơn nữa, ranh giới
giữa người vi phạm và người tuân thủ pháp luật
cách nhau chỉ một niệm đúng sai, vậy cần phải có
chuẩn mực để phân định rõ ràng. Cũng thế, trong
Đoàn thể tu hành Phật giáo cũng cần phải sử dụng
đến Giới luật để phân minh, khinh, trọng tùy
theo hành giả vi phạm lỗi lầm, nên thỉnh Thế Tôn
Kiết Giới.
3. Nội dung của Giới
Trong khế Kinh, đức Phật
dạy : “Dục đắc lợi tha, tiện tu tự lợi” nghĩa là
muốn làm cho người khác lợi lạc thì chính mình
trước nhất phải lợi lạc. Cho nên, Tổ Quy Sơn
dạy: “Phù xuất gia giả phát túc siêu phương,
tâm hình dị tục thiệu long Thánh chủng, chấn
nhiếp ma quân, dụng báo Tứ ân, bạt tế Tam hữu …”
Như thế đủ thấy, một
người xuất gia đâu phải chuyện tầm thường, mà
mang trong mình một trọng trách nặng nề, là
khuôn mẫu của nhơn thiên, nếu không lấy giới
luật làm trang nghiêm thì có xứng đáng là một vị
xuất gia không? Song, Giới luật là bước đầu tiên
làm nền tảng để đạt được mục đích mĩ mãn nếu
không có “Chỉ trì Giới và Tác trì Giới” thì làm
sao đạt được lý tưởng của một vị Tỳ kheo.
3.1 Chỉ trì Giới
Giới Tỳ kheo có thể được
gọi là Giới Cụ Túc. Là vì giới ấy thể hiện trọn
vẹn đời sống mẫu mực của một thánh quả A la hán.
Cho nên, Giới Cụ túc của Tỳ kheo là 250 giới và
Tỳ kheo ni 348 giới. Điều này được ghi rõ trong
Giới bổn Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, như vậy danh mục
của giới bổn Pàtimokha được chia như sau :
a. Pháp Ba La Di
(Parajika) :
Dịch là khí, nghĩa là bỏ
hẳn ra ngoài thánh chúng, không được cùng chúng
thuyết Giới, Yết ma, Bố tát, Tự tứ v.v… tất cả
công đức đều bị quăng bỏ. Cũng dịch là vô dư
nghĩa là không có pháp gì chữa trị. Vi phạm Giới
này không có chỗ sám hối cũng dịch là Cực Ác,
nghĩa là không có pháp nào nặng hơn pháp này,
lại còn có nghĩa lui sụt : phạm Giới này đạo quả
không có phần, không được ở chung; Đọa lạc : sau
khi xả thân chịu đọa lạc. Cũng dịch là Tha Thắng
vì khi phạm Giới này thì tất cả mọi người đều
khi rẻ. Hơn nữa, người xuất gia là đoạn trừ
phiền não, hàng phục ma quân, nhưng lại bị ma
quân hàng phục, làm mất đi sự tôn trọng, tôn
kính trước kia. Như vậy, Ta La bị chặt đầu không
tái sanh nên gọi là Đoạn đầu, hoặc ví như cây
kim bị sứt lỗ không còn dùng được, hay tảng đá
bị bể làm hai. Cũng vậy, người phạm giới này mất
đi phẩm hạnh Tỳ kheo nên dịch là Hạt giống cháy,
nghĩa là khi gieo hạt giống xuống ruộng tốt,
siêng năng tuới bón, mà không sanh được mầm.
Cũng dịch là Tự Đọa phụ xứ, nghĩa là tự mình sa
vào chỗ không vừa ý. Thiên này Tỳ kheo có 4 và
Tỳ kheo ni có 8 :
b. Pháp Tăng già bà thi
sa (Sanghàvaseva) :
Tăng Già Bà Thi Sa dịch
là Tăng Tàn, loại này Tỳ kheo có 13 và Tỳ kheo
ni có 17.
Trong 13 pháp của Tỳ
kheo, thì 9 Giới đầu vừa làm vừa phạm, 4 Giới
sau ba phen can giám không bỏ mới phạm. Tỳ kheo
phạm mỗi pháp, biết mà che dấu phải cho hành
biệt trụ, che giấu mấy ngày là biệt trụ mấy
ngày, và sau đó cho hành sáu đêm Ma-na-đỏa và
khi ấy mới xuất tội, phải đủ túc số 20 Tăng.
Trong 17 pháp của Tỳ
kheo Ni, 9 Giới trước thì vừa làm vừa phạm, 8
Giới sau ba phen can giám không bỏ mới phạm mỗi
pháp, biết mà che giấu phải cho hành biệt trú,
vì bản chất yếu sau đó mới xuất tội. Phải trong
2 bộ đại tăng đủ túc số 40 người (20 Tỳ Kheo và
20 Tỳ Kheo ni)
c. Pháp bất định
(Anivaka) :
Tỳ kheo có 2, Tỳ kheo ni
không có. Đây là hai trường hợp phạm Giới của
một Tỳ kheo do một cư sĩ trụ tín chứng từ sơ quả
đến đệ tam quả, báo cho tăng chúng biết, bấy giờ
Tăng gì hợp lại để định tội vị Tỳ kheo ấy, do
chưa quyết định được tội gì cho nên phải đưa ra
sự việc ấy giữa Tăng để định tội, cho nên gọi là
Pháp Bất Định.
d. Pháp Ni tát kỳ ba dật
đề (Nissgiỳa Pàcittya) :
Ni tát kỳ ba dật đề dịch
là Xả Đọa, ở đây Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đều có 30
pháp. Phần lớn pháp này liên quan đến các đồ
dùng cần thiết như áo, tiền bạc để mua sắm bình
bát, dược phẩm trị bệnh, v.v… mà một số vị chỉ
có thể giữ trong một số ngày nhất định. Nếu vi
phạm giới này, vị ấy phải ra trước Tăng để xả bỏ
các vật dụng trên và sau đó phải thành tâm sám
hối, nếu không vị ấy sẽ phạm tội đọa.
e. Pháp Ba dật đề
(Pàcittya) :
Ba dật đề dịch là Đọa, ở
loại này Tỳ kheo có 90 pháp, Tỳ kheo ni có 178
pháp. Đây là loại Giới có liên quan đến cách nói
năng, tiếp xúc đối xử với các Tỳ kheo và Tỳ kheo
ni, thái độ vào nhà cư sĩ, cách xử sự đối với
người ngoài và một số điều sinh hoạt thường ngày
như ăn uống, ngủ nghỉ v.v… Nếu vị nào phạm Giới
này cần phải sám hối trước Tăng chúng, nếu không
sám hối thì bị phạm tội đọa.
f. Pháp Ba la đề đề xá
ni (Patidesaniya) :
Loại này Tỳ kheo có 4,
Tỳ kheo ni có 8. Ba La Đề Xá Ni dịch là hướng bỉ
hối, theo cảnh mà đối trị lập tên. Nếu vị nào
phạm Giới này thì phải đến riêng trước vị Tỳ
kheo khác mà sám hối, không được để lâu. Tội này
khác hơn các tội khác là vì ở đây chỉ mong cầu
lòng tham ăn uống, làm hư hoại lòng tin của
người khác.
g. Pháp chúng học
(Sekhiyà Dhamma) :
Chúng học là dịch từ
Sekhiỳa, nguyên nghĩa là huấn luyện, học tập.
Đây là những pháp học mà vị Tỳ kheo phải học tập
và thực hành trong cuộc sống hằng ngày. Đó là
những điều khoản đi đứng, nằm ngồi, ăn uống v.v…
Sự thể hiện tác phong đạo đức của một vị Tỳ kheo
sống đời sống phạm hạnh. Tuy nhiên, các Giới
điều này không mấy quan trọng nếu vi phạm Giới
này thì chỉ bị xem là những hành vi sai quấy nhỏ
nhặt, nhưng vì bao gồm trong sự sinh hoạt hàng
ngày của Tỳ kheo nên đức Phật phải quyết định
đưa ra Giới bổn. Nếu vô tình vi phạm phải tự sám
hối, nếu cố ý phạm phải đến trước Tỳ kheo trong
cùng một trú xứ mà sám hối cho ba nghiệp thanh
tịnh. Loại này Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đều có 100
pháp.
h. Pháp diệt tránh
(Adbikarana Samathà) :
Từ Adbikarana có nghĩa
là tố tụng, tranh cãi, kiện thưa. Từ Samathà có
nghĩa là sự im lặng, ngưng bặt. Pháp diệt tránh
này mang tính chất luận, đây là những nguyên tắc
để giải quyết sự bất đồng, tranh luận trong Tăng
đoàn.
3.2 Về bảy Tụ :
a. Tụ Ba La Di : đứng về
tên giới gọi là Thiên, đứng về bên tội thì gọi
là tụ. Tỳ kheo nào mà phạm vào mỗi giới trong Ba
La Di kết tội thuộc về tội Ba La Di.
b. Tụ Tăng Già Bà Thi Sa
: Tỳ kheo nào phạm vào mỗi giới trong thiên Tăng
già bà thi sa thì kết tội Tăng già bà thi sa.
c. Tụ thâu lan giá : là
phương tiện tội (tức là nhân tội) của Ba la di
và Tăng Tàn.
d. Tụ ba dật đề : Tỳ
kheo nào phạm vào mỗi pháp trong thiên Ba dật
đề, kết tội thuộc tụ Ba dật đề.
e. Tụ ba la đề đề xá ni
: Phạm mỗi pháp trong thiên Ba đề đề xá ni.
f. Tụ ác tác : Phạm mỗi
pháp trong một 100 pháp chúng học, kết tội Đột
kiết la, nhưng đứng về thân nghiệp tạo tác thì
kết tội thuộc Ác tác (tội nhẹ thuộc về thân).
g. Tụ ác thuyết : đứng
về khẩu nghiệp (tội nhẹ thuộc về khẩu). Riêng Tỳ
kheo ni đức Phật truyền thêm Bát Kỉnh Pháp :
1. Tỳ kheo ni dù 100
tuổi khi thấy Tỳ kheo dù mới thọ giới phải đứng
dậy chào đón, lễ bái, thỉnh ngồi.
2. Không được mắng Tỳ
kheo.
3. Không được nêu tội Tỳ
kheo, không được tác pháp ức niệm, tự ngôn tự
đối với Tỳ kheo, không được ngăn Tỳ kheo xét
tội, ngăn thuyết giới, ngăn Tự tứ và nói lỗi của
Tỳ kheo, nhưng Tỳ kheo được nói lỗi của Tỳ kheo
ni.
4. Phải thỉnh Tỳ kheo
cầu thọ Cụ túc giới.
5. Nếu phạm Tăng Tàn,
phải ở giữa hai bộ đại Tăng nữa thánh hành ý hỷ.
6. Nửa tháng phải đến Tỳ
kheo Tăng cầu thỉnh giáo thọ.
7. Không được Kiết hạ an
cư ở chỗ không có Tỳ kheo.
8. Sau khi An cư phải
đến giữa Tỳ kheo cầu ba việc Tự tứ là thấy,
nghe, nghi.
3.3 Bảy pháp Diệt tránh
:
Đây là bảy việc nhằm dứt
bốn sự tránh trong Tăng chúng. Mặc dù các nguyên
tắc sống chung đặt trên nền tảng hòa hợp, nhưng
trong đời sống cộng đồng không sao tránh khỏi
những xáo trộn, phiền toái xảy ra mà thuật ngữ
và Luật tạng gọi là Tránh Sự.
Qua đó, đức Phật phân
loại một cách hệ thống do các đệ tử tranh chấp.
Phân loại này có bốn, gọi là bốn Tránh sự.
a. Ngôn tránh : Sự tranh
chấp xảy ra do tranh luận, cãi nhau về một vấn
đề thông thường, các Tỳ kheo hay tranh cãi về
mười tám việc đó là: Pháp phi pháp, luật phi
luật, phạm phi phạm, trọng khinh, hữu tàn vô
tàn, thô ác phi thô ác, thường hành phi thường
hành, chế phi chế, thuyết phi thuyết.
b. Mích tránh : Sự tranh
chấp do tìm tòi, nói chính xác hơn là vạch đường
tìm lối, căn cứ trên những sự kiện vụn vặt để
quy thành chuyện lớn. Tránh sự này do bởi một vị
Tỳ kheo khác không nhất thiết và vu khống (vì ác
ý) nhưng cũng không đúng hẳn sự thật hoàn toàn
(vì thiện ý, nhưng nhận định sai dữ kiện).
c. Phạm tránh : Tránh sự
do phạm tội. Tội ở đây chỉ sự vi phạm các học xứ
trong giới bổn. Trong đó, trừ tội phạm Ba la di
không thể sám hối, còn lại tùy theo nặng nhẹ mà
Tăng xử trị. Giả sử có Tỳ kheo nào bao che tội
lỗi của vị ấy, cũng là một vi phạm cần xử trị.
Như vậy, tránh sự này không có nghĩa là tranh
chấp, đơn giản đó là sự việc không tốt đẹp đã
xảy ra, cần dập tắt để duy trì sinh mạng thanh
tịnh của Tăng.
d. Sự tránh : Sự ở đây
chỉ các tăng sự, bao gồm nhiều lĩnh vực, hoặc
liên hệ cá nhân như truyền giới sám hối, hoặc
liên hệ cụ thể như Bố tát, Tự tứ … Nghĩa vụ hay
phân sự (tăng sự) nào được Tăng thực hiện không
như pháp, đều trở thành tránh sự, đều phải đem
ra thảo luận và giải quyết.
Vì vậy trong đời sống
cộng đồng nếu có tránh sự khởi lên cần phải giải
quyết để duy trì đời sống thanh tịnh và hòa hợp.
Do đó, Thất Diệt tránh pháp được xem là những
phương pháp để dập tắt các cuộc tranh chấp, đưa
tới được hóa giải được trình bày như sau :
* Hiện tiền Tỳ ni (Sammukha Vinaya) : Theo
nguyên tắc này, tất cả những phát biểu về cuộc
tranh chấp phải được nói ra trong đại chúng với
sự có mặt của hai phía tranh chấp, tránh tất cả
những sự phát biểu và bàn bạc riêng tư. Những
phát biểu thường có tác dụng gây thêm sứt mẻ và
hận thù.
* Ức niệm Tỳ ni (Sati Vinaya) : Ức niệm tức
là nhớ lại trong buổi họp mặt sự hiện diện của
cả hai phía tranh chấp. Các đương sự phải hồi
tưởng lại những gì đã thực sự xảy ra và tuần tự
trình bày tất cả những điều đó theo trí nhớ của
mình, với tất cả những chi tiết và nếu có thể
thì đưa ra những bằng chứng chính xác. Đại chúng
sẽ im lặng lắng nghe cả hai bên để có mọi dữ
kiện mà thẩm sát vấn đề.
* Bất si Tỳ ni (Amudha Vinaya) : Bất si có
nghĩa là không cứng đầu, không ngu dốt, chỉ vì
tâm trí không bình thường. Trong buổi họp mặt có
sự hiện diện của cả hai phía tranh chấp, đại
chúng trông chờ các đương sự bày tỏ thiện chí
hòa giải của mình với tất cả khả năng của mình.
Thái độ ngoan cố được xem là một điểm tiêu cực
căn bản. Trong từng trường hợp đương sự nêu lên
lý do là vì mình lúc đó tâm trí bất thường, cho
nên đã vô tình phạm vào quy luật thì đại chúng
phải nương vào đó để giảm luật án cho đẹp lòng
đôi bên.
* Tự ngôn Tỳ ni (Tatsvabhaisya Vinaya) : Tự
ngôn là tự mình nói ra, tự mình công nhận sự vô
ý, sự vụng về hoặc sự yếu đuối của mình, không
cần sự hạch hỏi của đối phương hay của đại
chúng. Đại chúng trong đó đôi bên nói ra những
nhược điểm của mình, dù là những nhược điểm nhỏ
nhặt. Tự nhận lỗi mình tức là khởi sự cho cuộc
sống xuống kỳ tranh chấp. Điều này sẽ khuyến
khích đối phương cũng làm như vậy để cuối cùng
thiện chí của hai bên sẽ đủ sức đưa đến hòa giải
cho nhau.
* Đa ngữ Tỳ ni (Pratijnakaraka Vinaya) : Đa
ngữ là lấy biểu quyết bằng đa số. Sau khi đã
nghe hết tất cả hai bên đã được chứng kiến nổ
lực và thiện chí của hai bên, đại chúng sẽ biểu
quyết bằng cách đầu phiếu, mà thuật ngữ gọi là
Hành xà la hay Hành Trù. Thể thức đầu phiếu có
ba :
- Một là hiển
lộ, tức là bỏ phiếu công khai.
- Hai là phú
tàng, tức là bỏ phiếu kín.
- Ba là nhĩ
ngữ, tức là rỉ tai.
Thể thức đầu phiếu hoàn
toàn do người chủ trì Hành xà la điều động theo
quan điểm riêng của mình.
* Tội xứ sở Tỳ ni (Yadhuyasikiya Vinaya) :
Đây là án lệnh tối hậu về tội tướng và cách thức
hối cải được đưa ra đại chúng để quyết định bằng
phương pháp bạch tứ yết ma, nghĩa là một tuyên
cáo rồi hỏi lại ba lần, nếu trong ba lần này mà
tất cả đều im lặng không ai lên tiếng phản đối
thì bản án lệnh có hiệu lực. Tất nhiên là các
đương sự chỉ có thể tuân hành chứ không có quyền
phản đối, bởi vì cả hai bên lúc đầu đã phát
nguyện tin tưởng vào phán quyết của đại chúng.
* Thảo phú địa Tỳ ni (Tonastaraka Vinaya) :
Thảo phú địa là rơm cỏ phủ lên đất sình lầy.
Trong buổi họp mặt có sự hiện diện của hai bên
tranh chấp, hai vị Trưởng lão đức độ được chỉ
định để bảo trợ cho hai phía. Các vị này thường
được đại chúng tôn kính và nghe lời. Các Ngài
ngồi chăm chú nghe, rất ít nói nhưng khi nói thì
ảnh hưởng rất lớn. Tiếng nói của các vị trưởng
lão này nhằm hàn gắn những vết thương, kêu gọi
thiện chí, hòa giải và tha thứ cũng như phủ rơm
lên mặt đất sình lầy để cho mọi người bước lên
mà không bị lấm chân. Điều này chỉ thấy rằng, cả
hai phía đều không đáng kể mất đi sự gay go và
đại chúng sẽ đi đến một án lệnh nhẹ nhàng làm
vơi dịu mát lòng cả hai bên, sau đó cũng không
ai nhắc lại chuyện cũ nữa.
Qua đó, ta có một nhận
định rằng, bảy pháp Diệt tránh nằm trong bổn
Giới, vì đó cũng là một quy định. Quy định này
nêu các nghĩa vụ mà Tỳ kheo phải Tác trì. Một là
nghĩa vụ đối với bản thân, khi tránh sự phát
khởi với chính mình thì phải diệt trừ đúng lúc
theo pháp Diệt tránh đã định. Hai là nghĩa vụ
đối với chúng Tăng khi có sự tránh khởi lên nơi
một vị Tỳ kheo khác, sinh mạng một phần của Tăng
bị khuyết. Do đó, Tỳ kheo nào biết rõ như vậy
phải áp dụng pháp Diệt tránh để diệt trừ. Với
mục đích phục hồi nguyên thể thanh tịnh và hòa
hợp của Tăng như vậy. Thất Diệt Tránh Pháp nêu
lên được nghĩa của tác trì và cá nhân mỗi Tỳ
kheo không nổ lực tu tập thánh đạo phải ý thức
rằng nghĩa vụ tác trì của mình bằng tinh thần tự
giác, giác tha viên mãn.
3.4 Mười Cú Nghĩa :
Giới luật của đức Phật
chế ra đều có đủ mười cú nghĩa để cho thấy tính
quan trọng của Giới pháp.
1. Nhiếp Thủ Ư Tăng :
Giới luật Phật chế là giành cho Tăng thọ trì.
Nếu người ở chùa lâu mà không thọ trì Giới pháp
thì cũng không gọi là Tăng. Do lấy Giới luật
trang nghiêm khiến cư sĩ sanh ngưỡng mộ thâm tín
Phật pháp, xuất gia thọ Giới.
2. Linh Tăng hoan hỷ :
Nhờ Giới luật mà chúng Tăng hành trì nghiêm túc,
có Giới hạnh oai nghi, sống đời sống thanh tịnh,
chính điều này làm Tăng hoan hỷ.
3. Linh Tăng an ổn : Khi
chúng Tăng có Giới pháp làm kềm chế sự lộng hành
sai trái của mỗi người, do đó không ai làm phiền
ai cả.
4. Linh vị tín giả tín :
Vị Tăng có Giới pháp gây niềm tin Tam Bảo cho
những người chưa có niềm tin.
5. Dĩ tín giả linh tăng
trưởng : Vị Tăng có Giới pháp làm cho người có
niềm tin tăng trưởng.
6. Nan điều giả linh
điều : Điều phục những người có tánh ương ngạnh,
căn cứ vào Giới luật mà chữa trị.
7. Tàm quý giả đắc an
lạc : làm cho người tàm quý được an lạc.
8. Đoạn hiện tại hữu lậu
: ngăn trừ được những điều hữu lậu lo âu phiền
muộn, sợ hãi đang phát sanh trong hiện tại.
9. Đoạn vị lai hữu lậu :
ngăn chặn đề phòng những lậu hoặc và phiền não
bất Thiện pháp trong đời vị lai không cho phát
sanh.
10. Linh chánh pháp cửu
trụ : làm cho Chánh pháp trường tồn.
Qua đó, Ngài Thái Hư tóm
tắt thành ba điều :
1. Tri liệt tính để
thành thánh đức : Mọi người vốn có tánh đức cao
thượng, nhưng vì bị những thứ tánh chấp, tâm
tính tầm thường, hèn mọn che lấp không phát hiện
ra, chỉ khi nào hành trì Giới pháp thì mới thay
đổi, từ đó thành tựu được đức tánh cao thượng.
2. Điều tiểu kỷ để thành
đại quần : Mọi người đều có cái ta riêng hẹp hòi
ích kỷ. Khi hành trì Giới pháp, nó điều hòa cái
ta nhỏ bé thành cái ta chung, lấy đại chúng làm
ta, cùng mục đích giải thoát và độ sanh.
3. Khiến chánh pháp
trường tồn : người có trang nghiêm Giới luật mới
có khả năng hoằng dương Đạo pháp.
3.5 Tác trì Giới :
Yết ma là gì? Yết ma
(Karma) dịch là nghiệp, có nghĩa là “tác pháp
biện sự”. Công việc xử lý trong Tăng đoàn đều
lấy lợi ích tập thể làm tiêu chuẩn, trên phương
thức xử lý cũng đặc biệt tôn trọng ý kiến của
chúng Tăng. Mỗi hội nghị xử kiện đều lấy ý kiến
của chúng Tăng và tôn trọng biện pháp chủ trương
của Trưởng lão để thống nhất các sự việc.
Song trong phạm vị Tăng
già, thành phần chủ yếu là Tỳ kheo và Tỳ kheo
ni. Yếu tố xác định tư cách không chỉ là chức
năng mà còn là bản chất, vì thế sự thanh tịnh và
tác thành của mỗi thành viên trong Tăng già Phật
giáo đều dựa trên căn bản của các pháp yết ma.
Theo cuốn “Yết ma yếu chỉ” của Hòa Thượng Thích
Trí Thủ phân chia thì tổng quát có ba loại :
1. Tâm niệm Yết ma : Là
tự mình nghĩ và nói lên lời, không cần phải có
người thứ hai nghe như tâm niệm bố tát, tâm niệm
tự tứ, v.v…
2. Đối thú Yết ma : Là
sự tác pháp giữa hai hay ba người, một người
nói, một hoặc hai người nghe. Trong thực chất cả
hai loại trên không phải là yết ma, nhưng chỉ do
sự tác pháp tuân hành theo những quy định của
Tăng, duy trì có điều là không hội đủ túc số
Tăng để thành Tăng pháp nên cũng được xem là một
pháp Yết ma.
3. Tăng Yết ma : có ba
loại :
- Đơn bạch : chỉ có một
lần tác bạch giữa chúng Tăng, tức thì Tăng pháp
được thành tựu.
- Bạch nhị : lần bạch,
một lần yết ma thì Tăng sự được thành tựu.
- Bạch tứ : một lần bạch
ba lần yết ma thì việc tác pháp mới thành tựu.
Theo thống kê tổng quát
của yết ma thì có 48 pháp đơn bạch yết ma.
Thường các Tăng sự trong 48 pháp này vốn đơn
giản, chỉ cần một lần tác bạch là đủ.
Có 78 pháp Bạch nhị yết
ma, các sự này có tầm quan trọng hơn loại trên,
vì vậy, sau khi tác bạch xong cần phải có sự
biểu quyết một lần của Tăng.
Có 39 pháp Bạch tứ yết
ma, tức là một lần bạch, ba lần biểu quyết. Đây
là trường hợp của những Tăng sự quan trọng nhất.
Tăng sự chỉ thành tựu sau một lần tác bạch và ba
lần biểu quyết thuận.
Tóm lại : Tăng già Yết
ma là hành sự của Tăng căn cứ trên nền tảng là
sự thanh tịnh và hòa hợp, gồm những nguyên tắc
đòi hỏi phải tuyệt đối tuân theo.
4. Tác dụng của Giới
luật
Đặc tính của Giới là đem
sự an vui hạnh phúc cho mình và cho người, điều
hòa được sinh hoạt tập thể của Tăng già, tạo
niềm tin cho kẻ khác, đem lại lợi ích an lạc
giải thoát cho tự thân người hành trì Giới luật.
Vì thế, đề cập đến lợi ích của Giới, cho nên đức
Phật dạy rằng : có 5 điều lợi ích cho những ai
giữ Giới và sống đúng theo Giới luật ấy là :
1. Những người giữ Giới
sống theo Giới luật sẽ có tiền của, tài sản rất
nhiều vì sống không phóng dật.
2. Người giữ giới sống
theo Giới luật được tiếng tốt đồn xa.
3. Người giữ giới sống
theo Giới luật, khi đi vào các hội chúng nào
người ấy đi vào với tâm không sợ hãi, không bối
rối.
4. Người giữ giới sống
theo Giới luật, sau khi chết tâm hồn vị ấy không
rối loạn.
5. Nguời giữ giới sống
theo Giới luật, sau khi thân hoại mạng chung sẽ
sanh vào thiện thú Thiên giới.
Qua lời dạy của đức
Phật, chúng ta thấy lợi ích của Giới luật vô
cùng lớn lao đối với những ai hành trì nó. Là
một Tu sĩ chúng ta không thể thiếu Giới, vì một
người thiếu Giới hạnh thì không thể nào làm cho
chư Thiên hoan hỷ được, mà còn trở thành kẻ
ngoan cố đối với các bạn đồng phạm hạnh. Người
ấy đau khổ khi phạm Giới, vì bị chỉ trích và hối
hận khi thấy người giữ giới tán dương. Người ấy
vô giá trị vì không đem lại quả báo tốt đẹp cho
các thí chủ. Người khó làm cho sạch như thùng
phân dơ lâu năm, như một khúc gỗ mục trên giàn
lửa. Vì không phải người xuất gia cũng không
phải cư sĩ mặc dù tự xưng là Tỳ kheo mà không
phải là Tỳ kheo, cũng giống như con lừa đi theo
bầy bò. Người ấy luôn luôn nóng nảy nhìn tất cả
mọi người như kẻ thù của mình, dù người ấy có
thể là học rộng hiểu biết nhiều nhưng người ấy
không đáng được các bậc đồng phạm hạnh cung
kính.
Cho nên, trong kinh Phạm
Võng đã dạy: “Nếu Phật tử có tín tâm xuất gia
thọ trì Tịnh giới của Phật, mà lại cố ý hủy phạm
Giới mình đã thọ thì người đó không được thọ sự
cúng dường của đàn việt, cũng không được phép đi
trên đất của quốc vương, không được uống nước
của quốc vương, đi đâu cũng bị năm ngàn đại quỷ
chặn ngăn trước mặt, quỷ nói với nahu rằng “đây
là đại tặc”. Nếu vào phòng xá thành ấp nào thì
bị quỷ chà quét dấu chân của người đó, tất cả
mọi người đều mắng rằng “Ngươi là giặc trong
Phật pháp”. Tất cả chúng sanh không muốn nhìn
thấy. Người phạm Giới không khác gì súc sanh,
không khác gì khúc gỗ”.
Giới luật của Phật chính
là phương tiện để cho mỗi cá nhân tu tập đạt
được lợi ích an lạc. Giới luật cũng là một cái
thước đo tiêu chuẩn về mặt hình thức của một con
người, về sự tiến bộ của tâm linh của hành giả
tu tập giáo lý giải thoát. Mọi lý luận đều không
có giá trị đối với người phạm giới, và mọi thành
quả tốt đẹp sẽ đến với những ai thanh tịnh được
Giới luật là một quy luật tất yếu.
CHƯƠNG 2 : GIỚI LUẬT LÀ
NỀN TẢNG ĐẠO ĐỨC CỦA NHÂN SINH
Giáo hội Phật giáo Việt
Nam chúng ta với truyền thống gắn bó với xã hội
và Dân tộc, chúng ta mỗi cá nhân phải có lý
tưởng và trách nhiệm là phải đóng góp và xây
dựng nền giáo dục đó ngày càng lớn mạnh thêm.
Qua đó, với tinh thần toàn giác của đức Phật,
Ngài đã thấy được bản chất như thật của vạn sự
vạn hữu, và tuyên bố cho chúng ta thấy được sự
thật này, nhưng vì bị vô minh che lấp nên chúng
sanh không hiểu hết được lời Phật dạy.
Ngày nay, khi khoa học
phát triển thì một số lời dạy của đức Phật đã
được chứng minh bằng khoa học. Như đức Phật dạy:
“Trong một bát nước có tám vạn bốn mươi loại vi
trùng” ngày nay khoa học dùng kính hiển vi cũng
thấy có vô số vi trùng. Những dẫn chứng trên
không có nghĩa là chứng minh lời dạy của đức
Phật bằng khoa học mà để nhấn mạnh một điều rằng
: những lời đức Phật dạy đều là chân lý, nó phù
hợp với mọi hoàn cảnh, xã hội, nó vượt ngoài
không gian và thời gian. Cho nên, chân lý đó
nhằm để giải thích mà chẳng nhắm vào mục đích
giải thoát cho chúng sanh. Hơn 25 thế kỷ qua,
Phật giáo giữ một vị trí độc tôn, xây dựng một
nền văn hóa có giá trị ở mọi thời đại. Cũng như
ở Việt Nam, chúng ta có các nhà vua đồng thời là
Phật tử thuần thành, còn về Phật giáo thì có
các Tăng sĩ có trình độ học vấn, vừa có trình độ
tu chứng.
Do đó, tinh thần đạo
Phật, giáo lý Từ bi, Trí tuệ và những tư tưởng
cứu thế của đức Phật đã ảnh hưởng sâu đậm vào
phong tục văn hóa của nước ta. Thế nên, để xây
dựng một xã hội văn minh, Phật giáo với tinh
thần nhập thế và mọi dấu chân xưa của các vị Bồ
tát lấy khổ đau làm niềm vui cho bản thân, có
như vậy chúng ta mới làm sống dậy dòng sinh hoạt
trí tuệ thực chứng của đức Phật đã khơi mở 25
thế kỷ qua.
1. GIỚI LUẬT LÀ CƠ BẢN
ĐẠO ĐỨC THẾ GIAN
1.1 Đối với cá nhân
Đây là việc rất cần
thiết cho những người Phật tử khi đã quy y Tam
bảo, thọ trì ngũ giới. Giáo hội Phật giáo nói
chung và Tăng Ni chúng ta nói riêng là phải cần
tạo điều kiện cho Phật tử tham gia những lớp học
giáo lý, những buổi thuyết giảng tại chùa để cho
họ hiểu rõ tinh thần quy y Phật, quy y Pháp, quy
y Tăng của một Phật tử. Chúng ta cần nhắc nhở họ
thọ trì năm Giới căn bản của người Phật tử tại
gia.
Cho nên, chúng ta hãy
nhìn lại hàng Phật tử tại thành phố có đầy đủ
phương tiện nào là sách vở, trường lớp học giáo
lý, thầy hướng dẫn để cho Phật tử có cơ hội tiếp
cận giáo lý của đức Phật nhiều hơn. Còn các Phật
tử ở các tỉnh vùng sâu vùng xa, có tỉnh thì được
quý thầy hướng dẫn, có Tỉnh quận huyện khác Phật
tử có muốn tu học nhưng không có ai để hướng
dẫn. Có người cho rằng với truyền thống tín
ngưỡng của ông cha để lại, người nông dân mến mộ
đạo, nhưng vì không có Tăng Ni tu hành đúng
chánh pháp để nương tựa vô tình để họ tin theo
những thầy đồng bóng, mê tín dị đoan, cho nên
làm cho Phật giáo không thể phát triển được. Với
tinh thần từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha của Phật
giáo, nếu mọi người biết quay về quy y với Phật
thì những tệ nạn của xã hội sẽ giảm dần. Vì nếu
mọi người đều là Phật tử phải biết tôn trọng
giới luật và tôn trọng luật pháp của nhà nước
thì họ sẽ sống và làm việc đúng theo năm nguyên
lý đạo đức căn bản của nhà Phật đó là :
1. Không sát sanh : Bỏ
sát sanh nhằm tôn trọng tánh bình đẳng phát
triển tâm từ bi bằng cách phải tôn trọng sự sống
và quyền sống căn bản của mọi người, để giữ mình
và người, sống một cuộc sống an lành và cũng để
đoạn trừ nghiệp báo trả vay trong vòng luân hồi
sanh tử.
2. Không trộm cướp :
Nhằm tôn trọng quyền sở hữu tài sản của mọi
người, không tham nhũng lạm quyền, không hối lộ
quyền lợi riêng tư, phát triển tâm từ, thực hành
hạnh bố thí bằng cách góp tự mình hoặc kêu gọi
mọi người nên nhường cơm xẻ áo để cứu trợ đồng
bào bị thiên tai, lũ lụt, tham gia các hội từ
thiện, kiến tạo xã hội công bằng văn minh giàu
mạnh.
3. Không tà dâm : Bản
thân không phải hao tổn thần khí, khỏi sợ ai bàn
tán dở hay, mọi nguời đều tín nhiệm và tin cậy,
bản thân trinh bạch, khiến người tự quý mến, tự
mình được an ổn mà còn xây dựng gia đình được
hạnh phúc, với nếp sống yêu thương lẫn nhau, vợ
chồng ăn ở thủy chung đến trọn đời trọn kiếp.
4. Không nói dối : Nhằm
tôn trọng sự thật để xây dựng niềm tin cho nhau.
Trong các quan hệ song phuơng từ gia đình đến xã
hội, và từ người lãnh đạo đến nguời thừa hành,
đồng thời tạo cơ sở chính xác cho niềm tin tuyệt
đối và phải tôn trọng những lời phát biểu có
tính cách xây dựng, hòa cảm có lợi mình lợi
người. Bởi lẽ, một lời nói có thể xây dựng đoàn
kết làm quốc gia phồn vinh, trái lại cũng một
câu nói có thể gây ra chia rẽ làm đổ vỡ.
5. Không uống rượu : Vì
những thứ ấy làm cho trí tuệ mê mờ, có thể bệnh
hoạn suy yếu, làm cho mọi người thấy khinh
thường, trong lúc say sưa gây ảnh hưởng không
những đến bản thân mà còn ảnh hưởng đến con cái
về sau. Trái lại, nếu không uống rượu bản thân
điềm đạm bình tĩnh, thân thể khỏe mạnh, đối với
mọi người đều được quý kính, sanh con thông minh
sáng suốt.
Đó là lợi ích bản thân
ngay trong hiện tại, nếu về sau không sát sanh
thì thân tráng kiện sống lâu. Không trộm cướp
thì thân thể đẹp đẽ. Không nói dối thì đi đến
đâu cũng được mọi người yêu mến. Không uống rượu
thì trí tuệ sáng suốt. Qua năm Giới này, nếu
Phật tử nào giữ đúng là một nguồn hạnh phúc của
gia đình, cũng là nếp sống văn minh của xã hội.
2. Đối với cộng đồng
Nếu một công dân nào
sống trong cộng đồng xã hội mà biết giữ đúng năm
giới của nhà Phật thì gia đình đó hạnh phúc trên
thuận dưới hòa. Nếu mọi người trong xã hội biết
ứng dụng triệt để sẽ là một xã hội văn minh chan
hòa sự cảm thông và thương mến. Cho nên, xã hội
biết hướng dẫn mọi người quy y, biết giữ giới đó
là việc làm đúng với đường hướng giáo dục của
Phật giáo. Vì Phật giáo lấy con người làm trung
tâm giáo hóa, đó là những con người hiện đang có
mặt ở trên thế gian này. Mục đích của đạo Phật
là giáo dục con người đầy đủ đạo đức, chuyển hóa
họ từ xấu đến tốt, từ mê trở thành giác, vì thế
vấn đề đạo đức không thể thiếu ở mỗi con người
chúng ta.
2. GIỚI LUẬT LÀ NỀN TẢNG
ĐẠO ĐỨC XUẤT THẾ GIAN
2.1 Đối với tự thân tu
sĩ
Việc tu trì Giới luật là
vô cùng quan trọng, vì ai tu tập Giới luật được
chừng nào thì chứng đạt được chừng ấy. Ai tu tập
trọn vẹn thì chứng được trọn vẹn. Giới luật là
tự thể giải thoát của Pháp thân không tận diệt
của Phật. Y theo Pháp thân này thì siêu độ hai
thứ trở ngại : trở ngại vì có phiền não và trở
ngại vì không thiện căn, cho nên giữ Giới thì
viễn ly được lỗi lầm của ba nghiệp mà thành tựu
được ba nghiệp giải thoát (thân giới, khẩu giới
và ý giới). Người xuất gia cũng như người lữ
khách, muốn đến đích giải thoát thực chứng Niết
Bàn, cho nên chúng ta cần phải tinh tấn và trang
bị đủ tư lương. Tư lương của người xuất gia là
Giới, Định, Huệ, trong đó Giới là bước đi đầu
tiên. Đó là lý do vì sao luật quy định Tỳ kheo
“năm hạ về truớc phải chuyên học và tinh tường
về Giới luật, năm hạ về sau mới được nghiên cứu
giáo lý và tham thiền”. Nếu thiếu xót Giới luật
thì Định – Huệ không thể phát sanh.
Người ta thường nói
chiếc áo chưa thể làm nên ông thầy tu. Thật vậy,
chúng ta hãy nghe ngài Trí Húc nói :
“Nếu thân xuất gia mà
tâm không thanh bạch giữ đạo, phạm hạnh cao xa,
bủa lòng từ bi ra khắp tất cả, thì đó là ăn trộm
hình thức của Phật, tội thêm một lớp nữa, không
thể không biết”. Điều chính yếu ở đây là tư cách
đối với bản thân của nguời xuất gia, trừ những
người vì mục đích lợi dưỡng và ngụy trang thì
không kể. Tất cả những người xuất gia đều phải
hướng đến mục đích cao thượng đó là giải thoát
và giác ngộ. Không phải tất cả đều có thể thành
đạt mục đích ngay trong đời này, nhưng cuộc sống
thanh bạch và giới hạnh là nền tảng nâng cao
phẩm giá của nguời xuất gia. Ngay từ khi bước
vào chùa, việc đầu tiên của ngừoi xuất gia là
học và hành “Tỳ Ni Nhật Dụng” là thiết yếu,
những sự thiết yếu áp dụng hằng ngày để chấp trì
Giới luật. Tác dụng của việc trì kệ chú là để
diệu hóa đời sống và mở rộng tâm nguyện trong
đời sống hằng ngày.
Đối với bản thân người
xuất gia thì phN