NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI
THỂ TÀI NGÔN NGỮ
TRONG KINH TẠNG
PHẬT GIÁO
Thích Nữ Thánh Tâm
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO VÀ MỤC
ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI
Ngôn ngữ là một hệ
thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện
giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của
các thành viên trong một cộng đồng xã
hội. Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương
tiện phát triển tư duy, truyền đạt
truyền thống Văn hoá- Lịch sử từ thế hệ
này sang thế hệ khác. Thông qua ngôn
ngữ, con người đã thông tư tưởng với
nhau, hiểu được các ý chỉ muốn trình
bày. Các loại hình ngôn ngữ rất đa dạng
và phong phú: Ngôn ngữ nói, ngôn ngữ
viết, ngôn ngữ không lời, ngôn ngữ biểu
tượng, ngôn ngữ ký hiệu… để hiểu được
ngôn ngữ ấy, người nghiên cứu phải có
tri thức tối thiểu về ngôn ngữ học.
Đối với hệ thống
ngôn ngữ Phật giáo, sự đa dạng và phong
phú của thể tài ngôn ngữ được thể hiện
thông qua hệ thống Kinh tạng. Ngày nay
hầu hết Kinh tạng được dịch ra nhiều
thứ tiếng như : Anh, Pháp, Nhật, Trung
Hoa, Tây Tạng… bên cạnh những bản kinh
cổ ngữ như Pàli, Sankrist….vì thế, Kinh
điển Phật giáo càng ngày càng trở nên
phổ biến rộng rãi.
Song để am hiểu một
bản Kinh một cách chính xác, không những
ta phải hiểu biết về hình thức ngôn ngữ
phổ thông, mà còn phải nắm rõ các thể
loại ngôn ngữ được dùng khác nhau theo
đặc trưng của từng loại trong hệ thống
Kinh tạng, nắm được nguồn gốc ra đời và
niên đại phiên dịch để hiểu được nét
đặc thù của nền văn hoá, văn hoá Phật
giáo thời ấy.
Tất nhiên công việc
nghiên cứu về ngôn ngữ Kinh điển quả
thật không đơn giản, nhất là đối với cổ
ngữ nhưng nếu hiểu được thể tài ngôn
ngữ được dùng trong Kinh thì đây là
khởi điểm giúp cho người học bước vào
việc nghiên cứu Phật học.
Có thể nói mục đích
sử dụng nhiều thể tài Ngôn ngữ khác
nhau của Đức Phật là vì mục tiêu giác
ngộ, giải thoát cho mỗi con người. Các
tầng lớp như người trí thức, thương gia,
nông dân hay nô lệ, người già hay người
trẻ, người giàu sang hay kẻ nghèo hèn…
Ngài đều có cách nói khác nhau. Trong
hoàn cảnh này, địa phương này, Ngài nói
như thế này; hoàn cảnh khác, địa phương
khác, Ngài nói như thế khác. Tất cả chỉ
vì một mục đích duy nhất là giải thoát.
Càng nghiên cứu sâu vào các loại hình
ngôn ngữ mà Đức Phật sử dụng ta mới
khám phá ra một điều kỳ diệu rằng Đức
Phật là nhà tâm lý học siêu xuất tràn
đầy lòng bi mẫn. Bất cứ lúc nào, Ngài
cũng dùng lời nói thật từ ái và bao
dung dù người đó là tín đồ Phật giáo
hay không phải Phật giáo. Khi chưa là
Đấng Toàn giác, Đức Phật với tư chất
thông minh đĩnh ngộ phi thường, Ngài đã
sử dụng được 36 thứ ngôn ngữ thời đó.
Khi truyền bá chánh pháp, Ngài cũng đã
sử dụng ngôn ngữ của từng địa phương,
từng dân tộc. Cách sử dụng phương ngữ
của Đức Phật là một trong những phương
pháp thu phục nhân tâm. Thêm vào đó,
cách sử dụng các thể tài ngôn ngữ khác
nhau phù hợp với từng căn cơ cũng là
đặc trưng của ngôn ngữ Phật giáo, chỉ
nhằm mục đích giải thoát cho nhân loại.
Việc tìm hiểu các thể tài ngôn ngữ cũng
là cách xác định tầm vóc triết lý, tính
khoa học… của Kinh điển Phật giáo đồng
thời cũng là cách tìm hiểu các đặc
trưng văn hoá Phật giáo vì các giá trị
văn hoá truyền thống của Phật giáo tồn
tại song song với ngôn ngữ của từng khu
vực, từng dân tộc vào một thời đại.
Với những lý do
trên, người viết không ngần ngại chọn đề
tài : “ Tìm hiểu thể tài ngôn ngữ
trong kinh tạng Phật giáo” . Với tiêu
chí như vậy, luận văn này chỉ khẳng
định sự tìm hiểu Thể tài chớ không đi
sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ, bởi như
thế sẽ đi vào lãnh vực nghiên cứu về
ngôn ngữ học. Ơũ đây, người viết chỉ
khái quát về các Thể tài ngôn ngữ để
đi vào các giá trị nhân văn mà ngôn
ngữ đã đem lại cho con người đặc biệt
là ngôn ngữ Kinh tạng.
2. PHẠM VI ĐỐI
TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong Kinh tạng,
người viết sẽ chọn lựa một số Kinh tiêu
biểu rõ nét cho các Thể tài ngôn ngữ.
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp
phân tích liệt kê, dùng ví dụ minh hoạ
làm rõ vấn đề, làm rõ những ảnh hưởng
của thể tài ngôn ngữ vào mọi khía cạnh
của đời sống xã hội.
3. Ý NGHĨA THỰC
TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
Ngày nay, Phật ngữ,
Pháp ngữ thực sự đã đóng góp nhiều vào
kho tàng ngôn ngữ thế giới, làm phong
phú cho kho tàng ngôn ngữ nhân loại,
hướng con người đến những giá trị tinh
thần cao đẹp. Con người tự kiến tạo
cuộc sống hạnh phúc cho mình và người
bằng những lời nói từ ái, hài hoà,
không dùng lời nói ác gây tổn thương,
đau khổ, thù hận cho người; không dùng
lời nói thêu dệt, tráo trở để lường
gạt, dối trá người…dẫu khi một người tu
tập im lặng, không nói cũng là sự im
lặng an lành, hạnh phúc như Phật đã
từng dạy: “ Nói năng như chánh pháp, im
lặng như Chánh pháp”. Chỉ ngần ấy, ngôn
ngữ Phật giáo đủ khiến cho mọi người
trở về nương tựa Tam Bảo. Có thể nói,
đây là sự đóng góp thật to lớn của đạo
Phật vào đời sống tinh thần của nhân
loại.
4. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Luận văn này được
viết thành 3 chương, trong đó ngoài phần
dẫn nhập mang tính trường quy, phần nội
dung, luận văn trình bày:
Chương 1: Giới thiệu
chung về ngôn ngữ
Chương 2: Các thể
tài ngôn ngữ trong hệ thống Kinh tạng
Chương 3: Hiệu quả
việc sử dụng các thể tài ngôn ngữ trong
việc hoằng dương chánh pháp
sau đó là phần kết
luận và thư mục tài liệu tham khảo.
PHẦN NÔI DUNG
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU
CHUNG VỀ NGÔN NGỮ
1.1. BẢN CHẤT HAY
VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ TRONG ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN
1.1.1. Chức năng của
ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hiện
tượng xã hội: Nhiều nhà khoa học đã
chứng minh ngôn ngữ là một hiện tượng tự nhiên.
Do ảnh hưởng thuyết tiến hoá của Đácuyn, một số
người cho ngôn ngữ cũng giống như một cơ thể
sống, một động vật hoặc một thực vật. Ngôn ngữ
hoạt động và phát triển theo quy luật của tự
nhiên, nghĩa là tất cả các ngôn ngữ ở mọi nơi và
mọi lúc đều phải trải qua các giai đoạn: nảy
sinh, trưởng thành, hưng thịnh, suy tàn và diệt
vong. Để biện minh cho quan điểm này, người ta
đã dẫn ra các hiện tượng nhiều từ cũ, nghĩa cũ
đã mất đi; nhiều từ mới, nghĩa mới đã được tạo
ra trong các ngôn ngữ, thậm chí một số ngôn ngữ
đã trở thành những tử ngữ như tiếng Phạn,
Latin.. vv…. Thật ra, quy luật phát triển của
ngôn ngữ không giống như quy luật phát triển của
tự nhiên. Ngôn ngữ luôn luôn kế thừa cái cũ và
phát triển cái mới, không bao giờ bị huỷ diệt
hoàn toàn. Một số ngôn ngữ trở thành tử ngữ hoặc
là do dân tộc nói ngôn ngữ ấy bị huỷ diệt, hoặc
do ngôn ngữ ấy đã được thay thế bằng những ngôn
ngữ khác như tiếng Latin, tiếng Phạn và Pàli…
dẫu không được dùng như sinh ngữ nhưng những
ngôn ngữ trên vẫn để lại nhiều dấu tích trong
nhiều ngôn ngữ hiện đại.
Ngôn ngữ là hoạt động
không có tính bản năng như : ăn, khóc, cười,
chạy, nhảy… của con người mà là một hoạt động
huân tập. Nói cách khác, ngôn ngữ không phải là
hiện tượng sinh vật vì những hiện tượng sinh vật
ấy có thể phát triển ngoài xã hội, trong trạng
thái cô độc, còn ngôn ngữ không thể phát triển
trong điều kiện như thế. Chẳng hạn, đứa bé sơ
sinh sống với loài vật thì sẽ không có những
hoạt động như một em bé bình thường mà em sẽ
tiếp thu những kỹ năng của đời sống động vật, em
sẽ mất đi khả năng tư duy và không thể nói được,
nhưng khi trở về với xã hội loài người thì khả
năng tư duy và khả năng nói sẽ dần dần hồi phục.
Hơn nữa, ngôn ngữ không có tính di truyền như
những đặc trưng về chủng tộc như màu da, chủng
tộc, tỉ lệ thân thể, cấu trúc xương sọ…một em bé
VN nếu sống ở Anh sẽ nói tiếng của người Anh mà
không biết tiếng Việt. Ngược lại, đứa trẻ sơ
sinh người Anh sống ở VN thì sẽ nói tiếng Việt
mà không biết tiếng Anh. Rõ ràng, ngôn ngữ không
thuộc các hiện tượng tự nhiên.
Ngôn ngữ không thuộc các
hiện tượng tự nhiên, cũng không phải là hiện
tượng cá nhân, vậy ngôn ngữ là hiện tượng xã
hội. Trong cuốn “Hệ Tư Tưởng Đức”, MÁC và
ĂNGGHEN đã viết: “ Ngôn ngữ là ý thức thực tại,
thực tiễn. Ngôn ngữ sinh ra là do nhu cầu, do
cần thiết phải giao dịch với người khác”. Như
vậy, khẳng định ngôn ngữ là hiện tượng xã hội,
cũng có nghĩa là thừa nhận ngôn ngữ tồn tại và
phát triển theo quy luật khách quan của mình.
Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn luôn
tiếp thu các yếu tố mới ( từ mới, nghĩa mới) để
phong phú và hoàn thiện thêm. Khi một nhu cầu
nào đó của xã hội nảy sinh, ngôn ngữ thường mách
bảo cho con người một phương tiện ngôn ngữ nào
đó có thể được dùng một cách mới mẻ trong việc
sử dụng từ ngữ. Vì vậy, những cái mới thường
đồng thời xuất hiện ở nhiều nơi trong lời nói.
Chính vì lẽ ấy, những nhà tư tưởng lớn, chính
trị lớn, nhà văn lớn đã đóng vai trò chính đối
với sự phát triển ngôn ngữ. Cái cống hiến to lớn
của họ là ở chỗ họ làm sáng tỏ, làm bộc lộ khả
năng tiềm tàng trong ngôn ngữ, cũng như khả năng
ngôn ngữ được nhiều người biết đến và sử dụng,
nhờ tài năng của mình, họ có thể nâng chúng lên
mức hoàn thiện, chuẩn mực để mọi người noi theo.
Như vậy, chẳng những họ đã hiện thực hoá những
khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ mà còn thúc đẩy
ngôn ngữ phát triển theo khả năng đó.
Nhìn chung, ngôn ngữ
phục vụ xã hội, làm phương tiện giao tiếp giữa
mọi người, làm phương tiện trao đổi ý kiến trong
xã hội, làm phương tiện giúp cho mọi người hiểu
biết lẫn nhau, con người mới có thể thấu hiểu
những tần số tình cảm của nhau, khiến cho đời
sống tinh thần của con người ngày càng thăng
hoa.
Ngôn ngữ là phương tiện
để tư duy
Chức năng giao tiếp của
ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy
của nó, bởi việc giao tiếp của ngôn ngữ chỉ có
thể giúp người ta trao đổi tư tưởng, tình cảm
với nhau, hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ
chức một đời sống mà nơi đó bản thân của ngôn
ngữ tàng trữ những kinh nghiệm, những tư tưởng,
tình cảm của con người. Nếu như chức năng giao
tiếp của ngôn ngữ chỉ thể hiện khi có hành động
giao tiếp, tức là khi người ta dùng ngôn ngữ
trao đổi với nhau, thì chức năng tư duy của ngôn
ngữ là người ta có thể nói một mình, đọc một
mình, viết ra giấy mà không nhằm trao đổi với
ai. Như vậy, chức năng thể hiện tư duy là chức
năng cơ bản của ngôn ngữ , độc lập với chức năng
giao tiếp.
Ngôn ngữ là biểu hiện
thực tế của tư tưởng: không có từ nào, câu nào
mà lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng.
Ngược lại không có ý nghĩ, tư tưởng nào không
tồn tại dưới dạng ngôn ngữ.
Ngôn ngữ không trực tiếp
tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng. Mọi
ý nghĩ, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được
biểu hiện bằng ngôn ngữ. Quá trình đi tìm từ cần
thiết để nói cũng là quá trình làm cho ý nghĩ,
khái niệm trở nên rõ ràng, có thể hiểu được với
người nghe cũng như với chính bản thân mình.
Cần nhớ rằng, ngôn ngữ
của con người không những chỉ tồn tại dưới dạng
tiếng nói mà còn tồn tại dưới dạng biểu tượng âm
thanh được chứa trong tiềm thức và dạng chữ viết
ra trên giấy. Khi nghe một từ thì một biểu tượng
âm thanh xuất hiện, khi nói một từ thì một biểu
tượng chuyển động phát âm xuất hiện, khi nhìn
một từ được in hoặc viết ra thì biểu tượng thị
giác của từ xuất hiện . Cho nên chức năng của
ngôn ngữ với tư duy không chỉ thể hiện khi ngôn
ngữ được phát thành lời mà cả khi người ta im
lặng suy nghĩ hoặc viết ra giấy. Bằng những thí
nghiệm cụ thể, nhà ngôn ngữ học Xô Viết Bôrôpxki
đã chứng minh sự tồn tại của lời nói bên trong
khi người ta im lặng suy nghĩ. Ông đã lấy điện
cực hình kim bằng thép gắn vào cơ môi dưới hoặc
đầu lưỡi của người được thí nghiệm rồi bảo người
này tính nhẩm trong óc những phép tính và tiến
hành suy nghĩ thầm lặng, kết quả là người được
thí nghiệm tuy tư duy không nói ra tiếng, cũng
không thấy khí quan ngôn ngữ hoạt động rõ rệt,
nhưng trước sau cũng có thay đổi hoặc nhiều hoặc
ít. Những biến đổi điện vị này vừa khớp với
những biến đổi điện vị khi phát ra âm thanh ngôn
ngữ. Điều đó chứng tỏ có sự hoạt động của lời
nói bên trong. Như vậy, ngôn ngữ và tư duy thống
nhất với nhau. Không có ngôn ngữ thì cũng không
có tư duy và ngược lại, không có tư duy thì ngôn
ngữ chỉ là những âm thanh trống rỗng, thực chất
là cũng không có ngôn ngữ. Bởi những ý tưởng
xuất hiện và tồn tại được là nhờ vào ngữ liệu,
là nhờ vào từ ngữ và câu. Tư duy đơn thuần tách
khỏi ngữ liệu là không thể có được.
1.1.2. NGUỒN GỐC CỦA
NGÔN NGỮ
Nguồn gốc của ngôn ngữ
gắn liền với nguồn gốc của xã hội loài người.
Nó vừa là vấn đề ngôn ngữ học, vừa là vấn đề
lịch sử xã hội loài người. Muốn nghiên cứu vấn
đề này cũng cần có sự hiểu biết về kết cấu của
ngôn ngữ cụ thể. Song chỉ chừng ấy thôi chưa đủ
mà còn phải có kiến thức về lịch sử văn hoá,
lịch sử xã hội, nhân loại học, tâm lý học, lịch
sử vấn đề phát triển của tư duy…vv…
Để hiểu nguồn gốc của
ngôn ngữ, cần phải làm sáng tỏ vấn đề: điều kiện
nảy sinh ngôn ngữ ?
Ngôn ngữ bắt nguồn từ
trong lao động và cùng nảy sinh với lao động,
năng lực tư duy trừu tượng của con người đã lớn
lên cùng với lao động, nhưng tư duy không thể
tồn tại, thoát khỏi ngữ liệu, cho nên tư duy
hình thành thì ngôn ngữ cũng ra đời. Do tư duy
trừu tượng phát triển nên nội dung mà con người
cần trao đổi với nhau ngày càng phong phú, ngược
lại, nhu cầu giao tiếp càng phong phú đòi hỏi tư
duy trừu tượng càng phát triển hơn.
Rõ ràng, lao động quyết
định sự ra đời của ngôn ngữ. Lao động làm cho
người ta cần thiết phải có ngôn ngữ để nói với
nhau. Mặt khác, lao động làm cho người ta cần có
ngôn ngư õ để tiến hành tư duy, diễn đạt tư
tưởng, lấy nó làm nội dung giao tiếp với nhau.
Như vậy, lao động quyết định nhu cầu tạo ra ngôn
ngữ. Nhưng chỉ có nhu cầu thì vẫn chưa có ngôn
ngữ mà con người còn phải có khả năng tạo ra
ngôn ngữ nữa. Khả năng tạo ra ngôn ngữ của con
người nguyên thuỷ cũng bắt nguồn từ lao động.
Muốn có ngôn ngữ phải có tư duy trừu tượng và
khả năng phát âm rõ ràng, có như vậy thành quả
của tư duy trừu tượng mới trở thành yếu tố ngữ
nghĩa của ngôn ngữ.
Tóm lại, bản thân con
người cũng như tư duy trừu tượng và ngôn ngữ của
nó ra đời cùng một lúc dưới tác dụng của lao
động. Ngôn ngữ và tư duy trừu tượng của con
người là dấu hiệu phân biệt con người với con
vật. Ngôn ngữ âm thanh luôn luôn là ngôn ngữ duy
nhất của loài người.
Ngôn ngữ với tư cách là
hệ thống tín hiệu thứ hai phải bắt nguồn từ hệ
thống tín hiệu thứ nhất ở con người. Hệ thống
tín hiệu thứ nhất là tất cả những ấn tượng, cảm
giác, biểu tượng thu được từ bối cảnh tự nhiên
bên ngoài thông qua những phản xạ, kích thích ở
dạng mọi cảm giác: thính giác, thị giác, xúc
giác… hệ thống tín hiệu thứ nhất tiến hành giao
tiếp trong phạm vi tư duy hình tượng, một mặt nó
lấy hình tượng mà bộ máy cảm giác nhận được làm
cái biểu hiện còn cái được biểu hiện là tư duy
hình tượng. Sự giao tiếp như vậy rất đơn sơ vì
nó không có tư duy trừu tượng, nhưng dù sao cũng
vẫn có tác dụng giao tiếp. Ngôn ngữ lấy ngữ âm
làm vật kích thích vật chất, lấy khái niệm làm
nội dung chính của những vật kích thích ấy, cho
nên chỉ bộ phận hệ thống tín hiệu thứ nhất nào
có tác dụng giao tiếp lấy âm thanh làm vật kích
thích mới trở thành ngôn ngữ. Ngoài ra, những bộ
phận tiếng kêu trong lao động, tiếng kêu cảm
thán có tác dụng giao tiếp với tư cách là hệ
thống tín hiệu thứ nhất, đều có thể trở thành
những bộ phận cấu thành ngôn ngữ sau này.
Ngôn ngữ Kinh điển Phật
giáo cũng mang những chức năng như ngôn ngữ
ngoại điển là để giao tiếp và tư duy, nhưng sự
tư duy, giao tiếp đó là để đi đến mục đích cuối
cùng là giải thoát khỏi những đau khổ vây quanh
con người. Nếu như ngôn ngữ ngoại điển hình
thành, xuất phát từ trong lao động thì ngôn ngữ
Phật giáo được bắt nguồn từ việc tu tập, hàng
phục vọng tâm ngay giữa thực tại đời thường. Như
vậy, vượt lên trên cả phương tiện giao tiếp và
tư duy của ngôn ngữ thông thường, ngôn ngữ Phật
giáo là cách khơi gợi, đánh thức tâm tư người
nghe, người đọc trở về đối với bản tâm thanh
tịnh của chính mình.
CHƯƠNG 2
CÁC THỂ TÀI
NGƠN NGỮ TRONG HỆ THỐNG KINH TẠNG
2.1. CÁC THỂ TÀI KINH
ĐIỂN
2.1.1. Phân loại thể
tài kinh văn
Theo cách phân loại của
Từ điển Phật học Hán Việt – NXB KHXH, kinh điển
Phật giáo được chia thành 12 loại, tức 12 thể
tài, bao gồm :
1- Tu-Đa-La: (Hán dịch
là)ụ Khế kinh (Sutta)
2- Kỳ-Dạ: (Hán dịch
là) Trùng Tụng (Gaya)
3- Già- Đà: (Hán dịch
là) Phúng Tụng (Gàthà)
4- Ni-Đà-Na: (Hán dịch
là) Nhân Duyên (Nidàna)
5- Y-Đế-Mục-Đa: (Hán
dịch là) Bổn Sanh (jàtaka)
6- I-Ti-Vút-Ta-Ka:
(Hán dịch là) Bổn Sự (Itivurtaka)
7- A-Phù-Đạt-Ma
(A-Tì-Đạt-Ma): (Hán dịch là) Vị Tằng Hữu
(Adbhutadharma)
8- A-Ba-Đa-Na: (Hán
dịch là) Thí Dụ (Avadàna)
9- Ưu-Ba-Đề-Xá: (Hán
dịch là) Luận Nghị (Upadisa).
10- Ưu-Đà-Na: (Hán dịch
là) Tự Thuyết; (Udana);
11- Tì-Phật-Lược: (Hán
dịch là) Phương Quảng (Vaipulya)
12- Hoà-Già-La: (Hán
dịch là) Thụ Ký (Vyakarama)
Trong 12 bộ này, 3 bộ
Tu-Đa-La, Kỳ-Dạ và Già- Đà làụ thể tài trong
kinh văn còn chín thể loại còn lại được phân bố
theo từng loại sự việc được ghi trong kinh. Ở
đây, Kỳ-Dạ có nghĩa là tảng văn và Già- Đà có
nghĩa là thơ, kệ hay bài tụng theo thể thơ hoặc
văn xuôi. Tuy nhiên, các thời thuyết giáo của
Phật được ghi lại trong toàn bộ kinh điển, thì
không thời pháp nào mà Đức Phật không dùng đến
các hình ảnh, thí dụ, ẩn dụ, biểu tượng ; hoặc
là nói chuyện về tiền thân (Bổn sanh, Bổn sự)
của Ngài ; hoặc là nói theo cách lý luận logic
(luận thuyết), hoặc là nói đến những truyền
thống Phật sử (Vị Tằng Hữu) v.v... Do đó, sự
phân loại thể tài ở đây chỉ có ý nghĩa về hình
thức thuyết giáo của Phật được ghi lại trong
kinh. Theo một cách phân loại khác được ghi lại
trong kinh Ví Dụ Con Rắn (Trung Bộ kinh) thì
giáo pháp của Phật được phân loại thành 9 thể
tài như sau :
1. Kinh (cách gọi
chung): Khế Kinh
2. Ứng tụng
3. Giải thuyết
4. Kệ tụng
5. Cảm hứng ngữ
6. Như thị ngữ
7. Bổn sinh, Bổn sự
8. Vị tằng hữu
9. Phương quảng
2.1.2. Ý NGHĨA CỦA CÁC
THỂ TÀI
1- Kinh (Sùtra) : Những
điều Đức Phật dạy cho hàng đệ tử tu tập để đi
đến giác ngộ, giải thoát.
2- Ứng tụng (Gaya) : Sự
(truyền tụng) ghi lại lời Đức Phật dạy theo thể
tản văn.
3- Kệ tụng (Gàthà) : Sự
(truyền tụng) ghi lại lời Đức Phật dạy theo thể
thơ, kệ.
4- Như thị ngữ
(Itivuttaka) : Sự ghi chép lại những điều được
nghe từ Đức Phật nói, hoặc trực tiếp hoặc gián
tiếp. Trong Tiểu Bộ kinh, tập IV, HT.Thích Minh
Châu đã ghi chú về ý nghĩa của "Như thị ngữ" như
sau :
"...Sở dĩ được gọi là
"Itivuttaka : Thuyết như vậy", là vì phần lớn
các kinh này đều bắt đầu với câu : "Đây là điều
đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A la hán
nói đến và tôi đã được nghe", và được kết luận
với câu : "Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và
tôi đã được nghe". Và (theo truyền thống), trong
tập sớ của Dhammapàda nói rằng, có một nữ cư sĩ
tên là Khujjyuttarà, nàng thường ngồi sau bức
màn để nghe mọi khi Đức Phật thuyết pháp ; và do
đó, đã trở thành bậc đa văn - thông tuệ. Về sau,
Vua Udena đã mời nàng nói lại giáo pháp và nàng
đã được Đức Phật khen ngợi là đa văn đệ nhất.
5- Bổn sanh (Jàtaka) :
Sự ghi chép lại chuyện tiền thân của Đức Phật
theo lời Đức Phật kể.
6- Vị tằng Hữu
(Adbhutahdarma) : Sự ghi chép lại những sự việc
hy hữu (hiếm có) trong đời, như chuyện các Đức
Phật quá khứ v.v... do Đức Phật kể lại.
7- Cảm hứng Ngữ (Udana)
- còn gọi là kinh Phật tự thuyết hay Vô vấn tự
thuyết : Sự ghi chép lại những điều do Đức Phật
tự nói ra trong những nhân duyên (trường hợp)
đặc biệt.
8- Phương quảng
(Vaipulya) : Sự ghi chép lại những cuộc thảo
luận của các vị Thánh đệ tử được Đức Phật xác
nhận là phù hợp với Phật ý, chánh pháp.
9- Giải thuyết (Upadisa)
: Sự ghi chép lại những điều luận giải về chánh
pháp của Đức Phật và các bậc A la hán.
Cách phân loại này xác
thực hơn so với các thể tài. Tuy nhiên, như đã
đề cập, sự phân loại thể tài thuyết giáo của
Phật chỉ mang ý nghĩa khái quát về mặt thể loại
văn học. Như chúng ta biết, ngôn ngữ mang nhiệm
vụ truyền tin, đặc biệt, ngôn ngữ Kinh tạng Phật
giáo là những thông điệp mang đến sự giác ngộ,
giải thoát cho nhân loại. Khi Đức Phật thuyết
pháp, mục đích cuối cùng của Ngài là mong muốn
cho mọi người được an vui, sống cùng giáo pháp,
thực hành nó và tạo hạnh phúc trong đời người.
Trong kinh Pháp Hoa, Phật ví giáo pháp của Ngài
như một trận mưa, mà căn cơ của thính chúng là
rừng cây; cây lớn hấp thụ nhiều nước, cây nhỏ
hấp thụ nước ít hơn… Cũng như trong hàng thính
chúng, giáo pháp thấm nhuần tâm tư mỗi người tuỳ
theo căn cơ của họ. Vì thế, chúng ta cần tìm
hiểu cách trình bày văn bản Kinh điển, sẽ thấy
được Đức Phật là vị Giáo sư tâm lý học
2.2. CÁCH TRÌNH BÀY VĂN
BẢN KINH ĐIỂN:
a) Lý do Đức Phật nói
(Duyên khởi)
b) Địa điểm Đức Phật nói
(không gian)
c) Thời gian Đức Phật
nói (thời gian)
d) Đối tượng nghe Đức
Phật nói (đối tượng)
e) Nội dung Đức Phật nói
(giáo pháp).
Về cách trình bày một
bản kinh, gồm có 3 phần :
- Phần Tựa : Giới thiệu
về duyên khởi, không gian, thời gian, đối tượng
và đầu mối vấn đề chính...
- Phần Chánh tông :
Trình bày nội dung của giáo pháp. Cách trình bày
cũng được đề cập theo thứ tự, như một, hai, ba,
bốn... Tuy nhiên, trong phần này các Kinh được
trình bày rất khác nhau, tùy theo từng loại sự
việc mà tường thuật
- Phần Lưu thông : Trình
bày sự kết thúc của buổi thuyết pháp... và sự
xác chứng của Phật cũng như sự hoan hỷ thực hành
hoặc sự chứng ngộ của đối tượng nghe pháp.
Cụ thể của cách trình
bày bản kinh tiêu biểu
A. Mở đầu:
Duyên khởi Kinh
Thời gian: ví
dụ “Một thời bấy giờ…”ụ
Không gian: ví
dụ: “Savatthi, tại Jetavana, vườn ông
Anathapindika…”
Người nói –
chủ thể: Đức Thế Tôn
Nội dung thông
điệp chính:
Người nghe-
đối tượng: hàng đệ tử xuất gia - tại gia
B. Nội Dung
Chính
Vào đề
Lý do của vấn
đề
Giải quyết Vấn
đề
Lời tán dương,
thọ ký:
C. Xác nhận
Xác chứng của
Phật:
Sự tỏ ngộ của đối tượng:
ví dụ “Bạch Đức Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn,
quy y Pháp và chúng Tỷ kheo Tăng. Mong Thế Tôn
nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng
chung, con trọn đời quy ngưỡng” [Kinh Trung Bộ]
Sự hoan hỷ của Đại
chúng: “Thật vi diệu thay, bạch Đức Thế Tôn, như
người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống,
phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho
những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào
trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy
sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng
nhiều phương tiện trình bày, giải thích…” [Kinh
Trung Bộ]
2.3. CÁC LOẠI HÌNH NGÔN
NGỮ TRONG KINH TẠNG PHẬT GIÁO
Có thể nói, sự phân loại
thể tài trong Kinh tạng Phật giáo chỉ là sự khái
quát về mặt hình thức và mang tính ước lệ. Bởi
lẽ, mỗi một thể tài khác nhau được sử dụng nhiều
loại hình ngôn ngữ tương tự. Theo thực tế, có
bao nhiêu tâm lý khác nhau, có bao nhiêu trình
độ khác nhau, có bao nhiêu chiều hướng tư duy
khác nhau, có bao nhiêu cảm xúc khác nhau… tuỳ
theo sự tiếp nhận của đối tượng mà có bấy nhiêu
ngôn ngữ khác nhau. Bởi ngôn ngữ là hình thức
của tư duy, là phương tiện giao tiếp. Và do đó,
tuỳ theo sự tư duy, tuỳ theo hoàn cảnh giao tiếp
mà ngôn ngữ được thể hiện và sẽ biểu thị sự linh
hoạt của nó.
Song, đặc trưng ngôn ngữ
Phật giáo luôn dùng những mỹ từ pháp, ái ngữ để
tiếp xúc với đối tượng nhằm mang lại sự an lạc,
hạnh phúc cho mọi người. Với tiêu chí từ bi, trí
tuệ, Đức Phật tránh dùng từ làm tổn thương người
khác, Ngài chỉ nói những lời nói thích đáng, có
lợi ích cho người, như đoạn kinh sau đây mô tả:
“ Bất cứ lời nào, Đức Như Lai biết là không
thật, không đúng, đưa đến tai hại, làm người
khác buồn khổ không thích ý, Như Lai không nói
lời ấy. Bất cứ lời nói nào, Như Lai biết là
không thật, không đúng, đưa đến tai hại, nhưng
dễ nghe và người khác ưa thích, Như Lai không
nói lời ấy. Bất cứ lời nói nào, Như Lai biết là
thật, là đúng, nhưng đưa đến tai hại, làm người
khác buồn khổ không thích, Như Lai không nói lời
ấy. Bất cứ lời nói nào, Như Lai biết là thật, là
đúng, đưa đến lợi ích, nhưng khó nghe và làm cho
người khác không thích, Như Lai biết thời để
nói lời ấy. Bất cứ lời nào, Như Lai biết là
thật, là đúng, nhưng có hại, thì mặc dù vui tai
và làm kẻ khác ưa thích, Như Lai không nói lời
ấy. Lời nói nào, Như Lai biết là thật, là đúng,
đưa đến lợi ích, dễ nghe, làm kẻ khác ưa thích,
Như Lai biết thời để nói lên lời ấy”, “ có năm
loại ngôn ngữ mà các người có thể dùng khi nói
với người khác: đúng thời hay phi thời, chơn
thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô
bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm
hay với sân tâm” [ 2, 286 -287]
Và như vậy, ngôn ngữ
Phật giáo chính là Tâm ngữ vì nó xuất phát từ
tâm từ bi vô cùng của Đức Phật nên các loại hình
ngôn ngữ Phật giáo cũng theo tiêu chí đó. Một
cách khái quát, có thể đề cập đến một số loại
hình ngôn ngữ được diễn đạt trong Kinh tạng như:
Ngôn ngữ ẩn dụ, thí dụ; Ngôn ngữ biểu tượng;
Ngôn ngữ thiền định, tư duy…
2.3.1. Ngôn ngữ ẩn dụ và
thí dụ
2.3.1.1. ngôn ngữ
ẩn dụ
Aăn dụ là biện pháp tu
từ liên tưởng, so sánh ngầm, nghĩa là sự định
danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên
sự tương đồng hay giống nhau giữa khách thể A
được định danh với khách thể B có tên gọi được
chuyển sang dùng cho A. Ví dụ: trong truyện
Kiều, Nguyễn Du viết:
“Giá đành trong nguyệt
trên mây
Hoa sao hoa khéo đoạ đày
bấy hoa”
Hoa B mang ý nghĩa ẩn
dụ, chỉ người phụ nữ có nhan sắc A
Đức Phật đã sử dụng
ngôn ngữ ẩn dụ một cách thiện xảo nhằm nói lên
sự đa dạng, phong phú của trạng thái tâm thức
trong đời sống con người: lúc khổ đau, khi an
lạc; lúc hư nguỵ, khi chân thật… đồng thời dùng
nó để diễn tả, giới thiệu một cảnh giới giải
thoát tự tâm khỏi mọi hệ luỵ cuộc đời. Đời sống
tâm thức con người chính là những cặp phạm trù
đối lặp: mê - ngộ; sinh - diệt; còn - mất; có -
không; tốt - xấu; yêu thương - thù hận; sinh -
diệt; khổ đau - hạnh phúc; mong chờ - né
tránh;……tất cả các yếu tố trên tuy khác biệt
hoàn toàn nhưng là những cặp song sinh thường
trực trong tâm thức. Nó không ồ ạt hiện ra bên
ngoài mà lặng lẽ nằm trong tàng thức. Tuỳ theo
trạng thái tâm thức mà những hạt giống này biểu
hiện ra bên ngoài, trạng thái ấy lại tuỳ thuộc
vào ý chí, khát vọng của chúng hữu tình. Có thể
nói, kinh Dhammapada (Pháp Cú) là một bộ kinh
dùng loại hình ngôn ngữ “ẩn dụ” và “thí dụ” hết
sức đặc sắc. Như khi để phân biệt sự trầm luân
và giải thoát, giác ngộ, Đức Phật dùng ẩn dụ bờ
này và bên kia bờ:
“Ít người giữa nhân
loại,
Đến được bờ bên kia.
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.”
(PC 85)
“Những ai hành trì
pháp,
Theo chánh pháp khéo
dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma lực khó thoát.”
(PC 86)
Đức Phật còn ẩn dụ “ái”
là người làm nhà, với “đòn tay” là thân và “kèo
cột” là phiền não. Những thứ ấy đã tạo nên “cái
nhà”. Cái nhà ấy chính là thân người đầy phiền
phức và rối rắm bởi những vật liệu xây nên ngôi
nhà đã mang những tính chất ấy rồi:
“Lang thang bao kiếp
sống,
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay phải tái sanh.
Ôi! người làm nhà kia,
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa,
Đòn tay ngươi bị gãy,
Kèo cột ngươi bị tan”
(PC 153-154)
Lại nữa, Đức Phật còn
dùng các hình ảnh “ dòng sông yêu thương” hay
“36 dòng ái” để nói lên sức tuôn chảy mãnh liệt,
bền bỉ của lòng yêu thương, ái dục:
“Dòng ái dục chảy khắp
Như dây leo mọc tràn .
(PC 340)
Ba mươi sáu dòng ái,
Trôi người đến khả ái,
Các tư tưởng tham ái,
Cuốn trôi người tà kiến.
(PC 339)
Chính tham ái này đưa
đến tái sinh, dòng ái này cuốn phăng con người
vào dòng xoắn sanh tử bất tận, sinh rồi diệt,
diệt rồi sinh, con người không thể chận đứng
dòng xoáy ấy. Vì thế mà các kinh gọi là sanh tử
triền miên, trôi lăn. Cái khát vọng trở nên, trở
thành của con người thật mãnh liệt. Phật dạy: “
Khi người ta hiểu tư niệm thực, người ta sẽ hiểu
được ba hình thức khát ái”. Đó là dục ái, hữu
ái, vô hữu ái. Hay nói khác hơn chính là dục
vọng, ý chí muốn sống, muốn tồn tại, muốn tái
sinh, muốn trở thành, muốn tăng trưởng, muốn
tích luỹ không ngừng. Đó là nguyên nhân phát
sinh đau khổ. Dục vọng ấy nằm trong hành uẩn,
một trong năm uẩn cấu tạo nên hình hài mới chúng
sanh. Cái ý chí, nhu cầu hiện hữu ấy đã thúc đẩy
dòng sông ái vận hành tương tục. Tu theo đạo
Phật là phải vượt qua sông ái, vượt qua dòng
thác sanh tử, trầm luân.
“Tỳ Kheo tát thuyền này.
Thuyền không nhẹ đi mau.
Trừ tham diệt sân hận,
Tất chứng đạt Niết Bàn.
(PC 369)
“Đoạn năm, từ bỏ năm,
Tu tập năm tối thượng.
Tỳ kheo vượt năm ái.
Xứng danh vượt bộc lưu”
( PC 370)
2.3.1.2. Ngôn ngữ thí dụ
Ngôn ngữ “thí dụ” là
ngôn ngữ diễn đạt về một hình ảnh cụ thể, một
trường hợp cụ thể để minh hoạ cho vấn đề được
nêu ra. Trong các thời thuyết giảng của Đức Phật
đều có những thí dụ cụ thể để minh hoạ cho pháp
môn tu tập của Ngài. Kinh tạng Phật giáo có thể
là đặc trưng cho loại hình ngôn ngữ này bởi có
quá nhiều “ví dụ” mà Đức Phật đã dùng được tóm
lược thành bách dụ như Kinh Bách Dụ. Kinh Pháp
Cú cũng là bản kinh nổi bật về ngôn ngữ thí dụ.
Có những thí dụ dễ hiểu, gần gũi, có liên quan
đến sự việc, hiện tượng có ảnh hưởng trong đời
sống sinh hoạt hằng ngày của con người như:
người chăn bò, gậy gộc, hoa lài (vassika), vầng
trăng, mây, muổng canh, ruộng vườn, cỏ, voi…
“ Với gậy người chăn bò.
Lùa bò ra bãi cỏ,
Cũng vậy, già và chết
Lùa người đến mệnh
chung” (PC 135)
“Như hoa Vassikà,
Quăng bỏ cánh úa tàn;
Cũng vậy vị Tỳ kheo,
Hãy giải thoát tham sân.
(PC 377)
“Cỏ làm hại ruộng vườn,
Tham (sân, si, dục…)
làm hại người đời…”
( PC 356,357, 358,359)
“Tỳ kheo tuy tuổi nhỏ.
Siêng tu giáo pháp Phật,
Soi sáng thế gian này,
Như trăng thoát khỏi
mây” ( PC 382)
Trong Kinh tạng Nikàya,
đặc biệt là kinh Trung Bộ, Đức Phật đã sử dụng
rất nhiều ngôn ngữ ẩn dụ để làm sáng tỏ điều mà
Ngài cần đề cập, có thể đó là ẩn dụ liên quan
đến loài vật, có thể đó là ẩn dụ liên quan đến
sự việc, hiện tượng… để ẩn dụ cho đời sống Sa
môn hạnh, phạm hạnh. Ví dụ Ngài đã dùng tiếng
hống của Sư Tử – bậc Chúa Sơn Lâm- để liên hệ
đến giáo pháp của Ngài là: Mười lực của Như Lai,
Bốn Vô uý và những đức thù thắng khác. Nhờ thành
tựu những pháp trên, Như Lai tự nhận địa vị Ngưu
Vương – rống tiếng Sư tử giữa các hội chúng và
chuyển bánh xe pháp [2,161]. Khi nói về sự nguy
hiểm của các “dục”, Đức Thế Tôn đã thuyết các
“dục” giống như khúc xương, như miếng thịt, như
bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như giấc chiêm
bao, như vật dụng cho mượn, như trái cây chín,
như lò thịt, như gậy nhọn, như Rắn hai đầu, vui
ít khổ nhiều, não nhiều, nguy hiểm càng nhiều
hơn. Để chỉ cho giáo pháp của Ngài là phương
tiện chứ không phải là cứu cánh, Đức Phật dùng
hình ảnh chiếc bè dùng để qua sông chứ không
phải để thờ phượng, mang vác [2, 295]
Phật cũng trả lời cho
một câu đố của một vị Trời: có gò mối ban đêm
phun khói, ngày chiếu sáng, một Bà La Môn bảo kẻ
Trí hãy cầm gươm đào lên. Kẻ trí làm theo lời Bà
La Môn, tuần tự đào lên và lấy những vật sau
đây: 1 Then cửa, một Con nhái, một cái chỉa, một
cái lọc, một con rùa, một cái dao phay, một
miếng thịt. Cuối cùng gặp một con Rắn hổ, Bà La
Môn bảo kẻ trí hãy để yên con Rắn và đãnh lễ nó?
Phật đã giải ẩn ngữ trên như sau: Gò Mối là thân
tứ đại, đêm phun khói là suy nghĩ, ngày chiếu
sáng là thực hiện những gì ban đêm đã suy nghĩ,
Bà La Môn là Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Giác, kẻ
trí là Tỳ kheo bậc hữu học, cây gươm là trí tuệ
bậc thánh, đào là tinh tấn; tinh cần, then cửa
là vô minh, đem then cửa lên là từ bỏ vô minh,
con nhái là phẩn nộ hiềm hận, cái chỉa hai ngã
là nghi hoặc, đồ lọc là 5 triền cái, con rùa là
ngũ thủ uẩn, dao phay là 5 dục trưởng dưỡng,
miếng thịt là hỷ tham, đào lên có nghĩa là từ bỏ
tất cả những thứ ấy, cuối cùng con Rắn hổ là vị
đã diệt tận lậu hoặc, đang đảnh lễ [2, 323].
Phật còn dùng ví dụ
những thợ bẫy nai để biểu thị cho Tỳ Kheo và
những chướng ngại họ gặp phải trong khi nỗ lực
thoát khỏi sự khống chế của Ma vương. Thợ săn
nai đặt mồi ngon cho nai đến không phải vì
thương bầy nai mà vì muốn hại, cũng như thế là
cạm bẫy ngũ dục mà Thiên ma đặt để dụ người tu
hành. Phật đưa ra hình ảnh 4 đàn Nai: Đàn thứ
nhất tham ăn sa ngay vào mồi nên bị kẻ giăng bẫy
tóm gọn, dụ cho những Sa môn, Bà la môn tham đắm
ngũ dục thế gian, bị ác ma tóm. Đàn nai thứ hai
tránh vào rừng sâu, thiếu cỏ nước một thời gian
dài không chịu nổi, trở ra vì đói khát tham ăn,
không canh chừng nên cũng sa vào cạm bẫy như đàn
nai đầu, dụ cho những Sa Môn, Bà La Môn do tu
khổ hạnh ép xác quá độ nên kiệt sức, không còn
tinh tấn, do không còn tinh tấn, tâm giải thoát
cũng bị kiệt quệ, họ cũng sa vào thế lực của ác
ma như đàn đầu tiên. Đàn thứ ba rút kinh nghiệm
làm một chỗ ẩn núp gần nơi giăng mồi để đến ăn
một cách chừng mực rồi rút về ở ẩn, người giăng
bẫy không bắt được đàn Nai, ra sức bao vây cuối
cùng cũng tìm được nơi ẩn náu của chúng, dụ cho
những Sa môn, Bà la môn không bị phóng dật theo
Ngũ dục như hai đàn trước, nhưng lại có tà kiến
về thế giới thường, vô thường, hữu biên vô biên,
Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi
chết..vv…tà kiến ấy ví như một chỗ nấp mà thợ
săn có thể tìm thấy, như vậy họ cũng không thoát
khỏi thế lực ác ma. Đến lượt bầy nai thứ tư, làm
một chỗ nấp mà thợ săn không thể đến được, đến
ăn mồi vừa phải rồi rút đi an toàn, dụ cho Tỳ
kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú 4
thiền, bốn định Vô sắc, diệt thọ tưởng, khiến ác
ma không tìm thấy được đường đi lối về của mình
vì vị ấy không còn tham đắm bất cứ gì trên đời
[2, 343].
Kế tiếp, Phật dùng hình
ảnh người thợ rừng theo dấu một con Voi lớn để
giải thích làm cách nào để đệ tử đạt đến sự xác
tín hoàn toàn đối với chân lý Ngài dạy “ Vị
Thánh đệ tử sau khi thực hành pháp, chứng Tứ
Thiền, Tam Minh, vị ấy liễu tri: sanh đã tận,
phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không
còn trở lui đời sống này nữa”. Vị ấy kết luận:
“Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, pháp được Thế
Tôn khéo giảng, chúng Tăng khéo hành trì” [2,
391].
Để tiếp tục về ẩn dụ
“Dấu chân voi” theo kinh Trung Bộ ghi lại, tôn
giả Xá Lợi Phất đã khởi đầu bằng tuyên bố về Bốn
Chân Lý. Bốn Chân Lý là pháp thiện lớn nhất
trong tất cả thiện pháp như Dấu chân voi lớn
nhất trong các dấu chân [2, 409].
Vương Tử Jayasena đến
xin Sa Di Aciravata dạy lại cho mình pháp ông đã
được nghe, theo đó một Tỳ kheo nhiệt tâm tinh
cần có thể đắc Định. Sa di từ chối, nhưng trước
sự van xin của Vương tử, Sa di bằng lòng nói
pháp mà ông đã được nghe và học, nhưng Vương tử
không hiểu ý nghĩa thì cũng không được hỏi,
Vương tử bằng lòng. Sau khi Sa di nói pháp,
Vương Tử bảo làm gì có chuyện một Tỳ kheo không
phóng dật, nhiệt tâm tinh cần lại có thể đắc
định và Vương tử ra về. Sa di đến hầu Phật thuật
lại mọi sự. Phật dạy dĩ nhiên vì Jayasena đang
sống trong dục lạc, bị dục lạc nhai nghiến nên
không thể hiểu những gì mà người cần phải xa lìa
các dục mới hiểu được. Rồi Phật lấy ví dụ con
voi chưa được thuần hoá không thể đạt đến địa vị
chỉ có thể đạt bởi voi thuần; và ví dụ về người
đang đứng trên núi tả phong cảnh trên đỉnh cho
một kẻ đang đứng dưới chân núi, kẻ sau này vì bị
ngọn núi che tầm mắt nên không thể thấy gì, sẽ
cho rằng người trên đỉnh nói không thật. Cũng
vậy Vương tử đối với Sa di như con voi rừng đối
với voi đã luyện, như người đứng dưới chân núi
với kẻ đứng trên đỉnh. Khi người ở dưới cũng leo
lên đến đỉnh thì sẽ thấy như bạn mình đã thấy,
hiểu mình đã bị chướng ngại nên không thấy
được. Nhưng chướng ngại của Vương tử còn nặng nề
hơn nhiều, vì ông ta bị đống vô minh che khuất
trong khi sống với dục lạc, làm sao có thể thấy
những gì cần được thấy nhờ ly dục? Phật lại
giảng rộng thêm về ẩn dụ luyện voi để ví với sự
đào luyện một người từ địa vị phàm phu đến
chứng đắc quả vị thánh, như con voi rừng được
điều phục bỏ những thói rừng rú, kham nhẫn với
điều kiện khắc nghiệt trở thành voi được thuần
hoá. Cũng vậy, một Tỳ kheo sau khi xuất gia từ
bỏ gia đình , được Phật huấn luyện giữ giới, hộ
trì căn, tiết độ ăn uống, chú tâm cảnh giác, gột
sạch tâm khỏi chướng ngại pháp, chánh niệm tỉnh
giác trong các oai nghi, tu tập thiền định gột
trừ 5 triền cái, quán tứ niệm xứ điều phục tham
ưu, chứng tứ thiền, chứng quả Alahán. Vị Tỳ kheo
ấy nhẫn chịu được sự nóng lạnh đói khát, từ bỏ
tham, sân, si, xứng đáng sự lễ bái cúng dường
của thế nhân, như con voi không được điều phục
khi còn sống thì khi chết, nó sẽ đón nhận một
cái chết không được điều phục bất kể con voi ấy
trẻ hay già, một Tỳ kheo cũng vậy [3, 338 –
352].
Các thí dụ trong Kinh
tạng Nam truyền dễ hiểu đơn giản, gần gũi với sự
việc hiện tượng trong đời sống sinh hoạt của con
người. Ngược lại, các thí dụ trong Kinh tạng Bắc
truyền triết lý, sâu xa, và hết sức thâm thuý
uyên áo. Một khi độc giả đã quen với cách sử
dụng các thí dụ trong hệ Kinh tạng Nam truyền
mới có thể dần dần hiểu được ý chỉ của các thí
dụ trong hệ Kinh tạng Bắc truyền, điển hình thí
dụ trong kinh Pháp Hoa, nếu không có sự tìm
hiểu, thâm nhập, thực nghiệm thì hành giả khó có
thể nắm bắt được.
Trong Kinh Pháp Hoa có
đến 9 Dụ:
1. Dụ Nhà lửa ( phẩm
Thí dụ thứ 3)
2. Dụ Chàng Cùng tử (
phẩm Tín giải thứ 4)
3. Dụ Cỏ thuốc ( phẩm
Dược thảo dụ thứ 5)
4. Dụ Hoá thành (
phẩm Hoá thành Dụ thứ 7)
5. Dụ Cột Châu chéo
áo ( phẩm Ngũ Bá Đệ tử Thọ ký thứ 8)
6. Dụ Cao Nguyên đào
giếng ( phẩm Pháp sư thứ 10 )
7. Dụ Viên Minh Châu
trong Búi Tóc ( phẩm An Lạc hạnh thứ 14 )
8. Dụ Cha Trẻ Con Già
( phẩm Tùng Địa Dõng Xuất thứ 15 )